1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ thực trạng và một số yếu tố liên quan nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản tại huyện trạm tấu, tỉnh yên bái, năm 2018

87 126 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Bệnh giun truyền qua đất GTQĐ gây ra bởi một số loài giun tròn ký sinh mà trong chu kỳ phát triển của chúng có giai đoạn phát triển ở ngoài môi trường đất, đó là giun đũa Ascaris

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC

VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC

VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các kết quả và số liệu được nêu trong luận văn hoàn toàn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu nào khác Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm./

Tác giả: Nguyễn Đức Thủy

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được

sự giúp đỡ của bạn bè và đồng nghiệp nơi tôi học tập cũng như tôi đang công tác

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS BS Đỗ Trung Dũng và TS Phạm Ngọc Doanh, hai người thầy, đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc cùng các thầy

cô phòng đào tạo sau đại học, Học viện Khoa học và Công nghệ về sự tận tâm trong mỗi bài giảng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn các anh, chị em trong Khoa Ký sinh trùng, Viện Sốt rét

- Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương nơi tôi đang công tác, gia đình, bạn

bè thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ tinh thần, chia sẻ những khó khăn trong thời gian tôi học tập./

Hà Nôi, ngày tháng năm 2019

Nguyễn Đức Thuỷ

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

EPG (Eggs per gram) Số trứng/gram phân

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 2.5 Bảng phân loại cường độ nhiễm giun theo WHO 34

Bảng 2.6 Bảng điểm đánh giá thực hành bệnh GTQĐ 34

Bảng 2.7 Bảng điểm đánh giá kiến thức phòng bệnh GTQĐ 35

Bảng 3 1 Một số thông tin chung về địa điểm nghiên cứu 40

Bảng 3 2 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n = 302) 41

Bảng 3 3 Tỷ lệ nhiễm GTQĐ (n=302) 42

Bảng 3 4 Tỷ lệ nhiễm từng loại GTQĐ theo xã (n =302) 43

Bảng 3 5 Tỷ lệ nhiễm GTQĐ theo nhóm tuổi (n = 302) 45

Bảng 3 6 Tỷ lệ nhiễm GTQĐ theo dân tộc (n = 302) 46

Bảng 3 7 Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp các loại giun theo xã (n = 302) .46

Bảng 3 8 Cường độ nhiễm các loại GTQĐ 47

Bảng 3 9 Cường độ nhiễm trung bình các loại GTQĐ 47

Bảng 3 10 Tỷ lệ tiếp cận nguồn thông tin về bệnh giun của PNTSS 48

Bảng 3 11 Tỷ lệ PNTSS nêu được tên các loại GTQĐ 48

Bảng 3 12 Tỷ lệ PNTSS biết tác hại bệnh GTQĐ 49

Bảng 3 13 Tỷ lệ PNTSS biết nguyên nhân nhiễm GTQĐ 49

Bảng 3 14 Tỷ lệ PNTSS biết đối tượng dễ bị nhiễm giun nhất 50

Bảng 3 15 Tỷ lệ PNTSS nêu được tên loại giun dễ bị mắc nhất 51

Bảng 3 16 Tỷ lệ PNTSS biết các cách phòng chống nhiễm giun 51

Bảng 3 17 Tỷ lệ PNTSS thường rửa tay 52

Bảng 3 18 Tỷ lệ PNTSS có thói quen ăn rau sống 53

Bảng 3 19 Tỷ lệ PNTSS thực hiện các cách rửa rau sống 53

Bảng 3 20 Tỷ lệ PNTSS sử dụng nhà tiêu 53

Bảng 3 21.Tỷ lệ dùng phân tươi của PNTSS 53

Trang 8

Bảng 3 22.Thói quen dùng thuốc tẩy giun 54 Bảng 3 23 Một số yếu tố liên quan với tỷ lệ nhiễm GTQĐ 55 Bảng 3 24 Mối liên quan kiến thức, thực hành với tỷ lệ nhiễm giun 57

Trang 9

Danh mục các hình và biểu đồ

Hình 1 1.Giun đũa trưởng thành 3

Hình 1 2 Hình thể trứng giun đũa soi dưới kính hiển vi 4

Hình 1 3 Các giai đoạn phát triển trứng giun đũa 5

Hình 1 4 Chu kỳ phát triển của giun đũa 6

Hình 1 5 Giun tóc trưởng thành 8

Hình 1 6 Các hình thể trứng giun tóc thường gặp khi soi dưới KHV 8

Hình 1 7 Các giai đoạn phát triển trứng giun tóc 9

Hình 1 8 Chu kỳ phát triển giun tóc 10

Hình 1 9 Giun móc/mỏ trưởng thành 11

Hình 1 10 Hình thể trứng giun móc/mỏ thường gặp khi soi dưới KHV 12

Hình 1 11 Các giai đoạn phát triển trứng giun móc/mỏ 12

Hình 1 12 Chu kỳ phát triển giun móc/mỏ 14

Trang 10

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT III DANH MỤC CÁC BẢNG IV DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ VI

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1.ĐẶCĐIỂMSINHHỌC,BỆNHHỌCCỦAGIUNĐŨA,GIUNTÓC, GIUNMÓC/MỎ 3

1.1.1 Bệnh giun đũa 3

1.1.1.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của giun đũa 3

1.1.1.2 Hình thể trứng giun đũa soi dưới kính hiển vi quang học 4

1.1.1.3 Chu kỳ phát triển của giun đũa 5

1.1.1.3 Triệu trứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun đũa 6

1.1.2 Bệnh giun tóc 7

1.1.2.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của giun tóc 7

1.1.2.2.Đặc điểm hình thể trứng giun tóc 8

1.1.2.3.Chu kỳ phát triển của giun tóc 9

1.1.2.4 Triệu chứng bệnh và tác hại của giun tóc 10

1.1.3 Bệnh giun móc/mỏ 10

1.1.3.1 Đặc điểm hình thái và phân loại của giun móc/mỏ .10

1.1.3.2 Đặc điểm hình thể trứng giun móc/mỏ 11

1.1.3.3 Chu kỳ phát triển của giun móc/mỏ 12

1.1.3.4 Triệu chứng bệnh và tác hại của giun móc/mỏ 14

Trang 11

1.2 CHẨN ĐOÁN BỆNH GTQĐ 15

1.2.1 Dựa vào yếu tố dịch tễ học 15

1.2.2 Dựa vào lâm sàng 16

1.2.3 Dựa vào cận lâm sàng 16

1.3 ĐIỀU TRỊ BỆNH GTQĐ .16

1.3.1 Các thuốc sử dụng để điều trị bệnh GTQĐ 16

1.3.2 Phác đồ điều trị 17

1.4 TÌNH HÌNH NC BỆNH GTQĐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 17

1.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh GTQĐ trên thế giới 17

1.4.1.1.Khu vực Châu Phi 20

1.4.1.2 Khu vực Châu Mỹ 20

1.4.1.3 Khu vực Đông Địa Trung Hải 20

1.4.1.4 Khu vực Châu Âu 21

1.4.1.5 Khu vực Đông Nam Á 21

1.4.1.6 Khu vực Tây Thái Bình Dương 21

1.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh GTQĐ ở Việt Nam 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 27

2.3 THIẾT KẾ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu 28

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 28

2.4 CÁC KỸ THUẬT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 29

2.4.1 Kỹ thuật xét nghiệm phân 29

2.4.2 Kỹ thuật phỏng vấn, thu thập thông tin bộ câu hỏi KAP 30

2.5 CÁC BIẾN SỐ,CHỈ SỐ SỬ DỤNG ĐÁNH GIÁ TRONG NC 31

Trang 12

2.5.1.Các biến số 31

2.5.2 Các chỉ số đánh giá trong nghiên cứu 35

2.5.2.1 Chỉ số đánh giá tỷ lệ nhiễm giun bằng xét nghiệm phân 35

2.5.2.2 Các chỉ số đánh giá kiến thức, thực hành phòng chống nhiễm giun của PNTSS .36

2.6 XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 38

2.7 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NC 40

3.2 THỰC TRẠNG NHIỄM GTQĐ Ở PNTSS TẠI HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI, NĂM 2018 42

3.2.1 Tỷ lệ nhiễm chung các loại giun truyền qua đất 42

3.2.2 Tỷ lệ nhiễm từng loài giun truyền qua đất 43

3.2.3 Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất theo nhóm tuổi 44

3.2.4 Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất theo dân tộc 45

3.2.5 Tỷ lệ nhiễm đơn và nhiễm phối hợp 46

3.2.6 Cường độ nhiễm các loài giun truyền qua đất 47

3.3 KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH GTQĐ CỦA PNTSS .48

3.3.1 Kiến thức của phụ nữ tuổi sinh sản về bệnh GTQĐ 48

3.3.1.1 Tiếp cận với nguồn thông tin về giun truyền qua đất 48

3.3.1.2 Biết tên các loài giun truyền qua đất 48

3.3.1.3 Biết tác hại của nhiễm giun truyền qua đất 49

3.3.1.4 Hiểu biết về nguyên nhân nhiễm giun truyền qua đất 49

3.3.1.5 Hiểu biết về đối tượng dễ bị nhiễm giun truyền qua đất 50

3.3.1.6 Hiểu biết cách phòng nhiễm giun truyền qua đất 51

3.3.1.7 Kết quả kiểm tra kiến thức về giun truyền qua đất 51

Trang 13

3.3.2 Thực hành phòng chống bệnh GTQĐ của PNTSS 52

3.3.2.1 Thói quen rửa tay 52

3.3.2.2 Thói quen ăn rau sống và rửa rau sống 52

3.3.2.3 Tình hình sử dụng nhà tiêu và phân tươi bón cây 53

3.3.2.4 Tình hình dùng thuốc tẩy giun 54

3.4 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM GTQĐ 55

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN 59

1.THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở PHỤ NỮ TUỔI SINH SẢN 59

2.KIẾN THỨC VỀ PHÒNG BỆNH GTQĐ CỦA PNTSS 59

3.KIẾN THỨC THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT .59

4.CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG NHIỄM GTQĐ Ở ĐỐI TƯỢNG NC 60

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Phụ lục 1 69

Phụ lục 2 72

Trang 15

MỞ ĐẦU

Bệnh giun truyền qua đất (GTQĐ) gây ra bởi một số loài giun tròn ký sinh mà trong chu kỳ phát triển của chúng có giai đoạn phát triển ở ngoài môi

trường đất, đó là giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura)

và giun móc/giun mỏ (Ancylotoma duodenale/Necator americanus) [1], [2],

[3] Bệnh GTQĐ gây nhiều tác hại thầm lặng và lâu dài tới sức khỏe con người GTQĐ đã trở thành vấn đề cấp thiết ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là những vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới [4] Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi

và gây ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển thể chất, tinh thần, đặc biệt là đối với trẻ em, phụ nữ tuổi sinh sản (PNTSS) và phụ nữ có thai [5]

Bệnh GTQĐ là một trong những bệnh nhiệt đới bị lãng quên (Neglected tropical diseases - NTDs) [6] Ở những góc độ khác nhau nó không nhận được

sự quan tâm đúng mức như bệnh Lao, HIV ,[7] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 1,5 tỷ người hay 24% dân số bị nhiễm các loại GTQĐ phân bố rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới

Một trong những tác hại do bệnh GTQĐ gây ra là thiếu máu thiếu sắt do giun móc/mỏ Điều này gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt đối với PNTSS và trẻ em, đây là những đối tượng có nhu cầu cao về sắt Đối với PNTSS, thiếu máu thiếu sắt còn trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của con cái Tại những vùng có tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ cao, nhiều phụ nữ bước vào tuổi dậy thì và

có thai lần đầu khi đang bị nhiễm giun móc/mỏ và thiếu sắt

Tình trạng giảm sắt và thiếu máu trong kỳ thai nghén làm tăng rõ rệt nguy cơ đẻ non, trẻ thiếu cân, tử vong mẹ và trẻ sơ sinh Do đó, tại những nơi

có tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ cao, việc điều trị giun móc/mỏ có tác dụng cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt ở PNTSS, giúp họ chuẩn bị tốt cho thời kỳ làm mẹ, đặc biệt là những trường hợp có cường độ nhiễm trung bình và nặng

Ở Việt Nam, Nguyen et al (2006) phân tích tình trạng nhiễm giun sán đường ruột của PNTSS trên toàn quốc dựa trên số liệu điều tra năm 1995 cho thấy tỷ lệ nhiễm giun ở PNTSS rất cao (76%), trong đó tỷ lệ nhiễm giun đũa là 56%, giun móc 36% và giun tóc 28% Trong những năm gần đây, một số điều

Trang 16

tra thực trạng nhiễm GTQĐ ở PNTSS tại một số địa phương của các tỉnh Điện Biên, Lào Cai và Hà Tĩnh cho thấy tỷ lệ nhiễm tương tự [8],[9], [10]

Yên Bái là một trong 16 tỉnh được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) lựa chọn triển khai tẩy giun cho PNTSS hàng năm Trạm Tấu là huyện vùng cao nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, với 11 dân tộc sinh sống, chủ yếu là dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc H’Mông chiếm ưu thế (77%) Cuối năm 2017, do ảnh hưởng của trận lũ lịch sử đã gây nhiều tổn hại về kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội của người dân trong huyện Cũng sau thiên tai này, môi trường sống bị ảnh hưởng nặng nề, đây là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển trong đó có bệnh GTQĐ

Vì vậy, đánh giá thực trạng nhiễm GTQĐ ở PNTSS thuộc tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Trạm Tấu nói riêng là cần thiết Do vậy chúng tôi tiến

hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan nhiễm giun truyền qua đất ở Phụ nữ tuổi sinh sản tại một số xã huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, năm 2018”

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm giun truyền qua đất ở Phụ nữ tuổi sinh sản tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, năm 2018

2 Đánh giá các yếu tố liên quan nhiễm giun truyền qua đất ở Phụ nữ tuổi sinh sản

Trang 17

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, BỆNH HỌC CỦA GIUN ĐŨA, GIUN TÓC,

GIUN MÓC/MỎ

1.1.1 Bệnh giun đũa

1.1.1.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của giun đũa

Giun đũa ký sinh và gây bệnh cho con người là loài Ascaris lumbricoides

có vị trí phân loại như sau:

Lớp Chromadorea Inglis 1983

Bộ Rhabditida Chitwood, 1933

Liên họ Ascaridoidea Baird, 1853

Họ Ascarididae Baird, 1853

Giống Ascaris Linnaeus, 1758

Loài Ascaris lumbricoides Linnaeus, 1758

Bệnh giun đũa do giun đũa (Ascaris lumbricoides) ký sinh trong cơ thể

người gây nên Đây là một loại giun lớn, có hình thể dài và to như chiếc đũa

Giun đũa cái lớn hơn giun đũa đực Con cái dài 20 - 25 cm, con đực dài 15 -

20 cm Giun đũa có màu hồng nhạt hay màu trắng sữa (hình 1.1) Giun đực và giun cái trưởng thành cùng sống ký sinh ở phần đầu và phần giữa ruột non [11], [12], [13], [14]

Hình 1 1.Giun đũa trưởng thành

Trang 18

1.1.1.2 Hình thể trứng giun đũa soi dưới kính hiển vi quang học

Trứng đã thụ tinh

- Kích thước 50 - 70 m x 40 - 50 m

- Hình bầu dục (ít khi tròn) vỏ dày có nhiều lớp Lớp vỏ ngoài

albumin xù xì bắt màu của phân: vàng sẫm bẩn (hình 1.2)

- Nhân trứng có phôi chiếm toàn bộ trứng trừ 2 đầu Phôi tròn hạt lấm

tấm nhỏ hoặc có ấu trùng

- Đôi khi gặp trứng giun đũa không có lớp vỏ ngoài: trong suốt không

màu hoặc màu xanh xám có một lượt vỏ nhẵn bóng

Trứng không thụ tinh

- Kích thước 50 - 106 m x 40 - 60 m

- Hình dài, đôi khi hình lê hoặc hình lăng, tam giác, bất thường

- Lớp vỏ ngoài mỏng, ít xù xì, băng ở đầu, màu vàng sẫm bẩn

- Nhân bên trong chứa đầy chất tế bào hoàng thể to hình đa giác

Trứng thụ tinh Trứng không thụ tinh Trứng có ấu trùng

Hình 1 2 Hình thể trứng giun đũa soi dưới kính hiển vi

Trang 19

1.1.1.3 Chu kỳ phát triển của giun đũa

Giun đũa sống trong ruột non của người Đời sống của giun đũa thường

kéo dài từ 13 - 15 tháng Quá thời gian này, giun đũa thường bị nhu động ruột

đẩy ra ngoài theo phân Giun đũa đực và giun đũa cái trưởng thành giao hợp với nhau, giun cái đẻ trứng, và trứng theo phân ra ngoại cảnh Gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, có oxy), trứng giun từ một nhân sẽ phát triển đến giai đoạn có ấu trùng trong trứng (hình 1.3) Nếu người ăn phải trứng giun đũa

có ấu trùng, thì ấu trùng sẽ phát triển thành giun đũa trưởng thành [15]

Hình 1 3 Các giai đoạn phát triển trứng giun đũa

Tuy nhiên, từ khi trứng giun đũa có ấu trùng được nuốt vào đường tiêu hóa cơ thể con người, ấu trùng giun đũa thoát khỏi vỏ trứng và trải qua quá trình di hành và phát triển như sau: ở dạ dày, nhờ sức co bóp cơ học và dịch vị làm cho ấu trùng thoát ra khỏi vỏ trứng, ấu trùng xuống ruột, chui qua các mao mạch ở ruột vào tĩnh mạch mạc treo để đi về gan Thời gian qua gan là từ sau

3 - 7 ngày Sau đó ấu trùng đi theo tĩnh mạch trên gan để vào tĩnh mạch chủ và

vào tim phải Từ tim phải, ấu trùng theo động mạch phổi để tới phổi Ấu trùng giai đoạn phổi là thời gian ấu trùng tiết kháng nguyên gây ra bệnh lý cho người, đồng thời kích thích cơ thể sản xuất kháng thể chống giun đũa Sau khi thay vỏ, ấu trùng từ phế nang di chuyển về vùng hầu họng, từ đó được nuốt xuống ruột và ấu trùng sẽ phát triển thành giun đũa trưởng thành ký sinh ở ruột non (hình 1.4)

Ngoài ra, có thể gặp hiện tượng lạc chỗ vì trong quá trình di hành, ấu trùng có thể bị mắc lại ở các kẽ van tim, hay có thể vào tĩnh mạch, tới phổi để vào hệ thống động mạch chủ, từ đó ấu trùng có thể di chuyển tới các cơ quan khác của cơ thể người Trong ngoại khoa, người ta có thể tìm thấy giun đũa ở tim, ở động mạch khoeo… Hiện tượng lạc chỗ gây ra các bệnh của hệ thống tuần hoàn Hiện tượng này cần phân biệt với giun đũa di chuyển (giun chui

Trang 20

ống mật, giun chui vào ống tụy, giun chui vào ruột thừa, giun chui lên dạ dày, giun chui vào ống tai) [1], [11], [12]

Hình 1 4 Chu kỳ phát triển của giun đũa

1.1.1.3 Triệu trứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun đũa

Khoảng 85% các trường hợp nhiễm giun đũa không có triệu chứng; tuy nhiên, triệu chứng thường gặp nhất là khó chịu ở bụng với mức độ khác nhau Các triệu chứng như hen suyễn, mất ngủ, đau mắt và phát ban gây ra do phản ứng, dị ứng của vật chủ với chất bài tiết và dịch tiết của giun trưởng thành, cũng như giun chết và sắp chết Sự xâm nhập của ấu trùng ít gây hủy hoại niêm mạc ruột vật chủ Tuy nhiên, ấu trùng di hành đến các cơ quan như lá lách, gan, hạch bạch huyết và não thường gây ra phản ứng viêm Ngoài ra, ấu trùng thoát khỏi mao mạch trong phổi và đi vào các phế nang gây ra các nốt

Trang 21

xuất huyết nhỏ kèm theo ho, sốt và khó thở Khi bị nhiễm ấu trùng với số lượng lớn có thể tạo ra nhiều cục máu nhỏ, dẫn đến viêm phổi, có khả năng gây tử vong nếu khu vực lớn của phổi bị ảnh hưởng [16]

Số lượng lớn giun trưởng thành đôi khi gây tắc ruột và giun trưởng thành xâm nhập vào thành ruột hoặc ruột thừa có thể gây xuất huyết cục bộ, viêm phúc mạc hoặc viêm ruột thừa Giun đũa ngoài chiếm đoạt chất dinh dưỡng của cơ thể con người, còn gây ra rối loạn các chức năng về tiêu hoá và dinh dưỡng, rối loạn quá trình thẩm thấu thức ăn do làm tổn thương niêm mạc ruột tại vị trí ký sinh, chiếm vitamin, đặc biệt là vitamin A và vitamin D Do

đó, làm ảnh hưởng đến thể lực, tuổi thọ của mỗi người, đặc biệt làm giảm khả năng phát triển thể lực và trí lực của trẻ em Ở trẻ em hay gặp những triệu chứng: gầy còm, bụng chướng, biếng ăn, kinh giật, chảy nước bọt do chất độc của giun đũa gây ra nhiễm độc thần kinh

Giun cái trưởng thành thậm chí có thể đi lên ống dẫn mật đến gan, gây

áp xe, hoặc xuống ống tụy, gây xuất huyết viêm tụy, thậm chí tử vong Nhiễm nặng cũng gây mất cảm giác ngon miệng và không hấp thụ thức ăn [17], [18]

1.1.2 Bệnh giun tóc

1.1.2.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của giun tóc

Giun tóc ký sinh và gây bệnh cho con người là loài Trichuris trichiura có

vị trí phân loại như sau:

Lớp Enoplea Inglis 1983

Bộ Trichinellida Hall, 1916

Liên họ Trichinelloidea Ward, 1907

Họ Trichuridae Ransom, 1911

Giống Trichuris Linnaeus, 1758

Loài Trichuris trichiura Linnaeus, 1771

Giun tóc có kích thước nhỏ, dài 3 - 5 mm, phần đầu mảnh, nhỏ như sợi tóc (hình 1.5) Giun tóc ký sinh chủ yếu ở vùng manh tràng và đại tràng, cá

Trang 22

biệt khi mật độ giun tóc nhiều có thể gặp ở ruột non Giun tóc cắm sâu vào niêm mạc ruột để hút máu

Hình 1 5 Giun tóc trưởng thành

1.1.2.2.Đặc điểm hình thể trứng giun tóc

- Kích thước 50 - 34  m x 22 - 23  m (hình 1.6)

- Hình quả trám (quả cau) màu vàng tươi hoặc sẫm màu dễ nhận kho soi KHV

- Vỏ nhiều lớp, dày màu vàng tươi hoặc vàng nâu

- Ở 2 đầu có 2 nút đậy trong không màu

- Nhân bên trong có một tế bào trứng duy nhất hoặc ấu trùng

Hình 1 6 Các hình thể trứng giun tóc thường gặp khi soi dưới kính hiển vi

Giun đực Giun cái

Trang 23

1.1.2.3.Chu kỳ phát triển của giun tóc

Giun tóc đực, giun tóc cái trưởng thành ký sinh ở đại tràng, chủ yếu ở vùng manh tràng Sau khi giao hợp, giun tóc cái đẻ trứng Trứng giun tóc theo phân ra ngoài Gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm và oxy), trứng từ một nhân sẽ phát triển đến giai đoạn có ấu trùng trong trứng (hình 1.7) Nhiệt độ thích hợp nhất để trứng giun tóc phát triển ở ngoại cảnh là 25 - 300C Với nhiệt độ như vậy, thời gian cần thiết để trứng giun tóc phát triển thành trứng mang ấu trùng là 17 - 30 ngày Trứng giun tóc mang ấu trùng có sức đề kháng cao đối với những tác nhân bất lợi của điều kiện ngoại cảnh Davaine đã giữ được trứng giun tóc có ấu trùng sống tới 5 năm

Hình 1 7 Các giai đoạn phát triển trứng giun tóc

Người ăn phải trứng giun tóc có ấu trùng, trứng qua miệng, thực quản tới dạ dày Nhờ sức co bóp cơ học và tác dụng dịch vị của dạ dày làm cho ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng Ấu trùng giun tóc không di hành qua một số cơ quan nội tạng như ấu trùng giun đũa hay ấu trùng giun móc/mỏ mà di chuyển thẳng tới manh tràng, dừng lại tại đó để phát triển thành giun tóc trưởng thành (hình 1.8) Thời gian hoàn thành chu kỳ của giun tóc, kể từ khi ăn phải trứng giun tóc có ấu trùng tới khi phát triển thành giun tóc trưởng thành mất khoảng 30 ngày Đời sống của giun tóc kéo dài trung bình khoảng 5 - 6 năm [1],[11], [12], [14]

Trang 24

Hình 1 8 Chu kỳ phát triển giun tóc

1.1.2.4 Triệu chứng bệnh và tác hại của giun tóc

Hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng Tuy nhiên, nhiễm bệnh mãn tính gây ra các triệu chứng đặc trưng như: phân lẫn máu, đau bụng dưới, giảm cân, sa trực tràng, buồn nôn và thiếu máu Trong trường hợp sa trực tràng, giun trưởng thành có thể quan sát bên ngoài thấy chúng cắm sâu vào niêm mạc trực tràng Thiếu máu chủ yếu là do xuất huyết khi giun xâm nhập vào thành ruột, và giun hút máu vật chủ Trong trường hợp nhiễm nặng thường gây nhiễm khuẩn thứ cấp, là kết quả sự xâm nhập của giun ở niêm mạc, mở đường cho vi khuẩn xâm nhập Nhiễm hỗn hợp giun tóc và đơn bào

E histolytica, giun móc, hoặc giun đũa không phải là hiếm [16]

1.1.3 Bệnh giun móc/mỏ

1.1.3.1 Đặc điểm hình thái và phân loại của giun móc/mỏ

Bệnh giun móc/mỏ ở người chủ yếu do hai loài giun móc Ancylostoma

duodenalae và giun mỏ Necator americanus gây ra, có vị trí phân loại như sau:

Lớp Chromadorea Inglis 1983

Trang 25

Bộ Rhabditida Chitwood, 1933

Liên họ Strongyloidea Baird, 1853

Họ Ancylostomatidae Looss, 1905

Giống Ancylostoma Dubini, 1843

Loài Ancylostoma duodenale Dubini, 1843

Giống Necator Stiles, 1903

Loài Necator americanus Stiles, 1902

Hai loài giun này tuy có khác nhau về hình thể nhưng có đặc điểm dịch

tễ học, bệnh học và các tác hại tương tự nhau nên thường được gọi chung là giun móc [1], [11], [12]

Giun móc/mỏ trưởng thành có chiều dài khoảng 5 - 13 mm (hình 1.9)

Lỗ miệng có những cặp răng hoặc tấm cắt cong tùy loài Giun móc/mỏ sống ở

tá tràng và phần đầu ruột non, cắm miệng vào niêm mạc ruột để hút máu

Necator americanus Ancylostoma duodenale

Giun đực

Trang 26

Hình 1 10 Hình thể trứng giun móc/mỏ thường gặp khi soi dưới kính hiển vi

1.1.3.3 Chu kỳ phát triển của giun móc/mỏ

Giun móc/mỏ đực và cái trưởng thành ký sinh ở tá tràng Sau khi giao hợp, giun cái sẽ đẻ trứng Trứng giun theo phân ra ngoại cảnh Ở ngoại cảnh, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ thích hợp, độ ẩm, oxy), trứng giun sẽ phát triển thành ấu trùng (hình 1.11) Ở nhiệt độ 25 - 350 C, trứng giun sẽ nở thành

ấu trùng ở giai đoạn I sau 24 giờ Ngoài ra, tính chất thổ nhưỡng cũng có ảnh hưởng tới sự phát triển của ấu trùng Đất màu, phù sa ven sông, đất mùn tạo điều kiện thuận lợi cho ấu trùng phát triển; đất sét, đất mặn hạn chế sự phát triển của ấu trùng [19]

Hình 1 11 Các giai đoạn phát triển trứng giun móc/mỏ

Trang 27

Ấu trùng giai đoạn I thoát khỏi trứng, sống tự do trong phân hoặc đất và dinh dưỡng bằng các vi khuẩn hoặc các chất hữu cơ khác trong phân, đất Chúng phát triển thành ấu trùng giai đoạn II chưa có khả năng lây nhiễm Tới ngày thứ 5 sau khi nở, ấu trùng giai đoạn II phát triển thành ấu trùng giai đoạn III không dinh dưỡng và có khả năng xâm nhập vào vật chủ qua đường da hoặc niêm mạc Những ấu trùng này rất hoạt động, chúng có các hướng tính hoạt động đặc biệt giúp cho việc tìm vật chủ, bao gồm:

Hướng lên cao: Ở môi trường ngoại cảnh, những ấu trùng di chuyển lên những chỗ cao và có thể leo lên những thân cây, cột chống hoặc ngọn cỏ, độ leo cao có thể tới 2 m Ấu trùng ít chui sâu xuống đất, nhưng ở đất cát ấu trùng

có thể chui xuống 1m, ở đất mùn chui xuống 30cm và ở đất sét chui xuống 15cm Nói chung từ ở điểm ban đầu, ấu trùng không di chuyển đáng kể

Hướng tới nơi có độ ẩm cao: Ở ngoại cảnh các ấu trùng thường khuếch tán tới môi trường có độ ẩm cao, đây là cách thích nghi của ấu trùng để tránh các nơi khô hanh dẫn tới ấu trùng chết hàng loạt Khi gặp điều kiện khô, nóng,

ấu trùng có thể chui sâu xuống lớp đất phía dưới, ở đấy có độ ẩm cao hơn và nhiệt độ thấp hơn Cũng do thích nghi này mà ấu trùng thường tập trung trên các giọt sương trên các lá rau, ngọn cỏ vào buổi sáng Nếu vật chủ động vào sẽ giúp ấu trùng bám và xuyên da vật chủ

Hướng tới tổ chức vật chủ: Ấu trùng có khả năng phát hiện hướng của vật chủ để di chuyển đến Nếu ấu trùng xuyên qua da vật chủ không thích hợp

thì ấu trùng sẽ chết không thực hiện được hết chu kỳ

Nhờ có 3 hướng tính trên giúp ấu trùng giun móc/mỏ giai đoạn III tìm thấy và xuyên qua da người ở chỗ tiếp xúc, tiếp tục hoàn thành chu kỳ ký sinh Khi tiếp xúc với người, ấu trùng xâm nhập qua da, thường ở các kẽ ngón chân hoặc ở cẳng chân và vùng mông, ấu trùng theo đường tĩnh mạch về tim phải

Từ tim phải ấu trùng theo động mạch phổi tới phổi Tại phổi ấu trùng tiếp tục thay vỏ 2 lần nữa để trở thành ấu trùng giai đoạn IV và V Tiếp theo, ấu trùng

từ phế nang di chuyển theo các nhánh phế quản tới khí quản rồi lên vùng họng hầu và được nuốt xuống ruột Ấu trùng dừng lại tại tá tràng để ký sinh và phát triển thành giun móc/mỏ trưởng thành (hình 1.12)

Trang 28

Thời gian hoàn thành chu kỳ giun móc/mỏ, kể từ khi ấu trùng xâm nhập vào cơ thể người tới khi phát triển thành giun móc/mỏ trưởng thành mất

khoảng 42 - 45 ngày Đời sống của giun móc A duodenale kéo dài khoảng 4 -

5 năm, N americanus kéo dài khoảng 10 - 15 năm [1], [11], [12], [14], [15]

Hình 1 12 Chu kỳ phát triển giun móc/mỏ

1.1.3.4 Triệu chứng bệnh và tác hại của giun móc/mỏ

Quá trình bệnh giun móc/mỏ ở người có thể được chia thành ba giai đoạn: xâm nhập, di hành và ký sinh ở ruột

- Sự xâm nhập bắt đầu khi ấu trùng tiếp xúc với da người Mặc dù ít thiệt hại gây ra đối với các lớp da bề mặt, phản ứng tế bào của vật chủ được kích thích khi ấu trùng xâm nhập vào mạch máu có thể cô lập và tiêu diệt ấu trùng Kích thích tại chỗ từ ấu trùng xâm nhập, kết hợp với phản ứng viêm đi kèm, gây ra tình trạng nổi mề đay, ngứa.nếu bị bội nhiễm vi khuẩn gây ra tình trạng lở loét da tại những vùng bị ấu trùng giun móc/mỏ xâm nhập Các nốt

Trang 29

mẩn đỏ có thể mất sau 1 - 2 ngày nhưng có khi kéo dài 1 - 2 tuần Ở trẻ em do tái nhiễm và do trẻ ngứa gãi nên có thể dẫn tới lở loét, hoặc thành các sẹo thâm đen, đôi khi trở thành eczema [14]

- Giai đoạn di hành là giai đoạn ấu trùng thoát ra khỏi các mao quản trong phổi, đi vào phế nang và tiến lên phế quản đến cổ họng Sự di hành thường gây ho khan và đau họng Nếu nhiễm số lượng lớn ấu trùng có thể gây xuất huyết nghiêm trọng Ở những nơi tái nhiễm liên tục, một số ấu trùng giun

móc A duodenale, sau khi xâm nhập, có thể xâm chiếm hệ cơ xương của vật

chủ - ở đó chúng không hoạt động, và tiếp tục phát triển khi có điều kiện thuận lợi, như khi mang thai Những ấu trùng này sau đó có thể xuất hiện trong sữa

mẹ và truyền sang cho con

- Giai đoạn nhiễm giun móc nghiêm trọng nhất khi thiết lập và ký sinh trong ruột vật chủ Khi đến ruột non, giun non sử dụng nang miệng và răng để đào qua niêm mạc ruột và bắt đầu hút máu mạnh mẽ Dịch tiết nước bọt của giun có chứa chất chống đông máu để tạo điều kiện cho việc hút máu Ước tính một con giun móc mỗi ngày làm mất 0,02 - 0,07 ml máu Nếu bị nhiễm

hàng trăm con giun móc, lượng máu mất hàng ngày có thể tới 50 - 60 ml Mất

máu do A duodenale trưởng thành ước tính lớn gấp mười lần so với giun mỏ

N americanus Khi hơn 75 giun mỏ hoặc 10 giun móc có mặt, ngay cả khi

40% chất sắt bị giun loại bỏ được hấp thụ lại bởi vật chủ, vẫn gây bệnh thiếu máu do thiếu sắt, kèm theo đau bụng gián đoạn, chán ăn và thèm ăn đất Nhiễm nặng thường gây thiếu máu nghiêm trọng, thiếu protein, da và tóc khô, phù nề, bụng phình to (đặc biệt ở trẻ em), chậm phát triển, chậm dậy thì, chậm phát triển trí tuệ, suy tim, thậm chí tử vong.[4],[11],[12],[14]

1.2 CHẨN ĐOÁN BỆNH GTQĐ

Dựa vào các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng để chẩn đoán

1.2.1 Dựa vào yếu tố dịch tễ học

- Không sử dụng nhà tiêu hoặc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh

- Dùng phân tươi hoặc ủ chưa đủ thời gian để bón cây trồng

- Không thường xuyên đi giày, dép, ủng khi tiếp xúc với đất

Trang 30

- Không uống thuốc tẩy giun định kỳ

- Ăn uống không hợp vệ sinh, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường

- Thiếu nước sạch trong sinh hoạt

1.2.2 Dựa vào lâm sàng

Tùy từng trường hợp nhiễm GTQĐ và cường độ nhiễm, sức đề kháng của cơ thể mà biểu hiện lâm sàng có thể rất khác nhau và không điển hình

- Các triệu chứng thiếu máu: da xanh, niêm mạc nhợt, hoa mắt chóng mặt

- Rối loạn tiêu hóa: buồn nôn, đau bụng, đi ngoài

1.2.3 Dựa vào cận lâm sàng

Xét nghiệm phân tìm trứng được coi là “tiêu chuẩn vàng” và là biện pháp đơn giản, chính xác, rẻ tiền được áp dụng trong chẩn đoán bệnh GTQĐ

Có nhiều kỹ thuật xét nghiệm phân như: xét nghiệm phân trực tiếp, kỹ thuật Willis, Kato, Kato-Katz, Etherformalin đã được áp dụng Tuy nhiên, hiện nay thường sử dụng kỹ thuật Kato-Katz để xét nghiệm vì vừa có thể đánh giá được tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm GTQĐ [14] Ngoài ra, còn có thể áp dụng một số xét nghiệm cận lâm sàng khác (siêu âm, chụp X-quang, xét nghiệm máu ), đặc biệt là trong các trường hợp nghi ngờ có biến chứng hoặc kiểm tra các chức năng liên quan khác của tình trạng nhiễm GTQĐ [17]

1.3 ĐIỀU TRỊ BỆNH GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT

1.3.1 Các thuốc sử dụng để điều trị bệnh giun truyền qua đất

Hiện có nhiều loại thuốc điều trị bệnh GTQĐ đạt hiệu quả cao, không

có tác dụng phụ và có thể điều trị rộng rãi trong cộng đồng [17] Trong đó, hai nhóm thuốc điều trị bệnh GTQĐ thường được sử dụng nhất hiện nay là

- Nhóm Benzimidazole: Mebendazole và Albendazole

- Nhóm Pyrimidin: Pyrantel pamoate, oxantel

Trang 31

1.3.2 Phác đồ điều trị

Tùy từng trường hợp nhiễm các loại GTQĐ mà có phác đồ điều trị khác nhau nhiễm đơn, nhiễm phối hợp một hoặc hai loại, nhiễm nặng hay nhiễm nhẹ thường sử dụng phác đồ điều trị sau:

- Nhiễm nhẹ

+ Albendazole 400mg, liều duy nhất

+ Mebendazole 500mg, liều duy nhất

- Nhiễm nặng hoặc nhiễm phối hợp

+ Albendazole 400 mg/ngày x 3 ngày

+ Mebendazole 500 mg/ngày x 3 ngày

1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT TRÊN

THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh giun truyền qua đất trên thế giới

Bệnh GTQĐ phân bố ở nhiều nước trên thế giới Khoảng 2 tỷ người trên toàn thế giới có nguy cơ bị nhiễm GTQĐ [6] Mỗi năm, khoảng 135.000 người

bị chết do các nguyên nhân có liên quan đến bệnh GTQĐ Năm 1999, WHO ước tính trong số các bệnh nhiệt đới (không kể bệnh sốt rét), gánh nặng bệnh tật do các loại GTQĐ và bệnh sán máng gây ra chiếm trên 40%

Bệnh giun đũa phổ biến trên thế giới, có mặt hầu hết các châu lục: Châu

Á, Châu Âu, Châu Đại Dương, Châu Mỹ (Bắc, Trung và Nam Mỹ) và Châu Phi Những quốc gia chậm phát triển, các nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, có tình trạng vệ sinh môi trường kém, sử dụng phân người trong trồng trọt thì tỷ lệ nhiễm giun đũa tăng cao hơn

Giun tóc cũng là một trong những bệnh GTQĐ phân bố rộng khắp trên thế giới với mức độ khác nhau tuỳ theo từng vùng Do tính chất sinh thái giống nhau giữa giun tóc và giun đũa nên các vùng có bệnh giun đũa đều có bệnh giun tóc Bệnh giun tóc phổ biến ở các vùng nhiệt đới Châu Phi và vùng Đông Nam Á Ở những khu vực nóng và ẩm thì có thể có tới 90% dân số bị nhiễm giun tóc và trở thành loài giun lây nhiễm hàng đầu tại đó [20]

Trang 32

Bệnh giun móc/mỏ cũng có mặt ở khắp nơi trên thế giới nhưng chủ yếu vẫn là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới có khí hậu nóng và ẩm Theo Tổ chức Y tế thế giới, năm 1964 có hơn 800 triệu người nhiễm giun móc/mỏ tại một số nước ở Nam Âu, Nam Mỹ, Đông Nam Á, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, Ấn độ, Châu Phi và các quần đảo Thái Bình Dương Năm 1984, số người nhiễm giun móc/mỏ trên thế giới là 900 triệu người Năm 1998, WHO ước tính trên thế giới có 1,3 tỷ người bị nhiễm giun móc/mỏ, 150 triệu người

bị bệnh và tử vong hàng năm do giun móc/mỏ lên tới 65.000 người [4]

Tỷ lệ nhiễm GTQĐ có khác nhau tuỳ từng vùng, từng khu vực và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khí hậu, tập quán vệ sinh, tập quán canh tác, điều kiện kinh tế Sự lưu hành rộng rãi các bệnh GTQĐ liên quan chặt chẽ với tập quán canh tác, thói quen sinh hoạt mất vệ sinh, tình trạng nghèo đói, vệ sinh môi trường kém và hoạt động phòng các bệnh giun sán còn nhiều bất cập

Tỷ lệ nhiễm giun móc và giun tóc rất khác nhau giữa và trong các khu vực [21] Trên toàn cầu, tỷ lệ nhiễm giun móc lớn hơn nhiễm giun tóc; tuy nhiên, ở Mỹ Latinh và Caribbean, tỷ lệ nhiễm giun tóc dường như lớn hơn

nhiễm giun móc Cũng cần lưu ý rằng hai loài giun móc ở người, loài A

duodenale có phân bố hạn chế hơn về mặt địa lý chủ yếu ở khu vực Châu Phi

và Châu Á, trong khi N americanus phân bố phổ biến rộng rãi, đặc biệt là ở

châu Mỹ [22] Nhiễm giun móc A ceylanicum ở người gần như chỉ được tìm

thấy ở Đông Nam Á [23]

Ở châu Á, tỷ lệ nhiễm giun móc trung bình 7.5% (6.7 - 8.7%), giun tóc

là 7.6% (6.6 - 8.7%), châu Mỹ Latin và Caribbean nhiễm giun móc là 5.2% (4.4 - 6.1%), giun tóc là 12.3% (11.3 - 13.7%) Châu Phi nhiễm giun móc là 13.6% (12.9 - 14.6%), giun tóc là 11.6% (10.9 - 12.6%) Ở Bắc Phi và Trung Đông, tỷ lệ nhiễm giun móc là 1.0% (0.9 - 1.6%), giun tóc là 1.9% (1.6 -2.4%)

Ở Đại Dương nhiễm giun móc là 47.9% (44.7 - 51.0%), giun tóc là 6.4% (5.8–

7.0%)

Các nhóm dân số có nguy cơ mắc bệnh GTQĐ cao bao gồm trẻ em mẫu

giáo (1 - 4 tuổi), trẻ em ở độ tuổi đi học (5 - 14) và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (15 - 49 [24]. GTQĐ gây ra bệnh tật dinh dưỡng đáng kể [25] Ước tính rằng tổng số người hàng năm điều chỉnh khuyết tật (DALYs) bị mất do nhiễm

Trang 33

GTQĐ là: từ 1,2 đến 10,5 triệu đối với A lumbricoides; từ 1,8 đến 22,2 triệu

do T trichiura; và từ 1,6 đến 6,4 triệu đối với giun móc [21] Tổng số DALY

bị mất ở PNTSS ước tính là 680.000 [26]

Bằng chứng cho thấy PNTSS, đặc biệt là phụ nữ mang thai, có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu thiếu sắt một phần do nhiễm giun đũa và giun móc [27] Brooker et al (2008) đã tiến hành đánh giá hệ thống 13 nghiên cứu cắt ngang

về nhiễm giun móc và huyết sắc tố ở phụ nữ mang thai và thấy rằng thậm chí nhiễm cường độ nhẹ cũng có liên quan chặt chẽ đến nồng độ huyết sắc tố thấp

so với không nhiễm Ngoài ra, nồng độ huyết sắc tố giảm khi cường độ nhiễm giun móc tăng cũng phụ thuộc vào cường độ Các nghiên cứu công bố sau tổng quan này [28], [29] cũng có kết quả tương tự Một đánh giá có hệ thống ở người lớn không mang thai (chủ yếu là phụ nữ) cũng cho thấy một mối quan

hệ phụ thuộc đáng kể giữa nhiễm giun móc cường độ cao và giảm nồng độ huyết sắc tố [30] Năm 2011, 500 triệu phụ nữ không mang thai và 32 triệu phụ

nữ mang thai trong độ tuổi 15 - 49 ước tính là thiếu máu, một nửa là do thiếu

sắt [3] Thiếu máu và thiếu sắt làm suy giảm sức khỏe của phụ nữ và làm tăng nguy cơ bất lợi cho mẹ và trẻ sơ sinh Một đánh giá có hệ thống về bệnh thiếu máu liên quan đến giun móc ở phụ nữ mang thai cho thấy mối quan hệ nhất giữa cường độ nhiễm giun móc nặng và nồng độ huyết sắc tố thấp [21] Mục tiêu dinh dưỡng toàn cầu của WHO là giảm thiếu máu ở bà mẹ 50% vào năm

2025 và một trong những chiến lược kiểm soát được khuyến nghị là hóa trị liệu

dự phòng ở PNTSS, đặc biệt là ở những khu vực nhiễm giun móc chiếm ưu thế [27]

Mặc dù PNTSS nằm trong số các nhóm có nguy cơ mắc bệnh GTQĐ cao nhất, các hành động để bảo vệ PNTSS còn bị hạn chế Rất ít quốc gia thực hiện chương trình tẩy giun nhắm mục tiêu vào PNTSS và ít ghi lại hoặc báo cáo dữ liệu một cách hệ thống Một ngoại lệ được ghi nhận là các chương trình dựa trên cộng đồng để loại bỏ bệnh giun chỉ bạch huyết bao gồm dùng thuốc tẩy giun albendazole cho PNTSS ở các hộ gia đình

Một trong những lý do khiến điều trị dự phòng ở PNTSS thấp vì PNTSS

là một nhóm không đồng nhất và chỉ một tỷ lệ nhỏ có thể tiếp cận với chương trình tẩy giun PNTSS có thể được chia thành bốn nhóm nhỏ đại diện cho các

Trang 34

giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của phụ nữ, mỗi nhóm có sự can thiệp khác nhau trong hệ thống chăm sóc sức khỏe: vị thành niên từ 15 đến 19 tuổi thường không được tẩy giun ở trường; phụ nữ mang thai và cho con bú có thể dễ dàng tiếp cận hơn thông qua các dịch vụ y tế và cơ sở vật chất; và phụ nữ không mang thai và không cho con bú chỉ có thể tiếp cận được thông qua các chương trình cộng đồng Lợi ích và thách thức liên quan đến các chương trình tẩy giun cho mỗi nhóm gần đây được tóm tắt [31]

Mupfasoni et al.(2018) tổng kết các tài liệu đã ước tính có 688 triệu PNTSS ở 102 quốc gia cần hóa trị dự phòng GTQĐ, tương ứng với khoảng một nửa tổng số PNTSS tại các quốc gia này Khu vực Đông Nam Á (49%) và Châu Phi (26%) có số lượng lớn nhất Trong số 688 triệu PNTSS cần điều trị

dự phòng GTQĐ, 10% ước tính có thai, 10% đang cho con bú Con gái vị thành niên ước tính chiếm 16%, trong khi PNTSS trưởng thành không mang thai cũng không cho con bú ước tính là 64% Số lượng PNTSS cần điều trị dự phòng GTQĐ ở các khu vực như sau:

1.4.1.1.Khu vực Châu Phi

Nhiễm GTQĐ đặc hữu ở 42 quốc gia Châu Phi và số lượng PNTSS cần điều trị dự phòng GTQĐ ước tính là 176 triệu (80% tổng dân số PNTSS ở Châu Phi) Số phụ nữ mang thai ở những khu vực có tỷ lệ nhiễm giun móc và giun tóc trên 20% ước tính khoảng 10,2 triệu, chiếm hơn 50% tổng số phụ nữ mang thai cần điều trị dự phòng GTQĐ trong khu vực

1.4.1.2 Khu vực Châu Mỹ

Nhiễm GTQĐ ở 25 quốc gia trong khu vực Châu Mỹ Khoảng 47 triệu (31%) PNTSS yêu cầu điều trị dự phòng GTQĐ Trong số ba triệu phụ nữ mang thai cần điều trị, ước tính có khoảng 540.000 người sống ở những khu vực có tỷ lệ nhiễm giun móc và giun tóc bằng hoặc vượt quá 20% Trong năm

2015, tại khu vực này có 1,5 triệu PNTSS đã được điều trị, khoảng 3% tổng dân số PNTSS có nguy cơ nhiễm GTQĐ

1.4.1.3 Khu vực Đông Địa Trung Hải

Bảy quốc gia bị nhiễm GTQĐ ở khu vực này và 42 triệu PNTSS (56%) cần điều trị dự phòng GTQĐ Đối với phụ nữ mang thai cần điều trị dự phòng

Trang 35

GTQĐ, chỉ có khoảng 470.000 người ước tính sống ở những khu vực có tỷ lệ nhiễm giun móc và giun tóc bằng hoặc vượt quá 20%

1.4.1.4 Khu vực Châu Âu

Ba triệu PNTSS (20%) tại 5 quốc gia bị nhiễm GTQĐ được xác định là cần điều trị bệnh GTQĐ Ở khu vực này không bị nhiễm giun móc

1.4.1.5 Khu vực Đông Nam Á

Trong khu vực này, tám quốc gia là đặc hữu của GTQĐ và 338 triệu PNTSS (70%) đang cần điều trị dự phòng GTQĐ Trong số 26 triệu phụ nữ mang thai cần điều trị dự phòng GTQĐ, ước tính chỉ có 7,4 triệu sống ở những khu vực có tỷ lệ nhiễm giun móc và giun tóc từ 20% trở lên Trong năm 2015, 27,5% PNTSS cần điều trị dự phòng GTQĐ đã được tẩy giun

1.4.1.6 Khu vực Tây Thái Bình Dương

Khu vực Tây Thái Bình Dương có 15 quốc gia đặc hữu của GTQĐ với ước tính 81 triệu PNTSS (19%) cần điều trị dự phòng GTQĐ Trong năm

2015, chỉ có 4% PNTSS được tẩy giun

1.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam

Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới, có khí hậu nóng và ẩm là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trứng các loại GTQĐ ở ngoại cảnh Mặt khác, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, ý thức vệ sinh phòng bệnh còn hạn chế Nhiều vùng vẫn còn duy trì các tập quán canh tác, sinh hoạt lạc hậu, nhất là khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh còn thấp, thói quen phóng uế bừa bãi, là điều kiện thuận lợi để bệnh GTQĐ lan truyền rộng rãi trong cộng đồng Tỷ lệ và cường độ nhiễm GTQĐ rất cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng đặc

biệt là tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em và thiếu máu ở PNTSS [32], [33]

Trong những năm qua, đã có nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu về tình

hình bệnh GTQĐ tại nhiều vùng, miền trên cả nước cho thấy:

Bệnh giun đũa khá phổ biến, với tỷ lệ nhiễm cao Theo các điều tra của Hoàng Thị Kim và cs, tỷ lệ nhiễm phân bố không đều giữa các vùng: vùng đồng bằng tỷ lệ nhiễm cao hơn miền núi, do miền núi mật độ dân cư thưa thớt

Trang 36

hơn và nhiều vùng thường không có tập quán dùng phân tươi để bón cây trồng Tỷ lệ nhiễm ở miền Bắc cao hơn ở miền Nam cũng do nguyên nhân miền Nam thường ít có tập quán sử dụng phân người để bón cây và có thể do trứng giun ở đất chịu tác dụng của ánh nắng mặt trời nhiều hơn, nhiệt độ cao

hơn nên dễ bị hủy hoại hơn [32]

- Miền Bắc: tỷ lệ nhiễm ở vùng đồng bằng 80 - 95%; vùng trung du: 80

- 90%; vùng núi: 50 - 70%; vùng ven biển: 70%

- Miền Trung: vùng đồng bằng: 70,5%; miền núi: 38,4%; ven biển:

12,5%; Tây Nguyên: 10 - 25%

- Miền Nam: vùng đồng bằng: 45 - 60%

Tuy tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhưng cường độ nhiễm thấp, tại đa số các vùng điều tra số trứng trung bình trên một gam phân < 10.000 trứng Tình trạng nhiễm giun đũa phối hợp với nhiều loại giun khác khá phổ biến: 89% số người nhiễm có từ 2 loại giun trở lên

Bệnh giun tóc có tỷ lệ nhiễm cũng rất khác nhau theo từng vùng, đặc

biệt có sự khác nhau rõ rệt giữa miền Nam và miền Bắc

- Miền Bắc: Tỷ lệ nhiễm rất cao chỉ đứng sau bệnh giun đũa Vùng đồng

bằng: 58 - 89%; Trung du: 38 - 41%; Vùng núi: 29 - 52%; Ven biển: 28 - 75%

- Miền Trung: Đồng bằng: 27 - 47%; Vùng núi: 4 - 10%; Ven biển:

12,7%; Tây nguyên: 1,7%

- Miền Nam: Tỷ lệ nhiễm thấp nhất so với cả nước Vùng đồng bằng tỷ

lệ nhiễm chỉ từ 0,5 - 1,5%

Nguyên nhân có thể do miền Nam không có tập quán dùng phân tươi

để bón cây trồng, mặt khác số giờ nắng, cường độ nắng và nhiệt độ cao hơn miền Bắc nên trứng giun dễ bị tiêu diệt ở ngoại cảnh hơn

Nhiễm giun đũa thường phối hợp với nhiễm giun tóc Cường độ nhiễm giun tóc ở mức độ nhẹ: ở đa số các vùng điều tra số trứng trung bình trên một gram phân < 1.000 trứng

Trang 37

Bệnh giun móc/mỏ: có tỷ lệ nhiễm đứng thứ hai sau bệnh giun đũa Qua

các kết quả điều tra, tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở Việt Nam từ 3 - 80% tuỳ theo

tính chất nghề nghiệp, tập quán canh tác, điều kiện vệ sinh và tính chất thổ nhưỡng ở từng vùng

- Miền Bắc: Tỷ lệ nhiễm đa số ở vùng đồng bằng từ 30 - 60% Vùng ven biển tỷ lệ nhiễm cao hơn cả (67%) rồi đến vùng trung du (64%) và vùng núi (61%)

- Miền Nam và Nam Trung bộ: vùng đồng bằng tỷ lệ nhiễm là 52%, ven biển 68%, trung du 61%, cao nguyên 47%

Cường độ nhiễm giun móc/mỏ ở mức độ nhẹ, đa số các mẫu điều tra đều có số trứng trung bình/gram phân (EPG) < 1.000 trứng Nhiễm giun

móc/mỏ phối hợp với các loại giun khác chiếm từ 50 - 70% số người nhiễm

Phụ nữ ở lứa tuổi lao động có tỷ lệ nhiễm cao hơn nam do phụ nữ thường làm các công việc tiếp xúc với đất và phân nhiều hơn như làm cỏ, chăm bón lúa và rau màu Nhiễm giun móc/mỏ cũng liên quan mật thiết đến lứa tuổi: tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm tăng dần theo tuổi

Yếu tố nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ Công nhân mỏ than thường có tỷ lệ nhiễm cao (30 - 85%), nông dân nhiễm nhiều hơn ngư dân (76,1% so với 55,1%), người trồng rau nhiễm nhiều hơn người trồng lúa (69% so với 11%) [32]

Điều tra của Nguyễn Thị Việt Hòa (2001-2005) tại xã Mễ Trì Hạ cho thấy 49,6% người điều tra thường xuyên ăn rau sống, 19,5% thường xuyên uống nước chưa đun sôi, 46,3% không thường xuyên đi giầy dép, 58,4% không rửa tay trước khi ăn và 51% không rửa tay sau khi đại tiện [34], [35]

Theo kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Vân (1995) tỷ lệ nhiễm giun móc ở hai xã ngoại thành Hải Phòng là 43%, trong đó xã chuyên canh rau màu có tỷ

lệ nhiễm cao hơn (56,9%) so với xã chuyên canh rau màu, xen kẽ lúa (29,1%) [36] Tương tự, kết qủa nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề và cs (1995) cho thấy

tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở phụ nữ tại những vùng trồng lúa xen kẽ rau màu đồng bằng Bắc Bộ là 43,4% và cường độ nhiễm chủ yếu là ở mức độ nhẹ số trứng < 1000 [5]

Trang 38

Nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị Hưng và cs (2002) tại một xã đồng bằng của tỉnh Quảng Ninh, tỷ lệ nhiễm ít nhất một loại giun của cư dân từ 15 đến 49 tuổi là 96,5%, tỷ lệ nhiễm giun đũa 82,7%, tỷ lệ nhiễm giun tóc 69,9%

và tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ là 20,4% [37]

Nghiên cứu tại hai tỉnh Lào Cai và Hà Tĩnh cho thấy rằng mức độ nhiễm giun móc chủ yếu ở mức độ nhẹ, chưa phát hiện trường hợp nhiễm nặng: Lào Cai (nhẹ 100%), Hà Tĩnh (nhẹ 98,1%, trung bình 1,9%) [9]

Trần Kiều Anh và cs (2014) nghiên cứu tại huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ

An trên 420 phụ nữ 18 - 49 tuổi cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung là 49,5% [38] Nghiên cứu của Cao Bá Lợi (2010) tại tỉnh Phú Thọ cho thấy các nữ công nhân ở nông trường chè tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ 49,4% [39]

Nghiên cứu của Đỗ Trung Dũng (2010), thực trạng nhiễm GTQĐ ở PNTSS tại một số điểm của Lào, Cămpuchia và Việt Nam tỷ lệ nhiễm chung các loại GTQĐ ở Việt Nam là 56,9% [40]

Phan Văn Trọng và cs (2002) nghiên cứu GTQĐ tại một số vùng nông thôn ở Đăk Lăk, cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở phụ nữ trên 15 tuổi là 73,9% Tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở vùng trồng rau màu (82,5%) và cường độ nhiễm giun móc/mỏ trung bình (1.207 trứng/gram phân) cao hơn đáng kể so với vùng trồng lúa và cây công nghiệp Kết quả điều tra thực trạng vệ sinh môi trường cũng cho thấy tỷ lệ gia đình không có nhà tiêu cao 45,1%, nhà tiêu không hợp vệ sinh 43,4%, tỷ lệ gia đình có người không đại tiện vào nhà tiêu

là 73,1% và 12,3% gia đình còn dùng phân tươi để bón rau màu [41]

Nghiên cứu tại Đắk Lắk cũng cho thấy tỷ lệ người dân không biết đường lây nhiễm của GTQĐ là 89,1% và không biết tác hại của GTQĐ 86,7%

Tỷ lệ có tẩy giun định kỳ 1-2 lần/năm là 24,4% và 62,6% không tẩy bao giờ

Không dùng bảo hộ khi tiếp xúc với đất canh tác 58,1% Tỷ lệ đại tiện ngoài nhà tiêu là 41,3% Nguy cơ nhiễm giun móc/mỏ ở những đối tượng không thường xuyên đi giày dép, không thường xuyên sử dụng nhà tiêu, có sử dụng

phân tươi để bón cây trồng, không tẩy giun định kỳ 1-2 lần/năm tương ứng

cao gấp 3,5 lần so với các nhóm còn lại Nghiên cứu trên cũng cho thấy tỷ lệ

Trang 39

giun móc/mỏ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm người có hiểu biết đúng về nguyên nhân, tác hại và đường lây truyền bệnh [42]

Nghiên cứu thực trạng nhiễm giun ở cộng đồng người Ê đê của Thân Trọng Quang (2009) tại hai xã Hòa Xuân và Ea Tiêu, Đăk Lắk cho thấy tỷ lệ nhiễm chung là 75,1%, nhiễm giun đũa 57%, giun móc 37%, giun tóc 1,7%,

đa số là nhiễm nhẹ [13] Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh GTQĐ tại Gia Lai (2003) cho thấy tỷ lệ nhiễm ít nhất một loại GTQĐ ở PNTSS là 65,3%, tỷ lệ nhiễm một loài giun là 53,7%, đa nhiễm là 11,6% Tỷ lệ nhiễm giun đũa là 5%, giun tóc 20,2% và nhiễm giun móc/mỏ là 51,8% [43]

Kết quả điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, cho thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở các đối tượng tại tỉnh Yên Bái vẫn còn tương đối cao Nghiên cứu Nguyễn Trọng Phú (2007) Trung Tâm phòng chống Sốt rét tỉnh Yên Bái cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ của người dân xã Phú Nham, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái là 91%, nhiễm giun đũa 66,3%, nhiễm giun tóc 63,9%, nhiễm giun móc/mỏ 57,9% [44]

Nghiên cứu về đường lây truyền, tác hại và các biện pháp phòng chống bệnh giun truyền qua đất của các tác giả rất khác nhau tùy theo thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu:

Tại một xã nông thôn tỉnh Thái Bình thấy nguyên nhân lan truyền bệnh giun do nguồn nước bị ô nhiễm 15,1%, ruồi nhặng 14,2%; lây truyền vào cơ thể người qua thức ăn 65,9%, qua ăn uống 15,1%, qua đường da 8,6%

Phan Văn Trọng (2002) đường lây truyền của giun vào cơ thể người qua đường tiêu hoá 8,8%, qua da 1,5%, không biết 89,1% [29]; 86,7% người không biết tác hại của nhiễm giun móc/mỏ; 10,6% người cho là gầy yếu; 2,7% người cho là thiếu máu [41]

Nguyễn Văn Khá và CS (2002-2004) điều tra kiến thức phòng chống giun sán của các dân tộc tại tỉnh Đăk Lăk có 46,17% người cho tác hại của bệnh giun sán là đau bụng; 25,83% người cho là ốm yếu; 23,33% người trả lời không biết ; 47,17% cho là ăn, uống chín, 32,17% rửa tay trước khi ăn, 43,16% không biết; 14,33% có tẩy giun hàng năm, 85,67% không tẩy giun

Trang 40

hàng năm, 48,83% ăn rau sống, uống nước lã, 42,67% không biết; 9,16% nhà

có hố xí và 80,84% nhà không có hố xí

Xét nghiệm tìm trứng giun đũa khuyếch tán ra môi trường đất; kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Thế, Nguyễn Nhân Kim (1963) tại Hà Nội thấy trứng giun đũa ở sàn nhà sàn lớp học, bàn học sinh; ở nông thôn tìm thấy trứng giun đũa ở sân, lối đi, trong nền nhà, trên bàn, trên ghế với tỷ lệ 3 trứng giun/100g đất, đặc biệt số trứng tăng lên 19 lần ở khu vực xung quanh hố xí

Do vậy sử dụng phân người và phân gia súc (chó, lợn, gà) bón hoa màu cũng

là nguồn khuyếch tán trứng giun đũa ra môi trường cho nên ngoại cảnh cũng

là nguồn ủ trứng giun đũa quanh năm

Bộ môn Ký sinh trùng, Trường Đại học Y Hà Nội đã điều tra sự khuyếch tán của trứng giun tóc ở ngoại cảnh với 16,6% mẫu đất tìm thấy trứng giun, 6,8-33,5 trứng/100 gram đất, 30% phân ủ có trứng giun chưa bị phân huỷ và trên 380 ruồi được xét nghiệm thấy có 1 trứng giun [11]

Điều tra sự ô nhiễm ấu trùng giun móc/mỏ ở ngoại cảnh miền Bắc thấy vùng đồng bằng 100-140 ấu trùng/100 gram đất, trung du 8-35 ấu trùng/100 gram đất, vùng núi 0,2-0,7 ấu trùng/100 gram đất Mức độ phân bố còn phụ thuộc vào tính chất thổ nhưỡng của địa phương, phương thức canh tác trong nông nghiệp, tình trạng vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân, tình trạng sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh và thói quen đại tiện bừa bãi

Ngày đăng: 06/02/2020, 15:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w