1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007

126 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Tiếp Cận Nguồn Thông Tin Về Sức Khỏe Sinh Sản Của Một Số Nhóm Vị Thành Niên Có Hoàn Cảnh Đặc Biệt Tại Quận Cầu Giấy
Tác giả Nguyễn Văn Quân
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Bùi Thị Thu Hà
Trường học Đại Học Y Tế Công Cộng
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 677,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng mô tà catngang kết hợp với nghiên cứu định tính, tiến hành ưên 214 VTN-HCĐB tại quận cầuGiấy, Hà Nội, trong thời gian từ tháng

Trang 1

HÀ NỘI, NÃM 2007

NGUYÊN VĂN QUÂN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐÈN TIÉP CẬN NGUỒN THÒNG TIN VÈ sức KHOẺ SINH SẢN CỦA MỘT SỐ NHÓM VỊ THÀNH NIÊN CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

TẠI QUẬN CÀU GIÁY NĂM 2007

LUẬN VÃN THẠC sĩ Y TÉ CÔNG CỘNG

GIÁO VTÊN HƯỚNG DÂN : TIÉN sĩ BÙI THỊ THU HÀ

Trang 2

HÀ NỘI, NĂM 2007

NGUYỄN VĂN QUÂN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐÈN TIẾP CẬN NGUỒN THÒNG TIN VÈ sức KHOẺ SINH SÀN CỦA MỘT SỐ NHÓM VỊ THÀNH NIÊN CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

TẠI QUẬN CAU GIẤY NĂM 2007

Mã SỐ: 60.72.76

Trang 3

LỜI CẢM ƠN!

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và các thầy côgiáo trường Đại học y tế Công Cộng đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức và hướngdẫn tôi trong suốt hai năm học vừa qua

Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sẳc nhất, từ đáy lòng mình tôi xin bày tỏ lòngbiết ơn tới Tiến sĩ Bùi Thị Thu Hà, Giáo viên hướng dẫn - người đã tận tình hướng dẫn,

hồ trợ, giúp đỡ, truyền đạt kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện có the cho tôi giúp tôi hoànthành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, các Cô các bộ môn, các bạn đông nghiệp cácanh, chị học viên lớp Cao học 9 đã có những ý kiến het sức quí báu giúp tôi trong khilàm luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các phòng, ban, các đơn vị địa phương của quận CầuGiấy đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu tại địaphương Đặc biệt là nhóm sinh viên khoá II của trường YTCC, nhũng người đã cùng tôikhông quản khó khăn mưa, nắng, luôn đồng hành cùng tôi đen từng nhà, tiếp cận đốitượng để có được những thông tin trung thực nhất

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Trang 4

ĐẶT VÁN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 4

1 Mục tiêu chung 4

2 Mục tiêu cụ thể 4

CHƯƠNG I: TỐNG QUAN 5

1.1 Tổng quan các khái niệm, định nghĩa và phân loại ưẻ em có HCĐB 5

1.2 Tình hình sức khoè sinh sàn và còng tác truyền thông - thông tin 10

giáo dục về chăm sóc sức khoẻ sinh sàn cho vị thành niên trên thế giới 1.3 Tình hình sức khoẻ sinh sản và công tác truyền thông - thông tin 17

giáo dục về chăm sóc sức khoè sinh sản cho vị thành niên ờ Việt Nam CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30

2.3 Thiết kế nghiên cứu 31

2.4 Mầu và phương pháp chọn mẫu 31

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 31

2.6 Xử lý và phân tích số liệu 32

2.7 Các biến số nghiên cửu và các khái niệm, thước đo hay tiêu chuẩn 33

đánh giả 2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 39

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 39

CHƯƠNG III: KÉT QUÀ NGHIÊN cứu 40

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cửu 40

3.2 Thực trạng tiếp cận nguồn thông tin về SKSS-VTN 43

3.3 Thực trạng kiến thức về sức khoẻ sinh sản vị thành niên 57

3.4 Phân tích một số mối liên quan 63

CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 72

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cửu 72

4.2 Thực trạng về tiếp cận nguồn thông tin 74

4.3 Kiến thức sức khoẻ sinh sản 82

4.4 Một sổ yếu tố liên quan tới kiến thức về CSSKSS của VTN -HCĐB 84

Trang 5

5.2 Thực trạng sự tiếp cận nguồn thông tin về SKSS 89

5.3 Kiến thức sức khoẻ sinh sản 90

5.4 Một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin 91

CHƯƠNG VI: KHUYẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

IEC Thông tin- giáo dục- truyền thông

LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục

Trang 7

VTN- HCĐB Vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt

Trang 8

Bảng 3.2 Thông tin chung về gia đình ĐTNC

Bảng 3.3 Tiếp cận các nguồn thông tin đại chúng

Bảng 3.4 Nội dung tiếp cận

Bảng 3.5 Tần xuất tiếp cận

Bảng 3.6 Thời điểm tiếp cận

Bảng: 3.7 Chất luợng nguồn thông tin

Bảng 3.8 Thông tin tiếp cận từ gia đình

Bàng 3.9 Nội dung trao đổi thông tin giữa các thành viên và ĐTNC

Bảng 3.10 Tần xuất trao đổi về SKSS với các thành viên trong gia đình

Bảng 3.11 Thời điểm trao đổi giữa gia đình và ĐTNC

Bảng 3.12 Các nội dung tiếp cận thông tin từ nhà trường

Bàng 3.13 Tiếp cận từ cán bộ làm công tác truyền thông giáo dục sức khoè

Bảng 3.14 Tiếp cận nguồn câu lạc bộ SKSS-VTN

Bàng 3.15 Kiến thức dậy thi

Bảng 3.16 Kiến thức mang thai và nạo phá thai

Bảng 3.17 Kiến thức biện pháp tránh thai

Bảng 3.18 Kiến thức các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV

Bàng 3.19 Tổng hợp kiến thức SKSS-VTN

Bảng 3.20 Liên quan với yếu tố cá nhân

Bảng 3.21 Liên quan với các yếu tố gia đình

Bảng 3.22 Liên quan với nhà trường

Bảng 3.23 Liên quan với phương tiện truyền thông

Bảng 3.24 Liên quan với thời gian tiếp cận

Bảng 3.25 Mô hình hồi quy logic xác định các yếu tố liên quan tới kiến thức VTN của ĐTNC:

Bàng 3.26 Mô hình hồi quy logic xác định các nguồn tiếp cận thông tin về VTN liên quan tới kiến thức SKSS của DTNC:

Trang 9

SKSS-Bảng 3.1 Tỷ lệ tiếp cận nguồn thông tin đại

chúng

Bảng 3.2 Tỳ lệ tiếp cận nguồn thông tin gia

đình

Trang 10

rất lớn trong việc tiếp cận nguồn thông tin, trong đó có thông tin về sức khoè sinh sản

vị thành niên Tại quận cầu Giấy, hiện có 451 em VTN-HCĐB (gồm: 213 em mồ côi,

61 em khuyết tật, 109 em gia đình nghèo và 7 em bị nhiễm chất độc hoá học), ưong

đó có 227 em có tuổi 14-19

Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng mô tà catngang kết hợp với nghiên cứu định tính, tiến hành ưên 214 VTN-HCĐB tại quận cầuGiấy, Hà Nội, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2007, với mục đích mô tảthực trạng việc tiếp cận các nguồn thông tin, kiến thức về SKSS của VTN-HCĐB (về

4 nội dung: dậy thì, BPTT, mang thai và phá thai, và các bệnh lây truyền qua đườngtình dục, kề cả HIV), phân tích một số yếu tố liên quan tới việc tiếp cận và kiến thứcSKSS của các em số liệu định lượng được xử lý bàng phần mềm SPSS, mô hình hồiqui logistic được sừ dụng để xác định yếu tố liên quan, số liệu định tính được tríchdẫn để giải thích cho thực trạng và yếu tố liên quan

Kết quà điều tra cho thấy có hơn 2/3 VTN-HCĐB là các em gái (60.3% ), Đại

đa số VTN đã tiếp cận thông tin về SKSS (90.3%), ưong nguồn truyền thông đạichúng cao nhất là truyền hình với 72.9%, mang Internet và điện thoại tư vấn có tỷ lệtiếp cận rất thấp Chưa đến 1/2 VTN được tiếp cận thông tin SKSS từ gia đình(40.2%) Nội dung về dậy thì được tiếp cận nhiều nhất (76.4%), tần xuất và thời điểmtiếp cận thông tin được định kỳ còn thấp, chất lượng thông tin như tính hấp dẫn, bổích, thời gian, tần xuất phù hợp chưa được 50% VTN đánh giá tốt Chi có 1/4 VTN(25.3%) đạt một số kiến thức cơ bản về 4 nội dung SKSS-VTN Tuy nhiên sự tiếp cậncủa các em sẽ tăng, kiến thức SKSS đạt được sẽ cao nếu được tiếp cận thường xuyêncác nguồn thông tin, nếu được gia đình khuyến khích, hỗ trợ cho việc tiếp cận thôngtin của các em

Từ các kết quả nghiên cứu, khuyến nghị: Tăng cường truyền thông trên nguồnthông tin đại chúng, nhưng cần có những cải tiến phù hợp (cả về nội dung, tần xuất,thời điểm cung cấp, ) Tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức SKSS-VTN cho các bậc bổ/mẹ, có chính sách hỗ trợ các gia đình trong việc giúp các em tiếpcận các nguồn sách/ báo/ internet, Đưa chương trình giáo dục sức khoẻ, SKSS-VTNvào tất cả các loại hình đào tạo, có thời gian, thời lượng hợp lý Có chính sách hỗ trợcho các em gái trong việc tiếp cận các nguồn thông tin SKSS-VTN, huy động cộngđồng tham gia giáo dục SKSS-VTN

Trang 11

ĐẶT VÁN ĐÈ

Vị thành niên là giai đoạn tuổi từ 10 đến 19, đây thời kỳ quá độ trong quá trìnhphát triển từ trẻ em sang người lớn, thời kỳ này được đánh dấu bởi những thay đổi vềthể chất, tâm sinh lý và các chức năng sinh sản Đây là giai đoạn rất quan trọng trongsuốt cuộc đời bởi vì nỏ liên quan đến sự phát triển thể chất và tâm sinh lý, đặc biệt làquá trình hình thành và phát triển các chức nãng sinh sàn giúp cho vị thành niên chuẩn

bị bước vào thời kỳ sinh sản [32]

Với dân so trên 84 triệu người, Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn thứ 2 ởĐông Nam Á sau Inđônêxia và đứng thứ 13 trên thế giới, trong đỏ vị thành niên(VTN) chiếm hơn 19,3 triệu người (tương đương 24% dân số hiện nay)[41] Dân sốViệt Nam là dân số trẻ bởi vì có 51.3% dân số dưới 25 tuổi Trong thời gian quachương trình dân số Việt Nam tập trung chủ yếu vào việc cung cấp dịch vụ kế hoạchhóa gia đình nhàm hạn chế sự gia tăng dân số, những chương trình này chưa thực sựtập trung vào việc chàm sóc sức khỏe sinh sản đặc biệt là sức khỏe sinh sản vị thànhniên Tỷ lệ nạo phá thai tuổi VTN ước tính khoảng 23-30% tổng số nạo phá thai hàngnăm, hơn nữa mang thai và sinh con ở những bà mẹ tuổi đời 15-19 vẫn còn caokhoảng 3%[41] Tính đến 31/5/2007 số trường hợp bị nhiễm HIV ở Việt nam khoảng126.543 người, con số thực tế nhiều gấp nhiều lần so với con số báo cáo Theo ướctính tỷ lệ nhiễm HIV ở Việt Nam khoảng 0,22- 0,27 dân số, hơn 50% số trường hợp bịnhiễm HIV nằm trong độ tuổi VTN và thanh niên [41],

Cùng với quá trình đô thị hoá, sự phân hoá giàu nghèo, vấn đề các nhóm trẻ em

và trẻ vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt (VTN-HCĐB), đặc biệt là ờ các thành phốlớn như: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nằng, Theo ước tính, cà nước hiện

có 2,5 triệu trẻ có HCĐB (chiếm khoảng 3% dân số), trong đó 300.000 trẻ thuộc diệnhưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng (khoảng 89.000 tré mồ côi, 199.000 trẻkhuyết tật, 10.000 trẻ nhiễm H1V, 21.000 ưé lang thang, 1903 trè nghiện ma tuý,

9467 trẻ vi phạm pháp luật, ) Công tác chăm sóc cho nhóm đối tượng này cũng cònrất hạn chế, ngay như tại Hà Nội, chỉ có 27% số trẻ mồ côi không nơi nương tựa đượcchăm sóc, 12,43% trẻ khuyết tật được chăm sóc, Tại

Trang 12

thành niên có hoàn cành đặc biệt (VTN-HCĐB) trên địa bàn quận năm

2005 là 451 em Trong đó: Trẻ em mồ côi là 213 em (mo côi cả cha lẫn

mẹ, mồ côi 1 bề), 61 em khuyết tật, 109 em gia đình nghèo và 7 em bịnhiễm chất độc hoá học), vấn đề SKSS-VTN như mang thai, nghiện matuý, mãi dâm trẻ em, xâm hại tình dục trè em, để lại hậu quà rất nặng nề.Tình hình SKSS của VTN nói chung và của VTN-HCĐB nói riêng đã trở nênrất nghiêm trọng đòi hỏi nhiều quốc gia trên the giới phải lên tiếng vàhành động Nhiều biện pháp được thực hiện, trong đó thông tin- giáo dục-truyền thông (IEC) được coi là giải pháp quan trọng nhất [41]

Ngày nay, cùng với sự bùng nổ của kỳ nguyên công nghệ thông tin, các nguồntruyền thông đã mở ra cơ hội tiếp cận cho mọi người, trong đó có VITM- HCĐB.Truyền thông đại chúng là một loại truyền thông có điều kiện nhanh chóng đưa thôngtin đến các nhóm đối tượng Truyền thông đại chúng có rất nhiều loại khác nhau,trong bổi cảnh Việt nam hiện nay, các loại hình truyền thông đại chúng như: Truyềnhình, đài phát thanh, đài truyền thanh, báo, tạp chí, sách chuyên đề, các loại lờ rơi,điện thoại tư vẩn và Internet, dóng vai trò hết sức quan trọng nhàm cung cấp thôngtin, nâng cao kiến thức và nhận thức cho vị thành niên về các vấn đề sức khỏe nóichung và sức khoẻ sinh sản nói riêng Tuy nhiên, truyền thông đại chúng cũng cónhững hạn chế nhẩt định như điều kiện tiếp cận (phương tiện, thời gian, ), [40],

Gia đình là cái nôi của mỗi con ngườỉ Nguồn thông tin từ gia đình là rất quantrọng, nhiều trường hợp đây là nguồn cung cấp thông tin gần như là duy nhất của cácthành viên như người mù, câm điếc, tàn tật Tuy nhiên khả nãng cung cấp và hiệu quảthông tin phụ thuộc vào rất nhiều yểu tố, đặc biệt là nhận thức, kiến thức, kỹ năng vàtrách nhiệm của các thành viên với nhau [27]

Nhà trường đóng vai trò quan trọng trong giáo dục sức khoè, nguồn thông tincung cấp từ các thầy cô giáo luôn được học sinh chấp nhận và tự giác thực hành theo

ở mức độ cao Tuy nhiên nguồn thông tin này phụ thuộc vào giáo trình, chương trìnhgiảng dạy ở mỗi loại hình đào tạo, sự quan tâm của nhà trường ]41 ]

Trang 13

Trong những năm qua ở Việt Nam cộng đồng đóng vai trò quan trọng trongcông tác truyền thông giáo dục sức khoẻ Sự tham gia của các cấp, các ngành, cácđoàn thể, các tổ chức xã hội đã góp phần không nhỏ vào thành tựu dạt được trong việcnâng cao nhận thức, kiến thức cho các tầng lớp nhân dân về các vấn đề sức khoẻ Tuynhiên các hoạt động này phụ thuộc vào nguồn lực của mồi tố chức, đoàn thể, sự ưutiên của mồi giai đoạn lịch sử [27j.

Ở tuổi vị thành niên, nhu cầu cung cấp thông tin về các vẩn đề liên quan vềsức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục là rẩt lớn, nhóm VTN-HCĐB cũng không nằmngoài qui luật này Trong bối cảnh này truyền thông đóng vai trò hết sức quan trọngtrong việc cung cấp thông tin nâng cao nhận thức, trau dồi kiến thức cho vị thànhniên Truyền thông sẽ làm tăng khả năng cùa con người trong việc học tập và quan sátcác hành vi SKSS Truyền thông đặc biệt quan trọng đổi với vị thành niên khi vị thànhniên đang trong giai đoạn hình thành và phát triển hành vi và quan niệm tình dục [41],Mục đích cuả nghiên cứu này là phát hiện sự liên quan của các nguồn truyềnthông trong việc cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản cho vị thành niên có hoàncảnh đặc biệt sống ở quận cầu Giấy, Hà Nội Cụ thể hơn nữa là:

Thực trạng VTN-HCĐB tiếp cận thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản(SKSS) hiện nay như thế nào? kiến thức SKSS? các yếu tố liên quan là gì? nhu cầu,giải pháp truyền thông phù hợp về chãm sóc SKSS cho nhóm đối tượng trên đây trongthời gian tới là gì? Chính vì vậy chúng tôi đề xuất nghiên cứu " Thực trạng và một so yểu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khỏe sình sản của một số nhỏm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu Giấy năm 2007”

Trang 14

1 Mục tiêu chung:

Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin vềsức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận CầuGiấy, Hà Nội, năm 2007

2 Mục tiêu cụ thể

2 ỉ Mò tả việc tiêp cận nguôn thông tin vê sức khoẻ sinh sản cùa một sònhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu Giấy, năm 2007.2.2Mô tả một số kiến thức cơ một số

nhóm vị thành 2007

2.3Xác định một sô yêu khoẻ

sinh sản quận Cầu

Trang 15

CHƯƠNG I: TỐNG QUAN 1.1 Tống quan các khái niệm, định nghĩa và phân loại nhóm

1 1.1 Cơ sở lý luận xem xét khái niệm, định nghĩa và phân loại nhóm

Việc đưa ra các khái niệm, định nghĩa nhóm đối tượng được dựa trên một sốdấu hiệu chung và thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng Để xác định nhóm vàcác nhóm trẻ em cũng cần phải càn cứ vào một số dấu hiệu chung của trẻ em, nhữngthuộc tính bản chất của trẻ em và của từng nhóm trẻ, chảng hạn xác định trẻ em nóichung cần dựa trên những đặc trưng về sinh lý, tâm lý, thể chất, trí tuệ, độ tuổi để đưa

ra quan niệm về trẻ em phù hợp Có nhiều quan niệm về nhóm, điển hình như:

Theo H.Phichter: Nhóm là một tập hợp có thể nhận thức được, với cơ cấu tồchức có tinh cách liên tục Trong tập hợp đó bao gồm những thành viên có những vịthế, vai trò nhất định, có quan hệ tương tác qua lại với nhau, có những quyền lợi vàgiá trị chung, những mục tiêu xà hội chung, phải tuân theo nhưng quy tác và điều lệchung của nhóm [21]

Theo Robertson: Nhóm là một tập hợp người được liên hệ với nhau theo mộtkiểu nhất dịnh, nói cách khác: nhóm là tập hợp người có liên hệ với nhau về mặt vịthế vai trò, những nhu cầu lợi ích và những giá trị nhất định [21]

Từ các khái niệm nêu trên chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về nhóm

xã hội: là một tập hợp người có vị the, vai trò và định hướng giá trị chung nhất định,

có quan hệ tương tác với nhau

1.1.2 Trẻ em, vị thành niên và trẻ em tuổi vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt

/ 1.2.1 Quan niệm trẻ em và vị thành niên

Thuật ngữ trẻ em được ghi nhận và sử dụng khá rộng rãi, phổ biến trong cácnghiên cứu khoa học, trong xã hội; tuy nhiên ở mỗi quốc gia lại có những quan niệmkhông đồng nhất về trẻ em

Trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em (ngày 20/11/1989) đã nhắc lại điềuđược ghi nhận trong tuyên ngôn về quyền ưẻ em 1959: "Trẻ em là người còn non nớt

về thể chất và trí tuệ, cần phải bảo vệ và chăm sóc đặc biệt".[10]

Trẻ em được quan niệm theo qui định của Công ước Quốc tế về quyền trẻ

Trang 16

em, được qui định tại điều 1: "Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừtrường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em được quy định tuổi thành niênsớm hơn" [10]

Trong những quy tắc tổi thiểu của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thànhniên bị tước quyền tự do được ghi nhận trong phần II, điều 11: "Những người chưathành niên là người dưới 18 tuổi" Như vậy, theo quan điểm cùa pháp luật quốc tếquy định trẻ em và người chưa thành niên là những người chưa đủ 18 tuổi [10]

Trong Bộ luật dân sự của Việt Nam, tại điều 20 quy định: "Người đủ 18 tuổitrở lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên"

Hiện nay, xuất phát từ thực tiễn và qua nghiên cứu, nhiều nhà quản lỷ vànghiên cứu và cộng đồng đang kiến nghị độ tuổi của trẻ Việt Nam nên qui định lànhững người dưới 18 tuổi [10]

Vị thành niên là chỉ những người đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ consang người trưởng thành trong độ tuổi từ 10-19 (Theo quy định của Tổ chức Y tế thếgiới) Tuổi VTN lại chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn sớm từ 10- 13 tuổi, giai đoạngiừa từ 14- 16 tuổi và giai đoạn muộn từ 17 đến 19 tuổi[9]

1.1.2.2 Quan niệm trẻ em, VTN có hoàn cảnh đặc biệt

Trẻ em, vị thành niên có hoàn cành đặc biệt phụ thuộc vào tình hình kinh

tế-xã hội của từng nơi (từng quốc gia, địa phương), và từng giai đoạn phát triển của mồinước, mỗi địa phương, phụ thuộc vào đặc điểm văn hoá của mỗi dân tộc, từng cộngđồng Chính vì vậy, ở mỗi quốc gia khác nhau, hoặc từng vùng ở từng giai đoạn khácnhau sẽ không có sự giống nhau về số nhóm, qui mô cùa từng nhóm có hoàn cảnhđặc biệt [19],[39]

The giới:

Tất cả những người (không kể người lớn, trẻ em) có mức sống dưới ngưỡngnghèo khó, với thu nhập dưới 1 đô la Mỹ / ngày Họ là những người có hoàn cảnhđặc biệt [41],[52]

Trang 17

Theo qui định tại luật BVCSGDTE 2004, quyết định số 19/2004/QĐ-TTg của Thùtướng chính phủ về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm: trẻ em lang thang; trẻnhiễm HIV /AIDS; trẻ em làm trái pháp luật; trẻ em bị lạm dụng tình dục; trẻ em bịxâm hại bởi tệ nạn ma túy, [19],[39].

Ngoài quan niệm về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, còn có quan niệm về trè em

có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là khái niệm có ngoại diện rộng dùng để chi nhữngtrẻ em dưới 16 tuổi có những hoàn cảnh bất hạnh, chịu sự thiệt thòi về tinh thần vàthể chất ít có cơ hội thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em và hoà nhập cộng đồng,nếu không có sự trợ giúp tích cực của gia đình, cộng đồng xã hội Dối tượng trẻ cóhoàn cành dặc biệt khó khăn, ngoài những đối tượng được nêu trong đối tượng củatrẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mỗi quốc gia, mỗi vùng còn có các nhóm như: trẻ emtrong các gia đình không đầy đù; trẻ em trong các gia đình di cư tự do; v.v [19],[39]

ỉ 1.2.3 Sự xuất hiện và tồn tại của nhóm trẻ em VTN có hoàn cảnh đặc biệt

Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của nhỏm ưẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gắnliền với quá trình phát triển kinh tế- xã hội(KT-XH) trong từng giai đoạn lịch sử nhấtđịnh Có những nhóm trẻ như mồ côi, tàn tật tồn tại lâu dài, nhưng cũng có nhữngnhóm chỉ xuất hiện, tồn tại trong một giai đoạn lịch sử phát triển KT-XH nhát địnhnhư ưẻ em bị lạm dụng tình dục, trẻ em lang thang, trẻ em nghiện ma tuỷ, Sự xuấthiện của các nhỏm trẻ em này là vấn đề nội tại cùa sự vận dộng và phát triển cùa xãhội [19],[39]

Ở nước ta một số nhóm trè em và trẻ VTN-HCĐB đà xuẩt hiện và tồn tại từrất lâu, nhưng chưa thực sự trở thành vẩn đề xã hội bức xúc Ngày nay cơ chế thịtrường đã tạo dộng lực cho phát triển K.T-XH, nhưng ngược lại nhóm người yếu thếkhông có sức khoẻ, không có khả năng lao động,, lại rơi vào cảnh nghèo khó Cùngvới phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, lại xuất hiện thêm

Trang 18

những trẻ em bình thường Chính vi lý do thiệt thòi nên biểu hiện về mặt tâm lý,nguyên vọng của các em rẩt phức tạp và đa dạng Tuy vậy, có thể nhóm thành hainhóm có những đặc điểm chung nhất đó là:

Nhóm trẻ do mac bệnh tật, sức khoẻ yếu, thiểu sự chăm sóc của gia đinh, xãhội dẫn đến buồn chán, tự ti, phó mặc cuộc đời, nhóm này ít có biểu hiện ra bênngoài về những tâm tư, nguyện vọng và mong muốn cá nhân [7],

Nhóm trẻ cớ nghị lực luôn muốn vượt qua bệnh tật, phấn đấu học tập, rènluyện để trở thành người có ích cho xã hội, số này thường chiếm tỳ lệ cao Dây lànhóm trẻ nhiều mơ ước, sống lạc quan tin yêu vào cuộc sống gia đình và xã hội [7], ỉ.

1.3 Phân loại một số nhóm trẻ em, VTN hoàn cảnh đặc biệt

Ị 1.3 ỉ Trẻ em mồ côi', là trẻ không còn cha, mẹ, không nơi nương tựa, trẻ em còncha mẹ nhưng bỏ đi mất tích, bỏ con bơ vơ không có người nuôi dường Trẻ em trongcác gia đình bố hoặc mẹ, thậm chí cả hai đều bị đi tù, hoặc bỏ đi, trẻ em thiếu hụt sựquan tâm dài, thậm chí thiếu vĩnh viễn sự quan tâm của bố, mẹ hoặc cả bố mẹ [19]

ỉ ỉ 3.2 Trẻ em trong các gia đình nghèo

Trẻ em nghèo được hiểu là những trẻ sống trong gia đinh trong diện nghèotheo tiêu chí qui định của Bộ LĐ-TB-XII nãm 2005 [7]

Trè em nghèo của Hà Nội được hiểu là những trẻ em sống trong gia đìnhnghèo tính theo tiêu chí qui định đối với hộ gia đình nghèo của Hà Nội (nội thành vàngoại thành) [19]

1.1.3.3 Trẻ em lang thang (trẻ đường phố)

Theo quan niệm quốc tế: trẻ đường phố được hiểu là những người dưới 18 tuổilang thang kiếm sống trên dường phố [19]

Trang 19

chất ma túy sẽ gây nên những bất thường về tâm sinh lý [19].

1.1.3.5 Trẻ em bị xám hại tình dục: bao gồm 2 loại: trẻ em bị LDTD bao gồm trè bị

hiếp dâm, cưỡng dâm, loạn luân; TE bị bóc lột tỉnh dục bao gồm trẻ bị bắt cóc, buônbán mại dâm [19]

1.1.3.6 Trẻ em lao động sớm: Trẻ dưới 16 tuổi phải làm thuê, làm mướn, làm công

việc nặng nhọc, độc hại để nuôi sống bản thân và gia đình, không có điều kiện họctập văn hoá, vui chơi, giải trí, ảnh hường đến việc phát triển thể lực, trí lực và nhâncách (trẻ bị bóc lột sức lao dộng, lạm dụng lao động, ) [19]

1.1.3.7 Trẻ em làm trái pháp luật: là trẻ em trong độ tuổi do pháp luật quy định đãthực hiện một cách cố ý hoặc vô ý những hành vi trái pháp luật, mà tuỳ theo mức độnguy hiểm cho xã hội vỉ hành vi đó, người đỏ có thể bị xử lý theo pháp luật hànhchính hay pháp luật hình sự.[ 19]

1.1.3.8 1.3.8 Trẻ em chịu hậu quà chất độc da cam: là những trẻ chịu di chứng chấtđộc da cam để lại bởi cha mẹ, các the hệ trước (chủ yếu do chiến tranh) gây nhữnghậu quả xấu về thể chất và tâm thần như tàn tật, dị tật bẩm sinh [19]

1.1.4 Các đặc thù của VTN

Đặc điểm nổi bật nhất của tuổi VTN là có sự biến đổi về cơ thể, sinh lý, tâm lý

để trở thành người trưởng thành Đặc điểm này chi phối tất cả công tác nuôi dưỡng,giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, chế độ làm việc đối vởi VTN Những biến đổi lớn laocủa đời người trên đây được gọi là tuổi dậy thì, tuổi dậy thì diễn ra từ 2- 5 năm tuỳtừng người, bẳt đầu từ giai đoạn tuổi thiếu niên và kết thúc vào tuổi thanh niên, nữVTN thường dậy thì sớm hơn nam VTN khoảng 2 năm Giai đoạn tuổi dậy thì có thểchia làm 2 giai đoạn: (Đ Giai đoạn tiền dậy thì: nữ (11-13 tuổi), và nam (13-15 tuổi);

® Giai đoạn dậy thì chính thức: nữ (13-18 tuổi), và nam (15-18 tuổi)

Khi trẻ gái tới tuổi dậy thì, có nhiều biến đổi quan trọng về cơ thể, tâm sinh lý,tính cách như: Lớn nhanh, cơ thể trờ nên mềm mại và nữ tính, ngực và vú phát triển.Đặc trưng của dậy thì nữ là xuất hiện kinh nguyệt, kinh nguyệt là sự báo hiệu

Trang 20

nam VTN thay đổi nhanh như: Chiều cao tăng, phát triển cơ bắp, giọng nói thay đổi

rõ rệt, xuất hiện lông mu, lông ở nơi khác và râu, Song sự thay đổi quan trọng nhất

là bộ phận sinh dục do tác động cùa hoóc môn sinh dục nam testosteron Tinh hoànbắt đầu phát triển và sản xuất ra tinh trùng, dương vật cũng phát triển to ra Sau mộtthời gian xuất hiện mộng tinh Tinh trùng lúc này có khả năng gây thụ thai nếu nhưQHTD mà không sử dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu

về tâm sinh lý, tuổi dậy thì cũng có những thay đổi lớn Năm lĩnh vực chínhđược các nhà khoa học nhắc tới về sự thay đổi này: ®Tỉnh độc lập: Tuổi dậy thì luôn

có xu hướng độc lập về suy nghĩ và việc làm, ít muốn phụ thuộc vào ông, bà, cha,

mẹ, hay anh, chị ©Nhân cách: VTN cố gắng để khang định mình và đạt tới cái muốn

“tôi là ai, tôi có thể là gì” muốn xác định vị trí, và vai trò của bản thân trong gia đình

và tập thể ©Tình cảm: Tuổi dậy thi là giai đoạn chuẩn bị tinh cảm cho quan hệ yêuđương Xuất hiện tình cảm đối với người khác giới ©Tính thích hợp: Hình thành các

cơ sở đế tạo ra các giá trị theo các vị trí như cha, mẹ, xã hội, đoàn thể ©Trí tuệ :VTN có trí tuệ liên tục phát ưiển, ở độ tuổi VTN trí tuệ phát triển mạnh nhất [24],[35]

VTN là một trong những giai đoạn của một đời người song lại có vị trí hết sứcquan trọng có tính quyết định đối với sự phát triển của cuộc đời sau này của mỗi conngười, vỉ đây là thời kỳ phát triển và hoàn thiện thể chất của cơ thể, bắt đầu hìnhthành sự tự ý thức về thế giới quan, sự chuẩn bị và lựa chọn nghề nghiệp để bước vàocuộc sống tự lập cùa mỗi cá nhân

1.2 Tình hình sức khoẻ sinh sản và công tác thông tin- giáo dục- truyền thông về chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên trên thế giới

7.2.1 Thực trạng sức khoẻsinh sản vị thành niên

Với trên 1,2 tỷ trè VTN, nhu cầu về CSSKSS cho đối tượng này trờ thành mộtvấn đề quan trọng của chiến lược sức khoè toàn dân Thế giới nói chung và mỗi

Trang 21

nước nói riêng đã có nhiều nỗ lực trong các năm qua về thông tin- giáo dục- truyền

thông và chăm sóc cho trẻ VTN, nhưng vẫn còn rất nhiều trẻ VTN nẳm trong diện có

hoàn cảnh đặc biệt chưa được CSSKSS đầy đủ Trên thế giới vẫn còn khoảng 121

triệu trẻ em thất học, trong đó trẻ gái nhiều hơn trẻ trai tới 9 ưiệu, tại các nước dang

phát triển khoảng 40% số phụ nữ có thai và sinh con là dưới 20 tuổi, đặc biệt ở Tây

phi, tỷ lệ này tới 56% Mỗi năm trung bình có khoảng 4,4 triệu VTN ở các nước đang

phát triển phải nạo phá thai trong điều kiện không an toàn Kết quà của cuộc điều tra

khác vùng cận sa mạc Sahara (Châu Phi) cho thấy 43% phụ nữ dưới 20 tuổi có quan

hệ tình dục trước hôn nhân, tỳ lệ này ở Châu Mỹ La Tinh là 20% Nhưng ở một số

nước công nghiệp, các nhà khoa học còn thấy tỷ lệ trên lớn hơn nhiều như Hoa Kỳ

68% và ở Pháp là 72% [32],[33],[44]

Tỷ lệ VTN mắc các bệnh lây qua đường tình dục cũng ngày càng gia tăng nhanh

chóng Mỗi năm có khoảng 20 triệu VTN trên thế giới bị mấc STD Nhiều VTN

trong số đó đã dẫn tới vô sinh hoặc các biến chứng nguy hiểm khác do không được

chẩn đoán và điều trị tốt Tô chức Y tế thế giới ước tính rằng có khoảng một nửa số

người bị nhiễm H1V trên thế giới là có tuổi dưới 25 ở các nước đang phát triền,

khoảng 60% các ca mới nhiễm có tuổi từ 15-24 Trung bình mỗi ngày có khoảng

7000 người trẻ tuổi trên thế giới bị nhiễm HIV, tức 2,6 triệu mới nhiễm/ năm, trong

đó khoảng 1,7 triệu tại Châu Phi và 700.000 ở Châu Á Thái Bình Dương Tỷ lệ mới

nhiễm trên ở phụ nữ cao gấp đôi so với ở nam Mỗi năm ưên thế giới có khoảng 333

triệu người mới nhiễm các bệnh nhiễm khuẩn đường tình dục STD, trong đó cỏ

khoảng 111 triệu người trẻ dưới 25 tuổi Một nghiên cứu ở Tanzania cho biết số ca

nhiễm HIV ở phụ nữ trẻ cao gấp 4 lẩn so với ở nam trẻ tuổi [26],[43],

Ngày nay the giới có khoảng 500 triệu người trẻ (dưới 24 tuổi) sống với thu

nhập dưới 2 đô la Mỹ trong 1 ngày Trong đó có khoảng 238 triệu (tức chiếm khoảng

22,5% số người trẻ dưới 24 tuổi toàn thế giới Do khó khăn về cuộc sống như vậy trẻ

VTN đứng trước nhiều nguy cơ của cuộc sống Nhiều trẻ VTN phải nghỉ học để giúp

gia đình kiếm sống, nhiều trẻ khác đã phạm tội ác, số khác lại lạm

Trang 22

dụng tinh dục và bị nhiễm HIV Hậu quả dẫn tới là có đến 15 triệu trẻ bị mồ côi do bổ

mẹ chúng bị HIV/AIDS hay sống lang thang trên các đường phố Đối với nữ VTN thinguy cơ còn cao hơn vì chúng bị thất học nhiều hơn, làm các công việc nguy hiểmhơn, có thai sớm hay mắc các bệnh đường sinh dục nhiều hơn Hàng năm có khoảng

14 triệu VTN nữ trên thế giới (15-19 tuổi) đã sinh đẻ [45], khoảng 1/4 đến một nừa sốVTN nữ ở các nước đang phát triển là sinh con trước 18 tuổi Đặc biệt tỳ lệ này cao ởvùng cận sa mạc Sahara (Châu Phi) và vùng Nam Á Dựa vào số liệu điều tra tại 56quốc gia cho thấy nữ VTN 15-19 tuổi ờ nhóm nghèo nhất có tỷ lệ sinh con lớn gấp 3lần ở nhóm không nghèo [45] Đặc biệt số chết vì thai sản, hay bị các biến chứngnhiều gấp 2,5 lần so với nhóm trên 20 tuổi [44].Ở các nước nghèo, sự mang thai làmột nguyên nhân quan trọng dẫn đến tỷ lệ tử vong cao ờ các cô gái trẻ tuổi từ 15-19tuổi Ước tính có khoảng 70000 trẻ gái chết mỗi năm do các nguyên nhân liên quantới mang thai và sinh nở toàn thế giới Thêm vào đó con của các bà mẹ trẻ này cũng

có nguy cơ chết cao, thường cao hơn 50% so với con của các bà mẹ tuổi 20 [44].Theo một báo cáo khác, trên the giới khoảng 50% sổ vụ cường dâm là xảy rađói với trẻ nữ từ 15 tuổi trở xuống [54] Một nghiên cứu ở Jamaica, Mali, Tanzania

và Zimbabwe cho thấy có tới 20-30 % số VTN nữ bị cường dâm Tại Thái Lannguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tử vong của trẻ gái và phụ nữ (15-24 tuồi) làbạo lực tình dục [46],

Một yểu tổ khác cũng rất quan trọng tác động tới SKSS của người dân nóichung và VTN nói riêng đỏ là sự thất nghiệp Thế giới có khoảng 185 triệu người bịthất nghiệp, trong đó khoảng một nửa là thuộc lứa tuổi trẻ từ 15-25 tuổi [15], Nghiêmtrọng hơn là tỷ lệ này tăng nhanh ở các nước nghèo thuộc châu Á cận sa mạc Sahara

và Trung Đông Năm 2003 tỷ lệ này ở Bắc Phi là 29%, ờ cận sa mạc Shahara là 21%,

ở châu Mỹ la tinh và vùng Caribê ỉà 17%, Dông Nam Á là 17% [47],

Trang 23

nghiêm trọng đòi hỏi nhiều quốc gia trên thế giới phải lẽn tiếng và hành động Nhiềugiải pháp được dưa ra, song biện pháp thông tin- giáo dục- truyền thông (IEC) là biệnpháp quan trọng hon cả Theo quan điểm của ông Obaid, một chuyên gia về SKSScho VTN thì nhu cầu giáo dục cần phải được tăng cường để giúp VTN và các bạn trẻtiếp cận được với dịch vụ CSSK.SS, thông tin đúng cần được phồ biến cho đúng lứatuổi cần, đúng hoàn cảnh cùa đối tượng giúp chuyển đổi hành vi [52], Chính vì vậyỈEC đóng một vai trò cực kỳ quan trọng và được coi như một điều kiện tiên quyết mởđường cho sự phát triển con người, thông qua việc thay đổi hành vi và thái độ [44],Với tầm quan trọng lớn lao của ỈEC mà Quỳ dân số cùa Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã

đề ra chiến lược dài hạn như sau: (1 )Tãng cường thúc đẩy quyền của trẻ VTN tiếpcận các dịch vụ 1EC về SKSS; (2)Xây dựng và ứng dụng các chương trình truyềnthông CSSKSS cho VTN cũng như là tạo ra các cơ chế hỗ trợ giáo dục, tư vấn về giớitính, bình dẳng giới, hành vi tình dục phù hợp, cuộc sống gia đình, SKSS, phòngchống các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục, HIV/AIDS, chống lại bạo lực đối vớiVTN; (3)Lôi cuốn toàn bộ cộng đồng, kể cả các bậc cha mẹ, tôn giáo, các tổ chứcchính trị, lãnh đạo cộng đồng, trường học nhóm giáo dục đồng đẳng và phương tiệntruyền thông đại chủng cho hoạt động 1EC trong lĩnh vực này; (4)Xây dựng cácchương trình và môi trường hồ trợ cho giáo dục truyền thông gọi là IEC dựa trêncộng đồng; (5)Thành lập và duy trì các nhóm giáo dục đồng đẳng trong giới trẻ, tạo

ra mạng lưới hoạt động; (6)Tăng cường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho những ngườicung cap dịch vụ IEC và CSSKSS; (7)Sử dụng da dạng các phương tiện truyền thôngđại chủng, kề cả internet đề phồ biến rộng rãi các chương trình CSSKSS cho mọiVTN; [26]

Nhiều báo cáo của UNFPA đã cho ràng, trong thập kỳ qua đã có sự thay đổi lớntrong công tác giáo dục truyền thông, sổ lượng các quốc gia sử dụng các phương tiệntruyền thông đại chúng để cung cấp thông tin về CSSKSS cho VTN

Trang 24

thi có tới 133 quốc gia (chiếm 88%) báo cáo đà giúp được trẻ VTN tiếp cận có hiệuquả với thông tin về CSSKSS Trong đó 72 quốc gia đã khởi xướng các chiến dịchmang tính quốc gia về IEC cho lớp người trẻ tuổi, 46 quốc gia bắt đầu khởi động cácchiến lược giáo dục cấp quốc gia, 38 nước thực hiện các chương trình giáo dục đồngđẳng, 37 nước sừ dụng rộng rãi các phương tiện truyền thông đại chúng kể cả ti vi vàđài tiếng nói quốc gia, 32 nước đã thực hiện cung cấp các dịch vụ tham vấn đặc biệtcho các bạn trẻ, 27 nước đã xây dựng các hiệp hội tuổi trẻ để làm giáo dục truyềnthông và 26 quốc gia đã huy động các tổ chức phi chinh phủ NGO trong chiến dịchtruyền thông cho giới trẻ UNFPA cũng đã chỉ rõ bên cạnh những khó khăn lớn chohoạt động IEC như sự chống đối cùa các nhóm chính trị hay tôn giáo bảo thủ thi hầuhết các quốc gia trên thế giới cũng đã làm được nhiều việc cải thiện cho SKSS củagiới trẻ thông qua việc sử dụng các kỳ thuật truyền thông, các phương tiện thông tindại chủng, các kênh truyền thông chính thức và không chính thức bao gom cả các loạihình như múa, hát, nhảy, nhạc dân tộc và hiện đại [52].

1.2.3 Những thách thức về thông tin- giáo dục- truyền thông với VTN

Theo kết quả điều tra của một số tổ chức cho thấy công tác giáo dục truyềnthông về CSSKSS cho VTN còn có nhiều mặt hạn chế Nhìn chung ờ các nước đangphát triển chỉ có 22% trẻ trai và 13% trẻ gái được đến trường học tiếp tục học trunghọc Tại một số quốc gia như Cộng hoà Trung Phi, Mali và Nigeria không đầy 10%trẻ gái học hết lớp 7 bậc giáo dục phổ thông Những trẻ thất học này chắc chắn sẽ rẩtkhỏ khăn về dời sống và tác động mạnh tới SKSS của VTN [29]

Theo báo cáo của Tổ chức y tế Thế giới thì VTN cần các thông tin thích hợp về

sự phát triển thể lực và tình cảm, cũng như các thông tin về giới tính, sự lạm dụngtình dục, đặc biệt các thông tin về tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS Truyềnthông có hiệu quả cần sử dụng đa dạng nhiều biện pháp truyền thông phổi

Trang 25

hợp lẫn nhau, bao gồm cả các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông cá nhân

và đặc biệt huy động sự tham gia truyền thông của cả cộng đồng [29]

Các chương trình truyền thông muốn có hiệu quả cao cần liên kết và lồng ghépchặt chẽ, đồng thời phải gắn chặt với dịch vụ CS.SKSS Các phương tiện truyềnthông đại chúng như đài, ti vi, nhạc, video, phim, sách hải hước có giá thành phù hợp

mà lại có tác dụng to lớn trong việc nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành viSKSS cùa VTN Đặc biệt các chương trình giải trí trên phương tiện truyền thông đạichúng đã thu hút đông đảo khán giả (kể cả VTN) có thể giúp tăng cường được giaotiếp trong gia dinh giữa bố mẹ và con cái Tư vấn cá nhân cũng có tác dụng to lớn,cần lồng ghép tư vấn cá nhân tại các dịch vụ y tế và CSSK, qua đường dây nóng, cáctrung tâm tư vấn, giúp VTN đạt được các hành vi phù hợp Huy động sự tham giacủa cộng đong, đặc biệt là các tổ chức xã hội sẽ giúp cho giáo dục trẻ gái nhận thức

về tác động xấu cũa hành vi SKSS không lành mạnh, thực hành các hành vi có lợi.Chú ý phát triển chương trinh giáo dục học đường, giáo dục đồng đẳng, giáo dụcngoại khoá dó là biện pháp rất có giả trị giáo dục kỹ nâng sổng cho trẻ [52]

Một nghiên cứu cùa WHO cho biết nên tiến hành truyền thông, giáo dục SKSScho VTN ở lứa tuổi rất sớm giúp chúng phát triển được kỹ năng sống vì vậy có lợicho việc phòng ngừa các nguy cơ cho SKSS -VTN Tại nhiều nước, trẻ em bỏ học rấtsớm do vậy việc giáo dục giới tính ở trường học cho học sinh VTN ở tuổi rất sớm này

là rất cần thiết giúp trẻ xây dựng được kỹ năng liên quan tới SKSS Tồn tại lớn trongcông tác truyền thông giáo dục SKSS cho VTN là các bậc bố mẹ, cán bộ y tế và kể cảcác giáo dục viên đôi khi cảm thấy không thoải mái hay chưa nhiệt tình trao đổi, tưvấn về SKSS [54]

Nhìn chung số đông trẻ VTN là được đen trường học Vì vậy việc giáo dục giớitinh và CSSKSS trong các nhà trường tỏ ra đặc biệt quan trọng Chương trình giáodục trong trường phải được nghiên cứu sao cho thật thích hợp với trẻ VTN về mọiphương diện: Nội dung, cách giáo dục, thời gian, có thể giúp VTN phòng tránhđược mang thai, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục kể cả HIV /AIDS

Trang 26

Theo hội đồng giáo dục và thông tin về tình dục SKSS của Hoa Kỳ (SIECUS) việcgiáo dục SKSS càn phải phù hợp với lứa tuổi và có thể tiến hành rất sớm khi trẻ mớivảo học tiểu học (lúc trẻ 5-8 tuổi) và tiếp tục thực hiện giáo dục này tại các lớp trêntiểu học, cho trẻ 15-18 tuổi Một số nghiên cứu đánh giá ở lớp trẻ tại các nước côngnghiệp cũng như đang phát triển cho thấy thực hiện giáo dục SKSS sớm như trên đãlàm các quan hệ tình dục đến muộn hơn ở VTN và giúp chúng sử dụng có hiệu quảcác biện pháp tránh thai cũng như phòng chống được các bệnh lây qua đường tìnhdục Một số điều tra của WHO và một số tổ chức khác đã có bàng chứng cho thấyviệc giảo dục SKSS tại nhà trường không dẫn tới việc quan hệ tình dục sớm hay làmtăng cường chúng [46].

Dạy các kỹ năng sống cho VTN cũng là một biện pháp có hiệu quà giúp chúnggiảm nguy cơ có thai ngoài ý muốn hoặc STD/HĨV, giúp đưa ra các quyết định phùhợp trong cuộc song, chương trình dạy kỹ năng sổng cho VTN còn cùng cố lòng tựtrọng cho chủng gây niềm tin, có thể giúp cho VTN thuyết phục người bạn nam thựchiện hành vì tình dục an toàn Kỹ năng sổng đặc biệt có ích cho phái nữ trẻ vì họ luônphải đối mặt với các vấn đề xã hội liên quan tới tình dục, tăng cường hành vi lànhmạnh có thể dạy kỹ năng sống có hiệu quả cho VTN khi dùng các phương pháptruyền thông như thảo luận nhóm, đóng vai, tranh luận, trò chơi lồng ghép tích cực[47]

Thực tế rất nhiều trẻ VTN không đến trường hay không được đến trường học.việc truyền thông cho những trẻ này cũng gặp nhiều khó khăn thách thức nhất lànhững VTN lang thang kiếm sống trên đường phổ, VTN lạm dụng tình dục lạm dụngcác chất gây nghiện, VTN hoạt động trong một nhóm, tổ chức tự phát nào đó, trẻ di

cư hay tị nạn, những trẻ này do điều kiện khồ khăn nên không hay rất ít có điềukiện dược truyền thông về SKSS Kinh nghiệm cho thấy cần thành lập các trung tâmđặc biệt để truyền thông cho các trẻ này, ví dụ như trung tâm dịch vụ giải trí, trunglâm giải quyết việc làm hoặc tổ chức các buổi truyền thông lưu động như các buổinhảy disco, hồ bơi tự do, buổi chiểu video, hội chợ nhỏ thông qua đó có thể cungcấp thông tin về SKSS hay phát bao cao su Mô hình truyền thông ngay tại

Trang 27

nơi làm việc của các đối tượng VTN trên đây và được thực hiện chính bởi người làmcông trong đó là truyền thông có hiệu quà cao nhất về CSSK.SS Cũng có thề dùngcác biện pháp khác như qua đường dây nóng, các trung tàm nuôi dưỡng, bảo trợ, mái

ấm, các câu lạc bộ VTN cũng có thể thành lập các nhóm thảo luận hay tâm sự [48].Nhiều nghiên cứu còn cho thấy các yếu tố khác cũng tác động tới nhận thức củaVTN về CS.SKSS, đặc biệt tác động tới việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụCS.SKSS như yếu tổ gia đình, truyền thống, văn hoá, tập quán, giới tính, tôn giáo[43],

1.3 Tình hình sức khoẻ sinh sản và công ỉác thông tin- giáo dục- truyền thông về chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên ở Việt Nam

Ị.3.1 Thực trạng tình hình SKSS của trẻ VTN ở nước ta trong đó có VTN -HCĐB

Năm 2005, ước tính dân sổ thuộc lứa tuôi VTN ở nước ta khoảng 21,7 triệungười [5] Trong lứa tuổi từ 14-17 tuổi thì 9,9% có người yêu, ờ 18-21 tuổi tì lệ này

là 42,2% Tuy nhiên, có hành vi QHTD thì rất ít, ở nhóm tuổi 14-17 tỉ lệ này là 0,6%,còn nhóm 18-21 tuổi chỉ có 6,2% Còn về QHTD trước hôn nhân thì kết quả cho thấy

ở nam thanh thiếu niên cao hơn nữ gấp nhiều lần, ở thành thị cao hơn nông thôn Ởthành thị nhóm tuổi 14-17 giao động từ 0,1 đến 1,8% tuỳ theo giới và vùng, nhómtuổi 18-21 thì tỉ lệ trên từ 0,9 đến 13,2%, ở tuổi 16 đã sinh con lần đầu chiếm 1,3%, ởtuổi 17 là 4,8%, tuổi 18 là 19,3% và tuổi 19 là 17,8% Dĩ nhiên tỉ lệ này ở thành thịthấp hơn ở nông thôn [6] Một nghiên cứu khác chi rổ Việt Nam đứng hàng thử batrên thế giới về con số nạo phá thai tuổi VTN và ngày càng có khuynh hướng giatăng Năm 1997 tổng số sinh toàn quốc là 1.138.607 ca thì nạo phá thai là 934.302 catrên toàn quốc Chính vi tỷ lệ này cao nên tỷ lệ mắc tai biến do nạo phá thai cũng rấtcao Năm 1997 là 2669 ca và năm 1998 là 4473 ca [22] Theo một cuộc điều tra vềSKSS năm 1995 cho thấy nhu cầu dịch vụ tránh thai hiện đại nhóm tuổi 15-19 là43,9%, trong đó đã đáp ứng được nhu cầu là 20,8% và chưa đáp ứng nhu cẩu là34,2% [31]

Trang 28

nơi làm việc của các đối tượng VTN trên đây và được thực hiện chính bởi người làmcông trong đỏ là truyền thông có hiệu quả cao nhất về CSSKSS Cũng có thể dùngcác biện pháp khác như qua đường dây nóng, các trung tâm nuôi dưỡng, bào trợ, mái

ấm, các câu lạc bộ VTN cũng có thể thành lập các nhóm thảo luận hay tâm sự [48].Nhiều nghiên cứu còn cho thấy các yếu tố khác cũng tác động tới nhận thức củaVTN về CS.SKSS, đặc biệt tác động tới việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụCS.SKSS như yếu tố gia đình, truyền thống, văn hoá, tập quán, giới tính, tôn giáo[43]

1.3 Tình hình sức khoẻ sinh sản và công tác thông tin- giảo dục- truyền thông về

chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên ở Việt Nam

1.3 ỉ Thực trạng tình hình SKSS cửa trẻ VTN ở nước ta trong đó có VTN -HCĐB

Năm 2005, ước tính dân số thuộc lứa tuổi VTN ờ nước ta khoảng 21,7 triệu người[5] Trong lứa tuổi từ 14-17 tuổi thì 9,9% có người yêu, ở 18-21 tuổi ti lệ này là42,2% Tuy nhiên, có hành vi QHTD thì rất ít, ở nhóm tuổi 14-17 ti lệ này là 0,6%,còn nhóm 18-21 tuổi chỉ có 6,2% Còn về QHTD trước hôn nhân thì kết quả cho thấy

ở nam thanh thiếu niên cao hơn nữ gấp nhiều lần, ở thành thị cao hơn nông thôn Ởthành thị nhóm tuổi 14-17 giao động từ 0,1 đến 1,8% tuỳ theo giới và vùng, nhómtuổi 18-21 thì tỉ lệ trên từ 0,9 đến 13,2%, ở tuổi 16 đã sinh con lần đầu chiếm 1,3%, ởtuổi 17 là 4,8%, tuổi 18 là 19,3% và tuổi 19 là 17,8% Dĩ nhiên ti lệ này ở thành thịthấp hơn ờ nông thôn [6], Một nghiên cứu khác chỉ rõ Việt Nam đứng hàng thứ batrên thế giới về con số nạo phá thai tuổi VTN và ngày càng có khuynh hướng giatâng Năm 1997 tổng số sinh toàn quốc là 1.138.607 ca thì nạo phá thai là 934.302 catrên toàn quốc Chính vì tỳ lệ này cao nên tỷ lệ mắc tai biến do nạo phá thai cũng rấtcao Năm 1997 là 2669 ca và năm 1998 là 4473 ca [22], Theo một cuộc điều tra vềSK.SS năm 1995 cho thấy nhu cầu dịch vụ tránh thai hiện đại nhóm tuổi 15-19 là43,9%, trong đó đã đáp ứng được nhu cầu là 20,8% và chưa đáp ứng nhu cầu là34,2% [31]

Trang 29

Kết quả cuộc điều tra Trung tâm Dân số trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hànội tiến hành năm 2004 tại 11 tinh thành phố cho thấy: Tỳ lệ thanh thiểu niên biết vềnơi mua (nhận) các BPTT tương đối cao (80,4% trong số 1199 đối tượng trả lờiphòng vấn), trong đó tỷ lệ nữ biết về nơi mua (nhận) các BPTT cao hơn nam Tỳ lệnày tăng lên khi độ tuổi tăng lên Nếu chi cỏ 73% trong số 373 thanh niên nam và76% trong 378 thanh niên nữ ở độ tuổi 15-19 biết được nơi bán (cấp phát) các BPTT,thì tỷ lệ này đã tăng lên 88,9 % nam và 89,7% nữ ở độ tuổi 20-24 Tỷ lệ thanh thiếuniên biết nơi nhận hoặc mua các BPTT tăng lên khi trình độ học vẩn tàng lên Nếuchỉ có 25% thanh thiếu niên tốt nghiệp tiểu học biết được nơi mua hoặc nhận BPTT,thì tỷ lệ này đạt gần 90% đối với nhừng người đã tốt nghiệp phổ thông trung học.Nơi được thanh thiếu niên nhắc đến như một địa điểm cung cấp các BPTT nhiều nhất

là Trung tâm y tế (63,9%); Hiệu thuốc (62,9%) và Bệnh viện/Phòng khám (56,5%)

Tỷ lệ thanh thiếu niên biết Hội KHHGĐ là nơi cung cấp các BPTT tương đối thấp(29,1%) [18]

về thái độ của các bậc cha mẹ đối với giáo dục SKSS cho con Kết quà nghiêncứu cho thấy 54,3% ý kiển cho ràng đây là chuyện tế nhị lớn lên khắc biết 46,5%không biết nói gì với con, 35,2% không biết nói như thế nào với con, 27% cho rằng

sự khác biệt thế hệ cản trở, 16% cho ràng chỉ nói chuyện đó khi có chuyện xảy ra,15,2% cho rằng xưa nay không thấy ai làm nên không nói Kết quả này phàn ánh thái

độ thụ động và lúng túng trong việc giáo dục con về SKSS Trên cơ sở xác định sựthiếu hụt về nội dung và phương pháp giáo dục SKSS VTN [27]

Theo ước tính, cả nước hiện có 2,5 ưiệu trẻ có HCĐB (chiếm khoảng 3% dânsố), trong đó 300.000 trẻ thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng dồng(khoảng 89.000 trẻ mồ côi không nơi nương tựa, 199.000 trẻ khuyết tật nặng, 10.000trẻ nhiễm H1V, 21.000 trẻ lang thang, 1903 trẻ nghiện ma tuý, 9467 trè vi phạm phápluật, ) Tại Hà Nội số liệu 2002 và 2006, trên địa bàn toàn thành phố có 4369 trẻ mồcôi, 4626 trẻ khuyết tật, 3800 trẻ lang thang, Công tác chăm sóc cho nhóm đốitượng này cũng còn rất hạn chế, ngay như tại Hà Nội, chi có 27% số

Trang 30

trẻ mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc, 12,43% trè khuyếttật được chăm sóc, và chỉ có 2,6% trẻ khuyết tật được phục hồi chứcnăng [19],[35],[39]

1.3.2 Nhận thức của VTN về SKSS ở nước ta

Ket quả nghiên cứu công bố từ điều tra quốc gia về VTN và thanh niên ViệtNam cho thấy 88,2% VTN và thanh niên nước ta (tuổi từ 10-25) nhận thức đúng cácchủ đề về SKSS; 82,1% nhận thức đúng về giới và quan hệ tình dục; 92,4% nhậnthức đúng về KHHGĐ Khi hỏi có được nghe nói về bệnh lây qua đường tình dụckhông và nghe nói về bệnh gì thì 62,8% VTN và thanh niên cho biết được nghe nói

về bệnh lậu, với giang mai tỉ lệ này là 61,9%, các bệnh khác có ti lệ thấp [6]

Điều tra về hiểu biết đúng về thời điểm có thai và chu kỳ kinh nguyệt cho thấy

tỉ lệ này ở nữ thành thị tuổi từ 14-17 là 21,1%; ở nam thành thị cùng nhóm tuổi caohơn nhiều 34,9%; ở nhóm nữ nông thôn cùng nhóm tuổi cũng rất cao 35,6%; còn ởnam nông thôn cùng nhóm tuổi thì lại thấp 21,4% Nếu thực hiện truyền thông về vấn

đề này rõ ràng phải ưu tiên cho nữ thành thị và nam nông thôn Kết quà điều tra nhậnthức về sừ dụng các biện pháp tránh thai cho thấy tỉ lệ rất cao 97% VTN biết ít nhấtmột biện pháp tránh thai, trung bình thiếu niên biết 5,6 trong 10 biện pháp tránh thai

Tỉ lệ VTN biết các biện pháp phòng chống HIV/AIDS khá cao Các biện pháp như sừdụng bao cao su khi quan hệ tình dục, tránh mua bán dâm có tì lệ từ 92,5%-97,5%.Các biện pháp khác như chỉ QHTD với một người, tránh QHTD với người lạ, hayquan hệ tinh dục cũng có ti lệ khá cao từ 77%-89,2% [6] Tuy nhiên theo dự án “Bìnhđảng giới và đẩy mạnh sự tham gia của nam giới trong sức khoè sinh sản” -VĨE/97/P11 cho thấy 26,1% số TTN không biết cụm từ SKSS và kế hoạch hoá giađình [39]

Trên 80% thanh thiểu niên được điều tra trả lời là không chấp nhận tình dụctrước hôn nhân Đặc biệt ngày nay, hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu, có thể vănhoá phương Tây sẽ lấn át vãn hoá phương Đông, cho thấy công tác giáo dục trè VTN

về SKSS và hôn nhân gia đình cần phải tăng cường và đa dạng nhiều hơn nữa [28]

Trang 31

Do VTN là lớp người chưa có đầy đủ nhận thức cũng như kỹ năng sống, đặcbiệt trong SKSS, vì vậy dễ bị mắc các vấn đề về SKSS Rất nhiều VTN không dámhay ngại nói chuyện với bố mẹ hay người lớn về SKSS Các bậc bố mẹ, các nhânviên y tế, hay các nhà truyền thông có lúc chưa thường xuyên hay không cỏ điều kiệncung cấp đầy đủ thông tin cho lớp người trẻ về SKSS, nên dẫn tới hậu quả là các hoạtđộng tình dục không an toàn tăng lên [39]

1.3.3 Thực trạng công tác thông tin giáo dục truyền thông về SKSS cho VT1N HCĐB

-Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt về CSSKSS cho VTN, Đàng, Nhànước và các bộ, ngành đã ban hành nhiều chính sách và giải pháp lớn và ưu tiên đầu

tư cho lĩnh vực này Chiến lược quốc gia về CSSKSS cùa Nhà nước đã đặt mục tiêucho tới năm 2010 là cải thiện được tình hình SKSS, sức khoẻ tình dục của VTN.Chiến lược còn nhấn mạnh tới giải pháp quan trọng đề thực hiện mục tiêu trên làdùng giáo dục tư vẩn và cung cấp dịch vụ CSSKSS phù hợp với lứa tuổi đặc biệt là

sử dụng đa dạng và có hiệu quả các kênh truyền thông, các hình thức truyền thông đểsao cho mọi đối tượng có thể tiếp cận, nhằm nâng cao được nhận thức, tri thức, hiểubiết và cam kết thực hiện các mục tiêu và nội dung CSSKSS cho VTN [39]

Đà từ lâu Đảng và Nhà nước đã có những văn bàn chi đạo việc tuyên truyền vàgiảo dục trẻ em có hoàn cành đặc biệt Những năm gần đây chúng ta đã ưu tiên nhiềuhơn cho việc chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng

Đe án “Đau tranh phòng, chong tội phạm đối với trẻ em và tội phạm ở lứa tuổi chưathành niên” đã triển khai có hiệu quả qua hai năm 2000-2001 Nhà nước cũng đã cóchính sách với trè em mồ côi, không nời nương tựa Đến nay 70% trè diện này dãđược chăm sóc và nuôi dưỡng tại các cờ sờ Trẻ em lang thang cũng được quan tâmchăm sóc nên đã giảm từ 23.000 năm 1999 xuống 21.000 vào năm 2003 Đặc biệt HàNội và thành phố Hồ Chí Minh đã giảm được 70% trẻ lang thang so với năm 2003[39]

Nhà nước mở nhiều cơ sở phục hồi chức năng, giáo dục cho trẻ khuyết tật Hiệnnay cà nước có khoảng 100 cơ sở loại này Khoảng 67.000 trè được trợ giúp

Trang 32

phục hoi chức năng dựa vào cộng đồng 32000 trẻ được trợ cấp học trong các lớphọc Hàng chục nghìn trẻ được chữa trị khuyết tật, phục hoi chức năng, giáo dục, dạynghề cho 45-55% trẻ khuyết tật, tàn tật Với sự chăm lo của toàn xã hội, số trẻ cóhoàn cảnh đặc biệt đã giảm, hiện còn khoảng 1,6 triệu trè em Trong đó diện khuyếttật, tàn tật là 1,2 triệu; trẻ mồ côi không nơi nương tựa là 12,6 vạn em, [39]

Tại Điều 35 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ghi rõ trách nhiệmcủa các cơ quan thông tin tuyên truyền là phải giới thiệu mô hình, điển hình tiêubiểu, “Người tốt- Việc tốt” trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, pháthiện phê phán hành vi vi phạm quyền của trẻ em, Luật còn cho phép các cơ quan,

tổ chức cá nhân được thành lập các cơ sở để giáo dục và chăm sóc trẻ có hoàn cảnhđặc biệt như các mái ấm, tổ bán báo, nhà tình thương [36]

Theo tác giả Hoàng Bá Thịnh, nguồn thông tin mà các VTN và thanh niên nhậnđược về CSSK.SS rất đa dạng, nhiều nhất là từ ti vi (khu vực thành thị ỉà 56,4%,nông thôn là 27,5%) Sau đó là đài truyền thanh và phát thanh (thành thị: 13,7%;nông thôn 25,7%) Các phương tiện khác như báo chí, cộng tác viên dân số -KHHGĐ, người thân, có tì lệ rất thấp Ket quả trên cho thấy các biện pháp truyềnthông về SKSS chưa phổ cập, sự tiếp cận còn có nhiều khó khăn, cần có nhữngnghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân để phổ biển rộng rãi giúp tỉ lệ tiếp cận tăng lên[16]

Bên cạnh công tác truyền thông được đẩy mạnh cả chất lượng và số lượng,truyền thông trực tiếp cũng đã có sự thay đổi theo hướng tiếp cận chuyển đổi hành vidưới nhiều hình thức Mô hình chiến dịch truyền thông gắn liền với cung ứng dịch vụSKSS /KHHGĐ mang lại hiệu quà rõ rệt Mô hình trung tâm tư vấn về SKSS/KLIHGĐ và dân số tại nhiều địa phương hoạt động khá tốt, bố trí đường dây nónggiải đáp kịp thời và cung cấp các sàn phẩm truyền thông như sách, báo, tờ rơi mạnginternet góp phần tích cực vào công tác tru yen thông Giáo dục SKSS còn đượctích hợp vào chương trình giảng dạy tại các trường pho thông kể cả chính khoá vàngoại khoá, ngoài ra còn lồng ghép thí điểm ưong chương trình đào tạo các trườngđại học sư phạm [41]

Trang 33

Dựa vào chỉ đạo của các văn kiện Đàng và Nhà nước, Trung ương đoàn thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh đã vạch ra mục tiêu tới năm 2010 có ít nhất 70% sốthanh thiểu niên tuổi từ 10-25 được cung cấp sự hiểu biết về quyền và nghĩa vụ vềCSSKSS, có kiến thức và kỹ năng chăm sóc và bảo vệ sức khoè sinh sàn, sức khoẻtình dục Kế hoạch cũng đặt ra mục tiêu 80% giới trẻ hiểu biết về thời điểm có thai,90% hiểu biêt các biện pháp tránh thai, 80% VTN, thanh niên ờ thành phố và 70% ờnông thôn biết các địa chì tin cậy cung cấp dịch vụ tư vấn [29J.

Theo Hội nghị Cai-rô trong 10 nội dung CSSKSS thì c ó nội dung dược xácđịnh là giáo dục truyền thông về SKSS và KHHGĐ, đồng thời chì rõ đối tượngtruyền thông là các nhà lãnh đạo quốc gia, các nhà quàn lý xà hội và đất nước, ngườicung cấp dịch vụ SKSS và người sừ dụng dịch vụ này Hội nghị cũng chì rõ là cầnphải cải thiện chất lượng truyền thông, giáo dục, thông tin và các dịch vụ tư vẩn CảHội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairô và Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ

4 tại Bắc Kinh đều thống nhất: CSSKSS trong khuôn khổ chăm sóc sức khoè ban đầubao gồm tư vấn, thông tin, giào dục, truyền thông và dịch vụ KHHGĐ, ngăn ngừanạo phá thai Nhà nước ta cũng đã ban hành chính sách về giáo dục SKSS cho VIN.Đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò giáo dục SKSS của gia đình với VTN [41],

Qua kết quả điều tra về VTN và thanh niên năm 2005 cho thấy nguồn cung cấpthông tin phổ biến nhất về SKSS cho VTN và thanh niên là ti vi (93,4%) Sự khácbiệt giữa nông thôn và thành thị chi là 4% (thành thị 97% và nông thôn 93%) mặcdầu chi có 73% VTN và thanh niên ở nông thôn có ti vi Ti lệ VTN được thông tin vềSKSS từ cán bộ chuyên môn xếp thứ 2 với 804%, bao gồm giáo viên 67,8%, ' 'v

nhân viên y tế 47,6%, cộng tác viên dân số 42,3% VTN còn đang đi học nhận thôngtin từ thầy cô giáo nhiều hơn các nguồn khác (70-80%) Chứng tỏ vai trò cùa cácthầy, cô giáo rất quan trọng trong truyền thông về SKSS /KHHGĐ cho VTN vàthanh niên nói chung [6]

Trang 34

Có sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ VTN trong nhận thông tin SKSS từ giađình, với nam chi có 62,7% còn với nữ tới 82,9% Nhận thông tin qua bạn bè cũngchiêm một tỉ lệ khá lớn, khoảng 75,9% cho cả hai giới nam và nữ [6].

1.3.4 Nhu cầu tiếp cận thông tin SKSS của VTN

Nhìn chung VTN nước ta có nhu cầu được giáo dục SKSS qua ba kênh là nhàtrường, gia đinh và thông tin đại chúng Trong đó sách, báo được VTN và thanh niêncoi là tốt hơn cả, kế đến là gia đình, cuối cùng là nhà trường VTN cho rằng sách báocung cấp thông tin chính xác, khi cần thi tra cứu dễ, không bị người khác đánh giá là

tò mò vào chuyện tình dục Hoạt động ngoại khoá tại các trường học và sinh hoạt cáccâu lạc bộ cũng là loại hình truyền thông dễ thu hút, đa số VTN đều trả lời sẵn sàngtham gia câu lạc bộ, song cần có nội dung thật đa dạng Đây là vấn đề nhạy cảm vàkhông dễ dàng vì nhiều chuyên gia cho ràng cần xác định nội dung giáo dục thíchhợp từng lứa tuổi “không vẽ đường cho hươu chạy" kể cả việc tuyên truyền cho cácdịch vụ y tế về SKSS, sao cho VTN không nghĩ là các dịch vụ này là nơi giải quyếthậu quả để lạm dụng nó [27]

Để nâng cao tỷ lệ tiếp cận thông tin SKSS cho VTN-HCĐB một cách cơ bảnvào năm 2010 đòi hỏi phải phối hợp nhiều biện pháp trong đó có biện pháp truyềnthông giáo dục cho chính trẻ có hoàn cành đặc biệt và cho mọi người dân về tráchnhiệm giáo dục và chăm sóc nhóm trẻ này [12] Chính phủ còn quy định rõ cần tăngcường, tuyên truyền giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng của ngành vàđịa phương, huy động các lực lượng xã hội tham gia tuyên truyền, vận động trực tiếpvới trẻ em, gia đình của trẻ, các đoàn thể và tổ chức xã hội Thực hiện tồ chức cáchình thức tư vấn, cung cấp các sản phẩm truyền thông như tài liệu, sách vờ, tờ rơi,băng ghi âm, ghi hình [37]

Tư vấn cho VTN cũng như giúp họ tiếp cận với các biện pháp tránh thai là cầnthiết nhưng nên làm ở mức độ hạn che nào đỏ Ví dụ chỉ giới thiệu tác dụng, rồi cungcấp các biện pháp tránh thai qua sách báo và phương tiện thông tin đại chúng GiúpVTN tiếp cận thông tin qua gia đình, thầy cô giáo và cán bộ y tế Việc trao đổi thôngtin qua bạn bè đối với VTN cần phải có hướng dẫn và được chọn lọc cần thận

Trang 35

vì nếu không sẽ có thể dẫn tới lệch lạc cần được giáo dục cho VTN không nên yêusớm, biết nói lời “không” đúng lúc [30].

Với VTN đã QHTD thì cần phải được hướng dẫn về tình dục an toàn Nếu một

nữ VTN chẳng may bị có thai ngoài ý muốn thì không được ruồng bỏ, sát phạt, xãhội và gia đình cần nâng đỡ họ Người mẹ nên chủ động chăm sóc, nói chuyện, an ủi

và khuyên bảo con [39] Nhiều địa phương đã huy động sinh viên tình nguyện(SVTN) tham gia mô hình truyền thông SKSS Mô hình này đã cỏ từ lâu Nguyênthuỷ cùa nó là việc xây dựng các “Tủ sách dân số” Với suy nghĩ là mồi việc đềukhởi nguồn từ kiến thức nên nhiều đội SVTN đã được huy động đi phổ biến kiếnthức CSSKSS Tuy nhiên có một số SVTN chưa nắm chắc kiến thức về CSSKSS nên

đi phố biến kiến thức gặp nhiều khó khăn Vì lý do đó mà các “Tù sách dân số” đượcthành lập đàm bảo cung cấp thông tin chính xác và khoa học, lại vừa có tính lâu dài.Tuy nhiên trên thực tế “Tủ sách dân số” hoạt động hiệu quả chưa cao, nhất là vùngđồng bào dân tộc, bà con chưa quen tập quán đọc sách này, cách hoạt động truyềnthông khác mà SVTN cũng hay sừ dụng là tổ chức các buổi tọa đàm, cuộc thi về dân

số và SKSS Hoạt động này cần có sự kểt hợp chặt chẽ với cán bộ dân số - gia đình trẻ em SVTN cần phải được trang bị tốt kiến thức về SKSS trước đã Điều này khókhả thi do sinh viên bận học, thời gian tập huấn ngắn nên không phủ được mọi kiếnthức về SKSS [39],[41]

-Phương án khả thi hơn cả là hình thành một nhóm SVTN khoảng 5 ngườichuyên về SKSS có kinh nghiệm hoạt động Mỗi người trong nhóm cũng chỉ đi sâuvào một nội dung nào đó như các biện pháp tránh thai, hay các bệnh STD chàng hạn

Mô hình SVTN cũng khó áp dụng cho các địa phương ở vùng sâu vùng xa do các ưởngại về phong tục, tập quán, đường đi, trình độ nhận thức của bà con và VTN tại địaphương Đội SVTN khoa văn cùa Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn cùng Đạihọc Quốc gia Hà Nội khi đi tuyên truyền ở Hoà Bình đã khéo léo kết hợp giữa hìnhthức phát thanh và tọa đàm tổ chức các chương trình mang tên “Nhịp cầu âm nhạc”hay “Giai điệu quê hương” đã làm cho truyền thông về tình yêu trong sáng, gia đình

và hạnh phúc lửa đôi có hiệu quà cao Đội SVTN này đã khéo léo tố

Trang 36

chức các câu lạc bộ SKSS tại xã, mời được chuyên gia tuyến trung ương xuống gópsức đề mở các buổi toạ đàm giải đáp thác mẳc Sau đó tổ chức phát tài liệu, bao caosu các sinh viên xác định rõ họ không phải là các chuyên gia về CSSKSS mà chìđứng ra tổ chức và khuấy động phong ưào Qua đây cho thấy khâu tổ chức các phongtrào truyền thông về SKSS là rất quan trọng [23].

1.3.4 Một sổ tác động tói sự tiếp cận các nguồn thông tin về CSSKSS của VTN

ỉ 3.4.1 Đặc điểm cùa các kênh thông tin

Truyền thông đại chúng là một loại truyền thông có thể nhanh chóng đưathông tin đến các nhóm đối tượng Truyền thông đại chúng có rất nhiều loại khácnhau, trong bổi cảnh Việt Nam hiện nay, các loại truyền thông đại chúng có tầm quantrọng trong công việc cung cấp thông tin cho các nhóm đối tượng, nhàm nâng caokiến thức và nhận thức cho vị thành niên về các vấn đề sức khỏe sinh sản như:

(a)Truyền hình là phương tiện giải trí được nhiều người ưa thích, thích hợpcho việc cung cấp thông tin và kiến thức cho mọi đối tượng Sở dĩ truyền hình thuhút được đông đảo khán già là do phương tiện giải trí kết hợp cả nghe và nhìn.Truyền hình không chỉ là công cụ truyền tải thông tin đến các nhóm đối tượng mà nócòn là công cụ xã hội, thông tin truyền hình giúp các thành viên trong xã hội có cơhội giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau [40]

(b) Đài phát thanh/truyền thanh là phương tiện quan trọng trong các chươngtrình truyền thông đại chúng Nó có thể phủ sóng bẩt kỳ đâu, bất kỳ chỗ nào Đàiphát thanh có thể phục vụ các nhóm đối tượng biểt chữ và không biết chữ bàng chínhngôn ngữ của từng dân tộc Hơn nữa đài còn rất tiện lợi do có thể mang đi bất cứ đâuvừa làm việc vừa nghe, giá thành lại rè hơn ,so với tivi Dài phát thanh rất hợp vớiđịa bàn khó khăn, những nơi điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khãn trong khi chưa

có cơ hội để sử dụng phương tiện truyên thông hiện đại hơn như tivi và internet [40]

(c)Báo chí là nguồn thông tin và kiến thức rất quan trọng vì thanh niên cổ thểtìm kiếm các tờ báo và tạp chí tại các cửa hàng tạp hóa và bưu điện hoặc mượn cùa

Trang 37

bạn bè Do báo chí có thể lưu trữ được, vị thành niên có thể cất giữnhững bài báo những thông tin quan trọng để tham khảo khi cần thiết.[40],

(d) Điện thoại và Internet ngày càng có vị trí quan trọng trong trao đồi thôngtin hàng ngày, đặc biệt là một phần không thể thiếu được của giới trè hiện nay [40],

(e) Gia đinh là cái nôi của mỗi con người, nguồn thông tin từ gia đình là rấtquan trọng, nhiều trường hợp đây là nguồn cung cấp thông tin duy nhất cùa các thànhviên như người mù, câm điếc, tàn tật tật [27]

(í) Nhà trường đóng vai trò quan quan trọng trong giáo dục sức khoẻ, nguồnthông tin cung cấp từ các thầy cô giáo luôn được học sinh chấp nhận và tự giác thựchành theo ở mức độ cao [41]

(g) Cộng đồng: Trong những nám qua, cộng đồng đóng vai trò quan ưọngtrong công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ, sự tham gia các cấp, các ngành, cácđoàn thể, các tổ chức xã hội đã góp phần không nhỏ vào thành tựu đạt được trongnâng cao nhận thức, kiến thức của các tầng lớp nhân dân về các vấn đề sức khoẻ.[41]

1.3.4.2 Các yếu tổ liên quan tới công tác truyền thông:

Có rất nhiều yếu tố tác động tới công tác truyền thông dân số /SKSS cho toàndân nói chung và VTN nói riêng, trong đó quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ làmcông tác truyền thông Riêng ngành DSGDTE, đội ngũ cán bộ công tác truyền thôngtại cơ sở có khoảng 140.000 người, tuy nhiên, kiến thức về SKSS /KHHGĐ của độingũ cán bộ trên ở nhiều địa phương còn rất hạn chế, chưa chuyển hướng theo cáchtiếp cận chuyển đổi hành vi Hơn 95% cán bộ trên chỉ tập trung vào KHHGĐ, đặcbiệt có tỉ lệ đáng kể cán bộ trên hiểu biết rất ít về SKSS của VTN Chỉ cỏ 40,8% cán

bộ DSGDTE có sử dụng tư vấn trực tiếp [41]

Một số địa phương có tổ chức bộ máy làm công tác truyền thông SKSS vàKHHGĐ chưa thống nhất, một số nơi chưa có phòng truyền thông Đội ngũ cán bộtruyền thông còn thiếu, năng lực quàn lý hạn chế, đôi khi lại thay đổi cán bộ Côngtác đào tạo lại cho cán bộ trên về nghiệp vụ truyền thông SKSS /KHHGĐ chưa đảmbảo, công tác lập kế hoạch và giám sát nhiều nơi chưa tốt Tất cả những mặt công

Trang 38

tác này đều ảnh hưởng tới chất lượng truyền thông SKSS /KHHGĐ.Công tác nghiên cứu khoa học về truyền thông còn yếu, chưa triển khaiđược các nghiên cứu ve đánh giá sự chuyền đổi nhận thức, thái độ vàhành vi cùa nhóm đổi tượng [4 i Ị.

Tại nhiều địa phương, các cán bộ lãnh đạo và người có uy tín ở cộng đồng quantâm chỉ đạo và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho truyền thông dân số - KHHGĐ nóichung và SKSS nói riêng Tuy vậy, vẫn còn một số cấp uỳ Đàng, chính quyền chưanhận thức đầy đù về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác truyền thông dân số

- KHHGĐ và SKSS, còn chủ quan hay buông lòng và chưa có sự đầu tư vào đây[27]

Ngân sách dành cho chương trình truyền thông về giáo dục sức khoé còn hạnchế nên nhiều hoạt động không thực hiện được Bên cạnh đó một số địa phương còncắt giảm kinh phí, sử dụng dàn trải càng làm ảnh hường chưa tốt tới công tác truyềnthông về SKSS /KHHGĐ Các yểu tố di dân (với ti lệ 2,55% dân số), tốc độ đô thịhoả gia tăng tác động mạnh và gây khó khăn cho công tác truyền thông trên đây [39],Sản phẩm truyền thông cũng là một yếu tổ rất quan trọng của chất lượng truyềnthông SKSS /KHHGĐ Nhìn chung các sản phẩm này chưa đáp ứng nhu cầu truyềnthông cả về số lượng và chat lượng Thiểu các sản phẩm dành cho dân tộc ít người vàcác đối tượng có văn hoá thấp Việc cung cấp và phân phối các sản phẩm này chưakịp thời và đầy đủ [39]

Công tác thống kê, lưu trữ thông tin tư liệu phục vụ cho truyền thông chưa đápứng với yêu cầu Đặc biệt là hợp tác liên ngành giữa các đoàn thể và tổ chức xã hộinhiều nơi chưa tốt nên không thúc đẩy được các hoạt động truyền thông Chưa phốihợp tốt mô hình giáo dục Nhà trường - Gia đình - Cộng đồng Nội dung tích hợp giáodục DS-SKSS cho VTN và thanh niên chưa được điều chinh trong sách giáo khoatheo phương án phân ban ở trung học phổ thông Chương trình và tài liệu cho “Tựhọc có hướng dẫn” chưa được thử nghiệm, các điểm đội tư vấn trong và ngoài trườngchỉ dừng ờ mức thử nghiệm [39]

Trang 39

Ngân sách của Nhà nước dành cho truyền thông Dân số - KHHGĐ nói chungthấp, chi khoảng 15% tổng chi phí truyền thông và vỉ vậy dẫn tới ưang thiết bị truyềnthông còn thiếu 50% số trang thiết bị truyền thông đã hỏng mà không có kinh phíthay mới [41],

Khó khăn về phía người dân cũng tác động mạnh tới công tác truyền thôngSKSS /KHHGĐ cho VTN Nhìn chung dân ta còn nghèo, tập quán nhiều nơi vẫn còn

ép duyên, gả chồng sớm cho con gái, nhiều tập tục lạc hậu khác cũng càn trở côngtác truyền thông[38]

Trang 40

2.1 Đối tượng nghiên cứu

a) Là vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt có tuổi từ 14-19, tại quận cầu Giấy, thànhphố Hà Nội, Đây là nhóm đối tượng trong danh sách được nhận trợ cấp hàng námcủa các cấp, các ngành do ngành DSGDTE quản lý, trong phạm vi đề tài nghiên cứugồm các đổi tượng sau: ® Vị thành niên mồ côi: Là VTN mồ côi cả cha mẹ, trẻ bị bỏrơi không còn cha và mẹ; ®Vị thành niên trong các gia đình nghèo: Theo tiêu chuẩnphân loại của Bộ LĐTBXH, hộ nghèo khu vực thành thị là những hộ có mức thunhập bình quân đầu người dưới 260.000đ/l người/1 tháng; ®VỊ thành niên khuyết tật:Theo pháp lệnh về người tàn tật qui định, người khuyết tật là người bị khiếm khuyếtmột phần hay nhiều bộ phận cùa cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạngtàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt,học tập có nhiều khó khăn

Loại trừ các dối tương sau:

Ngày đăng: 01/12/2023, 14:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tỷ lệ tiếp cận nguồn thông tin đại  chúng - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.1. Tỷ lệ tiếp cận nguồn thông tin đại chúng (Trang 9)
Bảng 3.1. Thông tin chung về ĐTNC - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.1. Thông tin chung về ĐTNC (Trang 49)
Bảng 3.2. Thông tin chung về gia đình ĐTNC - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.2. Thông tin chung về gia đình ĐTNC (Trang 51)
Bảng 3.3. Tiếp cận các nguồn thông tin đại chúng - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.3. Tiếp cận các nguồn thông tin đại chúng (Trang 53)
Bảng 3.4. Nội dung tiếp cận (N=214) Nội dung - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.4. Nội dung tiếp cận (N=214) Nội dung (Trang 54)
Bảng 3.5. Tần xuất tiếp cận (N=214) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.5. Tần xuất tiếp cận (N=214) (Trang 55)
Bảng 3.6. Thời điểm có thể tiếp cận (N=214) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.6. Thời điểm có thể tiếp cận (N=214) (Trang 56)
Bảng 3.8. Thông tin tiếp cận từ gia đình - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.8. Thông tin tiếp cận từ gia đình (Trang 59)
Bảng 3.9. Nội dung trao đổi thông tin giữa các thành viên và ĐTNC (N=86) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.9. Nội dung trao đổi thông tin giữa các thành viên và ĐTNC (N=86) (Trang 60)
Bảng 3.10. Tần xuất trao đổi về SKSS với các thành viên trong gia đình (N=86) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.10. Tần xuất trao đổi về SKSS với các thành viên trong gia đình (N=86) (Trang 61)
Bảng 3.11. Thời điểm trao đổi giữa gia đình và ĐTNC (N=86) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.11. Thời điểm trao đổi giữa gia đình và ĐTNC (N=86) (Trang 62)
Bảng 3.13. Tiếp cận từ cán bộ làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.13. Tiếp cận từ cán bộ làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ (Trang 64)
Bảng 3.14. Tiếp cận nguồn câu lạc bộ SKSS-VTN (N=214) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.14. Tiếp cận nguồn câu lạc bộ SKSS-VTN (N=214) (Trang 65)
Bảng 3.15 Kiến thức dậy thì - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng 3.15 Kiến thức dậy thì (Trang 67)
Bảng trên trình bày kiến thức về mang thai và nạo phá thai, kết quả: biết thời điểm dễ thụ thai có 19.2%, biết không QHTD (41.1%) và nếu có phải sử dụng BPTT (41%) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản của một số nhóm vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt tại quận cầu giấy năm 2007
Bảng tr ên trình bày kiến thức về mang thai và nạo phá thai, kết quả: biết thời điểm dễ thụ thai có 19.2%, biết không QHTD (41.1%) và nếu có phải sử dụng BPTT (41%) (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w