1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của nhóm bệnh nhân tại cơ sở điều trị methadone đống đa, hà nội năm 2018

97 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị như sau: Cần tăng cường các hoạt động tư vấn, hoạt động câu lạc bộ nhằm khuyến khích và động viên những người tham gia đi

Trang 1

TRẦN THỊ THANH NGA

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI SỬ DỤNG MA TÚY CỦA NHÓM BỆNH

NHÂN TẠI CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE

ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THỊ THANH NGA

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI SỬ DỤNG MA TÚY CỦA NHÓM BỆNH NHÂN TẠI CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE

ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS NGUYỄN NHẬT CẢM

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường trong hai năm qua

Tôi xin được bày tỏ sự kính trọng cùng những lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Nhật Cảm và Ths Phạm Thị Thùy Linh là những giáo viên hướng dẫn và hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này Kiến thức về học thuật, sự tận tình trong giảng dạy, hướng dẫn của các thầy cô đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, một tầm nhìn mới, sự tự tin trong nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo cùng đội ngũ cán bộ, nhân viên Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội, cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, thành phố

Hà Nội đã nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu tại địa bàn nghiên cứu

Thành công của luận văn văn này có phần góp sức rất đáng kể của những người bạn học trong lớp Cao học 20, những người bạn đã chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Để có được kết quả học tập và luận văn này, đó là một quá trình nỗ lực mà tôi đã trải qua cùng với tình yêu thương, sự động viên và hỗ trợ lớn lao của gia đình thân yêu Bố mẹ, chồng con luôn trong trái tim tôi và đây là món quà tôi gửi tặng họ

Hà Nội, tháng 10 năm 2018

Trần Thị Thanh Nga

Trang 4

PNBD UNODC

Trang 5

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

MỤC TIÊU 4

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.1 Ma túy 5

1.1.2 Phân loại chất ma túy 5

1.1.3 Nghiện ma túy 6

1.1.4 Các phương pháp điều trị nghiện CDTP 7

1.1.5 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone 10

1.2 Ảnh hưởng của hành vi sử dụng ma túy trong điều trị methadone 11

1.3 Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam 12

1.3.1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng ma túy trên nhóm bệnh nhân điều trị methadone 12

1.3.2 Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trên nhóm bệnh nhân điều trị methadone 14

1.4 Khung lý thuyết 17

1.5 Thông tin về địa điểm nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

Trang 6

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 21

2.5.1 Thu thập số liệu từ bệnh án 21

2.5.2 Thu thập số liệu từ bộ câu hỏi định lượng 22

2.6 Công cụ thu thập số liệu 22

2.7 Biến số nghiên cứu 22

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá hành vi sử dụng ma túy 23

2.9 Phân tích và quản lý số liệu 23

2.9.1 Phân tích số liệu 23

2.9.2 Quản lý số liệu 23

2.10 Đạo đức nghiên cứu 24

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Thực trạng hành vi sử dụng ma túy của nhóm bệnh nhân đang điều trị Methadone 25

3.1.1 Mô tả yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Mô tả yếu tố gia đình và cộng đồng của đối tượng nghiên cứu 29

3.1.3 Mô tả hành vi sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 31

3.1.4 Mô tả một số yếu tố về môi trường và dịch vụ y tế 34

3.2 Yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy khi điều trị methadone 36

3.2.1 Yếu tố cá nhân liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trong 6 tháng qua 37

Trang 7

3.2.2 Yếu tố gia đình và cộng đồng liên quan đến hành vi sử dụng ma túy 41

3.2.3 Yếu tố khác liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trong 6 tháng qua 42

CHƯƠNG 4 - BÀN LUẬN 45

4.1 Thực trạng sử dụng ma túy của nhóm bệnh nhân đang điều trị Methadone 45

4.1.1 Yếu tố cá nhân, gia đình và cộng đồng của ĐTNC 45

4.1.2 Yếu tố khác liên quan đến ĐTNC 47

4.1.3 Hành vi sử dụng ma túy trong 6 tháng qua của ĐTNC 48

4.2 Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trên đối tượng đang điều trị methadone tại cơ sở Đống Đa 50

4.3 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục sai số 52

KẾT LUẬN 53

1 Thực trạng sử dụng ma túy trên nhóm bệnh nhân điều trị methadone tại cơ sở Đống Đa 53

2 Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trên nhóm bệnh nhân điều trị methadone tại cơ sở Đống Đa 53

KHUYẾN NGHỊ 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Phụ lục 1 Biến số nghiên cứu 62

Phụ lục 2 PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 67

Phụ lục 3 BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ METHADONE 68

Phụ lục 4: Danh sách phỏng vấn viên, giám sát viên 74

Trang 8

Phụ lục 5: Kế hoạch nghiên cứu cụ thể 75

Phụ lục 4: Dự trù kinh phí 77

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Mô tả đặc điểm chung của ĐTNC 25

Bảng 3.2 Mô tả hành vi sử dụng rượu bia của ĐTNC 26

Bảng 3.3 Mô tả đặc điểm điều trị của ĐTNC 27

Bảng 3.4 Mô tả hành vi sử dụng ma túy trước khi tham gia điều trị methadone 28

Bảng 3.5 Mô tả hành vi QHTD của ĐTNC trước khi tham gia điều trị 28

Bảng 3.6 Mô tả thu nhập trung bình của ĐTNC và loại hình kinh tế gia đình của ĐTNC 29

Bảng 3.7 Mô tả sự ủng hộ, hỗ trợ từ phía gia đình cho ĐTNC 29

Bảng 3.8 Mô tả sự mâu thuẫn/bất đồng của ĐTNC với những người xung quanh 30

Bảng 3.9 Mô tả triệu chứng liên quan đến ma túy 31

Bảng 3.10 Kết quả xét nghiệm nước tiểu của ĐTNC 32

Bảng 3.11 Đối tượng nghiên cứu khai báo về hành vi sử dụng ma túy 32

Bảng 3.12 ĐTNC khai nhận về địa điểm và nguyên nhân sử dụng ma túy 33

Bảng 3.13 Hành vi quan hệ tình dục 34

Bảng 3.14 Yếu tố dịch vụ y tế 35

Bảng 3.15 Yếu tố môi trường liên quan tới bạn đồng đẳng và khả năng tiếp cận ma túy 36 Bảng 3.16 Yếu tố cá nhân liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trong 6 tháng qua 37

Bảng 3.17 Hành vi sử dụng rượu bia liên quan đến sử dụng ma túy 38

Bảng 3.18 Yếu tố hôn nhân và hành vi QHTD liên quan đến hành vi sử dụng ma túy 39

Bảng 3.19 Yếu tố điều trị methadone và ARV liên quan đến hành vi sử dụng ma túy 40

Trang 10

Bảng 3.20 Yếu tố gia đình và cộng đồng liên quan đến hành vi sử dụng ma túy 41

Bảng 3.21 Sự hài lòng của ĐTNC với thái độ của NVYT liên quan đến hành vi sử dụng

ma túy 42

Bảng 3.22 Khả năng tiếp cận với ma túy liên quan đến hành vi sử dụng ma túy 43

Trang 11

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Methadone được chỉ định điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện, là giải pháp can thiệp giảm hại dự phòng lây nhiễm HIV, đã được triển khai trên 80 nước trên thế giới và có khoảng một triệu người đã được tiếp cận biện pháp can thiệp này Hành vi sử dụng lại chất dạng thuốc phiện hoặc sử dụng song song khi điều trị methadone có thể dẫn đến không thể đưa đối tượng vào liều điều trị duy trì hoặc có thể gây ngộ độc, sốc hoặc tử vong Vì thế, việc tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy là cần thiết để có thể đưa ra những biện pháp can thiệp nhằm giảm tỷ lệ người sử dụng ma túy trong khi điều trị, góp phần tăng hiệu quả điều trị

Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu cắt ngang, sử dụng bộ câu hỏi định lượng Có 191 đối tượng tham gia nghiên cứu được chọn theo phương pháp “chọn mẫu ngẫu nhiên đơn” trong 470 bệnh nhân đang tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại cơ sở điều trị Đống Đa Phiếu trả lời câu hỏi sau khi phỏng vấn được làm sạch và nhập vào phần mềm Epidata 3.1 và sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích

Nghiên cứu đã đưa ra được những kết quả sau: 18,8% ĐTNC có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính cách đây 6 tháng, 1,6% ĐTNC có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính cách đây 1 tháng nhưng chỉ có 15,2% ĐTNC tự khai nhận có sử dụng ma túy trong 6 tháng qua và 1,04% khai nhận sử dụng ma túy trong 1 tháng qua Nghiên cứu tìm ra sáu mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, tình trạng điều trị ARV, triệu chứng liên quan đến ma túy, yếu tố “có mâu thuẫn, bất đồng” với người xung quanh, yếu tố ảnh hưởng của bạn sử dụng chất gây nghiện và sự sẵn có của ma túy

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị như sau: Cần tăng cường các hoạt động tư vấn, hoạt động câu lạc bộ nhằm khuyến khích và động viên những người tham gia điều trị giúp họ không buồn chán; Vận động, hỗ trợ những người bạn sử dụng ma túy chưa tham gia điều trị của bệnh nhân tham gia điều trị nhằm tạo môi trường trong sạch cho người bệnh; Tăng cường tư vấn, hoạt động nhóm và cấp phát bao cao su cho bệnh nhân nhằm tăng tỷ lệ và cải thiện hành vi sử dụng BCS khi QHTD của ĐTNC

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ma túy đã được tìm kiếm và sử dụng từ nhiều năm trước công nguyên Trước đây, ma túy chỉ được dùng với mục đích giảm đau, chống mệt mỏi Nhưng dần dần, con người ngày càng lạm dụng ma túy khiến họ không thể từ bỏ Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nghiện ma túy được định nghĩa là “tình trạng bệnh mạn tính, tái diễn của não

bộ, biểu hiện bằng việc người bệnh bắt buộc phải tìm kiếm và sử dụng ma tuý, bất chấp hậu quả về sức khỏe và xã hội liên quan đến việc sử dụng” Một tỷ lệ tử vong sớm đáng kể trong số những người sử dụng ma túy là do opioids Ngoài ra, rối loạn do

sử dụng ma túy chiếm tỷ lệ và gây gánh nặng lớn nhất trong số những rối loạn do sử dụng chất gây nghiện Vào năm 2015, gần 12 triệu DALYs, hay 70% gánh nặng bệnh tật toàn cầu do rối loạn do sử dụng ma túy có liên quan đến opioid [50]

Sử dụng ma túy có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, sự phát triển xã hội, sự hợp tác, nền hòa bình và môi trường sống Trung bình, ma túy ảnh hưởng từ 0,2% đến 0,4% nền kinh tế toàn cầu và có ảnh hưởng từ những nước có thu nhập thấp cho đến những nước có thu nhập cao [50] Ma túy gây nên sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, phụ nữ nghiện ma túy bị kỳ thị và đối xử thậm tệ hơn so với nam giới Đến năm

2012, gần 200 km2 rừng đã bị phá hủy để trồng cây cần sa Tỷ lệ xảy ra bạo lực tại các quốc gia nằm trên tuyến đường vận chuyển, buôn bán ma túy lên đến gần 12/100.000 dân [50]

Năm 2006, trên thế giới có khoảng 208 triệu người đã từng sử dụng ma túy ít nhất một lần và sau 8 năm, con số đó lên đến 247 triệu người [49] Số người nghiện

ma túy trên thế giới năm 2006 là 26 triệu người nhưng năm 2014 có đến 29,5 triệu người [49] Trong 12 triệu người tiêm chích ma túy có 1,6 triệu người nhiễm HIV và 6 triệu người nhiễm viêm gan C [50] Có bốn dạng ma túy được sử dụng chính là cần sa, cocain, heroin và amphetamine [48]

Tại Việt Nam, theo số liệu báo cáo của Bộ Công an, năm 2016 cả nước có 210.751 người nghiện ma túy trong đó chủ yếu là nghiện các chất dạng thuốc phiện 154.102 người chiếm 75,8%, nghiện ma túy tổng hợp là 20.778 người chiếm 9,8% [19] Số người nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) vẫn chiếm tỷ lệ lớn Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cho thấy có chiều hướng gia tăng sử dụng ATS (Amphetamine – Type Stimulants), đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, thành

Trang 13

phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và loại ATS được sử dụng phổ biến là thuốc lắc, đá và hồng phiến [51]

Methadone được chỉ định điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện, là giải pháp can thiệp giảm hại dự phòng lây nhiễm HIV, đã được triển khai trên 80 nước trên thế giới và có khoảng một triệu người đã được tiếp cận biện pháp can thiệp này [21] Hành vi sử dụng lại chất dạng thuốc phiện hoặc sử dụng song song khi điều trị methadone có thể dẫn đến đối tượng không thể đưa vào liều điều trị duy trì hoặc có

thể gây ngộ độc, sốc hoặc tử vong Vì thế, việc tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố

liên quan đến hành vi sử dụng ma túy là cần thiết để có thể đưa ra những biện pháp

can thiệp nhằm giảm tỷ lệ người sử dụng ma túy trong khi điều trị, góp phần tăng hiệu quả điều trị

Cơ sở điều trị Đống Đa nằm ở trung tâm quận Đống Đa, là một trong những điểm nóng về ma túy và mại dâm với nhiều đối tượng phức tạp Những đối tượng điều trị tại cơ sở này không chỉ cư trú trên địa bàn quận mà còn đến từ những nơi khác Hành vi sử dụng ma túy trong khi điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị

Kết quả của nghiên cứu việc tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của nhóm bệnh nhân tham gia điều trị methadone sẽ là cơ sở

để định hướng các chương trình can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và có thể làm định hướng tham khảo cho các cơ sở khác

Trang 15

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Ma túy

Theo Luật phòng, chống ma túy, luật số 23/2000/QH10 ngày 19 tháng 12 năm

2000, chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành

Theo Thông tư số 19/2014/TT-BYT về quy định quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và tiền chất dùng làm thuốc ngày 02 tháng 6 năm 2014

Theo Tổ chức Y tế thế giới [23], các chất gây nghiện dạng opiate là một nhóm các chất kích thích thần kinh được chiết xuất từ cây thuốc phiện bao gồm thuốc phiện, mooc phin, codein và các loại khác Thuật ngữ opiate cũng được dùng cho loại heroin bán tổng hợp được chiết xuất từ hợp chất của cây thuốc phiện Thuật ngữ “opioid” (ma túy) cũng được dùng để chỉ thuốc có chất gây nghiện opiate và các hợp chất tổng hợp và bán tổng hợp với các đặc tính tương tự Ma túy là các chất gây nghiện tác động lên các cơ quan thụ cảm thuốc nhóm opiod trong não Ma túy thường được dùng qua đường tiêm chích, nhai nuốt hoặc hít khói khi đốt lên Sử dụng ma túy thường xuyên sẽ dẫn đến nghiện

Thuốc gây nghiện là thuốc có nguyên liệu chứa hoạt chất gây nghiện như

amphetamine, cocaine, codeine, morphine, methadone

1.1.2 Phân loại chất ma túy

Có nhiều cách để phân loại ma túy Sau đây là hai cách thường được sử dụng: Phân loại theo luật pháp và phân loại theo tác dụng [6]

Phân loại theo luật pháp chia ma túy làm hai nhóm: hợp pháp và bất hợp pháp

Trang 16

- Thuốc bác sĩ cho toa như thuốc ngủ an thần (sedative-hypnotics) gồm có: zô-đai-zê-pin (Benzodiazepines) như Serepax, Valium, Librium; Ba-bi-tuy-rết (Barbiturates) như Nembutal, Tuinal; Loại khác như Dormel, Mandrax

Ben Thuốc giảm đau thông thường (minor analgesics) như Aspirin, Paracetamol

- Methaqualone và những loại gây nghiện (narcotics) mua không có toa bác sĩ

- Amphetamines/Methamphetamines và Barbiturates sản xuất bất hợp pháp

Phân loại theo tác dụng

- Các chất gây êm dịu

+ Các thuốc bình thản, giải lo âu, gây ngủ (Benzodiazepines, Barbituriques) + Rượu

+ Các chất dạng thuốc phiện: Thuốc phiện, palfium, morphine, heroin, codein

- Các chất kích thần

+ Am-phê-ta-min và các chế phẩm của nó (Amphetamines hay "Speed" and related drugs) như: Dexamphetamine, Metamphetamine, Methylenedioxy- methamphetamine…

+ Cocaine và chế phẩm của Cocaine

- Các chất kích thần gây ảo giác : XTC (Ecstasy)

- Các chất gây yên dịu và ảo giác: Colles, Essences, Detachants etdissolvants

- Các chất gây ảo giác: Các sản phẩm của Canabis

1.1.3 Nghiện ma túy

Theo quyết định 3140/QĐ-BYT ban hành ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế, người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy và bị lệ thuộc vào các chất này Các triệu chứng của một người nghiện ma túy bao gồm [4]:

Trang 17

- Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng ma túy

- Khó khăn trong việc kiểm soát thói quen sử dụng ma túy như thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc liều lượng sử dụng

- Xuất hiện hội chứng cai ma túy khi ngừng hoặc giảm đáng kể liều lượng

- Có khuynh hướng tăng liều để chấm dứt hậu quả do liều thấp gây ra

- Sao nhãng các thú vui, sở thích, công việc trước đây bằng việc tìm kiếm và sử dụng ma túy

- Tiếp tục sử dụng ma túy mặc dù biết tác hại, thậm chí đã có bằng chứng rõ ràng về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội

Một bệnh nhân được chẩn đoán là nghiện ma túy khi có tối thiểu 3 trong 6 triệu chứng kể trên trong vòng 12 tháng gần đây

1.1.4 Các phương pháp điều trị nghiện CDTP

1.1.4.1 Các phương pháp điều trị cắt cơn

- Điều trị cắt cơn bằng thuốc hướng thần

- Điều trị cắt cơn bằng châm cứu

- Điều trị cắt cơn bằng thuốc y học cổ truyền

- Điều trị cắt cơn khác (thuốc Clonidin, giảm dần…)

Các chương trình điều trị cắt cơn còn giúp người nghiện heroin ngừng sử dụng heroin một thời gian ngắn trong cả quá trình ổn định lại cuộc sống Cắt cơn có thể được thực hiện tại nhà hoặc tại các trung tâm cai nghiện tại cộng đồng trong khoảng thời gian

từ vài ngày đến vài tuần Cắt cơn đơn thuần ít khi đưa lại kết quả điều trị tốt Cắt cơn chỉ

là bước đầu tiên của một quá trình điều trị lâu dài và cần phối hợp với các can thiệp khác trong chương trình điều trị toàn diện

Điều trị cắt cơn đem lại những lợi ích nhưng không chấm dứt được việc sử dụng CDTP Thực tế tỷ lệ sử dụng lại CDTP rất cao sau khi điều trị cắt cơn (thời gian càng dài

tỷ lệ càng cao) [26]

Trang 18

1.1.4.2 Các phương pháp điều trị duy trì lâu dài

- Điều trị phục hồi tại Trung tâm: Đây là hình thức điều trị do ngành Lao động

Thương binh và Xã hội quản lý Các Trung tâm này thường cách ly với môi trường cộng đồng Tại Trung tâm có các hoạt động như: Điều trị cắt cơn, giáo dục, lao động, phục hồi chức năng, tạo việc làm… Các dịch vụ này giúp những người có lối sống không lành mạnh trong thời gian dài có thể từ bỏ được heroin Thời gian tiến hành các hình thức điều trị này khác nhau từ 6 tuần tới 2-3 năm và thường phối hợp với các đợt tư vấn trọng điểm hoặc các hình thức điều trị khác Tỷ lệ tái nghiện cao sau khi hồi gia [26]

- Điều trị phục hồi tại cộng đồng:

Bệnh nhân có thể được điều trị cắt cơn tại nhà, tại trung tâm, sau cắt cơn chủ yếu điều trị tại gia đình và cộng đồng

Các phương thức áp dụng đa dạng: Thuốc, liệu pháp tâm lí, giáo dục, lao động, giải trí, dạy nghề…

Phương pháp này có ưu điểm là tái hoà nhập tốt hơn, tuy nhiên đối với những người bệnh có thời gian điều trị chưa đủ dài thì tỷ lệ tái nghiện vẫn cao [26]

1.1.4.3 Điều trị duy trì chống tái nghiện bằng thuốc đối kháng Naltrexone

Naltrexone làm mất tác dụng của các chất dạng thuốc phiện bao gồm cả heroin, vì vậy nếu sử dụng heroin trong khi đang dùng naltrexone hàng ngày sẽ không có cảm giác phê Hầu hết các nghiên cứu về naltrexon đều không thấy có kết quả lâu dài nhưng nó vẫn được kê đơn tại Việt Nam và có thể có tác dụng với một số ít người bệnh nếu phối hợp cùng với tư vấn và hỗ trợ tích cực của gia đình người bệnh [26]

1.1.4.4 Điều trị thay thế nghiện CDTP bằng thuốc

Điều trị thay thế (“liệu pháp dược trị chất chủ vận”, “liệu pháp thay thế chất chủ vận”, “liệu pháp hỗ trợ chất chủ vận”) được định nghĩa là một phương pháp cho sử dụng một loại thuốc kích thần được phép kê đơn có sự giám sát y học về các tác động của thuốc cho người nghiện, nhằm đạt mục đích điều trị đã xác định trước Điều trị thay thế

Trang 19

được sử dụng rộng rãi trong công tác quản lý nghiện nicotine “liệu pháp thay thế nicotine”) và nghiện ma túy [23]

Các chất phù hợp cho điều trị thay thế trong nghiện ma túy là những chất có một

số đặc tính của thuốc nhóm opiod, do vậy chúng có khả năng ngăn chặn sự xuất hiện của hội chứng cai nghiện và đói thuốc Trong khi đó, các chất loại trừ tác động của heroin hoặc các loại thuốc gây nghiện khác vì chúng gắn kết với thụ thể tiếp nhận chất gây nghiện của não bộ Nhìn chung, thời gian hoạt động của thuốc thay thế thuộc nhóm opiod dài hơn thuốc nhóm opiod mà nó thay thế, do đó nó làm chậm sự xuất hiện của cơn nghiện và giảm tần suất dùng thuốc, nhờ đó có thể giảm bớt phiền toái cho các sinh hoạt thường ngày do phải mua và sử dụng thuốc [23]

Thuốc dùng trong điều trị thay thế được chỉ định giảm liều dần trong một thời gian ngắn (thường là dưới 1 tháng) cho điều trị cắt cơn, hoặc dùng liều lượng tương đối ổn định trong một thời gian dài (thường là hơn 6 tháng) cho điều trị thay thế duy trì cho phép

ổn định các chức năng của não bộ và ngăn chặn hiện tượng đói thuốc/lên cơn [23]

Các dược chất dùng trong điều trị thay thế duy trì: methadone, buprenorphine và các loại dược phẩm khác

Methadone là một chất ma túy tổng hợp được dùng qua đường uống ở dạng dung dịch Methadone là loại thuốc điều trị được dùng phổ biến nhất trong điều trị thay thế cho người nghiện ma túy Điều trị bằng methadone cũng là phương thức điều trị được nghiên cứu rộng rãi nhất Có những bằng chứng rất vững chắc qua việc nghiên cứu và giám sát các cơ sở điều trị là điều trị thay thế bằng methadone (điều trị duy trì bằng methadone) đạt hiệu quả trong việc làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp, giảm tử vong, giảm nguy

cơ lây truyền HIV, tăng cường sức khỏe thể chất và tinh thần, cải thiện chức năng xã hội

và giảm tội ác Dùng methadone ở liều cao hơn thường làm giảm sử dụng heroin mạnh hơn là dùng ở liều vừa phải hoặc liều thấp [23]

Buprenorphine là loại thuốc được chỉ định cho điều trị với chất chủ vận opiod yếu hơn methadone Buprenorphine sẽ hấp thu không tốt nếu dùng qua đường uống, do đó, cách dùng thông thường khi điều trị là đặt ở dưới lưỡi Khi tăng liều lượng Buprenorphine, sẽ đạt hiệu quả ổn định Nhờ đó Buprenorphine ít bị khả năng gây tình

Trang 20

trạng quá liều như methadone hoặc heroin, thậm chí cả khi dùng cùng lúc với các loại ma túy khác Với liều dùng đầy đủ, hiệu quả của Buprenorphine cũng tương tự methadone, là giảm sử dụng ma túy và cải thiện chức năng tâm thần và xã hội Tuy nhiên, Buprenorphine được ít người theo đuổi điều trị đến cùng hơn và giá hiện nay của Buprenorphine đắt hơn methadone

Các loại dược phẩm khác như Levo alpha acetyl methadol (LAAM), Dihydrocodeine Tuy nhiên, hai loại dược phẩm này không có tác dụng đã được chứng minh như methadone nên không được đưa vào sử dụng rộng cho điều trị thay thế [23]

1.1.5 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone

Methadone là một loại thuốc hợp pháp ban đầu được sử dụng để kéo dài việc giảm đau cho những người lính trong Thế Chiến thứ hai Methadone là chất đồng vận với chất dạng thuốc phiện, nghĩa là có tác dụng tương tự các chất dạng thuốc phiện như heroin và morphin Sự khác biệt lớn nhất giữa methadone và những chất gây nghiện khác là nó tác động kéo dài hơn và người sử dụng không có xu hướng tăng liều khi dùng Vào những năm 1960, hai bác sỹ người Mỹ đã thử nghiệm methadone trên những người bệnh nghiện heroin và phát hiện ra rằng nó giúp người nghiện dừng sử dụng heroin mà không cần dùng liều cao hơn

Liều methadone được bác sỹ kiểm soát và kê đơn phù hợp cho với từng người bệnh Methadone không gây cho bệnh nhân cảm giác “phê” và làm giảm tác động của các chất dạng thuốc phiện khác như heroin Người bệnh uống Methadone hàng ngày (thuốc ở dạng nước) tại cơ sở điều trị methadone Do thuốc có tác dụng chậm nên chỉ cần dùng một liều một ngày là có thể giảm cơn thèm nhớ heroin

Điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone (gọi tắt là điều trị methadone) là chương trình điều trị lâu dài, điều trị càng lâu, kết quả càng tốt Đây là chương trình hoàn toàn tự nguyện Methadone được coi là phương pháp điều trị “tiêu chuẩn vàng” đối với người nghiện heroin

Methadone có thể giúp những người nghiện heroin:

- Dừng sử dụng hoặc giảm đáng kể lượng heroin sử dụng

Trang 21

- Dừng tiêm chích heroin (hoặc giảm đáng kể tần suất tiêm chích và giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh truyền qua đường máu và nguy cơ quá liều)

- Cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng

- Dừng các hành vi phạm pháp liên quan đến việc kiếm tiền mua heroin

- Có những mối quan hệ ổn định hơn và hoà thuận hơn với gia đình

- Có công việc ổn định hơn và tiến bộ hơn trong học tập [13]

1.2 Ảnh hưởng của hành vi sử dụng ma túy trong điều trị methadone

Trung tâm tư vấn cai nghiện Hoa Kỳ cho biết 4 lý do không nên sử dụng ma túy trong khi điều trị methadone như sau [55]:

- Có thể gây nghiện đa chất: Người sử dụng ma túy khi đang điều trị methadone có nguy cơ bị nghiện đa chất Nghiện đa chất là nghiện nhiều hơn một chất Những người nghiện sử dụng methadone để điều trị nghiện chất nhưng họ lại tìm cách sử dụng cocaine khi điều trị methadone để có được cảm giác phê sướng Khi ngưỡng bình thường của đối tượng tăng lên thì liều methadone và liều ma túy tăng lên dẫn đến hiện trạng bệnh nhân nghiện thuốc phiện và cocaine

- Giảm hiệu quả điều trị của Methadone: Người nghiện trong điều trị methadone cần

có mức methadone ổn định trong cơ thể để giảm hoặc loại bỏ các triệu chứng liên quan đến ma túy Sử dụng ma túy làm giảm mức độ của methadone trong cơ thể bệnh nhân dẫn đến các triệu chứng liên quan đến ma túy vẫn xuất hiện khi điều trị methadone

- Xóa bỏ mục đích điều trị methadone: Mục đích của chương trình điều trị methadone là giúp cho người nghiện ma túy không sử dụng ma túy nữa bằng cách giảm triệu chứng liên quan đến ma túy như cảm giác thèm nhớ ma túy Tuy nhiên, người bệnh lại tiếp tục hành vi sử dụng ma túy khi đã tham gia điều trị methadone dẫn đến mục đích của chương trình không được hoàn thành

- Tăng nguy cơ quá liều: Methadone cũng là một chất gây nghiện, khi sử dụng chung với ma túy, hai chất này có thể làm giảm tác dụng phụ của methadone như

lo lắng, tăng nhịp tim Điều này gây hiểu nhầm cho đối tượng rằng họ có thể sử

Trang 22

dụng chung methadone và ma túy Tuy nhiên, bệnh nhân không biết hoặc không thể tự nhận biết được mình bị quá liều trước khi họ bị sốc, ngất hoặc có thể tử vong

1.3 Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng ma túy trên nhóm bệnh nhân điều trị

Một nghiên cứu trên 604 bệnh nhân tại Washington - Mỹ về hành vi sử dụng ma túy bất hợp pháp trong khi điều trị methadone cho kết quả, 32% đối tượng sử dụng ma túy bất hợp pháp Trong đó, 55% dương tính với cocaine, 44% dương tính với thuốc phiện, 23% dương tính với heroin, 20% dương tính với benzodiazepine, 7% với PCP và 4% dương tính với amphetamine Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy mối liên quan giữa việc tiếp tục sử dụng ma túy với việc ra khỏi chương trình điều trị methadone [43]

Nghiên cứu thuần tập trên 189 phụ nữ mang thai từ khi bắt đầu mang thai đến sau sinh 60 ngày điều trị methadone tại Mỹ năm 2016 Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng bằng xét nghiệm nước tiểu dương tính với morphine Kết quả cho thấy tỷ lệ đối tượng dương tính với các chất gây nghiện tương tự là 28,5%, tương đương với khoảng 53 người trong thời kỳ mang thai Và kết quả cũng tương tự trong 60 ngày đầu sau sinh [53]

Theo một nghiên cứu tiến cứu tại Trung Quốc trên 5.035 bệnh nhân, tỷ lệ sử dụng

ma túy của người nghiện là 22,5% sau 12 tháng điều trị [26] Cũng tại Trung Quốc, nghiên cứu về hành vi sử dụng heroin trong khi điều trị methadone trên 2.121 người cho thấy có 220 người (10,4%) dương tính với morphine, 273 người (12,9%) dương tính với

Trang 23

ATS và 196 người (9,2%) dương tính với cả morphin và ATS [52] Nghiên cứu trên 1.275 ĐTNC tại tỉnh Côn Minh, Trung Quốc cho kết quả, chỉ 8% ĐTNC sử dụng heroin

và 1% sử dụng morphine trong 30 ngày qua 6,2% cho biết đã hút thuốc, ngửi thuốc phiện, heroin hoặc morphine 1,9% hút cần sa, 3,7% dùng ma túy đá, 2,3% dùng thuốc lắc trong 30 ngày qua Tất cả những người tham gia nghiên cứu đều được xét nghiệm nước tiểu tại thời điểm nghiên cứu, có đến 25,9% ĐTNC có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với heroin hoặc morphine [35] Nghiên cứu tại 28 cơ sở điều trị methadone tại tỉnh Chiết Giang và Giang Tây, Trung Quốc với 560 bệnh nhân được lựa chọn Khoảng một phần ba trong số đó (37,7%) khai báo có sử dụng ma túy và có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với morphine [30]

Sau 12 năm, chương trình điều trị nghiện thay thế bằng methadone được bắt đầu tại Malaysia, một nghiên cứu tiến hành trên 3.254 người điều trị methadone năm 2017 [38] Độ tuổi trung bình của đối tượng là 39,2 và chủ yếu là nam Các đối tượng tham gia nghiên cứu đa dạng về tôn giáo và chủng tộc Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 12 năm điều trị, mặc dù chương trình đem lại một số hiệu quả nhất định, một số đối tượng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy song song với điều trị methadone [36]

Nghiên cứu trên 158 đối tượng tại Băng Cốc – Thái Lan vào năm 2011 cho kết quả, liều điều trị trung bình/ngày của ĐTNC là 30mg (từ 20mg đến 50mg) Trong số này, 15,8% cho biết họ đã từng mua methadone bất hợp pháp trên đường phố do liều điều trị duy trì thấp, 19% cho biết đã từng sử dụng chung bơm kim tiêm trong thời gian gần đây [28]

Một nghiên cứu cắt ngang tiến hành tại tỉnh Tuyên Quang trên 241 bệnh nhân tham gia điều trị tại hai cơ sở điều trị methadone là cơ sở điều trị thành phố Tuyên Quang

và cơ sở điều trị Sơn Dương vào năm 2016 100% đối tượng tham gia nghiên cứu là nam giới và chủ yếu thuộc nhóm tuổi từ 35-50 (62,7%) Hơn một nửa số đối tượng tham gia nghiên cứu có cấp học từ THPT trở lên (53%) Trong 241 đối tượng được lựa chọn có

232 đối tượng trả lời câu hỏi về hành vi sử dụng ma túy khi tham gia điều trị Khoảng 20% đối tượng có thời gian điều trị dưới 12 tháng sử dụng ma túy khi tham gia điều trị [42]

Trang 24

Nghiên cứu của trường Đại học Y Hà Nội kết hợp với Cục Phòng chống HIV/AIDS và Tổ chức Gia đình sức khỏe y tế năm 2009 – 2011 trên 447 đối tượng cho thấy tỷ lệ sử dụng ma túy của ĐTNC là 21,8% sau 6 tháng điều trị [18]

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị Methadone của FHI 360 tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 sử dụng phương pháp nghiên cứu thuần tập tiến cứu trong 24 tháng Tỷ lệ sử dụng ma túy nói chung trong nghiên cứu này là 19 – 26% sau 6 tháng điều trị [7] Cũng có kết quả tương đương về hành vi sử dụng ma túy trong khi điều trị methadone, nghiên cứu tại Cần Thơ năm 2014 cho thấy tỷ lệ sử dụng ma túy của ĐTNC là 3,5% [14] Tỷ lệ này tuy nhỏ, tuy nhiên tình trạng người bệnh điều trị methadone sử dụng ma túy là vẫn có

1.3.2 Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trên nhóm

bệnh nhân điều trị methadone

1.3.2.1 Yếu tố cá nhân

Các yếu tố như dân tộc, thời gian điều trị methadone, tuổi và tình trạng hôn nhân

có mối liên quan với hành vi sử dụng heroin và ma túy được tìm thấy qua nghiên cứu trên 2.121 đối tượng tại Trung Quốc năm 2015 [52] Những đối tượng có nguy cơ tiếp tục sử dụng hoặc sử dụng song song heroin hoặc ma túy khi điều trị methadone nằm trong những nhóm sau: người dân tộc Cảnh Pha, người có thời gian điều trị methadone dưới 1 năm, người dưới 30 tuổi, người đã góa vợ/chồng hoặc ly dị vợ/chồng [52]

Độ tuổi và lịch sử điều trị tâm lý ngoại trú có mối liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ

sử dụng ma túy Đây là hai yếu tố liên quan được tìm thấy qua nghiên cứu trên 383 đối tượng tại Mỹ năm 2008 [54]

Nghiên cứu tiến hành trên 1.091 ĐTNC tại Ý năm 2006 đã tìm thấy mối liên quan giữa giới, tình trạng hôn nhân với hành vi sử dụng ma túy Nam giới có nguy cơ sử dụng

ma túy cao gấp 1,51 lần nữ giới Những người có nhiều hơn một bạn tình có nguy cơ sử dụng ma túy cao hơn gấp 2,25 lần những người đã kết hôn hoặc sống chung thủy với một bạn tình [33]

Trang 25

Từ năm 1993, tại Úc đã tiến hành nghiên cứu hồi cứu phân tích dữ liệu trong thời gian 2 năm tìm hiểu mối liên quan giữa liều methadone và hành vi sử dụng ma túy cho thấy việc giảm sử dụng ma túy 2% tương ứng với tăng 1mg liều duy trì methadone và với bệnh nhân duy trì liều trên 80mg/ngày sẽ giảm tỷ lệ sử dụng ma túy xuống 2,2 lần so với liều duy trì 40mg/ngày [27]

Nghiên cứu của Đại học Y năm 2009 – 2011 chỉ tìm ra 2 yếu tố có liên quan đến hành vi sử dụng lại ma túy trong khi điều trị là liều methadone trung bình (theo đơn vị 5ml) và tăng liều trong quá trình điều trị Cụ thể, tăng liều methadone lên mỗi 5ml thì tỷ

lệ tiếp tục sử dụng ma túy cao gấp 1,17 lần những ĐTNC không được tăng liều và tỷ lệ tiếp tục sử dụng ma túy trong nhóm có điều chỉnh tăng liều trong quá trình điều trị cao gấp 1,6 lần trong nhóm không có điều chỉnh tăng liều [18]

Cũng có cùng kết quả tương tự, những bệnh nhân có liều trung bình cao hơn có

nguy cơ tiếp tục sử dụng ma túy cao hơn [18], [12]

Theo nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy tại Hải Phòng năm 2011 của nhóm tác giả, những thuốc có tương tác với methadone như ARV

có mối liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trên nhóm người đang điều trị methadone

Cụ thể, những bệnh nhân đang điều trị ARV có nguy cơ sử dụng ma túy cao gấp 1,51 lần [17]

Những bệnh nhân không tuân thủ điều trị có tỷ lệ sử dụng lại chất gây nghiện cao gấp 4,4 lần những bệnh nhân tuân thủ điều trị Cũng có kết quả tương tự, nghiên cứu tại Colombia cho thấy những bệnh nhân không tuân thủ điều trị có nguy cơ sử dụng ma túy hơn những người tuân thủ điều trị [34]

Kết quả phỏng vấn sâu trong nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị của tác giả Phạm Thị Bích và Nguyễn Thị Thuận tại Hải Dương cho thấy tình trạng không có việc làm có thể dẫn đến hành vi sử dụng lại chất gây nghiện do không có việc làm thì ĐTNC

có thời gian rảnh rỗi nhiều nên có thời gian tụ tập với nhau [1], [20]

Trang 26

1.3.2.2 Yếu tố gia đình và cộng đồng

Nghiên cứu của FHI tại Hải Phòng và Hồ Chí Minh chỉ ra 3,1% đối tượng tham gia nghiên cứu có vấn đề nghiêm trọng trong quan hệ với gia đình và bạn bè và 2,3% đối tượng có xung đột với gia đình sau 24 tháng điều trị [7], [8] Và tỷ lệ ĐTNC được nhận

hỗ trợ về tinh thần/vật chất từ phía gia đình từ kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Bích tại Hải Dương là 93,3% [1] Kết quả nghiên cứu tại Malaysia cho biết tỷ lệ đối tượng có vấn

đề với gia đình và những người xung quanh là 4,6% sau 18 tháng điều trị [31]

1.3.2.3 Yếu tố liên quan khác

Những người tham gia nghiên cứu tiến cứu được thực hiện từ năm 2011 đến 2012 tại Băng Cốc – Thái Lan cho biết, do sự sẵn có của các loại thuốc dạng thuốc phiện tại nơi họ sinh sống nên họ dễ ngừng sử dụng methadone để dùng lại ma túy hoặc dùng song song methadone và ma túy [28]

Ngoài những yếu tố trên, một số nghiên cứu cũng phân tích trên các yếu tố khác như “có hành vi vi phạm pháp luật”, “có hành vi tiêu cực trong gia đình”, “bỏ 1 hoặc 2 liều liên tục trong quá trình điều trị”, “có vấn đề sức khỏe trong quá trình điều trị”, tuy nhiên, do cỡ mẫu nhỏ nên nghiên cứu không tìm ra mối liên quan giữa các yếu tố trên với hành vi tiếp tục sử dụng ma túy trong quá trình điều trị [18]

Trang 27

- Thời gian sử dụng ma túy

- Thời gian tham gia điều trị methadone

- Tần suất sử dụng chất gây nghiện

- Loại kinh tế của gia đình

- Hỗ trợ trong quá trình điều trị

- Mâu thuẫn, bất đồng với người xung quanh

Hành vi sử dụng ma túy trong khi điều trị methadone

Yếu tố liên quan khác

- Hài lòng về thái độ của cán bộ y tế

- Ảnh hưởng của bạn sử dụng chất gây nghiện

- Sự sẵn có của ma túy

Trang 28

Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên mô hình “môi trường xã hội”, hướng dẫn điều trị methadone của Bộ Y tế và tham khảo từ một số nghiên cứu liên quan đến methadone và ma túy tại Việt Nam và trên Thế giới [1], [3], [9], [18], [36], [55]

Với mô hình “môi trường xã hội”, nghiên cứu lấy người tham gia điều trị methadone làm trung tâm và các yếu tố như cá nhân, gia đình – cộng đồng và yếu tố khác ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi sử dụng ma túy của những bệnh nhân hiện đang điều trị

Do đặc điểm về bệnh nhân tại cơ sở điều trị Đống Đa khá đa dạng nên cần phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng ma túy của bệnh nhân từ bản thân đối tượng đến môi trường và con người xung quanh Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có nghiên cứu hay cuộc khảo sát nào về những yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trên nhóm bệnh nhân điều trị methadone tại Đống Đa cũng như trên toàn địa bàn Hà Nội nên các nhóm yếu tố liên quan có vai trò và mức ảnh hưởng được đặt tương tự nhau và không chú trọng riêng vào yếu tố nào

1.5 Thông tin về địa điểm nghiên cứu

Đến hết năm 2016, Hà Nội hiện có hơn 14.000 người nghiện ma túy Trong đó, số người có mặt tại cộng đồng là 7.452; vắng mặt là 1.356; ở các cơ sở cai nghiện là 3.233;

ở trường trại là 2.195 So với cùng kỳ năm 2015 giảm 1.420 người nghiện và so với cuối năm 2015 giảm 180 người nghiện Theo kết quả theo dõi di biến động người nghiện, tốc

độ tăng người nghiện mới đã được kiềm chế, số người nghiện heroin phát hiện ít Tuy nhiên, số người nghiện ma túy tổng hợp ở cộng đồng vẫn chưa được phát hiện và thống

kê Hiện toàn thành phố có 8.636 đối tượng tù tha, đặc xá, hoãn thi hành án các tội về ma túy hiện đang ở cộng đồng Trong 3 tháng đầu năm 2017, toàn Thành phố đã đưa được 50/500 người đi cai nghiện bắt buộc, đạt 10% chỉ tiêu năm [2]

CSÐT Methadone Ðống Ða nằm ở trung tâm quận Ðống Ða là điểm nóng về ma túy với nhiều đối tượng phức tạp Do địa bàn ở trung tâm, tiếp giáp với nhiều quận khác, CSÐT Ðống Ða không chỉ điều trị cho các bệnh nhân cư trú tại quận Ðống Ða mà còn một số quận khác và ngoại thành Bệnh nhân điều trị tại CSÐT đa dạng về đặc điểm nghề nghiệp, trình độ học vấn… Tính đến 30/9/2017, cơ sở đang điều trị cho 525 bệnh nhân [5]

Trang 29

Như vậy, việc tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng

ma túy của nhóm bệnh nhân đang điều trị methadone tại CSĐT Đống Đa, Hà Nội là phù hợp và cần thiết vì tính đa dạng của đối tượng và quận Đống Đa là điểm nóng về ma túy

Trang 30

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bệnh nhân đang điều trị tại CSĐT methadone Đống Đa từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân đã bỏ/ra khỏi chương trình hoặc chuyển tới điều trị tại CSĐT khác tính đến thời điểm nghiên cứu

- Bệnh nhân từ CSĐT khác đến uống nhờ/uống tạm thời

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 01/2018 đến tháng 3/2018

Địa điểm: Cơ sở điều trị methadone Đống Đa, Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bộ công cụ định lượng

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Công thức tính cỡ mẫu

2

2

) 2 / 1

d

p p

Z

Trong đó:

n: Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được

Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì Z1-α/2 = 1,96

p: Tỷ lệ sử dụng chất gây nghiện trong nhóm bệnh nhân điều trị methadone

Theo nghiên cứu “Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của người nhiễm HIV tham gia chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc

Trang 31

methadone tại Hải Phòng” của nhóm tác giả Trần Minh Hoàng, Lê Minh Giang, Phạm Đức Mạnh và Nguyễn Cường Quốc, tỷ lệ sử dụng chất gây nghiện là 33,6% (p=0,336) [18]

d: Khoảng sai lệch chấp nhận được, chọn d = 0,07

Thay vào công thức trên ta tính được cỡ mẫu n= Cỡ mẫu đảm bảo yêu cầu là n =

174 người

Cỡ mẫu: Theo công thức tính cỡ mẫu thì cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được là 174

người Dự phòng những trường hợp trả lời thiếu thông tin, vắng mặt hoặc từ chối tham gia nghiên cứu là 10% (17 người) Vậy cỡ mẫu đảm bảo yêu cầu là 191 người

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

Cách chọn mẫu cụ thể như sau:

Bước 1: Lập danh sách tất cả bệnh nhân điều trị trên 6 tháng tại cơ sở điều trị methadone Đống Đa theo mã số bệnh án

Bước 2: Bốc thăm mã số đối tượng được chọn cho đến khi đủ 191 mã số

Với mỗi đối tượng được chọn, tiến hành phỏng vấn trực tiếp (mặt đối mặt)

Cỡ mẫu thực tế:

Nghiên cứu thực hiện đúng theo phương pháp chọn mẫu được nêu trên Trong quá trình tiến hành thu thập số liệu, có 02 đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu nên nhóm nghiên cứu đã thực hiện lấy thêm 02 mã số bệnh án tiếp theo để cỡ mẫu đủ 191 đối tượng

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Thu thập số liệu từ bệnh án

Nhóm nghiên cứu đã thu thập những thông tin sau để phục vụ cho phân tích và tổng hợp kết quả:

- Thời gian tham gia điều trị của ĐTNC

- Liều điều trị hiện tại của ĐTNC

- Tình trạng điều trị ARV của ĐTNC

Trang 32

- Kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với morphine lần gần với thời điểm nghiên cứu nhất và lần cách thời điểm nghiên cứu diễn ra 6 tháng

2.5.2 Thu thập số liệu từ bộ câu hỏi định lượng

Bước 1: Thử nghiệm bộ câu hỏi

Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi trên 10 đối tượng đang điều trị tại cơ sở điều trị nhằm chỉnh sửa và hoàn thiện bộ câu hỏi cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu Sau khi hoàn thiện, bộ câu hỏi được in ấn phục vụ cho tập huấn điều tra viên và thu thập thông tin

Bước 2: Tập huấn điều tra viên

Đối tượng tham gia tập huấn là 3 điều tra viên và 3 giám sát viên Các đối tượng được phát một bộ tài liệu tập huấn và được hướng dẫn cụ thể về từng câu hỏi và trả lời trong bộ câu hỏi, giải đáp thắc mắc

Bước 3: Thu thập thông tin

Các thông tin được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt Giám sát viên trực tiếp đến địa điểm nghiên cứu, giám sát, thực hiện phỏng vấn cùng điều tra viên và giúp điều tra viên giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thu thập số liệu Sau đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra xác suất khoảng 10% số phiếu mà điều tra viên thu thập và phiếu thu thập đảm bảo yêu cầu

2.6 Công cụ thu thập số liệu

Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi định lượng phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân đang điều trị methadone trên 6 tháng tính từ thời điểm bắt đầu nghiên cứu Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên khung lý thuyết và có sự tham khảo từ một số nghiên cứu tại Việt Nam

và trên Thế giới [1], [9], [10],[52]

2.7 Biến số nghiên cứu

Biến số nghiên cứu gồm 6 nhóm chính:

- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

- Tình trạng gia đình, xã hội của đối tượng nghiên cứu

- Trình độ học vấn, việc làm của đối tượng nghiên cứu

Trang 33

- Hành vi sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu

- Hành vi quan hệ tình dục của đối tượng nghiên cứu

- Các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến hành vi sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu

Trong 6 nhóm yếu tố liên quan, biến phụ thuộc là “hành vi sử dụng ma túy” và

“hành vi quan hệ tình dục”, các biến còn lại là biến độc lập

Biến số nghiên cứu được trình bày cụ thể tại Phụ lục 1 của Luận văn

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá hành vi sử dụng ma túy

Đối tượng được cho là có hành vi sử dụng ma túy trong 01 tháng qua khi có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với heroin trong lần kiểm tra gần thời điểm nghiên cứu nhất

Đối tượng được cho là có hành vi sử dụng ma túy trong 06 tháng qua khi có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với heroin trong lần kiểm tra cách thời điểm nghiên cứu 06 tháng

2.9 Phân tích và quản lý số liệu

2.9.1 Phân tích số liệu

Các phiếu thu thập thông tin sau khi được thu thập đầy đủ thì được đưa vào bảng

mã hóa cho từng vấn đề thu thập được và tổng hợp theo từng chủ đề của bộ câu hỏi, sau

đó kết quả đã được phiên giải và phân tích

Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm EpiData

Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS:

 Thống kê mô tả theo tần số, tỷ lệ

 Thống kê suy luận: sử dụng kiểm định 2 để phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trong khi điều trị methadone với biến phụ thuộc là hành vi

sử dụng ma túy trong 06 tháng qua và hành vi sử dụng ma túy trong 01 tháng qua

2.9.2 Quản lý số liệu

 ĐTV và GSV được tập huấn trước khi tiến hành thu thập số liệu

Trang 34

 ĐTV và GSV phải rà soát bộ câu hỏi trước và sau khi phỏng vấn, đảm bảo hoàn thành bộ câu hỏi và các câu trả lời logic

2.10 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được phê duyệt bởi Hội đồng đạo đức số 079/2018/YTCC-HD3 ngày 27/02/2018 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của trường Đại học Y tế công cộng trước khi tiến hành để đảm bảo các rủi ro có thể xảy ra cho đối tượng nghiên cứu Tất cả các đối tượng nghiên cứu đã được các điều tra viên giới thiệu về nghiên cứu, quyền được tham gia và từ chối tham gia bất kỳ thời gian nào Tất cả những thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu đã được mã hoá và bảo mật trong suốt quá trình thu thập thông tin, phân tích và báo cáo Các cuộc phỏng vấn đã được tiến hành

ở những nơi riêng tư Các bộ câu hỏi phỏng vấn đã hoàn thành được bảo quản cẩn thận, bảo mật và chỉ nghiên cứu viên chính mới được tiếp cận và sử dụng

Trang 35

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng hành vi sử dụng ma túy của nhóm bệnh nhân đang điều trị

Methadone

3.1.1 Mô tả yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thu được thông tin từ 191 bệnh nhân đang điều trị methadone tại cơ sở Đống Đa Một số đặc điểm chung về đối tượng được trình bày trong bảng sau:

Bảng 3.1 Mô tả đặc điểm chung của ĐTNC

Tuổi

Tuổi cao nhất Tuổi nhấp nhất Tuổi trung bình

68

26 43,7 (±8,7)

Trình độ học vấn

Tiểu học Trung học cơ sở (cấp 2) Trung học phổ thông (cấp 3)

Đào tạo nghề Đại học/cao đẳng/trung cấp

Tình trạng việc làm

Thất nghiệp Chưa có việc làm nhưng được đào tạo nghề

Việc làm thu nhập không ổn định

Thu nhập trung bình/tháng của ĐTNC

(VNĐ)

Thu nhập cao nhất Thu nhập thấp nhất Thu nhập trung bình

15.000.000

0 3.830.000 (±2.788.925)

Trang 36

Đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu là nam giới, cao gấp 13 lần đối tượng nữ (nam chiếm 93,2%) Độ tuổi phổ biến là trên 30 tuổi (chiếm 96,8%), độ tuổi trung bình là 43,7 tuổi và không có đối tượng nào có tuổi dưới 25 Phần lớn đối tượng có trình độ học vấn trong hai nhóm THCS và THPT, tỷ lệ đối tượng trong hai nhóm này lần lượt là 38,7% và 48,7% Hơn một nửa số đối tượng tham gia nghiên cứu hiện đã có vợ/chồng (63,9%), khoảng một phần năm số đối tượng chưa kết hôn lần nào (20,9%) và một tỷ lệ rất nhỏ đối tượng sống chung không kết hôn (0,5%) Hơn ba phần tư đối tượng tham gia nghiên cứu có việc làm thu nhập không ổn định (75,4%), những đối tượng thất nghiệp, có việc làm ổn định có tỷ lệ gần tương đương nhau, khoảng trên/dưới 10% Số đối tượng chưa có việc làm nhưng được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ nhỏ nhất so với các nhóm tình trạng việc làm khác Mức thu nhập trung bình của ĐTNC lên đến gần 4 triệu đồng, mức này cao hơn rất nhiều so với mức lương cơ sở theo quy định của nhà nước từ ngày 01/01/2018 là 1.300.000 nghìn đồng Tuy nhiên, mức thu nhập lại dao động lớn, từ những đối tượng không có thu nhập đến đối tượng có thu nhập 15.000.000 đồng/tháng

Bảng 3.2 Mô tả hành vi sử dụng rượu bia của ĐTNC

Sử dụng rượu, bia từ trước đến nay

Có Không

185

6

96,9 3,1 Mức độ sử dụng rượu, bia sau khi tham gia

điều trị methadone

Tăng lên Giảm đi Không thay đổi

4

68

113

2,1 35,6 59,2 Hầu hết các đối tượng tham gia nghiên cứu đều đã từng một lần uống rượu/bia (96,9% đối tượng có tiền sử sử dụng) Một điều đáng mừng rằng có đến 35,6% đối tượng cho biết mức độ sử dụng rượu/bia của họ giảm đi sau khi tham gia điều trị methadone

Trang 37

Ngoài ra, có đến hơn một nửa số đối tượng cho biết mức độ sử dụng của họ không thay đổi (59,2%)

Bảng 3.3 Mô tả đặc điểm điều trị của ĐTNC

(n=191) Tỷ lệ % Thời gian điều trị methadone

Dưới 12 tháng

Từ 12- 24 tháng Trên 24 tháng

6

15

170

3,1 7,9 89,0

Thời gian trung bình điều trị methadone (tháng)

Thời gian cao nhất Thời gian thấp nhất

35

156

18,3 81,7 Gần 90% đối tượng có thời gian tham gia điều trị trên 24 tháng, tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ điều trị trên 24 tháng ở tổng số 470 bệnh nhân hiện đang điều trị tại cơ sở Đống Đa là 85,1% Thời gian điều trị methadone trung bình của đối tượng nghiên cứu là 45,7 tháng, điều này cho thấy số đối tượng tham gia nghiên cứu đã có thời gian điều trị khá dài Liều điều trị trung bình của các đối tượng là 106,9mg Chỉ 18,3% ĐTNC đang tham gia điều trị ARV, điều này cho thấy, ít nhất 18,3% ĐTNC nhiễm HIV

Trang 38

Bảng 3.4 Mô tả hành vi sử dụng ma túy trước khi tham gia điều trị methadone

(n=191) Tỷ lệ % Thời gian sử dụng ma túy trước khi tham gia

điều trị

<5 năm 5- 10 năm

Trung bình thời gian sử dụng ma túy trước khi

tham gia điều trị (năm)

Đá Thuốc lắc

10 năm (80,6%), thời gian sử dụng ma túy trung bình là 15,8 năm Các loại ma túy mà đối tượng đã từng sử dụng là thuốc phiện/cần sa, heroin, cocaine, đá và thuốc lắc Trong

đó, heroin là loại ma túy mà các ĐTNC sử dụng nhiều nhất với 97,4%, tiếp theo là đá với 15,2% Ngoài ra, ĐTNC không sử dụng kẹo và các loại ma túy khác

Bảng 3.5 Mô tả hành vi QHTD của ĐTNC trước khi tham gia điều trị

(n=191) Tỷ lệ %

Đã từng sử dụng ma túy khi QHTD

Có Không

128

63

67,0 33,0 Khoảng hai phần ba số ĐTNC cho biết họ đã từng sử dụng ma túy khi QHTD (67,0%)

Trang 39

3.1.2 Mô tả yếu tố gia đình và cộng đồng của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.6 Mô tả thu nhập trung bình của ĐTNC và loại hình kinh tế gia đình của ĐTNC

Thu nhập trung bình/tháng của gia đình

ĐTNC (VNĐ)

Thu nhập cao nhất Thu nhập thấp nhất Thu nhập trung bình

80.000.000

0 7.865.000 (±6.662.366) Mức thu nhập trung bình của gia đình đối tượng lên đến gần 8 triệu đồng/tháng Trong khi mức thu nhập trung bình của ĐTNC là khoảng gần 4 triệu đồng/tháng, chiếm gần bằng một nửa mức thu nhập trung bình trong gia đình của ĐTNC (Bảng 3.1) Điều này cho thấy có thể ĐTNC là người lao động chính trong gia đình hoặc đóng góp một phần không nhỏ vào nguồn thu của gia đình

Bảng 3.7 Mô tả sự ủng hộ, hỗ trợ từ phía gia đình cho ĐTNC

12 ĐTNC cho biết họ không nhận được sự hỗ trợ từ phía gia đình

Trang 40

Bảng 3.8 Mô tả sự mâu thuẫn/bất đồng của ĐTNC với những người xung quanh

Người mâu thuẫn/bất đồng với ĐTNC

Bố/mẹ Vợ/chồng/bạn tình

Con cái Bạn bè Đồng nghiệp

có nghề nghiệp ổn định và không có đối tượng nghiên cứu nào cho biết có mâu thuẫn, bất đồng với ông chủ, lãnh đạo Do đó, kết quả về mâu thuẫn, bất đồng với ông chủ, lãnh đạo của nghiên cứu có thể chấp nhận được

Ngày đăng: 31/01/2021, 10:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w