Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng nguời cao tuổi đi làm có lương, tham gia thể dục thể thao, đi du lịch hoặc thực hành vệ sinh giấc ngủ tốt có chất luợng giấc ngủ tốt hơn, trong khi chấ
Trang 1TÓM TẮT
Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến chất luợng giấc ngủ
ở nguời cao tuổi tại thành phố Hung Yên năm 2018” đuợc thực hiện nhằm mô tả thực trạng chất luợng giấc ngủ và tìm hiểu các yếu tố liên quan ở nguời cao tuổi Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin cá nhân, đánh giá chất lượng giấc ngủ bằng thang đo Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI) Chỉ số PSQI là tổng họp điểm của một bảng câu hỏi mà nguời đuợc hỏi tham gia trả lời gồm 4 câu hỏi có kết thúc mở, 14 câu hỏi khi trả lời cần dựa trên tần suất sự kiện và các mức độ tốt xấu khác nhau Mức trung bình lớn hơn hoặc bằng 5 điểm sẽ cho thấy chất luợng giấc ngủ kém Mức điểm càng cao thì chất luợng giấc ngủ càng thấp Với thiết kế nghiên cứu là mô tả cắt ngang và đối tuợng nghiên cứu là 400 nguời cao tuổi > 60 tuổi tại 4 phuờng thuộc thành phố Hung Yên
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối tuợng tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 71 ± 7,2 tuổi, trong đó có 143 nam chiếm 35,8%, 257 nữ chiếm 64,2% 82,3% đối tuợng nghiên cứu có chất luợng giấc ngủ kém (tổng điểm >5) với điểm trung bình 9,46 ± 3,74 điểm Nguời cao tuổi có giờ ngủ trung bình thực sự mỗi đêm
là 5,0 ±1,3 giờ và mất trung bình 42 phút để đi vào giấc ngủ
Trong nghiên cứu này, tuổi càng cao thì điểm chất luợng giấc ngủ càng giảm (r = 0,241, p < 0,01) Chất luợng giấc ngủ của nữ giới thấp hom nam giới với p < 0,01 Chất luợng giấc ngủ tốt ở nguời cao tuổi có trĩnh độ học vấn cao kết hôn, sống cùng bạn đòi, có thu nhập cao với p < 0,01 Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng nguời cao tuổi đi làm có lương, tham gia thể dục thể thao, đi du lịch hoặc thực hành
vệ sinh giấc ngủ tốt có chất luợng giấc ngủ tốt hơn, trong khi chất luợng giấc ngủ kém ở nhóm đối tuợng có nguy cơ trầm cảm hoặc mắc một số bệnh mạn tính (hô hấp, cơ xuơng khớp, nội tiết) hoặc mắc nhiều bệnh mạn tính Trong mô hình hồi quy phân lóp các yếu tố có liên quan chủ yếu tới chất luợng giấc ngủ của nguời cao tuổi bao gồm: yếu tố trầm cảm (P = 0,498, p < 0,01), quản lý thời gian ngủ (P = 0,165, p < 0,05) và tâm trạng khi ngủ (P = 0,123, p = 0,05)
Từ khóa: người cao tuổi, chất lượng giấc ngủ, các yếu tố liên quan
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, các thầy cô đã giảng dạy trong chương trình học Cao học Điều dưỡng tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định - những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về ngành điều dưỡng làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này và ứng dụng trong công tác
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Thanh Hương giảng viên trường Đại học Y Hà Nội đã đồng hành, tận tâm hướng dẫn tôi trong nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin cảm ơn Đảng ủy - Ban giám hiệu, các khoa phòng, bộ môn Điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hưng Yên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong công tác, được tham gia lớp học một cách thuận lợi nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên, đặc biệt là tập thể cán bộ 4 trạm Y tế, hội người cao tuổi phường Hồng Châu, Minh Khai, Hiến Nam, Bảo Khê đã tạo điều kiện giúp đõ tôi trong việc liên hệ, thu thập số liệu đề tài
Tôi xin cảm ơn quý đồng nghiệp tham gia thu thập số liệu và người cao tuổi tại 4 phường nghiên cứu đã nhiệt tình cộng tác để tôi có được số liệu cho công trình nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu và thực hiện luận văn của mình
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chua từng đuợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ THEN
Trang 41.3 Các yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ 101.4 Các phương pháp đo lường và đánh giá chất lượng giấc ngủ 17
2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá 26
4.2 Chất lượng giấc ngủ của đối tượng nghiên cứu 524.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ 54
Trang 5Phụ lục 5: Đặc điểm trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 15Phụ lục 8: Mối tương quan giữa nguy cơ trầm cảm và chất lượng giấc ngủ 16
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT •
1 BDI - II (Beck Depression Inventory - II): Thang trầm cảm Beck II
2 BMI (Body Mass Index): Chỉ số khối của cơ thể
3 CLGN: Chất lượng giấc ngủ
4 HbAlc (Glycosylated Hemoglobin, Type Ale): Chỉ so kiểm soát bệnh đái tháo đường
5 NCT: Người cao tuổi
6 PSQI (Pittsburgh Sleep Quanlity Index): Chỉ số Chất lượng giấc ngủ
7 SHI (Sleep Hegiene Index): Thực hành vệ sinh giấc ngủ
8 WHO (World Health Organization): Tổ chức Y tế thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Đăc điểm nhân khấu hoc của đối tương nghiên cứu 29Bảng 3.2: Đặc điểm tình trạng sức khỏe của đối tượng nghiên cứu: 30Bảng 3.3: Đăc điểm tình trang gia đình vả nghỉ hưu của đối tương nghiên cứu: 31Bảng 3.4: Đặc điểm tham gia công việc hảng ngày của đối tượng nghiên cứu 32Bảng 3.5: Đăc điểm tham gia các hoat đông tâp thể của đối tương nghiên cứu 32Bảng 3.6: Đăc điểm nguy cơ trầm cảm của đối tương nghiên cửu 33
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa yếu tố nhân khấu hoc và chất lương giấc ngủ 37 Bảng 3.11: Mối liên quan giữa tình trang sức khỏe vả chất lương giấc ngủ 38Bảng 3.12: Mối liên quan giữa tình trạng gia đình, nghỉ hưu và chất lượng giấc ngủ
40Bảng 3.13: Mối liên quan giữa các công viêc vả hoat đông xã hôi hàng ngày với
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa nguy cơ trầm cảm vởi chắt lượng giấc ngủ 42Bảng 3.15: Mối liên quan giữa thực hành vệ sinh giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ43 Bảng 3.16: Mô hình hồi quy phân lởp các yếu tố ảnh hưởng đến PSQI 44
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ, s ơ ĐỒ
Sơ đồ 1 : Các giai đoạn của giấc ngủ trong 1 đêm ở người trưởng thành 7Biểư đồ 1 : Biểu đồ phân bố chất lượng giấc ngủ ở NCT 36
Trang 9ĐẶT VẤN ĐÈCùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và tiến bộ của y học, tuổi thọ của con người ngày càng nâng cao Tuổi thọ trung bình dân số cả nước ta năm 2016 là 73,4 [10] Nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên năm 2014 là 7,1%, dự báo sẽ tăng lên 18,1% vao năm 2049 [11].
Lão hóa không phải là một bệnh nhưng những giảm sút về sức khỏe thể chất
và tinh thần làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của người cao tuổi Con người trải qua nhiều thay đổi về mặt thể chất, tinh thần và xã hội khi họ lớn tuổi Một trong những thay đổi về thể chất theo tuổi là giấc ngủ, có trên 50% người cao tuổi
có giấc ngủ kém chất lượng [41] Các rối loạn giấc ngủ và phàn nàn về giấc ngủ phổ biến hơn ở người cao tuổi với tỷ lệ mất ngủ từ 10 - 48% [52]
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ Phụ nữ, người thất nghiệp, người lớn tuổi, những người góa bụa, ly thân, ly hôn hoặc đơn thân, những người có trình độ học vấn thấp, và những người có tình trạng kinh tế xã hội thấp thường có chất lượng giấc ngủ kém hơn [52], [81], [91] Bên cạnh đó yếu tố môi trường và tiếng ồn cũng làm giảm chất lượng giấc ngủ [66], [77], [81], [94] Giấc ngủ là điều cần thiết cho sức khỏe tối ưu, tăng chất lượng cuộc sống và có thể tự quản lý được bởi từng cá nhân bằng các thực hành vệ sinh giấc ngủ tích cực [45], [81]
Các nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa rối loạn giấc ngủ và đời sống tinh thần ở người cao tuổi Các vấn đề về giấc ngủ thường xuất hiện như một triệu chứng trầm cảm hoặc là một phản ứng phụ của việc điều trị [25], [54] Những vấn đề về giấc ngủ làm tăng nguy cơ trầm cảm [37], [105], những người bị mất ngủ dai dẳng có nguy cơ phát hiển bệnh trầm cảm sau này gấp 3,5 lần so với các cá nhân không mất ngủ [87] Chất lượng giấc ngủ kém được xem như là yếu tố thúc đẩy các bệnh mạn tính ở người cao tuổi
Số lượng người cao tuổi tại thành phố Hưng Yên tính đến tháng 12 năm
2017 là 18,440 người chiếm tỷ trọng 15,7% Vai trò của NCT có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội Tại tỉnh hưng Yên nhiều nghiên cứu về các bệnh mạn tính ở NCT, nhu cầu khám chữa bệnh, chi phí khám chữa bệnh và các ảnh hưởng của già hóa dân số được tiến hành Nhằm đảm bảo cho NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ ở người cao tuổi tại thành phố Hưng Yên năm 2018” với mục đích đánh giá chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ góp phần nâng cao chất lượng giấc ngủ qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm các nguy cơ do chất lượng giấc ngủ kém ở NCT
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN cứu
1 Mô tả thực trạng chất lượng giấc ngủ của người cao tuổi tại thành phố Hưng Yên năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ ở người cao tuổi tại thành phố Hưng Yên năm 2018
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về người cao tuổi
1.1.1 Sự già hóa dân số
Già hóa dân số là xu hướng tất yếu đi kèm với sự phát hiển về kinh tế xã hội
và phát triển các dịch vụ y tế Vào năm 2050 tuổi thọ toàn cầu dự kiến tăng lên gần
8 năm từ 68,6 năm vào năm 2015 lên 76,2 năm vào năm 2050 Dự kiến người từ 80 tuổi trở lên sẽ tăng hơn gấp ba lần vào năm 2050 so với năm 2015 Theo đó, dân số
sẽ tăng từ 126,5 triệu lên 446,6 triệu người Dân số già nhất ở một số nước Châu Á
và châu Mỹ Latinh được dự đoán sẽ tăng gấp bốn lần vào năm 2050 [83] Tại Tây Thái Bình Dương năm 2010, khu vực đã có hơn 235 triệu người trong độ tuổi từ 60 trở lên chiếm 13% tổng dân số và hơn 30 triệu người ở độ tuổi từ 80 trở lên chiếm 2% dân số Tỷ lệ người cao tuổi trong dân số gia tăng hơn bất kỳ hon bất kỳ nhóm tuổi khác do mức sinh giảm và tuổi thọ trung bình kéo dài [9] Dân số từ 65 tuổi trở lên ở Mỹ dự kiến sẽ tăng gấp 3 trong ba thập niên tới, tăng 48 triệu lên 88 triệu vào năm 2050 [83] Tại Việt Nam, tuổi thọ trung bình dân số cả nước ta năm 2016 là 73,4 [10] Nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên năm 2014 là 7,1 % dự báo sẽ tăng lên 18,1
% vào nam 2049 [11]
1.1.2 Một sổ đặc điểm sình lý người cao tuổi
Sinh lý của một người luôn thay đổi ở mức độ cấu trúc, chức năng và phân tử khi họ già đi, mọi hệ thống cơ quan chính đều thay đổi sinh lý theo thời gian Những thay đổi đối với hệ thần kinh là những thay đổi về cấu trúc, chức năng,
sự trao đổi chất và lưu lượng máu trong não lão hóa dẫn đến suy giảm nhận thức, giảm trí nhớ và độ tập trung, hay quên sự việc mới xảy ra, dễ mất thăng bằng và rối loạn giấc ngủ [14], [24] Các thay đổi hệ thống tim mạch làm cho cung lượng tim thấp hơn và huyết áp cao dẫn đến những thay đổi đáng kể đối với cấu trúc và chức năng của tim [24],[42] Các thay đổi hệ thống hô hấp: Lồng ngực thay đổi về hình dạng và hạn chế cử động Tế bào biểu mô trụ phế quản trở nên dày, tế bào biểu mô tiết dịch trở nên loạn dưỡng làm cho chất nhày bị cô đặc và giảm về số lượng Hoạt động của các nhung mao đường hô hấp bị giảm Dung tích phổi giảm, khả năng hấp thu oxy vào máu động mạch giảm dẫn đến suy giảm oxy hóa, giảm thông khí/ tưới máu phù họp và tăng nguy cơ xẹp phổi [14], [24] Thay đổi đường tiêu hóa với lão hóa bao gồm vận động thực quản bị thay đổi, làm thức ăn lưu ở dạ dày lâu hơn và giảm chuyển hóa ở gan Hệ thống thận thay đổi giản tốc độ lọc máu thận, giảm khả năng kiểm soát điện giải [24] Hệ thống cơ xương khớp ở NCT cũng biến đổi, giảm
độ lớn của cơ, giảm sức mạnh, giảm tính mềm dẻo, giảm khối lượng xương, giảm tỷ trọng chất khoáng, thưa xương, tiêu xương, thoái hóa sụn, giảm dịch khớp Do vậy, NCT thường đau cơ, khớp, giảm sức chịu đựng với các hoạt động cũng như giảm chiều cao, gù lưng Nguy cơ té ngã và gãy xương cũng gia tăng kéo theo nhiều hệ quả do bất động [14],[24] Cùng với tuổi cao, sự suy giảm chức năng nội tiết bao gồm giảm đáp ứng mô và giảm tiết hormon từ các tuyến ngoại vi, dung nạp glucose
bị suy giảm phát triển ở trên 50% số người trên 80 tuổi Sự giảm sản xuất insulin bởi các tế bào beta, sự gia tăng đề kháng insulin liên quan đến chế độ ăn uống kém,
Trang 12tăng khối lượng mỡ bụng và giảm khối lượng cơ Tất cả đều góp phần làm giảm sự chuyển hóa glucose và làm cho cao tuổi có nguy cơ cao bị kiểm soát đường huyết kém Phụ nữ thường trải qua thời kỳ kinh khi nồng độ esừadiol huyết thanh thấp hơn và nồng độ hormone kích thích nang trứng cao hơn ở phụ nữ trẻ Những thay đổi này, cùng với sự suy giảm estrogen làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch, mất nhanh khối lượng xương, bất ổn vận mạch, các triệu chứng tâm lý và teo mô đáp ứng estrogen Sản xuất steroid tuyến sinh dục nam cũng thay đổi theo độ tuổi, sự suy giảm rõ rệt về mức độ testosterone tự do do sự gia tăng nồng độ globulin giới tính liên quan đến hormone giới tính Sự suy giảm tổng nồng độ testosterone trong huyết thanh do giảm tỷ lệ sản xuất khi nam giới già đi [24].
Lão hóa làm các giác quan cũng thay đổi rõ rệt Cơ quan thị giác bị thoái hóa các cấu trực, đục thủy tinh thể, khả năng co giãn đồng tử chậm, khả năng phân biệt màu sắc giảm Thoái hóa các cấu trúc của tai, khả năng nghe giảm Mất thính giác liên quan đến tuổi tác đã cho thấy giảm đáng kể đối với trí nhớ bằng lòi nói, làm giảm khả năng giao tiếp [14], [93]
Một trong những cơ quan thể hiện sớm sự lão hóa và dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường là hệ thống da và tóc Cùng với tuổi cao da mỏng đi, giảm tính đàn hồi, mạch máu nuôi da giảm, kém bền vững, giảm xúc giác đặc biệt là cảm nhận với nhiệt độ Do vậy, da dễ bị ngứa, tổn thường và khô Tuyến bã và tuyến mồ hô giảm tiết nên giảm khả năng bảo vệ và điều hòa nhiệt Tóc khô, thưa, bạc màu và dễ gãy, rụng [14]
Bên cạnh những thay đổi về thể chất về sinh lý thì tâm lý còn là một vấn đề hết sức quan trọng đối với NCT vì trong các giai đoạn của cuộc sống thì tuổi già là giai đoạn con người không phải làm gì để vun đắp cho cuộc sống mà là giai đoạn thụ hưởng kết quả đạt được từ trước mang lại Bên cạnh đó, NCT bắt đầu cảm thấy mình không còn có ích như trước và trở nên lo lắng quá độ nên có những xáo trộn tâm lý như phát bệnh trầm cảm hoặc trở nên lo lắng hay đa nghi [2], [4]
Tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính ở NCT khá cao và thường mắc nhiều bệnh đồng thòi với tỷ lệ trung bình một người mắc gần 3 bệnh hoặc rối loạn bệnh lý, những bệnh lý rối loạn chiếm tỷ lệ cao là tăng huyết áp, thoái hóa khớp, bệnh lý tiêu hoá, giảm thị lực do đục thuỷ tinh thể; những bệnh lý rối loạn có xu hướng tăng nhanh như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, trầm cảm, sa sút trí tuệ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [4]
1.2 Chất lượng giấc ngủ ở người cao tuổi
1.2.1 Sinh lý giấc ngủ
Giấc ngủ là một hành vi phổ biến của con người đặc trưng bởi ý thức giảm
và hoạt động cảm giác bị đình chỉ tương đối của cơ thể Tất cả mọi người cần ngủ
để cung cấp năng lượng cho não và cho các hoạt động thể chất, mặc dù các chức năng sinh lý của giấc ngủ không được hiểu đầy đủ Vì vậy, giấc ngủ là một trong những hành vi phục hồi quan trọng nhất đối với sức khỏe và hạnh phúc của một cá nhân [35]
Giấc ngủ là nhu cầu cơ bản của con người và là chất lượng cuộc sống và hoạt động tốt trong ngày [39], [82] Chúng ta dành một phàn ba đời người để ngủ Giấc
Trang 13ngủ là trạng thái sinh lý rất hay thay đổi với sự tỉnh táo, thời gian và chất lượng của
nó cũng quan trọng không kém với đối lượng cuộc sống
Giấc ngủ gồm ba giai đoạn thức giấc, giấc ngủ NREM (Non - Rapid Eye Movement) và giấc ngủ (REM Rapid Eye Movement) (sơ đồ 1) Ba giai đoạn này luân phiên nhau tạo thành chu kỳ, mỗi đêm khoảng từ 5 đến 6 chu kỳ, mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 90 phút Giai đoạn thức giấc, người thư giãn, mắt nhắm, nhịp tim đều Giấc ngủ REM còn gọi là giấc ngủ nghịch thường hoặc giấc ngủ với cử động mắt nhanh Sự kết họp ngược nhau hoạt động của não gần giống như lúc thức giấc
và mất trương lực cơ tư thế Giấc ngủ REM một phần được đặc trưng bởi các hoạt động có chu kỳ, thể hiện qua chuyển động của nhãn cầu Giấc ngủ REM là giai đoạn gần nhất kết hợp với mơ ước và cần thiết trong quá trình phục hồi tinh thần và chữa bệnh [5]
Giấc ngủ NREM được chia thành 4 giai đoạn khác nhau từ 1 đến 4 Giai đoạn 1 và 2 là giấc ngủ chậm và nông Giai đoạn 1 các sóng não đặc trưng của sự tỉnh táo thoải mái dần biến mất và được thay thế bởi các sóng chậm và lớn hơn Sau
đó là quá trình chuyển từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 là giai đoạn ngủ nhẹ nhàng, mắt ngừng chuyển động, các cơ bắp giãn mềm, nhịp tim chậm và nhiệt độ cơ thể giảm xuống Giai đoạn 3 và 4: giấc ngủ chậm và sâu, hai giai đoạn này kể từ đây được tính gộp chung với nhau và chiếm ưu thế vào đầu giấc ngủ, trong 2 chu kỳ ngủ đầii tiên [82],[79],[61]
CHU KỲ NGỦ ĐIỂN HÌNH
SỐ GIỜ NGỦ
Sơ đồ 1: Các giai đoạn của giấc ngủ trong 1 đêm ở người trưởng thành
1.2.2 Vai trò của giấc ngủ với con người
Giấc ngủ đóng một vai trò quan trọng trong bộ nhớ Các nghiên cứu cho thấy rằng giấc ngủ đóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố kí ức, đặc biệt là để nhớ lại các dữ kiện và số liệu Mặc dù ngủ có thể phục vụ nhiều chức năng nhưng
rõ ràng bộ não ngủ là môi trường lý tưởng để củng cố các thông tin mới được học trong não [22] Ngủ đóng một vai trò quan trọng trong chức năng của bộ não, bằng cách hình thành con đường mới và thông tin xử lý Nghiên cứu cho thấy rằng ngủ
đủ giúp cải thiện trí nhớ và học tập, tăng sự chú ý, sự sáng tạo và trợ giúp trong việc
Trang 14ra quyết định [50] Ngủ đóng một vai trò thiết yếu trong việc củng cố bộ nhớ và lựa chọn các thông tin quan trọng và kích thích nhận được trong suốt cả ngày cũng như trong việc củng cố kí ức, đặc biệt là để nhớ lại các dữ kiện và số liệu [85] Nghiên cứu gần đây cho thấy chức năng của giấc ngủ vượt qua thời gian nghỉ ngơi tạo thành một trạng thái xử lý thông tin tích cực cần thiết cho hoạt động thích hợp của học tập và trí nhớ, hỗ trợ cho sự thích nghi của chúng vào giáo dục, thực hành trị liệu và nâng cao thành tích của người cao tuổi [22], [49].
Giấc ngủ không đủ có liên quan đến sự phát hiển của bệnh mạn tính Hệ thống miễn dịch cũng dựa vào đủ số lượng và chất lượng giấc ngủ và thiếu ngủ liên quan đến khó khăn chống lại nhiễm trùng và tăng nguy cơ bệnh tật số lượng giấc ngủ gần đây đã được sử dụng như là yếu tố dự báo cho chứng xơ vữa động mạch và Hemoglobin Alc, một dấu hiệu lâm sàng cho mức đường trong máu [65], [86] Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy mối tương quan giữa thời gian ngủ và chỉ số khối cơ thể Thiếu ngủ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng của vùng dưới đồi, phần não giúp điều chỉnh sự thèm ăn và tín hiệu đói [57]
Giấc ngủ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn năng lượng và tăng mức
độ tập trung Quá trình trao đổi chất thấp hơn trong khi ngủ, tổng thời gian ngủ được cho là tỷ lệ thuận với lượng năng lượng tiêu hao trong suốt thời kỳ tỉnh táo [55], [70] Giấc ngủ là một yếu tố quyết định mạnh mẽ về năng suất trong ngày tại nơi làm Những người thiếu ngủ đầy đủ, thường mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành nhiệm vụ, có nhiều khả năng mắc sai lầm và có thời gian phản hồi chậm hơn [53], [68] Ngủ không đủ cũng làm tăng nguy cơ tai nạn xe cơ giới [43], tăng nguy
cơ mắc các bệnh tâm thần bao gồm trầm cảm và lạm dụng chất gây nghiện cũng như làm giảm khả năng chú ý và xử lý thông tin mới [23]
1.2.3 Chất lượng giấc ngủ ở người cao tuổi
Chất lượng giấc ngủ gồm các khía cạnh khác nhau của cuộc sống của chúng
ta từ tình cảm đến thể chất Chất lượng giấc ngủ của một người có thể được đánh giá khách quan và chủ quan, có cả hai yếu tố định lượng và định tính để mô tả
nó Chất lượng giấc ngủ kém có liên quan đến chất lượng cuộc sống kém hơn về sức khỏe [99]
Chất lượng giấc ngủ tốt có thể được định nghĩa là đi vào giấc ngủ một cách
dễ dàng, quá trình chuyển đổi dễ dàng từ sự tỉnh táo đến ngủ, duy trì giấc ngủ yên tĩnh, không bị phá với giấc ngủ giữa đêm bởi sự thức giấc và chuyển đổi dễ dàng từ giấc ngủ đế sự tỉnh táo vào buổi sáng [34] Chất lượng giấc ngủ gồm: tổng thời gian ngủ, độ trễ ngủ, rối loạn giấc ngủ, hiệu suất của giấc ngủ, mức độ sử dụng thuốc ngủ, ảnh hưởng hoạt động ban ngày và tự đánh giá chất lượng lượng giấc ngủ chủ quan [59]
Một trong những thay đổi về thể chất theo tuổi là giấc ngủ, có đến hơn 50% người cao tuổi có chất lượng giấc ngủ kém [41], [52] Người cao tuổi có một tiến trình không thể tránh khỏi về mặt sinh học, đó là trải qua nhiều thay đổi
về mặt thể chất, tinh thần và xã hội Ngủ là một nhu cầu cơ bản của con người và đặc biệt với người cao tuổi Người lớn cần 7 - 8 giờ ngủ vào ban đêm để có một chức năng sinh lý bình thường trong ngày [5], [83] Rối loạn giấc ngủ được xem
Trang 15là một trong những vấn đề sức khỏe hay được than phiền nhất ở người già các nước phương Tây, với tỷ lệ mất ngủ từ 10 - 48% [52] Rối loạn giấc ngủ xảy ra trên người cao tuổi ở cả thành thị và nông thôn Nghiên cứu của Lim và cộng sự (2013) trên người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Trung Quốc cũng cho thấy, tỷ lệ NCT ở thành thị có rối loạn giấc ngủ là 41,5% (P= 0,05, CI = 38,6 - 44,5%) [72], trong khi
đó tỷ lệ này ở nông thôn là 50% [71]
Thời gian ngủ giảm dần theo tuổi Ở độ tuổi 70, thời gian dành cho ngủ ít hơn 30 - 60 phút so với người lớn ở độ tuổi 20 [5] Chất lượng giấc ngủ đêm cũng giảm theo tuổi, khoảng 30% người cao tuổi có thể bị chứng mất ngủ mạn tính Sau
60 tuổi, phần lớn giấc ngủ và thời gian thức dậy thường xuyên xảy ra suốt đêm, ngay cả khi chúng không kéo dài quá lâu [81] Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 13,7% người cao tuổi có ít nhất một vấn đề về giấc ngủ, 69,4% người cao tuổi bị gián đoạn giấc ngủ vào ban đêm, 48,9% người cao tuổi cho biết có khó ngủ, 22,3% người cao tuổi cho biết thức dậy sớm và 1,4% người cao tuổi gặp cả ba vấn đề [91]
Thay đổi chất lượng giấc ngủ vẫn được xem như một tất yếu của quá trình lão hóa bình thường Tuy nhiên, những phát hiện gần đây cho thấy chất lượng giấc ngủ đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ gìn chức năng nhận thức ở người cao tuổi và giảm nguy cơ sa sút trí tuệ cũng như các bệnh lý tim mạch mạn tinh[7],[13],[71]7
1.3 Các yếu tố liền quan đến chất lượng giấc ngủ
1.3.1 Các yếu tổ nhân khẩu học
Cùng với tuổi càng cao, NCT có chất lượng giấc ngủ càng giảm Nghiên cứu của Hinz và cộng sự (2017)tại Đức trên đối tượng chủ yếu ở đô thị cho thấy, điểm hung bình PSQI cao hơn ở người già với F = 10,19, p <0,0001 [60], có nghĩa là chất lượng giấc ngủ giảm khi tuổi càng cao Tương tự, nghiên cứu phân tích hồi quy logistic đơn biến trên 2114 đối tượng nghiên cứu tại Tây Ban Nha đã chứng minh tuổi có liên quan trực tiếp và đáng kể đến giấc ngủ kém (OR: 1,05; 95% CI: 1,03 - 1,06) [74]
Ở người cao tuổi, nữ giới có chất lượng giấc ngủ kém hơn nam giới Nghiên cứu của Anders và cộng sự (2013) đã chỉ ra rằng 69,1% các nam giới hài lòng với chất lượng giấc ngủ của mình, trong khi đó con số này chỉ là 57,7% ở nữ giới (R: 1,52; 95% CI: 1,28 - 1,80), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 [25] Tương tự như vậy, nghiên cứu của Thorpy và cộng sự năm 2016 được thực hiện trên 450 người da đen cho kết quả điểm trung bình chất lượng giấc ngủ của nữ giới (7,44 ± 3,18) cao hơn nam giới (6,97 ± 3,11) [96]
Nghiên cứu của Sagayadevan và cộng sự (2017) trên 2565 người ửên 60 tuổi
ở Singapore đã chứng minh rằng, những người có trình độ học vấn dưới trung học thì hay gặp các vấn đề về giấc ngủ cao gấp 2,2 lần những người có trình độ đại học (95% CI: 1,1 - 4,4; p = 0,03) [91] Tương tự như vậy, Hinz và cộng sự (2017) đã chỉ
ra trong nghiên cứu của họ, những người không hoàn thành trung học thì chất lượng giấc ngủ giảm 2,4 lần so với những người có trình độ học vấn cao hơn (OR: 0,58; 95%; CI: 0,48 - 0,69; p < 0,01) [60] Điều này có thể được lý giải là, những người có trình độ học vấn cao hơn thì thường có thu nhập ổn định hơn
Trang 16Những khó khăn trong kinh tế được xem là một trong những nguy cơ làm giảm chất lượng giấc ngủ [27] Nghiên cứu của Anders và cộng sự ở Đức (2013) trên đối tượng từ 16 đến 72 tuổi cho thấy, những người sống trong môi trường đô thị với tình trạng kinh tế cao hoặc trung bình có chất lượng giấc ngủ tốt (R:l,65; 95%; CI: 1,27 - 2,14 và R; 1,40; 95%; CI: 1,16 - 1,69) so với người có tình trạng kinh tế thấp [25] Vì vậy, cũng dễ dàng lý giải kết quả nghiên cứu của Sagayadevan và cộng sự (2017) trên 2565 người trên 60 tuổi ở Singapore đã chứng minh là, những người có thu nhập thêm khi đã về hưu thường ít gặp các vấn đề về sức khỏe, trong đó có vấn
đề về giấc ngủ, hơn những người chỉ phụ thuộc vào lương hưu (OR: 1,8; 95% CI: 1,1-2,9; p = 0,01) [91] Trong một mô hình hồi quỵ tuyến tính, những căng thẳng về mặt tài chính đã thể hiện là một trong những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới suy giảm chất lượng giấc ngủ (R2: 23%; F14, 357 = 7,65, p < 0,001) [56] Trong nghiên cứu dọc của Friedman và cộng sự (2007) với 94 phụ nữ (61- 90 tuổi), kết quả đã chỉ ra rằng, những phụ nữ có tổng thu nhập gia đình cao hơn có chất lượng giấc ngủ cao hơn những phụ nữ có thu nhập thấp [51]
Cuộc sống hôn nhân có tác động tích cực tới chất lượng giấc ngủ ở người cao tuổi Những người đã ly dị hoặc ly thân thường có thực hành vệ sinh giấc ngủ kém hiệu quả hơn những người đã kết hôn/sống chung với bạn đời của mình(OR: 0,1, 95% CI: 0,03 - 0,6; p = 0,01) [26] Tương tự như vậy, những người sống chung với bạn đời của mình thi thường có những đặc tính ngủ tốt hơn những người sống độc thân Hơn thế nữa, trong số những người kết hôn, những người có mối quan hệ hôn nhân hạnh phúc sẽ có ngủ ngon hơn những người có mối quan hệ hôn nhân bất hòa [35]
1.3.2 Tình trạng sức khỏe
Béo phì được xem là một nguyên nhân của chất lượng giấc ngủ kém Sự gia tăng tỷ lệ bệnh béo phì trên toàn thế giới trong vài thập kỷ qua đã được song hành bởi một xu hướng giảm thời gian ngủ ở người lớn [86] Hay ngược lại, Buxton và Marcelli đã chứng minh sự gia tăng 6% nguy cơ béo phì ở 56,507 người trưởng thành ở Mỹ với độ tuổi từ 18 đến 85 có liên quan tới thời gian ngủ ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm [29] Nghiên cứu của Luyster và cộng sự trên 5549 phụ nữ trưởng thành Hoa Kỳ đã chứng minh rằng, thời gian ngủ ngắn có thể là một trong những nguyên nhân quan trọng của béo phì trầm trọng (AOR của BMI > 40 kg/m2 3,12 ừong 6 giờ ngủ, CI 1,70 -5,75) ở đối tượng độ tuổi từ 55 đến 64, không có ý nghĩa thống kê đối với nhóm tuổi > 65 tuổi [75]
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các bệnh mạn tính làm chất lượng giấc ngủ giảm Phân tích hồi quy logistic trên đối tượng trên 60 tuổi ở Thượng Hải - Trung Quốc chứng minh rằng đối tượng có bệnh mạn tính có chất lượng giấc ngủ kém hơn (OR: 1,18; 95% CI: 1,03-1,36, p < 0,01) [72] Nghiên cứu Piccolo và cộng
sự (2013) điều tra dọc về giấc ngủ và bệnh mạn tính đã chỉ ra rằng, tỉ lệ bệnh tim mạch cao gấp 2,8 lần ở người lớn có chất lượng giấc ngủ kém [86] Nghiên cứu của Keskin (2015) đã báo cáo sự hiện diện của rối loạn giấc ngủ ở khoảng 50 - 70% tiểu đường, trong đó 50,20% có chỉ số đường huyết cao có nguy cơ cao ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ Nghiên cứu với 585 đái tháo đường typ 2 đã chỉ ra rằng, chỉ
Trang 17số HbAlc liên quan đến rối loạn giấc ngủ Nồng độ HbAlc càng cao thì điểm PSQI càng cao ( r = 0,23; p <0,001 và r = 0,14; p = 0,001), tức là chất lượng giấc ngủ càng kém [65] Nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng giấc ngủ và giảm chức năng ở 162 bị viêm khóp dạng thấp thông qua các triệu chứng trung gian trầm cảm, mức độ nghiêm trọng của đau và mệt mỏi cho thấy chất lượng giấc ngủ kém
có liên quan đáng kể vói mức độ đau nặng hom (r = 0,48; p <0,001), mức độ trầm cảm cao hơn (r = 0,52; P < 0,001), tăng mệt mỏi (r = - 0,48; p <0,001) [73]
1.3.3 Đời sống tình thần
Tuổi già và bệnh tật luôn song hành với nhau Người già đang phải đối mặt với những thách thức về sức khỏe thể chất và tâm thần cần được quan tâm Trong tâm thần học, “trạng thái trầm cảm” là rối loan thương găp nhất Nó đang là một vấn đề quan trọng và phổ biến trong cộng đồng [2] Theo tổ chức Y tế thế giói (WHO), có 3-5% dân số thế giới mắc rối loạn tràm cảm (khoảng 35 triệu người ở mọi lứa tuổi) Rối loan trầm cảm được coi là nguyên nhân gây tàn phế thứ hai trên toàn thế giới, chỉ đứng sau các bệnh về tim mạch, đóng góp lớn cho gánh nặng toàn cầu về bênh tật [101] Hiện nay, tỷ lệ người cao tuổi tại Mỹ sống một mình tăng cao hom bao giờ hết Nhà xã hội học Eric Klinenberg thuộc Trường Đại học New York cho biết, năm 1950, chỉ có 10% người Mỹ trên 65 tuổi sống một mình nhưng nay đã lên tới hom 30% Dự đoán, con số này có thể tăng gấp đôi vào năm 2030 Chăm sóc người già là một trong những thách thức của xã hội Mỹ Nếu không tìm cách giúp mọi người định hướng cuộc sống sau khi về hưu, số lượng người cao tuổi phải sống một mình, không có ai chăm sóc sẽ ngày càng tăng cao thì nguy cơ rối loạn trầm cảm ở NCT ngày càng gia tăng [34]
Có mối tương quan chặt chẽ giữa mất ngủ với trầm cảm, stress và tái phát trầm cảm đặc biệt ở người cao tuổi [54],[63], [81] Tràm cảm được xem là một nguyên nhân của mất ngủ, tuy nhiên những vấn đề về giấc ngủ cũng làm thúc đẩy nguy cơ trầm cảm [37], [105] Những bị mất ngủ dai dẳng có bình quân tăng 3,5 lần nguy cơ phát triển bệnh trầm cảm sau này so với các cá nhân mà không mất ngủ [87] Tương tự như vậy, một số nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa stress và giấc ngủ Trên thực tế, căng thẳng tâm lý được xem là nguyên nhân chính gây mất ngủ tâm lý [58]
Vai trò của gia đình rất quan trọng trong sự ổn định cảm xúc, từ đó làm tăng chất lượng giấc ngủ ở NCT Đây là môi trường NCT được chăm sóc, an toàn và thỏa được cac nhu cầu thích họp cho NCT Gia đình đầm ấm sẽ phát huy được tiềm năng về cơ thể, tâm lý Ngược lại, gia đình thiếu tình thương, xung đột, bạo lực thì NCT không có được cảm giác an toàn, nghi ngờ cuộc sống, cô đơn, buồn chán ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ [3]
Tuổi nghỉ hưu theo luật định là 60 tuổi đối với nam và đủ 55 tuổi đối với nữ [8] Người già sau khi về hưu thường có cảm giác mình là người thừa thãi, là gánh nặng cho con cháu, cảm thấy bị mất quyền quyết định nên thường tự dày vò mình
và cáu gắt với người khác Tất cả những điều trên khiến cho tâm lý rối loạn, gây
căng thẳng thần kinh làm mất ngủ v ề hưu là một giai đoạn vô cùng khó khăn đối
với NCT và là giai đoạn có nhiều biến đổi tâm lý Các rối loạn tâm lý này có liên
Trang 18quan đầu tiên đến sự thích nghi với hoàn cảnh sống mới, khi họ phải chuyển từ giai đoạn làm việc tích cực sang giai đoạn nghỉ hưu - giai đoạn thực thụ mới [1] vấn đề
về hưu đã làm cho NCT phải trải qua một loạt biến đổi tâm lý quan trọng do phải thay đổi nếp sống sinh hoạt, các mối quan hệ trong xã hội Nó có thể trở thành một
cú sốc lớn cho những người khỏ thích nghi được hay chưa chấp nhận được điều này dẫn đến việc mắc “Hội chứng về hưu” với một loạt các rối loạn tâm trạng lẫn lỗn như: buồn chán, thiếu tự tin, dễ cáu gắt, nổi giận Họ đôi khi còn có tình trạng trở nên mặc cảm, tự ti, sống cô độc và cách ly với xã hội [4], [84] Mặc dù tuổi nghỉ hưu đã được quy định, nhưng trong một số trường hop nghỉ hưu có xảy ra trước khi
55 tuổi [8] Theo Bery năm 2011 thì về hưu gồm: v ề hưu ngoài ý muốn, do bệnh tật
hay nhiều lý do khác, trong đó bệnh tật là lý do chính mà NCT đưa ra; tình nguyện
về hưu; phải về hưu vi đến tuổi; sau khi về hưu muốn tham gia vào một công việc nào đó Mỗi loại về hưu lại có những ảnh hưởng và tác động khác nhau đến NCT, nhưng về hưu ngoài ý muốn có lẽ là loại ảnh hưởng đến tâm lý nhất và dễ gây đến trầm cảm [31]
Một số yếu tố như lo lắng, trầm cảm và tình trạng sức khỏe cũng liên quan đến chất lượng giấc ngủ kém, nhưng đồng thời các yếu tố này xảy ra thường xuyên hon trong các tầng lóp xã hội thấp hơn [25] Có một mối liên quan giữa nghề nghiệp, thu nhập, thể chất và sức khỏe tâm thần mà biểu hiện chính là chất lượng giấc ngủ Một số nghiên cứu toàn cầu đã chỉ ra rằng một số lượng lớn người cao tuổi ở những nơi có thu nhập thấp hiện đang trải qua các vấn đề về giấc ngủ liên quan đến tình trạng nghèo nói chung, chất lượng cuộc sống và các bệnh về tâm thần [25], [26], [51], [81]
Một cuộc phỏng vấn trên 2,759 người cao niên từ 65 tuổi trở lên tại nhà cho thấy rằng, thời gian ngủ trễ, dành hơn 30 phút để đi vào giấc ngủ là hậu quả của rối loạn lo âu ở NCT [69]
1.3.4 Thực hành vệ sinh giấc ngủ
Vệ sinh giấc ngủ có nghĩa là cải thiện các yếu tố hành vi và môi trường làm tốt hơn giấc ngủ Một giấc ngủ ngon vào ban đêm có thể thúc đẩy sự tỉnh táo ban ngày [47] Vệ sinh giấc ngủ là một khái niệm rộng đã được mô tả là “hành vi thực hành” tạo điều kiện cho ngủ và tránh những hành vi gây trở ngại cho giấc ngủ [77]
Vệ sinh giấc ngủ được định nghĩa là một tập họp các khuyến nghị về hành vi
và môi trường nhằm thúc đẩy giấc ngủ lành mạnh Thực hành vệ sinh giấc ngủ thông thường bao gồm quản lý thời gian ngủ, tập thể dục thường xuyên, kiểm soát căng thẳng, giảm tiếng ồn, tránh cà phê, nicotin, rượu, giảm giấc ngủ ban ngày [62]
Nghiên cứu của Vũ Thị Minh Phượng (2016) trên 400 người bệnh tăng huyết
áp tại Nam Định cho thấy tổng điểm thực hành vệ sinh giấc ngủ người bệnh tăng huyết áp là 30,88 ± 3,93, có mối tương quan yếu giữa thực hành vệ sinh giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ (r = 0,182; p = 0,001), tương quan yếu giữa thói quen sinh hoạt trước ngủ với chất lượng giấc ngủ (r = 0,215; p = 0,001) [7]
Việc quản lý thời gian ngủ ở NCT là một phương pháp hữu ích để NCT vượt qua chứng mất ngủ Việc duy trì giấc ngủ bình thường và thòi gian thức giấc, số lượng giấc ngủ cũng có một tác động rất lớn đến sức khoẻ, giảm ngủ ban ngày, và
Trang 19làm tăng chất lượng giấc ngủ [36], ngủ trưa quá nhiều hoặc đi ngủ tối quá sớm có thể làm giảm chất lượng giấc ngủ [45] Nghiên cứu tại Ấn Độ năm 2017 cho thấy chỉ số thực hành vệ sinh giấc ngủ (Sleep Hegiene Index - SHI) trung bình của nhóm nghiên cứu 31,27 ± 6,09 và phần lớn đối tượng nghiên cứu (77,7%) có thực hành vệ sinh giấc ngủ kém (tổng điểm SHI > 26), các đối tượng có thực hành vệ sinh giấc ngủ kém có tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém cao gấp 2 lần (OR: 2,194; 95%; CI: 0,59
Trong cuộc họp về giấc ngủ của tổ chức y tế thế giới tại Đức (2004), nghiên cứu của Michel và cộng sự cho kết quả rằng, 40% NCT thức dậy vào một thời điểm nhất định vào mỗi buổi sáng, tuy nhiên một tỷ lệ nhỏ (9%) trong số họ rời khỏi phòng của họ nếu họ không thể ngủ được trong hom 30 phút và chỉ 4% tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vào ban ngày [81]
Thực tế, vệ sinh giấc ngủ là một tập hợp các thói quen cá nhân để xác định chất lượng giấc ngủ Các nghiên cứu chỉ ra rằng thói quen ăn uống ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ Tuy nhiên, tỷ lệ NCT có thực hành ăn uống lành mạnh chưa cao Tỷ lệ NCT có bữa ăn tối nhẹ chiếm 41%, không dùng nước ngọt trước khi đi ngủ chiếm 37% 32% NCT cho biết họ không hút thuốc trước giờ đi ngủ, chắc chắn
họ đánh răng và đọc gì đó (28%) Chỉ một tỷ lệ nhỏ (5%), trong số họ ăn táo trước khi đi ngủ uống sữa và mật ong (8%) và tránh uống trà hoặc cà phê trước khi đi ngủ (9%) [36], [81] Một số NCT đọc hay xem ti vi khi đi ngủ Bên cạnh đó hoạt động trí tuệ thường xuyên gần giờ đi ngủ, vận động quá mức trước giờ đi ngủ có thể làm rối loạn giấc ngủ [64], [66], [94]
Các yếu tố tâm thần, tâm trạng lo lắng, các sang chấn tâm lý cũng như cố gắng ngủ trong khi không buồn ngủ cũng làm tăng nguy cơ rối loạn giấc ngủ ở NCT [45]
Yeu tố môi trường được mô tả dưới dạng các thông số vật lý như: nhiệt độ môi trường, độ ẩm, ánh sáng, tiếng ồn và rung động, là những ảnh hưởng quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ [81] Tiếng ồn là một nguồn gây rối loạn giấc ngủ tương đối rõ ràng và các khuyến cáo về vệ sinh giấc ngủ thường xuyên khuyên các cá nhân giảm thiểu tiếng ồn trong môi trường ngủ của họ Tuy nhiên, tiếng ồn ban đêm trong môi trường xung quanh bình thường của một người (ví dụ, giao thông địa phương, âm nhạc, hệ thống ống nước) có khả năng ảnh hưởng đến giấc ngủ, ngay cả khi chúng không được quan sát một cách có ý thức Nói chung, tiếng ồn về đêm làm tăng số lượng kích thích và giảm chất lượng giấc ngủ [62] Các điều kiện môi trường, chẳng hạn như nhiệt độ ổn định, yên tĩnh, không quá nhiều ánh sáng, sự thoải mái của giường ngủ và ít sự phiền nhiễu điện tử (ti vi, điện thoại) đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra một giấc ngủ hợp lý [66], [94] Trong một nghiên cứu Shirin Hasanpour, Đại học Y khoa Tabiz, Iran (2013), chỉ có 16% NCT có môi trường ngủ tối ưu và 84% NCT có môi trường ngủ ở mức vừa phải Khoảng 41% NCT sử dụng giường của họ chỉ để ngủ, 37% NCT giữ phòng tối hoặc sử dụng miếng dán mắt 9% NCT giữ nhiệt độ phòng của họ từ
17-18°c, 4% thỉnh thoảng thay đổi phòng ngủ của họ và 5% NCT thay đệm mỗi tuần một lần [81]
Trang 201.4 Các phương pháp đo lường và đánh giá chất lượng giấc ngủ
1.4.1 Phương pháp đo lường giấc ngủ khách quan
Phương pháp đo lường giấc ngủ khách quan đa ký giấc ngủ (Polysomnographie - PSG) là công cụ tiên tiến nhất để chẩn đoán nhiều rối loạn giấc ngủ Các rối loạn chính mà đa ký giấc ngủ được phân loại theo phân loại rối loạn giấc ngủ quốc tế: (i) ngưng thở khi ngủ hoặc ngủ liên quan đến giấc ngủ khác rối loạn hô hấp, (ii) rối loạn chuyển động chi, (iii) chứng ngủ rũ, (iv) Rối loạn hành vi giấc ngủ REM, (v) hành vi bất thường trong khi ngủ, và (vi) chứng mất ngủ mạn tính không giải thích được Đa ký giấc ngủ là một thủ tục y tế bao gồm một số xét nghiệm đồng thời nhưng độc lập theo dõi các chức năng cơ thể khác nhau trong khi ngủ: ghi lại hoạt động sóng não, đánh dấu chuyển động mắt, hoạt động cơ bắp, điện tâm đồ, thông số hô hấp, âm lượng và loại ngáy, Phương pháp này thể hiện sự nhạy cảm cao hơn 90%, tuy nhiên tính đặc hiệu của chúng thấp so với độ nhạy của chúng
1.4.2 Phương pháp đo lường giấc ngủ chủ quan
Phương pháp đo lường giấc ngủ chủ quan gồm bảng câu hỏi về nhật ký giấc ngủ Có nhiều bảng câu hỏi để đo lường giấc ngủ như: thang đo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh, một phương pháp mới để đo lường giấc ngủ ban ngày là thang đo buồn ngủ của Epworth, chỉ số rối loạn giấc ngủ (Isomnia Severity Index - ISI), chỉ số mất ngủ nghiêm ừọng,
Thang đo PSQI được Buysse và cộng sự phát triển năm 1989 [33] là một bảng câu hỏi có độ nhạy và độ đặc hiệu cao Thang đo PSQI đã được dich và sử dụng
bởi Viên sức khỏe tâm thần - Bênh viên Bạch Mai [19] để đo lường chất lượng
giấc ngủ Thang đo PSQI là tổng họp điểm của một bảng câu hỏi mà người được hỏi tham gia trả lời gồm 4 câu hỏi có kết thúc mở, 14 câu hỏi khi trả lời cần dựa trên tần suất sự kiện và các mức độ tốt xấu khác nhau trên 7 phương diện: Chất lượng giấc ngủ chủ quan, độ trễ ngủ, tổng thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ theo thói quen (tỷ lệ toàn bộ thời gian ngủ và thời gian nằm trên giường), rối loạn giấc ngủ, việc sử dụng thuốc ngủ (bao gồm cả thuốc được kê đơn và không kê đơn) và ảnh hưởng đến hoạt động ban ngày
Cách tính điểm: Bảng câu hỏi PSQI bao gồm một đáp án dưới dạng thang điểm, cho điểm trên 7 phương diện Nhóm câu hỏi thuộc các lĩnh vực sẽ sắp xếp theo thứ tự tăng dần, dao động từ 0 đến 21 điểm Mức trung bình lớn hơn hoặc bằng
5 điểm sẽ cho thấy chất lượng giấc ngủ kém Mức điểm càng cao thì chất lượng giấc ngủ càng thấp [6], [41]
1.5.
Trang 21Khung lý thuyết
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu và thực tiễn người cao tuổi tại Việt Nam Khung lý thuyết được hĩnh thảnh cho nghiên cứu này như sau:
1.6 Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu.
Thành phố Hưng Yên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của tỉnh Thành phố Hưng Yên nằm ở phía nam của tỉnh Hưng Yên, nằm giữa các thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và Thủ đô Hà Nội, cách Thủ đô Hà Nội 64 km về phía Đông Nam, cách thành phố Hải Dương 60 km về phía Tây nam, phía Bắc giáp huyện Kim Động, phía Đông và Nam giáp huyện Tiên Lữ, phía Tây giáp Hà Nam theo đường biên là sông Hồng Thành phố Hưng Yên là đầu mối giao thông của tỉnh với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và
Trang 22duyên hải bằng cả đường bộ và đường sông, có đường giao thông huyết mạch 39, 39B, đường 38 qua cầu Yên Lệnh nối với Quốc lộ lvà cao tốc Bắc Nam.
Thành phố Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 73 km2 Tổng dân số của thành phố tính đến 31 tháng 12 năm 2017 là 117,384 người Trong đó, người trên 60 tuổi
là 18,440 người, chiếm tỷ trọng 15,7% Cơ cấu hành chính gồm 17 phường, xã (7 phường và 10 xã)
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh những năm qua liên tục đạt khá, trong đó tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 1997-2005 tăng hơn 12%/năm; giai đoạn 2006-2010 tăng 11,74 %/năm; giai đoạn 2011 - 2015 tăng 7,85
%/năm; năm 2017 tăng 8,45%
- Các bệnh viện, tâm tâm trực thuộc Sở Y tế
v ề công tác Y tế : Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, coi
trọng chăm sóc sức khoẻ ban đầu Trình độ chuyên môn của thầy thuốc được nâng lên
Cơ sở vật chất của ngành Y tế được tăng cường, 100% trạm y tế phường xã có bác sĩ Mạng lưới Y tế từ thành phố đến phường, xã, khu phố, thôn được chăm lo kiện toàn Các chương trình Y tế đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch tỉnh giao Trung tâm Y tế được nâng cấp và có thêm trang thiết bị mới để khám chữa bệnh, đến nay đã có 100% phường, xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về Y tế Các bệnh viện, trung tâm y tế tuyến tinh trên địa bàn được xây dựng mới và nâng cấp toàn diện, góp phần chăm sóc sức khoẻ nhân dân thị xã được tốt hơn
Trong nghiên cứu này, nghiên cứu viên chọn 4 phường, xã để nghiên cứu gồm:
03 phường là Minh Khai, Hiến Nam, Hồng Châu và 01 xã là Bảo Khê
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi ở thành phố Hưng Yên
Tiêu chuẩn lựa chon:
- Người cao tuổi > - 60 tuổi [16]
- CÓ đủ sức khỏe để tham gia trả lời bộ câu hỏi
Trang 23- Đồng ý tự nguyên tham gia vào nghiên cứu.
2.2 Thòi gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2017 đến tháng 8/2018
Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 3 đến tháng 4/2018
Địa điểm nghiên cứu: Tại trạm y tế 4 xã/ phường: Minh Khai, Hiến Nam, Hồng Châu, Bảo Khê thuộc thảnh phố Hưng Yên
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Mấu và phưong pháp chọn mẫu
n: số người cao tuổi được nghiên cứu
p: tỷ lệ người cao tuổi có chất lượng giấc ngủ kém của một nghiên cứu tượng
tự đã được Dagíar và cộng sự (2014) [41]
Z(l-a/2) = 1,96 VỚI a = 0,05
d: sai số ước lượng
Theo kết quả nghiên cứu của Daglar và cộng sự năm 2014 nghiên cứu chất lượng giấc ngủ trên 112 người cao tuổi tại Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng bộ công cụ PSQI Kết quả cho thấy 59% người cao tuổi có chất lượng giấc ngủ kém ứng với tổng điểm PSQ I>5 [41]
Tham khảo một số nghiên cứu, ứng dụng phương pháp thống kê y học, trong nghiên cứu này các thông số trên được đề xuất là p = 0,59, d = 0,05 Thay các chỉ
số tính được n= 370, trong nghiên cứu này lấy 400 NCT vào nghiên cứu để tránh nguy cơ người cao tuổi không hcrp tác hoặc bỏ nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu:
Chọn mẫu hệ thống
- Chọn ngẫu nhiên 4 phường từ 17 phường thuộc thành phố Hưng Yên
- Chọn đối tượng nghiên cứu tại mỗi phường:
+ Từ danh sách NCT tại mỗi phường/xã đã được đánh số thứ tự từ 1 đến hết
số lượng người cao tuổi
+ Từ số lượng người cao tuổi của mỗi phường tính được hệ số khoảng cáchlàk:
k = Tổng số lượng người cao tuổi/100+ Làm k phiếu có số từ 1 đến k, bốc thăm ngẫu nhiên ra 1 phiếu, số phiếu này sẽ ứng với số thứ tự NCT đầu tiên được chọn, ví dụ là i
Trang 24Tại các trạm y tế mỗi năm tổ chức khám sức khỏe tổng quát hoặc khám mắt cho NCT trong thời gian 1 - 2 ngày cho mỗi đợt khám Với mỗi trạm y tế, nhóm điều tra gồm 5 người sẽ phỏng Yấn 100 NCT đủ tiêu chuẩn và đồng ý để tham gia nghiên cứu này.
Theo kế hoạch khám sức khỏe của các trạm y tế báo cáo với Trung tâm Y tế Thành phố Hưng Yên, nghiên cứu viên đã lên kế hoạch thu thập số liệu để tránh chồng chéo Như vậy trong khoảng 4 ngày, nhóm điều tra sẽ phỏng vấn 400 NCT tại mỗi trạm y tế, trung bình mỗi điều tra viên phỏng vấn 20 người cao tuổi (buổi sáng: 10 NCT, buổi chiều: 10 NCT)
2.5 Phương pháp thu thâp sổ liêu
Bước 1: Nghiên cứu viên liên hệ với Trung tâm y tế thành phố và 4 trạm y tế nơi thực hiện nghiên cứu để được sự đồng ý
Bước 2: Nghiên cứu viên tập huấn cho nhóm điều tra viên gồm 05 giảng viên thuộc bộ môn điều dưỡng về bộ câu hỏi Các điều tra viên được yêu cầu nói rõ ràng nội dung câu hỏi để NCT hiểu một cách chính xác nhất
Bước 3: Theo danh sách NCT được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu (xem mục 2.4.2) 05 điều ừa viên sẽ linh hoạt tiếp cận, giới thiệu về nghiên cứu và mời NCT tham gia nghiên cứu NCT đồng ý tham gia vào nghiên cứu sẽ ký vào bản đồng thuận (Phụ lục 2) Các cuộc phỏng vấn sẽ diễn ra trong thời gian NCT chờ tại các bàn khám Các điều tra viên sẽ đpc bộ câu hỏi, và hỗ trợ người cao tuổi trả lời
bô câu hỏi điều tra Mỗi cuộc phỏng vấn sẽ diễn ra trong khoảng 2 0 - 3 0 phút
2.6 Các biến số nghiên cứu:
- Biến phụ thuộc: Biến định lượng chất lượng giấc ngủ đánh giá chất lượng giấc ngủ sử dụng thang PSQI trên 7 phương diện: Chất lượng giấc ngủ chủ quan,
độ trễ ngủ, tổng thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ theo thói quen (tỷ lệ toàn bộ thời gian ngủ và thời gian nằm trên giường), rối loạn giấc ngủ, việc sử dụng thuốc ngủ (bao gồm cả thuốc được kê đơn và không kê đơn) và ảnh hưởng đến hoạt động ban ngày
- Biến độc lập:
+ Biến số tuổi: Biến định lượng, được ghi theo tuổi của NCTlấy năm hiện tại trừ đi năm sinh
+ Biến số giới: Biến định tính là nam giới hay nữ giới
+ Biến trình độ học vấn: Biến định tính, biến ghi nhận dựa vào năm mà người cao tuổi hoàn thành hoặc dừng lại chương trình học hoặc bằng cấp cao nhất mag NCT có, được chia thành 5 nhóm là tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, trung cấp/ cao đẳng, đại học hoặc cao hơn
+ Biến nghề nghiệp trước kia: Biến định tính, là biến số ghi nhận về nghề nghiệp chính mà NCT đã làm trước khi 60 tuổi được chia thành 5 nhóm là nông dân, công nhân, kinh doanh/ buôn bán, cán bộ, công chức, viên chức, khác
+ Biến tình trạng hôn nhân: Biến định tính, ghi nhận tình trạng hôn nhân hiện tại của NCT, được chia thành 4 nhóm là độc thân, kết hôn, li thân/ li dị, góa
Trang 25+ Biến thu nhập: Biến định lượng, ghi nhận theo số tiền mà trung bình mà NCT tham gia nghiên cứu được nhận về trong 1 tháng, chia thành 5 nhóm: dưới 1 triệu, 1 - 2 triệu, 2 - 3 triệu, 3 - 4 triệu, trên 4 triệu.
+ Biến BMI: Biến định lượng gồm cân năng tính bằng kilogam, chiều cao tính bằng centimet Chỉ số BMI được tính bằng trọng lượng cơ thể tính bằng kg chia cho chiều cao tính theo mét bình phương (kg /m2), theo công thức sau:
BMI = trọng lượng (kg) / chiều cao2 (m)
Tổ chức Y tế Thế giới được đề xuất cho các quốc gia ở Châu Á [20]:
Cân nặng thấp (gầy): <18,5 kg/m2Bình thường: 18,5-22,9 kg/m2
+ Biến bệnh mạn tính: Biến định tính, nhiều lựa chọn, ghi nhận tình trạng mắc 7 nhóm bệnh mạn tính là: các bệnh về tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, nội tiết, cơ xương khớp và các bệnh về tiết niệu sinh dục mỗi nhóm bệnh có 5 mức
độ là không có bệnh, có bệnh nhẹ, vừa nặng và rất nặng
+ Biến gia đình: Biến định tính, ghi nhận tính trạng gia đình hiện tại của NCT, được chia thành 5 nhóm: sống một mình, sống một mình cùng con cháu, sống
2 ông bà, sống 2 ông bà cùng con cháu, sống với người thân khác
+ Biến tuổi về hưu: Biến định lượng, ghi theo tuổi của NCT khi về hưu
+ Biến cảm nhận khi về hưu: Biến định tính, nhiều lựa chọn, ghi nhận tự đánh giá của NCT khi về hưu, được chia thành 5 nhóm là: thoải mái bớt áp lực; hụt hẫng, buồn; thu nhập mất ổn định; trở thành gánh nặng cho con cái; Có bệnh tật khi
về già hoặc không được con cái chăm sóc
+ Biến công việc hiện tại hàng ngày: Biến định tính, nhiều lựa chọn, ghi nhận công việc mà NCT tham gia hàng ngày hoặc các công việc trong gia đình Biến được chia thành 5 nhóm: đi làm có lương, nấu nướng, trông cháu, vệ sinh nhà cửa, vườn; giao lưu, trò chuyện với hàng xóm, láng giềng (khác, ); làm ruộng Mỗi nhóm có 3 mức độ: Không, thỉnh thoảng, thường xuyên
+ Biến tham gia các hoạt động tập thể của NCT: Biến định tính, nhiều lựa chọn, ghi nhận các hoạt động tập thể hiện tại mà NCT tham gia, được chia thành 7 nhóm là: tham gia hội cựu chiến binh, tham gia hội phụ nữ, tham gia hội NCT xã, phường, thành phố; tham gia hoạt động du lịch; đi lễ chùa; hoạt động thể dục thể thao NCT Mỗi nhóm được đánh giá theo 4 mức độ: không tham gia, ít tham gia, thỉnh thoảng, thường xuyên
+ Biến thực hành vệ sinh giấc ngủ: Biến định lượng, biến ghi nhận những hành động mà người bệnh làm liên quan đến sự thực hành vệ sinh giấc ngủ và được xác định bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn xung quanh 4 yếu tố về Quản lý thời gian ngủ (câu 1,2,3,5); thói quen ăn uống trước ngủ (câu 4,6); thói quen sinh hoạt trước ngủ (câu 7,9,12,), tâm trạng khi đi ngủ (câu 8,13) và yếu tố môi trường ngủ (câu 10,11)
+ Biến trầm cảm: Biến định lượng, biến ghi nhận cảm nhận của NCT trong 2 tuần vừa qua thể hiện trên thang đánh giá tràm cảm Beck (BDI - II)
Trang 262.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá.
Phần A: Thông tin chung:
Các câu hỏi thông tin chung về nguời cao tuổi gồm: Tuổi, giới, chiều cao, cân nặng, nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu, tình trạng gia đình, cảm nhận khi về già, tham gia các công việc hàng ngày, sinh hoạt cộng đồng
Phần B: Bộ công cụ sàng lọc nguy cơ trầm cảm ở người cao tuổi Beck Depression Inventory - II (BDI -IỊ).
BDI - II gồm 21 câu hỏi trắc nghiệm tâm lý, để đo lường mức độ trầm cảm ở NCT NCT tham gia nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi dựa trên các trải nghiệm của
họ trong khoảng thời gian 2 tuần trước Mỗi câu trả lời được đo lường trên thang Likert 4 điểm (từ 0 đến 3) Theo đó, tổng điểm Beck sẽ dao động từ 0 - 63 điểm Ket quả tổng điểm cao hơn cho thấy các triệu chứng trầm cảm trầm trọng hơn:
- 0-13 điểm: không biểu hiện trầm cảm
- 14-19 điểm: trầm cảm nhẹ
- 20- 28 điểm: trầm cảm vừa phải
- 29-63 điểm: trầm cảm trầm trọng
BDI - II được phát triển bởi Aaron T Beck năm 1996 [30] và đã được dich,
sử dụng bởi Viên sức khỏe tâm thần - Bênh viên Bạch Mai [18] Tính nhất quán
nội bộ của BDI - II đã được chứng minh với chỉ số Cronbach a = 0,91 [30]
Phần C: Bô công cụ đánh giá Thực hành vê sinh giấc ngủ (Sỉeep Hygỉene Index) [97].’
Bộ câu hỏi thực hành vệ sinh giấc ngủ gồm 13 câu hỏi, đo lường 5 cấu phần của thực hành vệ sinh giấc ngủ: Quản lý thời gian ngủ (4 câu), thói quen ăn uống trước khi ngủ (2 câu), thói quen sinh hoạt trước khi ngủ (3), tâm trạng khi ngủ (2 câu) và môi trường ngủ (2 câu) NCT tham gia nghiên cứu sẽ chỉ ra mức độ thường xuyên mà họ thực hiện các thói quen trên thang điểm từ 4 tới 0, trong đó 4 = luôn luôn, 3 = thường xuyên, 2 = thỉnh thoảng, 1 = hiếm khi và 0 = không bao giờ Theo
đó, tổng điểm thực hành vệ sinh giấc ngủ sẽ dao động từ 0 đến 52 Điểm số cao hơn cho thấy các thực hành vệ sinh giấc ngủ kém hơn [77]
Bộ câu hỏi thực hành vệ sinh giấc ngủ được phát triển bởi Mastin và cộng
sự năm 2006 nhằm đánh giá về các thực hành vệ sinh giấc ngủ Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên các kết quả nghiên cứu đã được công bố cùng với tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn giấc ngủ theo hiệp hội rối loạn giấc ngủ Mỹ năm 1990 [67], [76], [89], [95] Tính nhất quán nội bộ của SHI đã được chứng minh với hệ số Cronbach a = 0,66) [77] [7]
Phần D: Thang đo lường Chất lượng ngủ Pittsburgh (PSQI).
Thang PSQI được Buyssevà cộng sự phát triển năm 1989 [33] và đã được
dich và sử dụng bởi Viên sức khỏe tâm thần - Bênh viên Bạch Mai [19] để đo
lương chất lượng giấc ngủ Đánh giá chất lượng giấc ngủ theo “Thang đánh giá chất lượng giấc ngủ PSQI” Chỉ số PSQI là tổng họp điểm của một bảng câu hỏi mà người được hỏi tham gia trả lời gồm 4 câu hỏi có kết thúc mở, 14 câu hỏi khi trả
Trang 27lời cần dựa trên tần suất sự kiện và các mức độ tốt xấu khác nhau trên 7 phương diện: Chất lượng giấc ngủ chủ quan, độ trễ ngủ, tổng thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ theo thói quen (tỷ lệ toàn bộ thời gian ngủ và thời gian nằm trên giường), rối loạn giấc ngủ, việc sử dụng thuốc ngủ (bao gồm cả thuốc được kê đơn và không
kê đơn) và ảnh hưởng đến hoạt động ban ngày
Cách tính điểm: Bảng câu hỏi PSQI bao gồm một đáp án dưới dạng thang điểm, cho điểm trên 7 phương diện Nhóm câu hỏi thuộc các lĩnh vực sẽ sắp xếp theo thứ tự tăng dần, dao động từ 0 đến 21 điểm (phụ lục 3) Mức điểm càng cao thì chất lượng giấc ngủ càng thấp [6], [41]:
- Tổng điểm PSQI < 5: chất lượng giấc ngủ tốt
- Tổng điểm PSQI > 5: chất lượng giấc ngủ kém
PSQI đã được dịch sang 56 ngôn ngữ và đã được sử dụng trên hơn
1000 nghiên cứu nghiên cứu đã công bố [39] PSQI có tính nhất quán nội bộ cao với hệ số độ tin cậy (Cronbach alpha) là 0,83, đo lường có độ nhạy 89,6% và độ đặc hiệu 86,5% ở những người có và không có chứng mất ngủ [40]
2.8 Phương pháp phân tích số liệu:
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0 Tần suất, tỷ lệ phần trăm, trung bình và độ lệch chuẩn, trung vị và giá trị cực đại, cực tiểu sẽ được sử dụng trong phân tích mô tả đơn biến Vì chất lượng giấc ngủ ở NCT trong nghiên cứu này là phân bố chuẩn nên trong phân tích đa biến các kiểm định mối tương quan Pearson, các kiểm định tham số One - Anova và t test được sử dụng
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu:
Tất cả các NCT tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích, lợi ích và yêu cầu trước khi đồng ý tham gia vào nghiên cứu Những thông tin của NCT chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu NCT được quyền rút khỏi nghiên cứu ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình nghiên cứu Danh tính của NCT được giữ bí mật Nghiên cứu được tiến hành sau khi thông qua hội đồng duyệt đề cương Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và được sự đồng ý của lãnh đạo Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên và 4 trạm y tế: Hồng Châu, Bảo Khê, Hiến Nam, Minh Khai
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục
- Sai số trong quá trình thu thập thông tin:
NCT trong lúc ngồi chờ phỏng vấn khác có thể nghe và định hình câu trả lời giống như người phỏng vấn trước Nghiên cứu viên khắc phục bằng cách đặt vị trí các bàn phỏng vấn cách xa nhau, khi NCT trước trả lời phỏng vấn xong mới gọi NCT được chọn tham gia nghiên cứu tiếp theo vào trả lời câu hỏi
Bên cạnh đó, để hạn chế sai số đến từ điều tra viên, các điều tra viên có kỹ năng tốt, có kỹ năng trong điều tra cộng đồng đã được lựa chọn và được tập huấn kỹ trước khi phỏng vấn NCT
Bộ câu hỏi dài, lộn xộn, các câu hỏi khó hiểu Nghiên cứu viên khắc phục bằng cách điều tra thử, sửa các lỗi, các câu hỏi khó hiểu trong phiếu trả lời
- Sai số từ chối:
Do NCT cho rằng bộ công cụ dài, chữa hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu Nghiên cứu viên khắc phục bằng cách: giải thích kỹ cho NCT về mục
Trang 28đích, ý nghĩa của nghiên cứu, đồng thời đọc, giải thích các câu hỏi mà NCT chưa hiểu và giúp NCT điền vào phiếu trả lời Bên cạnh đó, nghiên cứu viên cũng tăng cỡ mẫu nghiên cứu so vói công tính cỡ mẫu.
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đăc điểm nhân khẩu hoc• •
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đổi tượng nghiên cứu
Nghề nghiệp trước Công nông/khác2 242 60,5
‘B ao gồm trình đ ộ học vấn trung học c ơ sở, p h ổ thông trung học, trung cấp và cao đẳng
2 B ao gồm nghề nghiệp nông dân, công nhân, nội trợ, lao dộng tự do
3 B ao gồm tình trạng độc thân, góa, li thân và li dị
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 71 ±7,2 tuổi, trong đó NCT từ 60 - 69 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (47,8%),
143 nam chiếm 35,8%, 257 nữ chiếm 64,2% Trình độ học vấn có tỷ lệ cao nhất là trung học và cao đẳng chiếm 70% Nghề nghiệp trước kia chủ yếu là nông dân, công nhân, nội trợ nghề tự do, mùa vụ (60,5%), thu nhập trung bình chủ yếu là dưới
3 triẹu đồng/ tháng chiếm 79,2%
3.1.2 Đặc điểm tình trạng sức khỏe của đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.2: Đặc điểm tình trạng sức khỏe của đổi tượng nghiên cứu:
(N = 400)
Tỷ lệ
(%)
Trang 30Trung bình ± độ lệch chuẩn: 3,0 ± 0,8
1 Theo phân loại Châu Á [20]
Bảng 3.2 cho thấy chỉ số khối cơ thể trung bình của đối tượng nghiên cứu là 22,5 ± 2, trong đó 40,3% đối tượng nghiên cứu có chỉ số BMI trung bình Trong các bệnh mạn tính thì tỷ lệ mắc bệnh cơ xương khớp là cao nhất (81%), thấp nhất là bệnh nội tiết (27,5%) Tỷ lệ NCT mắc từ 3 bệnh mạn tính trở lên chiếm 77%, trung bình người cao tuổi mắc 3 bệnh mạn tính
3.1.3 Đặc điểm về đời sổng tính thần của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3: Đặc điểm tình trạng gia đình và nghỉ hưu của đổi tượng nghiên cứu:
Trang 311 Bao gồm sống một mình, sống một mình cùng con cháu và sống một mình với người thân khác
2 Bao gồm sống 2 ông bà và 2 ông bà cùng con cháu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là sống hai ông
bà (sống 2 ông bà hoặc 2 ông bà cùng con cháu) chiếm 55,5%, còn lại sống một mình (bao gồm: sống một mình hoặc sống một mình cùng con cháu hoặc sống với người thân khác) chiếm 44,5% Gần một nửa đối tượng tham gia nghiên cứu có lương hưu (47%) vói lý do chủ yếu là vì đến tuổi (61,5%) Tuổi về hưu của đối tượng nghiên cứu là 54 ± 5,6 tuổi Cảm nhận khi về hưu chủ yếu là thoải mái, bớt
áp lực (64%)
Bảng 3.4: Đặc điểm tham gia công việc hàng ngày của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.5: Đặc điểm tham gia các hoạt động tập thể của đối tượng nghiên cứu
Trang 32Trong các hoạt động tập thể, đa số NCT tham gia hội NCT (99,2%), tỷ
lệ NCT tham gia thể dục thể thao và đi lễ chùa tương đương nhau lần lượt là 65,5% và 66,8%, NCT tham gia hội cựu chiến binh chiếm tỷ lệ thấp nhất 17%
Bảng 3.6: Đặc điểm nguy cơ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu
1 Bao gằm nguy cơ trầm cảm nhẹ, nguy cơ trầm cảm vừa và nguy cơ trầm cảm nặng
Kết quả khảo sát nguy cơ trầm cảm ở NCT cho thấy điểm trung bình ± độ lệch chuẩn là 10,27 ± 5,11 điểm, trong đó NCT có nguy cơ ừầm cảm chiếm 23,5 %, không có nguy cơ trầm cảm chiếm 76,5%
3.1.4 Đặc điểm thực hành vệ sinh giấc ngủ của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.7 : Đặc điểm thực hành vệ sinh giấc ngủ
(độ lệch chuẩn) (Khoảng)Tổng thể thực hành vệ sinh giấc ngủ1 12,19(4,39) 12(2-28)
Thói quen sinh hoạt trước khi ngủ4 3,67(1,75) 4(0-10)
Trang 336 Điểm môi trường ngủ có thể dao động từ 0 đến Điểm càng cao chứng tỏ môi ngủ càng chưa tốt.
Trong nghiên cứu này tổng điểm thực hành vệ sinh giấc ngủ từ 2 đến 28 điểm với trung binh 12,19 ± 4,39 Trong đó điểm trung bình quản lý thời gian ngủ
là 4,42 (khoảng điểm từ 0 đến 12), điểm trung bình thói quen sinh hoạt truớc khi đi ngủ là 3,67 (khoảng điểm dao động từ 0 đến 16), điểm trung bình thấp nhất ở nhóm môi truờng ngủ (0,94) (điểm dao động từ 0 đến 6)
3.2 Thực trạng chất lượng giấc ngủ ở NCT
Bảng 3.8: Chất lượng giấc ngủ ở người cao tuổi
1 Chất lượng giấc ngủ
2 Rối loạn giấc ngủ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 82,3% đối tuợng nghiên cứu có chất lượng giấc ngủ kém (tổng điểm >5) với điểm trung bình 9,46 ± 3,74, khoảng điểm từ 1 -
19, như vậy đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu này có rối loạn giấc ngủ trung bình là nhẹ Trong đó rối loạn giấc ngủ nhẹ ( 6 - 1 0 điểm) chiếm tỷ lệ cao nhất 50,7%, thấp nhất là rối loạn giấc ngủ nặng 1,8%
Trang 35Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, thời gian thực ngủ mỗi đêm của đối tượng nghiên cứu < 5 tiếng chiếm tỷ lệ cao nhất (35%, n = 140), trung bình NCT mất 42 phút để đi vào giấc ngủ, trong đó NCT cần thời gian trên 60 phút để đi vào giấc ngủ chiếm 10,7%, n = 43 Trung bình hiệu suất giấc ngủ của đối tượng nghiên cứu là 70 ± 16,6 (%), trong đó NCT có hiệu suất giấc ngủ kém < 65% chiếm
tỷ lệ cao nhất (37%) NCT có tần suất rối loạn giấc ngủ ít hơn một lần một tuần là lơn nhất với n - 284 (71%), thấp nhất là rối loạn giấc ngủ nhiều hớn 3 lần một tuần với n = 1 (0,3%) 72,2% NCT bị ảnh hưởng một chút đến hoạt động ban ngày chiếm
tỷ lệ cao nhai Trong số NCT pliải sử dụng thuoc hỗ trợ ngủ NCT có 7 NCT phải sử dựng thuốc hỗ trợ ngủ một tuần từ 3 lần trở lên chiếm 1,8% 55% NCT tự đánh giá chất lượng giấc ngủ tương đối kém và rất kém
Histogram
Tong diem PSQI mo 1
Biểu đồ 1: Biểu đồ phân bố chất lượng giấc ngủ ỞNCT
Số liệu về điểm PSQI trong nghiên cứu này có thể xem là phân bố chuồn vì:
- Biểu đồ phân bố tần số chất lượng giấc ngủ lầ biểu đồ hình chuông
- Giá trị trung bình (9,46) đương đương trung vị (10,0)
- Trung bình ± 3 SD tương đương giá trị cực đại/ cực tiểu
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ ở người cao tuẫỉ
3.3.1 Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học và chất lượng giấc ngủ
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa yểu tố nhân khẩu học và chất lượng giấc ngủ
(độ lệch chuẩn) biến
Trang 36Nam 8,77(3,64)
Trình đô hoc vấn• • Tiểu học
Trung học và Cao đẳng Đại học hoặc sau ĐH
10,41(3,91)9,24(3,64)8,21(3,74)
3,32**V;
Tình trạng hôn nhân Đơn thân
Kết hôn
10,53(3,57)8,62(3,66)
5,22**V;
Thu nhập < 3 triệu/ tháng
> 3 triệu/ tháng
9,79(3,73)8,17(3,53)
3,57**V;
(P) Pearson, Ợ ) t test, (A) Anova, ***p < 0,01
Kết quả nghiên cứu cho thấy NCT có tuổi càng cao thì điểm PSQI càng tăng đồng nghĩa với chất lượng giấc ngủ càng giảm (r = 0,241, p < 0,01)
Điểm trung bình (độ lệch chuẩn) chất lượng giấc ngủ của nữ là 9,84 (3,84) cao hơn npn là 8,77 (3,64) với t = 2,67, p < 0,01
Điểm trung bình chất lượng giấc ngủ cao nhất ở nhóm trình độ học vấn tiểu học với điểm trung bình (độ lệch chuẩn) là 10,41(3,91), thấp nhất ở nhóm trình độ đại học và sau đại học với điểm trung bình (độ lệch chuẩn) là 8,21(3,74) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với F = 4,99, p < 0,01
Điểm trung bình chất lượng giấc ngủ ở nhóm nghề nghiệp trước đây là công nhân, nông dân, nội trợ là 9,95 (3,73) cao hơn nhóm có nghề nghiệp trước đây là cán bộ viên chức, kinh doanh buôn bán 8,70 (3,64), với t = 3,32, p < 0, 01
Điểm trung bình chất lượng giấc ngủ của nhóm đơn thân (độc thân, góa, li thân, li dị) là 10,53 (3,57) cao hơn nhóm kết hôn 8,62 (3,64) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với t = 5,22, p < 0,01
Điểm trung bình chất lượng giấc ngủ ở nhóm thu nhập dưới 3 triệu đồng/ tháng 9,79 (3,73) cao hơn nhóm thu nhập trên 3 triệu đồng/ tháng 8,17 (3,53) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với t = 3,57, p < 0,01
3.3.2 Mối liên quan giữa yếu tố tình trạng sức khỏe và chất lượng giấc ngủ
Bảng 3.1 ỉ: Mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe và chất lượng giấc ngủ
Đăc điểma
Trung bình (độ lệch chuẩn)
Phân tích 2 biến
Bình thường (18,5 - 22,9) 9,48 (3,85)Thừa cân và béo phì (> 23) 9,33 (3,60)
Trang 37Bệnh hô hấp Có
Không
10,49 (3,88) 8,92 (3,55)
Bênh tiết niêu • • Có 9,82 (3,73) - 1,48 Ợ)
(A ) Ảnova, (T) ttest, ***p< 0,01, * p < 0,1
Ket quả phân tích cho thấy điểm trung bình chất luợng giấc ngủ ở đối tượng nghiên cứu có mắc bệnh về hô hấp 10,49 (3,88) cao hon đối tượng nghiên cứu không mắc bệnh về hô hấp 8,92 (3,55) với t = - 4,06, p < 0,01
Điểm trung bình ở nhóm đối tượng nghiên cứu có mắc bệnh cơ xương khớp 9,68 (3,66) cao hơn nhóm đối tượng nghiên cứu không mắc bệnh cơ xương khớp 8,53 (3,96) với t = 2,43, p < 0,01 ’ ~
Điểm trung bình chất lượng giấc ngủ ở nhóm đối tượng nghiên cứu có mắc bệnh nội tiết 9,65 (3,89) cao hơn nhóm đối tượng nghiên cứu không mắc bệnh này 8,95 (3,27) với t = - 1,82, p < 0,1
Ket quả nghiên cứu cho thấy, có mối tượng quan thuận giữa số bệnh NCT mắc và chất lượng giấc ngủ (r = 1,65, p < 0,01)
Tuy nhiên kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt về điểm trung bình chất lượng giấc ngủ có ý nghĩa thống kê ở đối tượng nghiên cứu có mắc các bệnh mạn tính tim mạch, tiêu hóa, thần kinh, tiết niệu, sinh dục so với đối tượng nghiên cứu không mắc các bệnh này Cùng với đó cũng không có sự khác biệt về chất lượng giấc ngủ giữa các nhóm chỉ số BMI
3.3.3.
Trang 38r r r r r r
Môi liên quan giữa yêu tô đời sông tình thân và chât lượng giâc ngủ
Bảng 3.12: Môi liên quan giữa tình trạng gia đình, nghỉ hưu và chât lượng giâc ngủ
Gia đình, nghỉ hưu Trung bình
(độ lệch chuẩn)
Phân tích 2 biến Tình trạng gia
đình
Sống một mình Sống 2 ông bà
10,53 (3,55) 8,59 (3,68)
8,71 (3,71) 10,27 (3,93) 9,06 (4,49)
2,13 w
Cảm nhận khỉ
về hưu (n - 188)
Hụt hẫng, buồn Thu nhập mất ổn định Thoải mái, bớt áp lực Gánh nặng cho con cháu
Có bệnh khi già, con cái không chăm sóc
7,54 (3,55) 9,35 (3,39) 9,06 (3,85) 10,0 (2,88) 10,56 (3,24)
1,89 (A )
(P) Pearson, (A) Anova, (T) ttest, ***p< 0,01, *p < 0,1
Bảng 3,10 cho thấy điểm trung bình chất lượng giấc ngủ ở nhóm NCT sống một mình (sống một mình, sống một mình cùng con cháu hoặc sống với người thân khác) là 10,53 (3,55) cao hơn nhóm NCT sống hai ông bà (sống hai ông bà hoặc sống 2 ông bà cùng con cháu) là 8,59 (3,68) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với t
= 5,32, p < 0,01
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan nghịch giữa tổng điểm chất lượng giấc ngủ và tuổi về hưu với r = - 0,198, p < 0,01 Kết quả nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chất lượng giấc ngủ với lý do về hưu
và cảm nhận khi về hưu
Trang 39Bảng 3.13: Môi liên quan giữa các công việc và hoạt động xã hội hàng ngày với
chât lượng gỉâc ngủ
Công việc/ hoạt động Trung bình
(độ lệch chuẩn)
Phân tích 2 biến
Không
8,00 (3,70) 9,77 (3,63)
3,64 *** (T)
Không
9,65 (3,66) 8,8 (3,96)
0,52 (D
Vệ sinh nhà cửa, vườn Có
Không
9,52 (3,74) 8,63 (3,74)
- 1,19 (T)
Trò chuyện cùng hàng xóm Có
Không
9,46 (0,00) 9,0 (3,74)
- 0,12 (T)
Không
9,68 (3,93) 9,4 (3,69)
- 0,61 (T)
Tham gia hội cựu chiến bỉnh Có
Không
8,94 (3,39) 9,56 (3,80)
1,24 (D
Không
9,42 ( 3,80) 9,49 (3,69)
0,16 (T)
Không
9,47 (3,74) 8,33 (4,04)
- 0,52 (T)
Không
9,13 (3,68) 9,86 (3,79)
1,93* (T)
Không
9,64 (3,68) 9,1 (3,86)
- 1,35 (ĩ)
Thể duc thể thao • Có
Không
8,83 (3,63) 10,64 (3,68)
4,12*** m
(T) ttest, ***p< 0,01, * p < 0,1
Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình chất lượng giấc ngủ ở NCT đi làm có lương là 8,00 (3,70) thấp hơn NCT không đi làm có lượng là 9,77 (3,63), sự