Tình hình trên không những liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải của các tầng lớp dân cư, làm mất đi ý nghĩa cao đẹp của sự phá
Trang 1trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngành: Luật học Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
Hà Nội, 2016
Trang 2Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2016
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 33
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội Để có nguồn lực vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cải xã hội, trong đó có biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế
Ra đời và tồn tại cùng Nhà nước, từ đó đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện Xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của thuế ngày càng một nâng cao và đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật về thuế phù hợp với sự phát triển của đất nước Pháp luật của nước ta ban hành rất nhiều sắc thuế với chức năng nhiệm vụ khác nhau, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu tôi chỉ xin đề cập đến Thuế thu nhập cá nhân, một loại thuế chiếm vai trò quan trọng trong sự phát triển đất nước hiện nay
Trên thế giới, luật thuế thu nhập cá nhân đã có lịch sử hàng trăm năm và đã trở thành loại thuế phổ biến trên Thế giới Ở nước ta, thuế thu nhập cá nhân được ban hành lần đầu tiên vào ngày 27/12/1990, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/1991 với tên gọi “Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” dưới hình thức pháp lệnh Từ đó đến nay đã qua có rất nhiều lần sửa đổi bổ sung, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng IX và X của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn II (2006-2010) Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/2004 triển khai thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn II Sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng, ngày 20/11/2007 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Nước Cộng hoà XHCH Việt Nam khoá XII đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) và Luật có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009 với chức năng đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, đảm bảo chi tiêu của Nhà nước, đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập trong xã hội và khuyến khích mọi cá nhân lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập để làm giàu chính đáng Để phù hợp hơn với các biến đổi trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước cũng như những yêu cầu, đòi hỏi của đất nước, Luật thuế thu nhập cá nhân được sửa đổi, bổ sung vào năm 2012 và mới đây nhất Luật thuế thu nhập cá nhân được sửa đổi thay thế cho luật sửa đổi bổ sung năm 2012 là luật sửa đổi các luật về thuế năm 2014, chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2015
Từ sau đổi mới, không thể phủ nhận được những thành tựu phát triển đất nước theo định hướng cơ chế thị trường mà Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ Văn kiện của Đại hội IX đã khẳng định
Trang 44
rõ "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh
tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” Tuy nhiên thẳng thắn trong
nhìn nhận các mặt của đời sống xã hội hiện nay, một trong những khuyết tật của nền kinh tế thị trường là sự phân hoá giàu nghèo sâu sắc tạo ra hai cực đối lập rất cao trong xã hội Tình hình trên không những liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải của các tầng lớp dân cư, làm mất đi ý nghĩa cao đẹp của sự phát triển kinh tế xã hội.Vì những lý do trên, bất kỳ quốc gia nào cũng phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập của các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống pháp luật thuế nhằm điều tiết bớt thu nhập của các chủ thể này vào tay nhà nước để thực hiện các chính sách xã hội và thuế thu nhập cá nhân được coi là thứ thuế công bằng nhất trong phân phối thu nhập
Nhìn nhận vai trò của pháp luật thuế thu nhập trong đó đặc biệt là pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong thời gian qua, chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp tích cực của công cụ tài chính này trong việc tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện công bằng xã hội và điều tiết có hiệu quả nền kinh tế, đưa kinh tế phát triển theo đúng mục tiêu, đúng định hướng Các đợt sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã đáp ứng một phần yêu cầu trước mắt về giải quyết các vấn đề phát sinh trên thực tế như cấu trúc bậc thuế, thuế suất, phân loại thu nhập thường xuyên và không thường xuyên Nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam đã được đặt ra và ở một tầm nào
đó đã được ưu tiên và bổ sung hoàn chỉnh hơn trong các quy định của phát luật về thuế thu nhập cá nhân Các lần sửa đổi bổ sung luật thuế thu nhập cá nhân, gần đây nhất là Luật thuế sửa đổi năm
2014 có hiệu lực thi hành chính thức vào 01/01/2015 đã thể hiện được nguyên tắc công bằng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế thu nhập cá nhân Tuy nhiên vấn
đề đảm bảo tính công bằng, hiệu quả mặc dù đã được quan tâm nhưng vẫn chưa được giải quyết một cách căn bản, thích đáng như một yêu cầu cơ bản, mang tính dài hạn xuyên suốt
Nhận thức được nhu cầu cấp thiết đó, Tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nguyên tắc công
bằng trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” Dưới góc độ một đề tài
nghiên cứu khoa học rõ ràng đề tài có ý nghĩa cấp bách thể hiện trên năm phương diện chính sau
đây:
Một là, về phương diện chính trị, xã hội - việc nghiên cứu đề tài này để quán triệt các yêu
cầu của Đảng, Nhà nước ta về cải cách hệ thống thuế, đúng như Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt tại Quyết định 732/QĐ-TTg
ngày 17/5/2011 đã khẳng định phải: “Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất,
công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức
Trang 55
động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản,
dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính (TTHC) về thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự
động hoá cao.”
Hai là, về phương diện lập pháp - để cung cấp những luận cứ khoa học cần thiết cho việc
hoàn thiện hơn Luật thuế Việt Nam hiện hành Thuế TNCN là một trong những lĩnh vực quan trọng của ngành thuế, nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đảm bảo cho các hoạt động chi tiêu của Nhà nước Luật thuế TNCN không ngừng được hoàn thiện để đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi trong việc bảo vệ các quyền con người và sự phát triển bền vững của đất nước trong tình hình mới Việc nghiên cứu đề tài nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam rõ ràng là rất cần thiết
Ba là, về phương diện thực tiễn - để chủ động phòng, chống hiện tượng tiêu cực vẫn còn
xảy ra trong hoạt động thuế những năm vừa qua Từ thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống các hành vi sai phạm trong lĩnh vực thuế, có thể thấy rằng thành tích của các cơ quan thuế Việt Nam là rất lớn, không thể phủ nhận Tuy nhiên, bên cạnh thành tích đó, những sai lầm, thiếu sót, thậm chí nhũng nhiễu, tiêu cực vẫn còn tồn tại gây bức xúc trong dư luận xã hội và nhân dân Do đó, để hạn chế, loại trừ hiện tượng này, việc nâng cao nhận thức về quyền con người, nguyên tắc công
bằng cho mọi người dân, đặc biệt là cho các cán bộ thuế giao dịch trực tiếp là cần thiết
Bốn là, về phương diện khoa học - để góp phần phát triển lý luận về nguyên tắc công bằng
trong việc thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam nói chung và nguyên tắc công bằng trong lĩnh vực thuế nói riêng nhằm đảm bảo hơn nữa các quyền của con người ở nước ta, việc
nghiên cứu đề tài đã nêu là có tính thời sự và cấp bách hiện nay
Năm là, về phương diện quốc tế - việc triển khai đề tài này không những góp phần làm sáng
tỏ những tư tưởng tiến bộ và cao quý về đảm bảo nguyên tắc công bằng – một trong các nguyên tắc quan trọng trong việc bảo đảm các quyền con người đã được thể hiện trong các Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền con người như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) năm 1966; v.v , mà còn góp phần tôn trọng, bảo vệ và
có cơ chế bảo đảm hơn nữa các quyền cơ bản của con người này Việc nghiên cứu hoàn thiện pháp
luật thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng là thật sự cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 66
Việc nghiên cứu các quy định về nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam đã và được xem xét nghiên cứu trên nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau
Có thể tạm chia thành các nhóm:
- Nhóm thứ nhất - những công trình có đề cập đến vấn đề nguyên tắc công bằng trong
thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân với các công trình nghiên cứu cấp Bộ, giáo trình viết về
thuế TNCN nói chung và nguyên tắc công bằng nói riêng như Tài liệu tuyên truyền về Dự Luật thuế TNCN, Nxb Tài chính, Hà Nội, 2007, tr 10; Ths La Thị Tuyết Anh (2011), Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện, Đại học Luật Hà Nội;
Ts Lê Nguyệt Châu (2010), Giáo trình luật tài chính 2, NXB Tài Chính; Nguyễn Thanh Tuyền và Nguyễn Ngọc Thanh (2001), Giáo trình Thuế, NXB Thống kê, Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Tuyển, Pts Phan Mỹ Hạnh (1998), Hệ thống chính sách thuế Việt Nam hiện hành, NXB Thành phố Hồ Chí Minh;…
- Nhóm thứ hai - các công trình nghiên cứu là các đề tài nghiên cứu khoa học, luận
văn, luận án liên quan đến nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân như luận văn thạc sĩ “Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân” của tác giả
pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam năm 2012” của tác giả Trần Minh Đức, Viện Khoa học xã hội Hà Nội, …
- Nhóm thứ ba - các công trình nghiên cứu là các sách chuyên khảo, bài viết liên quan
đến nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam như TS Lê Thị Thu Thủy Tạp chí luật học số 4/2009 Những vấn đề đặt ra trong Luật thuế TNCN ở Việt Nam; Trần Minh Đức (2008), “Một số vấn đề về nguyên tắc công bằng trong pháp luật về thuế thu nhập
cá nhân”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (số 12), trang 56-60; Ths Trần Vũ Hải (2007), “Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, (Số 10), trang 27-35; Nguyễn Thị Lan Hương (2011), “Ưu tiên quyền lợi của người nộp thuế khi sửa đổi luật thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (Số 7), trang 50-56; Nguyễn Thu Hằng, Đào Ngọc Tiến (2011), “Thuế thu nhập cá nhân của Anh và một số bài học đối với Việt Nam”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, (Số 15), trang 34-37; Nguyễn Thị Lan (2008), “Về giảm trừ gia cảnh trong luật thuế thu nhập cá nhân nhìn từ góc độ bình đẳng giới”, Tạp chí Luật học, (Số 3), trang 31-35…
Như vậy, qua nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố nói trên, có thể thấy rằng
đã có những nghiên cứu về thuế nói chung và nghiên cứu về các chế định cụ thể của pháp luật thuế TNCN Việt Nam liên quan đến nguyên tắc công bằng nói riêng, tuy nhiên, chưa có việc
nghiên cứu trực tiếp và có hệ thống, toàn diện đến vấn đề nguyên tắc công bằng trong thực thi
pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Trang 77
3 Mục tiêu nghiên cứu nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ “nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp
luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất những phương hướng, giải
pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trên các phương diện xây dựng, áp dụng và nâng cao ý thức pháp luật, ý thức về quyền, nghĩa vụ cho mọi người dân, các cơ quan chức năng đặc biệt là cơ quan quản lý thuế trong
việc đảm bảo công bằng xã hội và ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu, đề tài đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
b) Xác định phạm vi giới hạn các quy định pháp luật thuế TNCN trực tiếp điều chỉnh nguyên tắc công bằng và sự phát triển của các quy định này trong lịch sử lập pháp thuế TNCN Việt Nam
trong việc đảm bảo nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế TNCN
quan đến việc thể hiện nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế TNCN; làm rõ những thành tích cũng như hạn chế của công tác thi hành pháp luật thuế trong lĩnh vực này
nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế TNCN
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và hệ thống lý luận hiện đại
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để giải quyết các vấn đề khoa học đặt ra từ đề tài gồm có phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, chuyên gia, thống kê số liệu thực tế để luận chứng các tri thức khoa học luật thuế và làm sáng tỏ những vấn
đề cần được nghiên cứu
5 Những điểm mới về mặt khoa học của đề tài
Trang 88
Đề tài “nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam” có những điểm mới cơ bản sau đây:
TNCN
tiếp điều chỉnh nguyên tắc công bằng và sự phát triển của các quy định này trong lịch sử lập pháp thuế TNCN Việt Nam
hành trong việc đảm bảo nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế TNCN
d Phân tích, làm rõ được những thành công và hạn chế của thực tiễn áp dụng nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam trong thời gian vừa qua
e Đề xuất hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả
của nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế TNCN
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình khoa học trình bày một cách tương đối có hệ thống và toàn diện về vấn đề nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam Các kết quả của đề tài nhằm cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho việc hoàn thiện các quy định
của pháp luật thuế TNCN và các quy định khác có liên quan thuộc ngành luật thuế
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết cấu luận văn gồm hai chương:
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG TRONG THỰC THI
PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Khái quát về nguyên tắc công bằng trong thực thi pháp luật thuế Thu nhập cá nhân
1.1.1 Khái niệm nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân và thực thi pháp luật thuế Thu nhập cá nhân
1.1.1.1 Khái niệm công bằng và nguyên tắc công bằng
Công bằng (công lý) là một khái niệm căn bản của đạo đức học, của triết học pháp quyền,
triết học xã hội cũng như của đời sống chính trị, xã hội, tôn giáo và pháp luật Trong thần học công bằng được xem là đức hạnh căn bản thứ hai của con người, bao gồm sự thông minh, công bằng, dũng cảm và sự chừng mực Trong đó các đức hạnh trước luôn là điều kiện của những đức hạnh sau
Theo Aristote, ông đã phân biệt hai loại công bằng, trong đó sự công bằng thể hiện ở hai
hình thức khác nhau, đó là công bằng bù trừ (iustitia commutativa) và công bằng phân chia
Trang 99
(iustitia distributiva) Công bằng bù trừ là công bằng giữa những cái khác nhau trong tự nhiên,
nhưng như nhau trước pháp luật Công bằng bù trừ có nghĩa là sự bình đẳng tuyệt đối giữa đưa và nhận, giữa những cái được pháp luật xem như nhau, chẳng hạn như hàng hóa và giá cả, thiệt hại và
bồi thường Còn công bằng phân chia lại là sự bình đẳng tương quan trong sự đối xử với một nhóm nguời, là sự phân bổ quyền và nghĩa vụ theo các chuẩn độ xứng đáng, khả năng, nhu cầu Công
bằng phân chia là hình thức nguyên thủy của công bằng, còn công bằng bù trừ của tư luật phải
được tạo lập bởi một hành vi quyền lực (chẳng hạn của cơ quan lập pháp), ví dụ như việc quy định
những điều kiện để có năng lực pháp luật hay năng lực hành vi Ở đây công thức “Suum cuique
tribuere” (chia cho mỗi người cái mà họ đáng được nhận) không được phép hiểu là một công cụ
để san bằng mọi thứ, không phải là mỗi người được nhận cái như nhau, mà mỗi người được nhận
cái thuộc về họ, nghĩa là trao cho họ cơ hội đạt được điều tiềm ẩn trong bản thân họ
Theo từ điển Tiếng Việt: “Công bằng là theo đúng lẽ phải, không thiên vị”
Dưới con mắt nhà nghiên cứu luật pháp, có thể nhìn nhận khái niệm “công bằng” theo chiều ngang và chiều dọc hoặc theo nghĩa chủ quan và khách quan Theo chiều ngang, công bằng nghĩa
là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau, mặt khác, theo chiều dọc, công bằng là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau Theo nghĩa khách quan, công bằng được hiểu là những giá trị đứng đắn, những quy tắc chuẩn mực chung hoặc cách thức hành động phù hợp, được cộng đồng thừa nhận Theo nghĩa chủ quan, công bằng phụ thuộc vào sự cảm nhận, đánh giá, phán xét của mỗi cá nhân Mỗi người có những đánh giá cá nhân của mình thế nào là công bằng hay không công bằng
Từ cách nhìn nhận kể trên, theo TS Nguyễn Minh Tuấn, công bằng là trạng thái lý tưởng của xã hội loài người, trong đó vấn đề tài sản, lợi ích, cơ hội giữa các thành viên trong xã hội được phân chia một cách phù hợp, không thiên vị Tác giả nhất trí với cách hiểu về công bằng được nêu ra ở trên
“Nguyên tắc” theo Từ điển Tiếng Việt là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong
một loạt việc làm” Như vậy, nguyên tắc được hiểu với nghĩa là tư tưởng chỉ đạo, qui tắc cơ bản của một hoạt động nào đó Bản thân lĩnh vực pháp lý cũng tồn tại một số nguyên tắc cơ bản cần phải tuân thủ Trong đó, nguyên tắc công bằng là một trong những nguyên tắc cơ bản bao trùm của pháp luật Trong pháp luật Việt Nam, nguyên tắc công bằng đã nhiều lần được khẳng định trong các văn kiện quan trọng Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 đã xác định việc đảm bảo công bằng
là động lực và nội dung của sự nghiệp đổi mới: “Dân giàu nước mạnh Xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Trong Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “Thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua động lực xã hội khác” Những quan điểm trên đều được hiện thực hóa trong
Trang 1010
các văn bản quy phạm pháp luật mà điển hình là Hiến pháp Trong Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung
2001 ghi nhận tại điều 3: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
có điều kiện phát triển toàn diện” Quan điểm này được tiếp nối trong Hiến pháp 2013 và trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác Nhìn vào thực tế phát triển hiện nay có thể thấy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều sự nỗ lực và bước tiến quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc công bằng tại Việt Nam cụ thể thể chế hóa nguyên tắc này trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng trong đó có pháp luật thuế thu nhập cá nhân
1.1.1.2 Nguyên tắc công bằng trong pháp luật Thuế thu nhập cá nhân
Trước hết, thuế thu nhập cá nhân là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần
từ tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách nhà nước, nói cách khác, đây là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội Thời kỳ mới ban hành, các Chính phủ thường đánh thuế vào đối tượng dễ đo lường được như đánh trên đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình, các hàng hoá và tàu biển, hoặc số lượng cửa sổ hoặc lò sưởi trong một toà nhà Thuế thu nhập cá nhân có diện điều chỉnh rộng tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu, Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoản thu nhập của
cá nhân Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng của thuế thu nhập cá nhân, luật thuế qui định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, miễn thuế
Để phân biệt với một số loại thuế khác, thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân là loại thế trực thu có đối tượng đánh thuế là thu nhập Khi
có thu nhập chịu thuế phát sinh, người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân và không thể chuyển giao nghĩa vụ này cho người khác
Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có diện thu rộng, phức tạp và có tính ổn định
không cao Toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế không phân biệt thu nhập
đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài; đối tượng phải kê khai nộp thuế thu nhập
cá nhân là toàn bộ những người có thu nhập Tính phức tạp xuất phát từ việc phải xác định khoản thu nhập chịu thuế/thu nhập không chịu thuế, nguồn gốc khoản thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập (người nước ngoài cư trú tại Việt Nam), tính ổn định của thu nhập, sự phát triển của nền kinh tế,… các khoản khấu trừ khi tính thuế cũng là một bài toán đối với nhà lập pháp và thực thi chính sách để đảm bảo công bằng xã hội
Trang 1111
Thứ ba, việc đánh thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo nguyên tắc lũy tiến từng phần
Với những đặc điểm kể trên, thuế thu nhập cá nhân đã thể hiện vai trò quan trọng của mình trên những phương diện sau:
Một là, tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước
Hai là, điều tiết thu nhập tiến tới đảm bảo công bằng xã hội
Ba là, minh bạch hóa thu nhập cá nhân góp phần phòng chống tội phạm
Ở Việt Nam, pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đã có sự phát triển nhất định trong những năm gần đây Trước 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế thu nhập cá nhân nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 và sau đó được cải cách vào năm 1972
Sau 1975, vào ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Đây là cơ sở tiền
đề quan trọng cho việc thực thi thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam Pháp lệnh này đã có 06 lần sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001) và lần thứ 6 là pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hàng năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2004)
Đến năm 2007, Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 Luật thuế thu nhập tiếp tục được sửa đổi bổ sung vào năm 2012 (Luật số 26/2012/QH13 ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân) và năm 2014 (Luật số 71/2014/QH13 ngày 26
tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về sửa đổi bổ sung một số điều của các luật về thuế)
Trong quá trình thi hành, pháp luật thuế thu nhập cá nhân đã thể hiện vai trò của mình đối với sự phát triển của đất nước Việc thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân để thực hiện được mục đích quản lý đồng thời đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân trong xã hội cần phải
có những định hướng trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật Các nguyên tắc trong điều chỉnh pháp luật là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn quan trọng trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật về điều chỉnh pháp luật thuế thu nhập cá nhân Trong một xã hội dân chủ, công bằng cần phải được thực hiện trước hết đối với việc phân chia gánh nặng của thuế khóa Do đó, nguyên tắc công bằng đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản bao trùm xuyên suốt của pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói chung và thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng
Có thể nói, nguyên tắc công bằng là phương châm, định hướng quan trọng chi phối trong toàn bộ quá trình thực thi, áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân Việc áp dụng nguyên tắc công