KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THU NHẬP CÁ NHÂN
Những vấn đề cơ bản về Thuế, Thuế thu nhập Cá nhân
1.1.1 Khái niệm Thuế, Thuế thu nhập Cá nhân
Thuế là khoản đóng góp tài sản cho Nhà nước, được quy định bởi pháp luật và là nghĩa vụ của cá nhân hoặc tổ chức Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ quan trọng để huy động nguồn thu cho ngân sách, điều chỉnh nền kinh tế và cân bằng thu nhập.
Khái niệm thuế được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau 7 :
Theo thuyết khế ước, thuế được coi là khoản chi phí mà người nộp thuế phải thanh toán để nhận lại các dịch vụ và hàng hóa công cộng từ Nhà nước.
Dựa trên thuyết đoàn kết, người nộp thuế cần chấp nhận hy sinh một phần lợi ích cá nhân để đóng góp cho lợi ích chung của cộng đồng thông qua việc nộp thuế theo quy định của Nhà nước.
Theo học thuyết thuế - bù đắp, thuế được coi là sự trao đổi lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế Tuy nhiên, nếu sự trao đổi này không đảm bảo quyền lợi cho tất cả công dân, đặc biệt là những người nghèo, thì cần có sự hy sinh và hỗ trợ từ những người có khả năng đóng thuế Điều này thể hiện tinh thần đoàn kết và tương trợ trong cộng đồng.
Nghĩa vụ thuế giữa Nhà nước và công dân có vai trò quan trọng trong mối quan hệ xã hội và kinh tế Khái niệm thuế không chỉ đơn thuần là khoản đóng góp tài chính mà còn phản ánh trách nhiệm và quyền lợi của công dân đối với sự phát triển của đất nước.
- Thuế là khoản nộp bắt buộc, mang tính cưỡng chế bằng Pháp luật, mà các cá nhân, tổ chức phải nộp vào ngân sách Nhà nước
Thuế là nghĩa vụ mà công dân phải thực hiện đối với Nhà nước, được quy định bởi pháp luật và được thực thi thông qua các công cụ pháp lý Nhà nước có quyền hạn đặc biệt trong việc thu thuế.
7 Phan Phương Nam, Nguyễn Nhật Khanh, 2016 Những vấn đề cơ bản về luật thuế quốc tế Nxb Lao Động, trang
8 Đại Học Luật Tp HCM Nguyễn Thị Thủy, 2018 Giáo trình Luật thuế ( tái bản có bổ sung) Nxb Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam Tp.HCM, trang 15, 16
Các cơ quan thuế có trách nhiệm thu thuế và xác định nghĩa vụ nộp thuế của các đối tượng khác thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế.
- Dưới góc độ kinh tế - xã hội, thuế là sự động viên của cải toàn XH để phân phối lại, hướng đến mục tiêu công bằng
- Thuế là các khoản nộp không mang tính đối giá và không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế
1.1.1.2 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Hiện tại, chưa có một định nghĩa cụ thể và chính xác về Thuế Thu nhập cá nhân Tuy nhiên, dựa vào các quy định của pháp luật liên quan đến Thuế TNCN, chúng ta có thể hiểu rằng thuế TNCN là một loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân.
Thuế TNCN là loại thuế trực thu áp dụng cho phần thu nhập chịu thuế hợp pháp của cá nhân theo quy định của pháp luật Đối tượng nộp thuế đồng thời là đối tượng chịu thuế, vì vậy thuế TNCN được phân loại là thuế trực thu.
1.1.2 Nguồn gốc hình thành Thuế thu nhập Cá nhân của quá trình phát triển Xã hội
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế quan trọng và phổ biến trên toàn cầu, có lịch sử phát triển hàng trăm năm Trong giai đoạn đầu, các quốc gia thường áp dụng thuế đối với những đối tượng dễ đo lường như hàng hóa, đất đai và tài sản.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) lần đầu tiên xuất hiện ở Anh vào năm 1798 như một biện pháp tạm thời để tài trợ cho cuộc chiến tranh chống Pháp Đến năm 1842, thuế này chính thức được áp dụng, đánh dấu sự phát triển của nước Anh như một quốc gia công nghiệp hàng đầu với nguồn thu nhập cá nhân lớn từ các nhà tư bản Nhận thức và tuyên truyền về thuế TNCN đã sớm được hình thành, và sau đó, loại thuế này đã được áp dụng tại nhiều quốc gia khác, bao gồm Nhật Bản.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, với Đức áp dụng từ năm 1887 và Trung Quốc bắt đầu từ năm 1941, nhưng đến năm 1955 mới có sắc thuế độc lập Tại Pháp, thuế TNCN ra đời vào năm 1914, trong khi Liên Xô áp dụng từ năm 1922 và Hàn Quốc từ năm 1974 Hiện nay, hơn 180 quốc gia trên thế giới đã áp dụng thuế TNCN Ở châu Âu, thuế TNCN được xem là "nữ hoàng", trong khi tại châu Á, Nhật Bản coi đây là "vua" của các loại thuế Tại Hoa Kỳ, thuế TNCN cũng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thuế của quốc gia.
8 chiếm khoảng 70-80 % nguồn thu NSNN Sắc thuế này đã có vị trí quan trọng bậc nhất ở hầu hết các quốc gia trên thế giới 9
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trên toàn thế giới áp dụng cho cả cá nhân kinh doanh và không kinh doanh, được coi là loại thuế đặc biệt vì xem xét hoàn cảnh của người nộp thuế Một số quốc gia còn chú trọng đến các yếu tố như nhà ở, gia đình, y tế và giáo dục để quyết định việc miễn, giảm thuế hoặc các khoản miễn trừ đặc biệt Sự xuất hiện của thuế TNCN nhằm mục đích tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Các giai đoạn hình thành và phát triển của pháp luật về thuế, pháp luật về Thuế thu nhập Cá nhân ở Việt Nam
về Thuế thu nhập Cá nhân ở Việt Nam
Từ năm 1990 đến nay, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại Việt Nam đã trải qua nhiều quá trình hình thành và phát triển, đánh dấu sự khởi đầu của các quy định liên quan đến thuế TNCN.
Từ giữa những năm 1980, hệ thống thuế Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng, bắt đầu với Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được ban hành vào ngày 27/12/1990 Pháp lệnh này, có hiệu lực từ ngày 01/4/1991, đánh dấu sự ra đời của luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam, nhằm điều chỉnh nhóm cá nhân có thu nhập cao trong bối cảnh phần lớn dân cư có thu nhập thấp đến trung bình Qua các năm, luật này đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, phản ánh sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sự phát triển mạnh mẽ của các thị trường tài chính, vốn, chứng khoán, lao động, và bất động sản đã tạo điều kiện cho cá nhân có thêm nhiều nguồn thu nhập mới Đồng thời, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng dẫn đến sự gia tăng người nước ngoài làm việc và sinh sống tại Việt Nam, yêu cầu có sự điều chỉnh trong biểu thuế.
9 Đại học Luật Tp.HCM Nguyễn Thị Thủy, 2018 Giáo trình luật thuế (tái bản có bổ sung) Nxb Hồng Đức- Hội Luật Gia Việt Nam, trang 326
Biểu thuế lũy tiến từng phần đã được thống nhất, xóa bỏ sự phân biệt giữa người Việt Nam và người nước ngoài, giúp đảm bảo công bằng thuế Theo quy định mới, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và kinh doanh sẽ được áp dụng mức thuế suất lũy tiến từng phần thấp hơn trước, góp phần nâng cao tính thống nhất và bình đẳng trong hệ thống thuế.
Để phù hợp với bối cảnh hiện tại, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam cần được cải cách Ngày 21/11/2007, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật thuế thu nhập cá nhân (số 04/2007/QH12), có hiệu lực từ 01/01/2009 Luật này bao quát tất cả các loại thu nhập của cá nhân và điều chỉnh một cách hợp lý hơn, không phân biệt mức độ thu nhập như trước đây Luật đã được sửa đổi và bổ sung sau đó.
Năm 2012 và 2014, các chính sách đã được triển khai nhằm khuyến khích cá nhân tích cực lao động và đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh Điều này không chỉ giúp làm giàu chính đáng mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững.
Những nội dung cơ bản của Pháp luật về Thuế, Thuế thu nhập Cá nhân
1.3.1 Nội dung cơ bản của Pháp luật về Thuế
Pháp luật về thuế rất đa dạng và phức tạp Để hiểu rõ hơn về bản chất của thuế, bài viết sẽ trình bày một số nội dung cơ bản liên quan đến thuế.
Thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách Nhà nước, đảm bảo nguồn thu ổn định cho sự tồn tại của Nhà nước Người nộp thuế có nghĩa vụ thực hiện theo quy định pháp luật, không có quyền trốn thuế hay tự ấn định mức đóng góp Việc vi phạm luật thuế sẽ dẫn đến xử lý bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, khác với các khoản đóng góp tự nguyện.
Thuế không mang tính đối giá và không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế Mặc dù một phần thuế có thể được hoàn trả gián tiếp thông qua các khoản phúc lợi xã hội và công cộng, nhưng trước khi thu thuế, Nhà nước không cung ứng dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi thu thuế, Nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ khác nhau để phục vụ cộng đồng.
Việc sử dụng các khoản thu từ thuế không mang lại sự bồi hoàn trực tiếp cho người nộp thuế, vì lợi ích từ các sản phẩm công không thể xác định bằng giá trị vật chất.
Thuế được thu để đáp ứng các chi tiêu của Nhà nước mà không có một khoản mục cụ thể nào Điều này cho thấy nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn liền với mục đích cụ thể trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Thuế có phạm vi áp dụng rộng rãi hơn so với phí và lệ phí, không bị giới hạn bởi địa phương hay vùng lãnh thổ Hầu hết mọi hàng hóa, dịch vụ hợp pháp và tất cả các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện đều phải chịu sự điều chỉnh của thuế Điều này cho thấy thuế là khoản thu bắt buộc đối với mọi chủ thể.
1.3.2 Nội dung cơ bản của Pháp luật về Thuế thu nhập cá nhân
Việc đánh thuế thu nhập cá nhân (TNCN) có sự khác biệt giữa các quốc gia, nhưng vẫn tồn tại những nội dung cơ bản chung trong chính sách thuế này Thuế TNCN mang tính pháp lý cao và được xây dựng dựa trên các vấn đề kinh tế, xã hội của người nộp thuế, đồng thời không có tính hoàn trả trực tiếp Ngoài ra, thuế TNCN còn bao gồm những nội dung cơ bản khác.
Thứ nhất, đánh thuế dựa vào thu nhập của đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân
Người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế TNCN nhiều hơn, trong khi người có thu nhập tương đương nhưng gặp hoàn cảnh khó khăn sẽ nộp thuế ít hơn Những người có thu nhập thấp có thể không phải nộp thuế theo quy định của pháp luật Ngoài ra, thuế TNCN còn xét đến các trường hợp đặc biệt dựa trên điều kiện hoàn cảnh cá nhân.
Thứ hai, đánh theo nguyên tắc tích lũy từng phần, nhằm đảm bảo tính công bằng
Thuế TNCN được áp dụng theo nguyên tắc tích lũy từng phần nhằm điều tiết thu nhập giữa người có thu nhập cao và khuyến khích sự đóng góp của người có thu nhập trung bình, từ đó góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực tiếp áp dụng cho thu nhập thực nhận của cá nhân trong một năm, theo từng tháng hoặc từng lần.
1.3.3 Đặc điểm của Pháp luật về Thuế thu nhập Cá nhân
Thuế TNCN là một phần quan trọng trong hệ thống thuế, có những đặc điểm chung như tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp và đóng vai trò là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
11 nước,… Tuy nhiên ngoài những đặc điểm chung của Thuế, thì Thuế TNCN còn có một số đặc điểm riêng như sau:
Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) bao gồm tất cả cá nhân có thu nhập chịu thuế, không phân biệt về tư cách chủ thể, độ tuổi hay năng lực pháp lý Luật thuế điều chỉnh các khoản thu nhập thuộc sở hữu cá nhân mà không phân biệt nguồn gốc hình thành, dựa vào đặc điểm cư trú và các quy định pháp luật của từng quốc gia.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) thường là loại thuế lũy tiến, mang tính phức tạp và trung lập đối với cơ cấu kinh tế Về mặt kinh tế, thuế TNCN ít ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế, với tính trung lập cao hơn so với các chính sách thuế khác Do đó, việc điều chỉnh mức thuế TNCN thường không dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế.
Thuế thu nhập cá nhân được phân loại là thuế trực thu vì người nộp thuế cũng chính là người chịu thuế Đối tượng nộp thuế bao gồm tất cả các cá nhân có thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật.
Vai trò của Pháp luật về Thuế thu nhập Cá nhân trong nội dung quản lý xã hội của Nhà nước
xã hội của Nhà nước
Thuế TNCN là một phần quan trọng trong hệ thống thuế Việt Nam, góp phần tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước Pháp luật về Thuế TNCN đóng vai trò thiết yếu trong quản lý xã hội, điều mà các loại thuế khác không thể thực hiện.
- Vai trò của Pháp luật về Thuế TNCN đối với nền kinh tế- xã hội :
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập nguồn tài chính Với khả năng thu rộng rãi, thuế TNCN có thể tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách Ngoài ra, thuế này còn tác động trực tiếp đến thu nhập của người dân, giúp họ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Sự gia tăng nhanh chóng của thuế TNCN đi đôi với mức thu nhập bình quân đầu người và xu hướng tăng trưởng kinh tế, cho thấy khả năng huy động nguồn thu ngân sách Nhà nước từ thuế TNCN sẽ ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập và phát triển.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội Nó không chỉ góp phần điều tiết thu nhập mà còn đảm bảo sự công bằng thông qua biểu thuế lũy tiến từng phần.
Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm trong nền kinh tế Loại thuế này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiết kiệm của cá nhân mà còn làm giảm khả năng thanh toán, từ đó dẫn đến sự giảm sút trong cầu hàng hóa và dịch vụ Nhà nước thông qua các cơ chế quản lý có thể điều chỉnh thu nhập của các tầng lớp dân cư, góp phần tăng hoặc giảm tổng cầu xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Chính vì vậy, chính sách thuế thu nhập cá nhân có tác động đáng kể đến quản lý vĩ mô kinh tế.
- Vai trò của Pháp luật về Thuế TNCN đối với hệ thống thuế:
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) theo phương pháp lũy tiến từng phần có thể giúp khắc phục nhược điểm của các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt, vốn có tính lũy thoái và ảnh hưởng nhiều hơn đến người nghèo Khi mọi người tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa, họ đều phải chịu thuế như nhau, không phân biệt giàu nghèo Việc áp dụng thuế TNCN lũy tiến sẽ giúp giảm bớt gánh nặng thuế đối với người có thu nhập thấp.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) Mối quan hệ giữa hai loại thuế này rất chặt chẽ, khi thuế TNCN có thể khắc phục tình trạng thất thu TNDN do sự thông đồng giữa doanh nghiệp và cá nhân Khi doanh nghiệp kê khai chi phí cao hơn thực tế để giảm thu nhập tính thuế, các cá nhân nhận khoản trả này sẽ phải nộp thêm thuế TNCN cho phần thu nhập kê khai tăng Do đó, sự gia tăng thu nhập của doanh nghiệp thường dẫn đến sự tăng lên của cả thuế TNCN và thuế TNDN.
- Vai trò của Pháp luật về Thuế TNCN đối với Ngân sách quốc gia:
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn ngân sách tài chính cho quốc gia, nhờ vào tính diện rộng và khả năng thu nộp cao Đối tượng chịu thuế bao gồm tất cả cá nhân có thu nhập chịu thuế, cả công dân trong nước lẫn người nước ngoài cư trú thường xuyên Bên cạnh đó, thuế TNCN còn tác động trực tiếp đến thu nhập của cá nhân.
Thuế TNCN đang tăng nhanh chóng cùng với sự gia tăng của thu nhập bình quân quốc dân Sự tự do hóa thương mại tại Việt Nam hiện nay dẫn đến sự giảm dần của các nguồn thu từ thuế xuất - nhập khẩu theo thời gian.
Thuế TNCN đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định ngân sách Nhà nước (NSNN) và phát triển kinh tế Khi trình độ dân trí được nâng cao và thu nhập bình quân đầu người tăng, tỷ lệ đóng góp thuế TNCN của người nộp thuế cũng gia tăng Sự gia tăng này không chỉ làm tăng nguồn thu từ thuế TNCN trong ngân sách Nhà nước mà còn thu hút nhiều sự quan tâm hơn theo thời gian.
Trong chương 1, tác giả làm rõ các vấn đề cơ bản về thuế và pháp luật thuế TNCN, bao gồm khái niệm, nguồn gốc hình thành và lịch sử phát triển của thuế TNCN Phân tích các đặc điểm và vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế, xã hội, hệ thống thuế và ngân sách quốc gia cũng được thực hiện Bên cạnh đó, tác giả tìm hiểu các giai đoạn hình thành và phát triển của pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam Những vấn đề này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho nghiên cứu sâu hơn về các quy định liên quan đến thuế TNCN trong chương 2, như đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, căn cứ tính thuế và chế độ miễn giảm thuế TNCN.
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
Đối tượng chịu Thuế thu nhập Cá nhân theo quy định hiện hành
Theo quy định Pháp luật thuế TNCN hiện hành 10 , thì thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm 10 nhóm:
- Thu nhập từ kinh doanh
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công
- Thu nhập từ đầu tư vốn
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
- Thu nhập từ trúng thưởng
- Thu nhập từ bản quyền
- Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
Thu nhập từ thừa kế bao gồm chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản khác cần phải được đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
Thu nhập từ quà tặng bao gồm chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài nguyên khác, tất cả đều phải được đăng ký sở hữu hoặc sử dụng.
So với Pháp lệnh, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao áp dụng cho các khoản thu nhập phi kinh doanh và những thu nhập cao.
Chủ thể chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hiện nay không nhiều, dẫn đến hiệu quả thu ngân sách bị ảnh hưởng và số lượng cá nhân đóng thuế có xu hướng giảm Tỉ trọng thuế TNCN trên tổng thu ngân sách gần như không tăng trong những năm qua Do đó, việc thay thế Pháp lệnh thuế TNCN hiện hành bằng một quy định mới nhằm mở rộng đối tượng chịu thuế là cần thiết, không chỉ đảm bảo công bằng mà còn gia tăng số lượng cá nhân đóng thuế và tăng cường ngân sách.
Vì vậy, đối tượng chịu thuế TNCN được chia thành hai nhóm chính, như sau:
10 Điều 3 Văn bản hợp nhất: 15/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 12 năm 2014
Quy định thuế TNCN đối với khoản thu nhập thường xuyên bao gồm các khoản thu nhập ổn định như thu nhập từ kinh doanh và tiền công, tiền lương Đối với cá nhân, thu nhập thường xuyên có thể đến từ hoạt động kinh doanh hoặc lao động làm thuê Những khoản thu này không chỉ mang lại tính ổn định mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cuộc sống, đặc biệt là đối với những cá nhân có người phụ thuộc.
2.1.2 Thu nhập không thường xuyên
Quy định thuế TNCN về khoản thu nhập không thường xuyên là những khoản thu nhập không mang tính đều đặn và ổn định Gồm những nhóm 12 :
- Thu nhập từ đầu tư vốn (tiền lãi; cho vay; cổ tức; …)
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn (chuyển nhượng phần vốn trong cá tổ chức kinh tế; thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; …)
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản bao gồm chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở, cũng như quyền thuê đất và thuê mặt nước.
- Thu nhập từ trúng thưởng (trúng thưởng xổ số; khuyến mại, trong các hình thức cá cược, casino, …)
Thu nhập từ bản quyền bao gồm các khoản thu từ việc chuyển giao và chuyển quyền sử dụng các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ, cũng như thu nhập từ chuyển giao công nghệ.
- Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
Thu nhập từ thừa kế bao gồm chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản khác cần phải được đăng ký sở hữu hoặc sử dụng.
Thu nhập từ quà tặng bao gồm chứng khoán, vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài nguyên khác, tất cả đều phải được đăng ký sở hữu hoặc sử dụng.
11 Khoản 1, 2, Điều 3 Văn bản hợp nhất: 15/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 12 năm 2014
12 Khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Điều 3 Văn bản hợp nhất: 15/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 12 năm 2014
So với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, quy định về thu nhập không thường xuyên hiện nay đã mở rộng phạm vi đối tượng chịu thuế Các khoản thu nhập không thường xuyên chủ yếu bao gồm chuyển giao công nghệ, bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, và các dịch vụ khác, ngoại trừ biếu, tặng và trúng thưởng xổ số Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành đã bổ sung thêm nhiều trường hợp như chuyển nhượng vốn, bất động sản, và các hình thức trúng thưởng đa dạng như khuyến mại, cá cược, casino, và gameshow Mặc dù các nhóm thu nhập không thường xuyên đã được mở rộng, nhưng chúng không phục vụ nhu cầu thiết yếu và không có tính ổn định như thu nhập thường xuyên của cá nhân.
Đối tượng không chịu Thuế thu nhập Cá nhân theo quy định hiện hành
Luật Thuế TNCN hiện hành không quy định rõ ràng các đối tượng không chịu thuế bằng một điều luật riêng, mà thay vào đó, người nộp thuế có thể hiểu thông qua việc loại trừ từ các quy định về các đối tượng chịu thuế Cụ thể, các đối tượng không nằm trong 10 nhóm thu nhập chịu thuế theo Điều 3 của Luật Thuế TNCN sẽ tự động được xem là không thuộc diện chịu thuế.
Luật Thuế TNCN Việt Nam quy định một số trường hợp đặc biệt không phải chịu thuế, bao gồm: các khoản phụ cấp và trợ cấp theo quy định pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp cho công việc độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp khi sinh con hoặc nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo Bộ luật Lao động, và các khoản trợ cấp khác do bảo hiểm xã hội chi trả.
13 Khoản 2, Điều 3, Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.(hết hiệu lực)
14 Khoản 1, Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2012
Khoản tiền thưởng kèm theo danh hiệu do Nhà nước phong tặng, giải thưởng quốc gia, quốc tế, và tiền thưởng cho cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan Nhà nước công nhận đều không chịu thuế TNCN Quy định về thu nhập không chịu thuế TNCN phụ thuộc vào quan điểm của Nhà nước, dẫn đến sự biến đổi trong nội dung Trước đây, các khoản như tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và phụ cấp độc hại được xem là không chịu thuế, nhưng hiện tại, luật mới quy định các khoản này không được xem là thu nhập và được trừ Sự đổi mới so với Pháp lệnh là việc loại trừ không nêu cụ thể đối tượng chịu thuế TNCN, mà thay vào đó là liệt kê các trường hợp đặc biệt không chịu thuế, nhằm khắc phục lỗ hổng trong quy định thuế đối với người có thu nhập cao.
Đối tượng nộp Thuế thu nhập Cá nhân theo quy định hiện hành
Xu hướng vận động đa dạng của cá nhân thúc đẩy họ tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, từ đó tạo ra nguồn thu nhập phong phú và đa dạng hơn.
Việc xác định phạm vi điều chỉnh của các sắc thuế thu nhập dựa trên nguồn hình thành thu nhập trở nên phức tạp và không đồng đều, vì mỗi loại thu nhập có thể bị điều tiết khác nhau Điều này dẫn đến sự ra đời của các sắc thuế thu nhập phân định theo tiêu chí chủ thể, trong đó đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân phải là cá nhân.
Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, cùng với cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân được xác lập bất kể mức thu nhập của người nộp thuế, miễn là họ là chủ sở hữu các loại thu nhập thuộc phạm vi điều tiết của sắc thuế này.
15 Điểm e, khoản 2, Điều 3 Nghị định 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013
16 Khoản 1, Điều 2 Văn bản hợp nhất: 15/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 12 năm 2014
Có hai trường hợp để xác định đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân: một là địa điểm phát sinh thu nhập của đối tượng chịu thuế, và hai là nơi cư trú hoặc thường trú của đối tượng chịu thuế.
2.3.1 Quy định đối tượng nộp Thuế TNCN là Cá nhân cư trú
Cá nhân cư trú là nhóm cá nhân đáp ứng được một trong các điều kiện sau 17 :
Để được coi là cư trú tại Việt Nam, cá nhân phải có mặt tại đây từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục tính từ ngày đầu tiên có mặt.
Tại Việt Nam, có hai hình thức nơi ở thường xuyên, bao gồm nơi ở đăng ký thường trú và nhà thuê theo hợp đồng có thời hạn.
Để quản lý và điều tiết thu nhập hợp lý của cá nhân, Nhà nước đã quy định hai tiêu chí đánh giá xác định cá nhân cư trú tại Việt Nam: phải hiện diện và có nơi ở thường xuyên Nếu cá nhân đáp ứng một trong hai điều kiện này, họ sẽ thuộc đối tượng nộp Thuế TNCN là cá nhân cư trú.
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập, người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở lại từ 183 ngày trở lên trong 12 tháng Hiện tại, thuế thu nhập cá nhân không phân biệt giữa người nước ngoài và người Việt Nam, miễn là có mặt tại Việt Nam đủ 183 ngày trong năm dương lịch hoặc 12 tháng liên tục Điều này dẫn đến việc không quy định rõ ràng về việc không cư trú nếu ở dưới 183 ngày, cho phép hiểu rằng không đủ số ngày có thể không thuộc đối tượng cư trú Theo Luật TNCN hiện hành, cá nhân được coi là cư trú nếu có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm nơi ở đăng ký thường trú hoặc nhà thuê theo hợp đồng, mở rộng phạm vi đối tượng mà không yêu cầu sống đủ thời gian Việc loại bỏ quy định về việc không cư trú nếu ở dưới 183 ngày giúp phù hợp với điều kiện về nơi ở thường xuyên tại Việt Nam.
17 Khoản 2, Điều 2 Văn bản hợp nhất: 15/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 12 năm 2014
18 Điều 9 Pháp lệnh thuế thu nhập với người có thu nhập cao.( hết hiệu lực)
2.3.2 Quy định đối tượng nộp Thuế TNCN là Cá nhân không cư trú
Theo quy định tại khoản 3, Điều 2 của VBHN số 15/VBHN-VPQH/2014, cá nhân không cư trú được định nghĩa là những người không thỏa mãn các điều kiện được nêu tại khoản 2, Điều 2 của Luật này.
Pháp luật thuế TNCN xác định đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân không cư trú, tức là nhóm cá nhân không đáp ứng hai tiêu chí của cá nhân cư trú.
Luật Thuế TNCN hiện hành đã mở rộng quy định về đối tượng nộp thuế, bao gồm nhiều nhóm đối tượng hơn so với Pháp lệnh điều tiết thu nhập trước đây chỉ áp dụng cho người có thu nhập cao.
Pháp lệnh thuế thu nhập quy định rằng mọi công dân Việt Nam, bao gồm cả những người đang làm việc ở nước ngoài, cũng như cá nhân định cư tại Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đều phải nộp thuế thu nhập theo quy định.
Mặc dù Luật thuế TNCN đã mở rộng đối tượng áp dụng so với Pháp lệnh, việc quy định loại trừ cho các cá nhân không cư trú trong chính luật này sẽ giúp đơn giản hóa nội dung và tránh sự rườm rà so với Pháp lệnh cũ Quy định này xác định rõ các đối tượng không đáp ứng Khoản 2, Điều 2 của Luật thuế TNCN hiện hành, từ đó phù hợp hơn với thực tiễn pháp luật.
Căn cứ tính Thuế thu nhập Cá nhân theo quy định hiện hành
Đối tượng nộp thuế TNCN bao gồm cá nhân cư trú và không cư trú, với căn cứ tính thuế khác nhau cho mỗi nhóm Căn cứ tính thuế TNCN bao gồm thu nhập chịu thuế và thuế suất áp dụng.
- Công thức tính thuế thu nhập cá nhân:
Thu nhập chịu thuế = Tổng thu nhập - các khoản được miễn thuế 20
Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - Các khoản giảm trừ 21
Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế X Thuế suất
19 Điều 1 Pháp lệnh thuế thu nhập với người có thu nhập cao.(hết hiệu lực)
20 Điều 4 Văn bản hợp nhất: 15/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 12 năm 2014
21 Điều 19 Văn bản hợp nhất: 15/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 12 năm 2014
Trong đó, thu nhập chịu thuế được xác định trong kỳ tính thuế 22 tùy vào nguồn của thu nhập và chủ sở hữu thu nhập
Đối với cá nhân cư trú, thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán được tính theo từng lần chuyển nhượng hoặc theo năm Nếu cá nhân chọn kỳ tính thuế theo năm, họ cần phải đăng ký với cơ quan thuế từ đầu năm.
Kỳ tính thuế theo năm áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh và tiền lương Nếu cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch, kỳ tính thuế sẽ theo năm dương lịch Ngược lại, nếu có mặt dưới 183 ngày nhưng tổng thời gian trong 12 tháng liên tục từ ngày đầu tiên tại Việt Nam đạt 183 ngày, kỳ tính thuế đầu tiên sẽ là 12 tháng liên tục đó Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế sẽ dựa theo năm dương lịch.
Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng cho nhiều loại thu nhập, bao gồm thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, bản quyền, nhượng quyền thương mại, thừa kế và quà tặng.
+ Kỳ tính thuế theo từng lần chuyển nhượng hoặc theo năm đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
- Kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú:
Kỳ tính thuế cho cá nhân không cư trú được xác định theo từng lần phát sinh thu nhập Đối với cá nhân kinh doanh không cư trú có địa điểm kinh doanh cố định như cửa hàng hoặc quầy hàng, kỳ tính thuế sẽ được áp dụng tương tự như đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh.
2.4.1 Căn cứ tính thuế đối với đối tượng nộp thuế Cá nhân cư trú
Thuế thu nhập cá nhân của cá nhân cư trú được tính dựa trên thu nhập tính thuế và thuế suất, với cách xác định thu nhập tính thuế khác nhau tùy thuộc vào loại thu nhập Để xác định thu nhập tính thuế, cần xác định thu nhập chịu thuế và các khoản giảm trừ của cá nhân cư trú.
22 Điều 6 Văn bản hợp nhất: 68/VBHN-BTC ngày 19 tháng 12 năm 2019
2.4.1.1 Quy định thu nhập chịu Thuế Thu nhập Cá nhân
Việc xác định quy định thu nhập chịu Thuế Thu nhập cá nhân tương ứng với từng loại thu nhập, cụ thể như sau:
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định dựa trên doanh thu từ hoạt động kinh doanh của cá nhân nộp thuế TNCN theo tỷ lệ tương ứng với từng lĩnh vực Doanh thu bao gồm toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, hoa hồng và tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế Nếu cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu, cơ quan thuế sẽ ấn định doanh thu theo quy định pháp luật Việc xác định doanh thu phải tuân thủ các tiêu chuẩn, chế độ và chứng từ kế toán theo quy định Trong trường hợp nhiều người cùng tham gia kinh doanh, thu nhập chịu thuế của mỗi cá nhân sẽ được xác định theo tỷ lệ vốn góp trong đăng ký kinh doanh, thỏa thuận giữa các cá nhân, hoặc tính bằng số bình quân thu nhập đầu người nếu không có tỷ lệ vốn góp hoặc thỏa thuận phân chia thu nhập.
Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số thu nhập mà đối tượng nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế là khi tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế, hoặc khi đối tượng nộp thuế thực sự nhận được thu nhập.
Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn 24 là tổng hợp các khoản thu nhập mà đối tượng nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế này là khi tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế, hoặc khi đối tượng nộp thuế thực sự nhận được thu nhập.
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá mua và các chi phí hợp lý liên quan Nếu không xác định được giá mua và chi phí, giá bán chứng khoán sẽ được sử dụng Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế là khi giao dịch chuyển nhượng vốn hoàn tất theo quy định pháp luật.
23 Điều 8 Văn bản hợp nhất: 68/VBHN-BTC ngày 19 tháng 12 năm 2019
24 Điều 10 Văn bản hợp nhất: 68/VBHN-BTC ngày 19 tháng 12 năm 2019
25 Điều 11 Văn bản hợp nhất: 68/VBHN-BTC ngày 19 tháng 12 năm 2019
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định dựa trên giá chuyển nhượng thực tế tại mỗi lần giao dịch Thời điểm để xác định thu nhập chịu thuế là khi hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định pháp luật.
Thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng là phần giá trị giải thưởng vượt quá 10 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được cho mỗi lần trúng thưởng Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế này là khi tổ chức hoặc cá nhân thực hiện việc trả thưởng cho người nộp thuế.
Thu nhập chịu thuế từ bản quyền 28 là khoản thu nhập vượt quá 10 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được khi chuyển giao hoặc chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ và công nghệ theo hợp đồng Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ bản quyền là khi tổ chức hoặc cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế.
-Thu nhập chịu thuế từ nhượng quyền thương mại 29 : Là phần thu nhập vượt trên
Mỗi hợp đồng nhượng quyền thương mại mang lại cho đối tượng nộp thuế 10 triệu đồng Thu nhập chịu thuế từ nhượng quyền thương mại được xác định tại thời điểm tổ chức hoặc cá nhân thanh toán cho đối tượng nộp thuế.
Thu nhập chịu thuế từ thừa kế và quà tặng được xác định là phần giá trị tài sản vượt quá 10 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được trong mỗi lần phát sinh Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế cho thừa kế là khi người nộp thuế nhận tài sản thừa kế, trong khi đối với quà tặng, thời điểm này là khi tổ chức hoặc cá nhân tặng cho người nộp thuế hoặc khi người nộp thuế nhận được quà tặng.
2.4.1.2 Quy định thu nhập tính Thuế Thu nhập cá nhân
Chế độ miễn, giảm Thuế thu nhập Cá nhân theo quy định hiện hành
2.5.1 Các trường hợp miễn Thuế thu nhập Cá nhân 48
Căn cứ Điều 3 Văn bản hợp nhất Số: 68/VBHN-BTC các khoản thu nhập được miễn thuế TNCN bao gồm:
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm nhà ở và công trình xây dựng hình thành trong tương lai, giữa các thành viên trong gia đình như vợ chồng, cha mẹ với con cái, và ông bà với cháu, đều được quy định cụ thể Bất động sản do vợ hoặc chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung, và khi ly hôn, việc phân chia tài sản này sẽ được miễn thuế nếu thực hiện theo thỏa thuận hoặc phán quyết của tòa án.
Cá nhân chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam sẽ được miễn thuế nếu họ chỉ sở hữu duy nhất một nhà ở và quyền sử dụng đất ở Điều này được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều luật, nhưng cần phải đáp ứng các điều kiện cụ thể.
Chỉ có quyền sở hữu duy nhất một nhà ở hoặc quyền sử dụng một thửa đất ở, bao gồm cả trường hợp có nhà ở hoặc công trình xây dựng gắn liền với thửa đất, tại thời điểm chuyển nhượng.
Việc xác định quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất được thực hiện dựa trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, cùng với tài sản khác gắn liền với đất.
48 Điều 3, Văn bản hợp nhất Số: 68/VBHN-BTC ngày 19 tháng 12 năm 2019
Theo Điều 32, cá nhân chưa có quyền sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất ở nơi khác sẽ được miễn thuế khi chuyển nhượng nhà ở có chung quyền sở hữu hoặc đất ở có chung quyền sử dụng Tuy nhiên, cá nhân đã có quyền sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất ở khác sẽ không được miễn thuế Trong trường hợp vợ chồng có chung quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, nếu một trong hai người đã có nhà ở hoặc đất ở riêng, thì khi chuyển nhượng tài sản chung, chỉ người chưa có nhà ở, đất ở riêng mới được miễn thuế.
Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở phải đạt tối thiểu 183 ngày trước thời điểm chuyển nhượng Thời điểm xác định quyền sở hữu và quyền sử dụng là ngày cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Trong trường hợp được cấp lại hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận theo quy định pháp luật về đất đai, thời điểm xác định vẫn tính theo Giấy chứng nhận trước đó.
Chuyển nhượng toàn bộ nhà ở và đất ở sẽ được miễn thuế nếu cá nhân sở hữu duy nhất Tuy nhiên, nếu chỉ chuyển nhượng một phần, phần đó sẽ không được miễn thuế Cá nhân cần tự khai báo và chịu trách nhiệm về việc miễn thuế, nếu phát hiện sai sót sẽ bị truy thu thuế và phạt theo quy định Ngoài ra, việc chuyển nhượng nhà ở hoặc công trình xây dựng trong tương lai không nằm trong diện miễn thuế theo hướng dẫn tại điểm b, khoản 1, Điều 3, Văn bản hợp nhất Số: 68/VBHN-BTC.
Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân nhận đất từ Nhà nước mà không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định pháp luật Nếu cá nhân được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất khi nhận đất, khi chuyển nhượng diện tích đất đó, họ phải khai và nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản theo hướng dẫn tại Điều 12, Văn bản hợp nhất Số: 68/VBHN-BTC.
Thu nhập từ thừa kế và quà tặng liên quan đến bất động sản, bao gồm nhà ở và công trình xây dựng tương lai, được quy định giữa các mối quan hệ như vợ chồng, cha mẹ và con cái, cha mẹ nuôi và con nuôi, cùng với các mối quan hệ gia đình khác như cha mẹ chồng với con dâu, cha mẹ vợ với con rể, ông bà với cháu và anh chị em ruột.
Thu nhập từ việc chuyển đổi đất nông nghiệp nhằm tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp sẽ không làm thay đổi mục đích sử dụng đất của các hộ gia đình và cá nhân trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, đất đai này được Nhà nước giao để phục vụ cho hoạt động sản xuất.
Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản là nguồn thu nhập chính Các sản phẩm này thường chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, chưa trở thành sản phẩm khác Điều này cho thấy thu nhập của hộ gia đình, cá nhân chủ yếu đến từ các hoạt động sản xuất trực tiếp.
Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cũng như lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và lãi trái phiếu Chính phủ, được miễn thuế Cụ thể, lãi tiền gửi miễn thuế bao gồm thu nhập cá nhân từ lãi gửi bằng Đồng Việt Nam, vàng, và ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng hợp pháp Các hình thức gửi tiền này bao gồm gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, và các hình thức khác, đảm bảo hoàn trả đầy đủ tiền gốc và lãi cho người gửi theo thỏa thuận.
Thu nhập từ kiều hối được miễn thuế là khoản tiền cá nhân nhận từ nước ngoài do thân nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi về Điều này cũng áp dụng cho những người Việt Nam đi lao động, công tác, học tập ở nước ngoài Nếu cá nhân nhận tiền từ người nước ngoài và đáp ứng điều kiện khuyến khích chuyển tiền theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, khoản tiền này cũng sẽ được miễn thuế.
Thu nhập từ làm việc ban đêm và làm thêm giờ thường cao hơn so với lương làm việc ban ngày, theo quy định của Bộ luật Lao động.
Tiền lương, tiền công trả cao hơn cho công việc làm đêm và làm thêm giờ được miễn thuế, dựa vào tiền lương thực tế trừ đi mức lương tính theo ngày làm việc bình thường Tổ chức và cá nhân trả thu nhập cần lập bảng kê rõ ràng về thời gian làm đêm, làm thêm giờ và khoản tiền lương trả thêm cho người lao động, bảng kê này phải được lưu giữ và xuất trình khi có yêu cầu từ cơ quan thuế Ngoài ra, tiền lương hưu do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và tiền lương hưu từ quỹ hưu trí tự nguyện cũng được miễn thuế cho cá nhân sống và làm việc tại Việt Nam khi nhận từ nước ngoài.
Hoàn Thuế thu nhập Cá nhân theo quy định hiện hành
Căn cứ quy định Khoản 2 Điều 8 Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành, thì Cá nhân được hoàn thuế thu nhập cá nhân trong các trường hợp sau:
- Số tiền đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp
- Cá nhân đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp
- Các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Theo Điều 53, việc hoàn thuế thu nhập cá nhân chỉ áp dụng cho những cá nhân đã có mã số thuế khi đề nghị hoàn thuế Đối với những người đã ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập, việc hoàn thuế sẽ được thực hiện thông qua tổ chức hoặc cá nhân đó.
Như vậy, cá nhân muốn hoàn thuế thu nhập cá nhân cần phải có những điều kiện sau:
- Cá nhân phải có mã số thuế
Nếu cá nhân có thu nhập tại một nơi và đã ủy quyền cho đơn vị chi trả thực hiện quyết toán thuế TNCN, trong trường hợp quyết toán phát sinh thuế nộp thừa, cá nhân có thể yêu cầu hoàn thuế.
50 Điều 53, Thông tư 156/2013/ TT-BTC ngày 06 tháng 11 năm 2013
37 lựa chọn bù trừ sang kỳ sau hoặc xin hoàn thuế thu nhập cá nhân (thông qua đơn vị chi trả thu nhập)
Nếu một cá nhân có thu nhập từ hai nguồn trở lên trong năm, họ cần tự quyết toán với cơ quan thuế Trong trường hợp nộp thừa thuế thu nhập cá nhân, cá nhân có thể yêu cầu bù trừ sang kỳ sau hoặc xin hoàn thuế, tuy nhiên cần thực hiện thủ tục hoàn thuế.
Trong trường hợp tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập sau khi đã bù trừ số thuế nộp thừa và nộp thiếu, nếu có số thuế nộp thừa và muốn đề nghị hoàn trả, tổ chức hoặc cá nhân đó cần nộp hồ sơ hoàn thuế cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý Hồ sơ hoàn thuế cần bao gồm các tài liệu liên quan.
- Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước theo mẫu số 01/ĐNHT ban hành kèm theo Thông tư 156/2013/ TT-BTC
Bản chụp chứng từ và biên lai nộp thuế thu nhập cá nhân cần có chữ ký cam kết của người đại diện hợp pháp Đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh hoặc tiền lương, khi quyết toán thuế, nếu có số thuế nộp thừa, không cần nộp hồ sơ hoàn thuế mà chỉ cần ghi số thuế đề nghị hoàn vào chỉ tiêu “Số thuế hoàn trả vào tài khoản NNT” hoặc “Tổng số thuế bù trừ cho các phát sinh của kỳ sau” trên tờ khai quyết toán thuế mẫu số 09/KK-TNCN Tương tự, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán cũng chỉ cần ghi số thuế đề nghị hoàn vào chỉ tiêu “Số thuế hoàn trả vào tài khoản NNT” hoặc “Số thuế bù trừ vào kỳ sau” trên tờ khai quyết toán thuế mẫu số 13/KK-TNCN.
Trong chương 2, tác giả xác định các chủ thể và thu nhập chịu thuế TNCN, dựa vào pháp luật hiện hành để phân loại thu nhập thường xuyên và không thường xuyên, cũng như các đối tượng chịu và không chịu thuế Tác giả cũng phân biệt cá nhân cư trú và không cư trú, từ đó tính thuế dựa trên thuế suất, kỳ tính thuế, và các trường hợp miễn giảm thuế Ngoài ra, tác giả so sánh pháp luật thuế TNCN hiện tại với pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao, đánh giá ưu điểm và khuyết điểm khi áp dụng vào thực tế, đồng thời chỉ ra những bất cập và hạn chế của thuế TNCN để đưa ra kiến nghị cho chương 3.