thực trạng và một số yếu tố nguy cơ nhiễm giun truyền qua đất ở người ê đê buôn buôr và earang tỉnh đắklắk năm 2007 - 2008
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
-
YBLIU ARUL
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở NGƯỜI Ê ĐÊ BUÔN BUÔR VÀ EARANG TỈNH ĐẮKLẮK
NĂM 2007 - 2008
Chuyên nghành : Ký sinh trùng – Côn trùng
Mã Số :607265
LUẬN VĂN THẠC SĨ KÝ SINH TRÙNG – CÔN TRÙNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN XUÂN THAO
Buôn Ma Thuột, năm 2009
Trang 2MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam ñoan
iv
vi vii
ix
1.4 Những yếu ảnh hưởng tới tình trạng nhiễm giun sán truyền qua ñất 15 1.5 Tình hình nhiễm giun truyền qua ñất trên thế giới và trong nước 16
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Tỷ lệ, cường ñộ nhiễm giun truyền qua ñất ở người Êñê tại buôn
Buôr và buôn Earang
33
Trang 3Chương IV: Bàn luận 48 4.1 Tỷ lệ, cường ñộ nhiễm giun truyền qua ñất ở người Êñê tại buôn
Buôr và buôn Earang
48
4.2.Thực trạng các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng ñến nhiễm giun tại cộng
ñồng Ê ñê tại hai buôn nghiên cứu
51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành ñề tài này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến:
- Ban giám hiệu trường Đại Học Tây Nguyên
- Phòng Sau Đại học trường Đại Học Tây Nguyên
- Khoa Y Dược , trường Đại Học Tây Nguyên
- Bộ môn Ký sinh trùng- Côn trùng
- Đặc biệt tôi bày tỏ long biết ơn sâu sắc ñến PGS.TS Nguyễn Xuân Thao
ñã tận tình trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn và giúp ñỡ tôi hoàn thành ñề tài này
- Xin cảm ơn gia ñình và bạn bè, ñồng nghiệp ñã chia sẻ, ñộng viên tôi trong suốt thời gian học tập
Trang 5Tiếng Anh
CDC : The Centers for Disease Control and Prevention
EPG : Egg per gram (số trứng trung bình trên 1 gram phân)
KAP : Knowledge - Attitude - Practice ( kiến thức - Thái ñộ -
Thực hành)
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.3 Ấu trùng của giun móc chui qua da và giun móc 9
Hình 3.1 Biểu diễn tỷ lệ nhiễm giun ñũa, giun tóc, giun móc tại hai buôn nghiên cứu
33
Hình 3.2 Biểu diễn tỷ lệ nhiễm giun ñũa, giun tóc, giun móc/mỏ theo
nhóm tuổi tại hai buôn nghiên cứu
34
Hình 3.3 Biểu diễn tỷ lệ nhiễm giun ñũa, giun tóc, giun móc/mỏ phân
theo giới tại hai buôn nghiên cứu
35
Hình 3.4 Biểu diễn tỷ lệ nhiễm giun ñũa, giun tóc, giun móc/mỏ phân
theo ñơn nhiễm và ña nhiễm tại hai buôn nghiên cứu
36
Hình 3.5 Biểu diễn tỷ lệ nhiễm giun ñũa, giun tóc, giun móc/mỏ phân
theo ñơn nhiễm, ña nhiễm theo nhóm tuổi tại hai buôn nghiên
Trang 7Bảng 2.4 Phân loại cường ñộ nhiễm: giun ñũa, giun tóc, giun móc/mỏ 29
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm giun ñũa, giun tóc và giun móc/mỏ tại ñịa ñiểm nghiên cứu 33 Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm giun ñũa, giun tóc và giun móc/mỏ theo nhóm tuổi 34 Bảng 3.3: Tỷ lệ nhiễm giun Đũa, giun Tóc và giun móc/mỏ theo giới 35
Bảng 3.5 Tỷ lệ ñơn nhiễm và nhiễm phối hợp các loại giun theo nhóm tuổi 37 Bảng 3.6 Cường ñộ nhiễm giun ñũa, giun tóc và giun móc/mỏ ở hai buôn 38 Bảng 3.7 Mối liên quan giữa Dùng găng tay tiếp xúc phân, rác và hành vi
nhiễm giun ñũa
40
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa có và không sử dụng hố xí hợp vệ sinh ảnh
hưởng ñến tỷ lệ nhiễm giun ñũa
40
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa có và không tẩy giun ñịnh kỳ ảnh hưởng ñến
tỷ lệ nhiễm giun ñũa
Trang 8Bảng 3.15 Mối liên quan giữa không và có thường xuyên ñi giày hoặc dép ảnh hưởng ñến nhiễm giun tóc
42
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa có và không thường xuyên uống nước lã ảnh
hưởng ñến nhiễm giun tóc
42
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa không và có thường xuyên rửa tay trước khi
ăn, sau ñại tiện ảnh hưởng ñến nhiễm giun tóc
43
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa không và có tẩy giun ñịnh kỳ ảnh hưởng ñến nhiễm giun tóc
43
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa không và có sử dụng hố xí hợp vệ sinh ảnh
hưởng ñến nhiễm giun tóc
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa không và có thường xuyên ñi dày hoặc dép
ảnh hưởng ñến tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ
45
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa có và không thường xuyên uống nước lã ảnh hưởng ñến tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ
46
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa không và có thường xuyên rửa tay trước khi
ăn, sau ñại tiện ảnh hưởng ñến tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ
46
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa không và có tẩy giun ñịnh kỳ ảnh hưởng ñến
tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ
46
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa không và có sử dụng hố xí hợp vệ sinhảnh
hưởng ñến tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ
47
Bảng 3.28 Phân tích ña biến mối liên quan giữa nhiễm giun móc/mỏ và các yếu tố nguy cơ
47
Trang 9KIẾN NGHỊ
Qua kết quả nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố nguy cơ nhiễm GTQĐ ở người Êñê buôn Buôr và Earang tỉnh Đắk Lắk, tỷ lệ nhiễm GTQĐ khá cao Các nhà quản lý y tế cần phải có các biện pháp tuyên truyền giáo dục sức khỏe ñể nâng cao kiến thức của người dân phòng chống các bệnh giun sán nói chung và GTQĐ nói riêng cho ñồng bào ở các vùng sâu vùng xa, ñặc biệt cần quan tâm ñến ñồng bào dân tộc thiểu số Tuyên truyền vận ñộng nhân dân VSMT sạch sẽ, sử dụng hố xí hợp lý Cần phải ñiều trị sổ giun ñịnh kỳ cho nhân dân trong tỉnh, ñặc biệt chú trọng ñến các ñồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa ở tỉnh ĐắkLắk
Trang 10TIẾNG VIỆT
[1] Trương Quang ánh và Cs (2004), Đánh giá tình hình nhiễm giun trịn
đường ruột ở học sinh tiểu học huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hịa”, Tạp chí
Y học thực hành (477), Bộ Y Tế xb, tr.83-87
[2] Bộ mơn ký sinh trùng trường Đại học Y Hà Nội (2001), Ký sinh trùng
Y Học, Nxb Y Học Hà Nội, tr 131-151
[3] Nguyễn Văn Chương và Cs (2004), “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học
nhiễm giun sán đường ruột ở tỉnh Gia Lai thử nghiệm giải pháp can thiệp ở
một số trường tiểu học”, Tạp chí Y học thực hành (477), Bộ Y Tế xb, tr.43-49
[4] Hồng Tân Dân, Trương Kim Phượng (1996), “Tìm hiểu tình trạng
nhiễm giun đường ruột liên quan tới mơi trường sống của nhân dân 2 xã Nhật
Tân, Hồng Tây huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam”, Tập san nghiên cứu khoa
học, 2, (chuyên đề), tr 16 - 23
[5] Phạm Ngọc Danh (2007), “So sánh 2 phương pháp điều trị giun Mĩc
bằng Albendazol liều duy nhất và Pyrantel liều 3 ngày, ở làng Sơmei xã Đăk sơmei”, Tập san nghiên cứu khoa học bệnh viện huyện Đăk Đoa, 2007
[6] Đào Văn Dũng (2004), Thiết kế nghiên cứu hệ thống Y tế, tái bản lần
thứ nhất, Nhà xuất bản Y Học- 2004
[7] Nguyễn Văn Dũng và Cs (2007) “Bước đầu tìm hiểu mầm bệnh giun
đường ruột ở ngoại cảnh của thành phố Pleiku và thị xã Kontum 2000-2001”
Kỷ yếu cơng trình nghiên cứu khoa học 2001-2006, Bộ Y tế Viện Sốt rét-Ký
sinh trùng-Cơng trùng Quy Nhơn, Nxb Y học, tr 550-556
[8] Trần Trọng Duy và Cs (2006), “ Thực trạng nhiễm ký sinh trùng đường
ruột và nhận thức, thái độ, thực hành ở sinh viên 2 khối Y1 và y3 năm học 2005
tại trường Đại học y Thái Bình”, Tạp chí Y học thực hành (477), Bộ Y Tế xb, tr.92
- 98
[9] Dự án phịng chống giun sán (1998), Tài liệu tập huấn đặc điểm dịch
tễ, bệnh học, điều trị và kỹ thuật chẩn đốn trong phịng chống một số bệnh
Trang 11Hà Nội
[10] Nguyễn Văn Đề (1995), Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun Móc và hiệu
quả của một số thuốc ñiều trị giun Móc ở ba vùng canh tác thuộc ñồng bằng miền Bắc Việt Nam, Luận án PTS khoa học y dược, Trường Đại học Y Hà
Nội, Hà Nội
[11] Lương Văn Định, Nguyễn Võ Hinh, Bùi Thị Lộc (2006), “Nghiên cứu
tình trạng nhiễm GTQĐ và ñánh giá sự tái nhiễm sau can thiệp bằng mebendazole ở trẻ em xã Hồng Vân, huyện A lưới, Tỉnh Thừa Thiên Huế,
2005-2006”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 2001-2006, Viện Sốt
rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn, Nxb Y học -2007, tr.497-505
[12] Nguyễn Công Hoà (2006), Thực trạng, nhiễm giun truyền qua ñất ở
học sinh dân tộc nội trú A Ma Trang Long, tỉnh Đắk Lắk, Đề tài cấp cơ sở,
Trường Đại học Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột
[13] Nguyễn Thị Việt Hòa, Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thu Hương, Cs
(2004), “Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình tẩy giun hàng loạt ñến sự phát
triển thể lực ở học sinh tiểu học (6-11 tuổi)”, Tạp chí Phòng chống bệnh sốt
rét và các bệnh ký sinh trùng(1), Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng trung
ương, tr.89-98
[14] Trần Minh Hoàng, Nguyễn Thị Phương Nga, Trần Thị Hồng (2001),
“Nhiễm ký sinh trùng ñường ruột tại xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, thành
phố Hồ Chí Minh”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 1996 - 2000, Nxb
Y học Hà Nội, tr.609 - 614
[15] Nguyễn Võ Hinh, Bùi Thị Lộc, Lương Văn Định (2005), “Tình
hình nhiễm giun ñường ruột ở trẻ em và vấn ñề sử dụng nhà vệ sinh, nguồn nước sinh hoạt tại huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế năm 2004-
2005”, Công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo hội nghị toàn quốc,
chuyên ngành sốt rét-ký sinh trùng-công trùng giai ñoạn 2001-2005, Tập
II, Viện Sốt rét-KST-CT-TW, Nxb Y học, Hà Nội, tr.172-179
Trang 12sán.htm- 08:59' 06/04/2007 (GMT+7)
[17] Nguyễn Văn Khá (2004), “Nghiên cứu ñặc ñiểm dịch tễ học nhiễm
giun sán ñường ruột ở 3 tỉnh Tây Nguyên, thử nghiệm giải pháp can thiệp ở
một số ñịa bàn”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 2001-2006, Viện Sốt
rét-Ký sinh trùng-Công trùng Quy Nhơn, Nxb Y học, tr.424-432
[18] Hoàng Thị Kim (1998), “Tình hình nhiễm giun truyền qua ñất ở Việt
Nam và nghiên cứu hiệu quả của một số biện pháp phòng chống” Tài liệu tập
huấn ñánh giá dịch tễ học và phòng chống các bệnh giun sán, Viện sốt rét
-KST-CT TW, tr26-30
[19] Lê lợi (2006), “Nhận xét tình hình nhiễm giun truyển qua ñất ở học sinh
tiểu học tỉnh Nam Định từ năm 2000 - 2005”, Tạp chí Y học thực hành (477),
Bộ Y Tế xb, tr.51 - 54
[20] Nguyễn Thị Quỳnh Lưu và Cs (2004), “Tình hình nhiễm giun ký sinh
trùng ñường ruột lây truyền qua ñất tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi thành
phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học thực hành (477), Bộ Y Tế xb, tr.103- 107
[21] Đinh Thị Thanh Mai và Cs (2006), “ Thực trạng nhiễm giun ñường ruột
và hiệu quả ñiều trị bằng albendazol 400mg liều duy nhất tại trường tiểu học xã
Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo Hải Phòng”, Tạp chí Y học thực hành (477), Bộ Y Tế
xb, tr 55- 59
[22] Trần Xuân Mai, Nguyễn Vĩnh Niên, Nguyễn Long Giang (1994), Ký
sinh trùng y học, Trung tâm ñào tạo bồi dưỡng cán bộ Y tế thành phố Hồ Chí
Minh tr.125 - 143
[23] Trần Xuân Mai, Trần Thị Kim Dung, Ngô Hùng Dũng, Lê Thị
Xuân, Phan Anh Tuấn (2007), Ký sinh trùng y học, Trường ñại học Y Dược
thành phố Hồ Chí Minh tr.192 - 278
[24] Hoàng Văn Miêng và Cs ( 2006), “ ñánh giá tình hình nhiễm giun tròn
ñường ruột, sự xuất tán trứng giun xung quanh các loại hình nhà tiêu”, Tạp
chí Y học thực hành (477), Bộ Y Tế xb, tr 31 - 32
Trang 13bản, Nxb Y học, Thành phố Hồ Chí Minh
[26] Trần Đình Oanh (2003), “Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun truyền qua
ñất và ñánh giá kết quả can thiệp ở học sinh lớp 3, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2003”,Luận văn thạc sỹ Y học, Trường ñại học Y khoa Huế
[27] Z.S.Pawlowski, G.A.Schad, C.J.Stott (1991), Lây nhiễm và thiếu máu
do giun móc, phương pháp học phòng chống, Nxb Y học và Viện tim mạch
Hà Nội xuất bản
[28] Nguyễn Xuân Phách (1995), Toán thống kê và tin học ứng dụng trong
Sinh - Y - Dược, Nxb Quân ñội Nhân dân, Học viện Quân y
[29] Đào Ngọc Phong (1997), Thống kê Y học, Nxb Y học, Hà Nội
[30] Trương Thị Kim Phượng, Phạm Văn Thân, Phạm Trí Tuệ (2002)
“Đánh giá tình trạng nhiễm giun ñường ruột và kiến thức thái ñộ thưc hành của người dân và bệnh giun ñường ruột tại một số xã thuộc huyện Đông Anh
Hà Nội“, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học chuyên ñề Ký sinh trùng,
Nxb Y học Hà Nội (1) tr162-168
[31] Huỳnh Hồng Quang (2008), Chương trình Quốc gia phòng chống giun sán Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn
[32] Lê Duy Sáu, Nguyễn Văn Phòng, Triệu kim Đang và Cs (2001),
“Đánh giá tình hình nhiễm giun sán ñường ruột ở vùng hồ Thác Bà tỉnh Yên
Bái “, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 1996 - 2000, Nxb Y học Hà
Nội, tr.622 - 626
[33] Phạm Song, Đào Ngọc Phong, Ngô Văn Toàn (2001), Nghiên cứu hệ
thống y tế - Phương pháp nghiên cứu y học, Nxb Y học Hà Nội
[34] Ngô Thị Tâm (2005), “Tỷ lệ nhiễm giun Đũa, giun Tóc, giun móc ở
cộng ñồng dân tộc huyện Lăk, tỉnh ĐắkLắk”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu
khoa học 2001-2006, Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Công trùng Quy Nhơn, Nxb
Y học, tr.517- 524
Trang 14người, Nxb Y học Hà Nội, (1), tr.84 - 86
[36] Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1976), Công trình nghiên cứu Ký
sinh trừng ở Việt Nam, Nxb KH&KT ,( 1), tr.12-59, 113 - 161
[37] Đặng Thị Cẩm Thạch (2006), VietNamNet - 60 triệu người Việt Nam
ñang mang giun sán trong bụng!.htm 26/09/2006 (GMT+7)
[38] Nguyễn Xuân Thao và Cs (2006), Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ
và ñánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp các bệnh GTQĐ , ñề tài cấp
Bộ, Mã số: B2002-30-07
[39] Dương Đình Thiện (1993), Dịch tễ học Y học, Nxb Y học, Hà Nội
[40] Dương Đình Thiện (1997), Dịch tễ học lâm sàng, Nxb Y học, Hà Nội
[41] Lê Khánh Thuận, Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Văn Khá (2001),
“Nghiên cứu sự phân bố bệnh giun sán ở 10 tỉnh ven biển miền Trung, Việt
Nam ”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 1996 - 2000, Nxb Y học Hà
Nội, tr.601-607
[42] Nguyễn Duy Toàn (2003) “Kết quả giữa kỳ hoạt ñộng dự án phòng
chống giun sán trong trường tiểu học do Tổ chức Y tế Thế giới hỗ trợ giai ñoạn 2002-2003” Các bệnh giun sán chủ yếu hiện nay và các hoạt ñộng phòng
chống giun sán của Viện Sốt rét-KST-CT TƯ”,Thông tin phòng chống bệnh
Sốt rét và các bệnh Ký sinh trừng , Viện SR-KST&CT Hà Nội (1), Tr.82-88
[43] Tổ chức Y tế Thế giới (2000), Hướng dẫn công tác phòng chống các
bệnh GTQĐ và thiếu máu do giun, Nxb Y học, Hà Nội
[44] Tổ chức Y tế Thế giới (2006) bản ñồ dich tễ giun WHO website 2006:
www.who.int
[45] Trường Đại học y Hà Nội (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa học y
học, Nxb Y học, Hà Nội
[46] Trường Đại học y Hà Nội (2002), Dịch tễ học và thống kê trong nghiên
cứu khoa học, Nxb Y học, Hà Nội
Trang 15ñến nhiễm GTQĐ ở dân cư phường Tân Tiến, thành phố Buôn Ma Thuột và
xã Cưsuê Huyện CưM’Nga tỉnh ĐắkLắk”, Tạp chí Y học thực hành (5), Bộ Y
Tế xb,tr.28-30
[48] Phan Văn Trọng (2002), Nghiên cứu một số ñặc ñiểm nhiễm giun
móc/mỏ ở ĐắkLắk và ñánh giá hiệu quả biện pháp ñiều trị ñặc hiệu, Luận án
Tiến sĩ Y học
[49] Trịnh Đình Tuấn, Trịnh Tường (2003) ”Tình hình nhiễm giun ñường
ruột ở dân tộc M’Nông Huyện Lăk tỉnh ĐắkLắk” Thông tin phòng chống
bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, Viện SR-KST&CT Hà Nội, (3), tr.92 -
98
[50] Lê Thị Tuyết (2001), Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun Đũa, giun Tóc,
giun móc/mỏ và hiệu quả của biện pháp can thiệp ở một số xã tỉnh Thái Bình,
Luận án Tiến sĩ Y học
[51] Lê Thị Tuyết (2006), “Thực trạng nhiễm ký sinh trùng ñường ruột ở
sinh viên khối Y1 năm học 2005 tại trường ñại học Y Thái Bình”, Tạp chí
Phòng chống bệnh Sốt rét và các bệnh ký sinh trúng số 3, Viện sốt rét-Ký
sinh trùng-Công trùng Trung ương, tr.61-87
TIẾNG ANH
[52] Albonico M, Bickle Q, Ramsan M, et al (2003), “Efficacy of
mebendazole and levamisole alone or in combination against intestinal
infections after reeated targeted mebendazole treatment in Zanzibar”, Bulletin
of the World Health Organization ,81, pp 343-51
[53] Albright JW; Basaric-Keys J (2006), “Instruction in behavior
modification can significantly alter soil-transmitted helminth (STH) re-infection following therapeutic de-worming”, Southeast Asian J Trop Med Public Health,
37 (1), pp 48-57
Trang 16single 400mg dose of albendazole or mebendazole in the treatment of nematode infections in children”, Trop-Geogr-Med, 45 (3),pp.114-116
[55] Belding D L (1942), “The Nemathelminthes or roundworm”, Text
Book of Clinical Parasitology, pp 228 - 232, 281 - 290
Belding D L (1965), “The superfamilies strongyloidea, Trichostrongyloidea
and metastrongyloidea”, Text Book of Parasitology, pp 423 - 447
Trang 17Giun truyền qua ñất gây thiệt hại lớn về kinh tế và sức khỏe cho người dân, mỗi năm trên thế giới ñược ước tính nhiễm giun ñũa ký sinh trong cơ thể người trung bình có thể tiêu thụ tới 28.616 tấn gạo; 31,8 tấn thịt; số máu bị mất
do giun móc/mỏ gây ra lên tới 27.798.400 lít và do giun tóc là 1.461.460 lít Việt Nam là nước nhiệt ñới, có ñịa lý phức tạp, có nhiệt ñộ, ñộ ẩm và các yếu tố khác rất phù hợp cho bệnh giun sán phát triển quanh năm Hơn nữa, nước ta có nền kinh tế, chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp với tập quán bón phân cho cây trồng càng làm cho nguy cơ cao mắc các bệnh Ký sinh trùng ñường ruột trong ñó chủ yếu là các loại giun truyền qua ñất Ở Việt Nam tỷ lệ giun truyền qua ñất cao có liên quan chặt chẽ với ñói nghèo, vệ sinh môi trường kém, dịch vụ y tế thiếu thốn; toàn quốc có 60 triệu người nhiễm giun ñũa, 40 triệu người nhiễm giun tóc, 20 triệu người nhiễm giun móc/mỏ Theo Viện Sốt rét- Ký sinh trùng- Côn trùng ước tính ở Việt Nam, cứ 10 người thì có tới 7-8 người có nhiễm giun sán ñường ruột
ĐắkLắk là một tỉnh nằm trên Cao Nguyên phía Tây Nam của nước ta,
có ñầy ñủ các yếu tố tự nhiên và xã hội thích hợp cho sự tồn tại và phát triển không những cho bệnh ký sinh trùng nói chung mà còn cho cả bệnh Giun truyền qua ñất Kết quả nghiên cứu của Ngô Thị Tâm (2005) [34 ] cho thấy tỷ
lệ nhiễm giun truyền qua ñất ở cộng ñồng dân cư Kinh, M’Nông, H’Mông,
Tày và Êñê còn rất cao ( 75.16%), trong ñó, nhiễm giun móc/mỏ là (52,70%)
cao nhất ở nhóm M’Nông, Tày rồi ñến nhóm ÊĐê và Kinh, nhiễm giun ñũa là 24,72%, cao nhất ở nhóm ÊĐê, Kinh, ñến M’Nông và Tày, nhiễm giun tóc là
Trang 1814,84%, cao nhất ở nhóm ÊĐê, Kinh ñến M’Nông và Tày Cả 4 nhóm dân tộc chủ yếu nhiễm 1 loại (79,5%)
Theo Nguyễn Công Hòa (2007) [12 ] tỷ lệ nhiễm giun truyền qua ñất ở học sinh trường dân tộc nội trú AmaTrang Long là rất cao (71,76%), trong ñó nhiễm giun móc/mỏ chiếm tỷ lệ cao nhất ( 68,42) kế ñến là giun ñũa (13,16%
và thấp nhất là nhiễm giun tóc (2,3%)
Vấn ñề giảm tỷ lệ, cường ñộ nhiễm giun sán nói chung và các loại giun truyền qua ñất nói riêng ở khu vực Tây Nguyên, ñặc biệt những vùng sinh sống của ñồng bào dân tộc thiểu số bản ñịa Tây Nguyên là việc làm rất cần thiết và cấp bách Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
“Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ nhiễm giun truyền qua ñất ở người Êñê buôn Buôr và Earang tỉnh Đắk Lắk năm 2007 - 2008”
Với các mục tiêu sau:
1 Xác ñịnh tỷ lệ, cường ñộ nhiễm giun truyền qua ñất ở người Êñê buôn Buôr và Earang thành phố Buôn Ma Thuột
2 Mô tả một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng ñến nhiễm giun truyền qua ñất của người dân Ê ñê tại ñịa ñiểm nghiên cứu
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Lịch sử về bệnh giun truyền qua đất
Trên thế giới, bệnh giun đũa, giun tĩc và giun mĩc/mỏ đã được nĩi đến
trong các tài liệu y học cổ Cho đến thế kỷ 17 các tác giả đã mơ tả và đặt tên
giun đũa là Ascaris lumbricoides (Linné, 1758), giun tĩc là Trichuris
trichiura (Linné, 1771), giun mĩc/mỏ là Ancylostoma duodenale (Dubini,
1843) và giun mỏ là Necator americanus (Stiles, 1902) Trong chu kỳ phát
triển chúng đều cĩ giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh (trích từ: [30]) Các nhà khoa học đã phân loại GTQĐ như Goeze phân loại giun tĩc, Owen phân loại giun mĩc, Zedes nêu cách viết và đặt tên giun sán [55 ].[56]
Jakob de Bondt (1629), Pison và Margraff (1648) mơ tả đầy đủ hơn về bệnh giun mĩc Triệu chứng lâm sàng của bệnh giun mĩc đã được mơ tả ở Ý, Ả Rập và Brazil từ thời kỳ Ai Cập cổ đại Năm 1838, Dubini phát hiện giun mĩc trên một tử thi của một bệnh nhân ở Milan Trước đĩ giun mĩc đã được mơ tả
ở động vật và được đặt tên là “Hookworm”, cĩ nghĩa là lồi giun cĩ mĩc Năm 1843, Dubini đã mơ tả ký sinh trùng này kỹ hơn và đặt tên là
A.duodenale Sau đĩ một số tác giả khác như Prunez (1847), Bilharz (1852),
Criesinger (1854) cũng phát hiện tương tự và mơ tả thêm Năm 1866, Wucherer đã phát hiện giun mĩc trưởng thành ở tử thi của một bệnh nhân thiếu máu nhiệt đới, là một bệnh rất phổ biến và trầm trọng vào thời đĩ ở Brazil Năm 1878, Grassi và Parona đã xác minh những cá thể nhiễm giun mĩc bằng cách tìm trứng trong phân [55].[56]
Từ năm 1877 - 1880, qua các cuộc điều tra cơ bản ở Ý, Grassi, Maggi, Pavesi và anh em Parona đã xác định căn nguyên bệnh và phương pháp chẩn
đốn bệnh giun mĩc (A.duodenale) Năm 1880, khi xây dựng đường hầm
St Gotthard qua Alps ở Thụy Sỹ, lần đầu tiên người ta thấy giun mĩc
(A.duodenale) gây ra thiếu máu nặng và phổ biến trên một phạm vi rộng
Trang 20Hàng ngàn công nhân ñã bị nhiễm bệnh với tỷ lệ tử vong cao Nhiễm giun
móc (A.duodenale) ñược chứng minh là nguyên nhân gây thiếu máu của công
nhân hầm mỏ Họ có tỷ lệ mắc bệnh cao ở nhiều nước Châu Âu thời ñó [55] Năm 1879 - 1881, Concato, Perroncito, Bozzolo, và Graziadei ñã xác ñịnh
triệu chứng lâm sàng và biện pháp ñiều trị bệnh giun móc (A.duodenale) [56]
Perroncito (1880) lần ñầu tiên ñã mô tả quá trình phát triển của ấu trùng
giun móc (A.duodenale) có thực quản hình củ (Rhabditiform larva) sống tự do trong ñất trở thành ấu trùng giun móc (A.duodenale) có thực quản hình trụ
(Filariform larva) Leichtenstern ñã chứng minh: Ấu trùng giun móc
(A.duodenale) có thực quản hình trụ phát triển thành giun móc trưởng thành ở
ruột non [55], [56]
Năm 1896 - 1897, Looss ñã ñể bàn tay của ông ta tiếp xúc với dịch cấy
ấu trùng giun móc do tai biến thí nghiệm Ông ta quan sát và nhận thấy có viêm da phát triển tại ñiểm tiếp xúc, sau ñó tìm thấy trứng giun móc trong phân của ông và ông ñã kết luận: "người nhiễm ấu trùng giun móc
(A.duodenale) là do nó chui qua da" Năm 1911, một số tác giả khác ñã gây nhiễm qua da trên chó với Ancylostoma caninum (giun móc ký sinh ở chó), và
họ ñã xác ñịnh ấu trùng Ancylostoma caninum có thể chui qua da, sau ñó lên
phổi, khí quản, qua hầu, rồi xuống ruột non [55], [56]
Bệnh giun móc ñã ñược ghi nhận ở Hoa Kỳ vào năm 1845, mãi ñến năm
1893 loài giun móc này mới ñược mô tả, nhưng không phân biệt ñược với
giun móc (A.duodenale, Dubini, 1843) trước ñó Năm 1902, Stiles ñã mô tả
và ñặt tên cho loài này là N.americanus, cũng ký sinh ở người và có thể phổ biến hơn A.duodenale ở một số nơi Hầu như tỷ lệ thiếu máu do giun móc ở dân cư miền Nam Hoa Kỳ thời ñó ñều do loài N.americanus [55] Ngoài hai loài giun A.duodenale và N.americanus, ở một số nước khác có thể có giun móc (Ancylostoma ceylanicum, Ancylostoma braziliense, Ancylostoma
caninum) tuy không phổ biến, nhưng rất ñáng quan tâm ở một số nơi: Đài
Loan, Trung Quốc, Đông Nam Á, Surinam Những giun Ancylostoma này
Trang 21thường gây bệnh ở chó mèo, chu kỳ sinh học gần giống như giun móc
(A.duodenale) Chúng xâm nhập và phát triển với những mức ñộ khác nhau,
nhưng không thể hoàn thành chu kỳ sinh học, mà chỉ gây ra những tổn thương
ở vị trí ấu trùng xâm nhập (hội chứng ấu trùng di chuyển ngoài da: cutaneous larva migrans)[55].[56]
Năm 1909, Ủy ban vệ sinh Rockefeller ñã ñược thành lập ñể phòng chống bệnh và từ ñó các quốc gia trên thế giới ñã hợp tác lại, ñề ra chiến lược
Cuối thế kỷ XIX ñầu thế kỷ XX, ñã có các cuộc ñiều tra giun sán ñầu tiên ở Việt Nam của các tác giả: Séguin (1905), Mouzels (1907), Braur (1910), ñặc biệt là công trình nghiên cứu của Leger và Mathis (1911) tương ñối toàn diện về giun sán ñường ruột Đến năm 1936, ñiều tra cơ bản của Đặng Văn Ngữ và cộng sự về các loài giun sán y học ở Việt Nam cho thấy tình hình nhiễm giun sán nghiêm trọng ở người (trích từ:[35], [36])
Cho ñến năm 1954 những ñiều tra cơ bản, những nghiên cứu về dịch tễ
học, nghiên cứu về hình thể, bệnh học, ñặc ñiểm sinh học, về miễn dịch học và biện pháp phòng chống các bệnh giun sán ñã ñược triển khai trên diện rộng ; từ
Trang 22ñó ñến nay ở Việt Nam ñã có hàng ngàn công trình nghiên cứu về giun sán nói chung cũng như về các loại giun truyền qua ñất chủ yêú như giun ñũa, giun tóc
và giun móc/mỏ, kết quả những nghiên cứu cho thấy ñây là những loài giun phổ biến và có tỷ lệ nhiễm cao ở nước ta, gây nhiều tác hại ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng ñồng, [23]
1.2 Tác hại của giun truyền qua ñất
1.2.1 Tác hại của giun ñũa
Các biểu hiện lâm sàng ở người bị nhiễm giun ñũa rất mờ nhạt, thường chỉ ñược phát hiện dựa trên kết quả xét nghiệm phân, hoặc giun trưởng thành
ra ngoài cùng với phân Tỷ lệ nôn và ñại tiện ra giun chỉ khoảng 0,5% người lây nhiễm trứng giun ñũa theo ñường ăn uống [19],
Khi ấu trùng giun ñũa ra khỏi trứng và xuyên qua niêm mạc ruột thì không gây tổn thương gì, sau ñó tới giai ñoạn chu du, ấu trùng giun ñũa gây tổn thương những cơ quan, tổ chức mà ấu trùng ñi qua; ñặc biệt ở phổi gây hội chứng Loeffler Do ấu trùng tương ñối lớn nên làm chảy máu các huyết quản phổi gây xung huyết, ho, ñau ngực, xét nghiệm thấy bạch cầu ái toan tăng cao, chụp X Quang thấy hình ảnh thâm nhiễm phổi, giống phế quản phế viêm, từ ngày thứ 18, triệu chứng bắt ñầu giảm và mất ñi hoàn toàn sau 22-28 ngày Ngoài ra ấu trùng giun ñũa có thể cư trú ở não, tuỷ sống gây ra các ổ áp
xe Ký sinh trùng Giun ñũa trưởng thành trực tiếp chiếm chất dinh dưỡng gây rối loạn chuyển hoá làm suy yếu cơ thể Khi số lượng giun nhiều ở ruột chúng tập trung lại với nhau gây ra các búi giun gây tắc cơ học với hội chứng tắc ruột ñiển hình: ñau bụng, nôn ói, bí trung ñại tiện, chướng bụng; trong trường hợp này phải can thiệp ngoại khoa mổ ñể lấy búi giun tại chỗ tắc ruột ra Ngoài ra, khi giun ñũa chui lên ống mật gây ra triệu chứng cơn ñau hạ sườn phải dữ dội và nhiều biến chứng như viêm ñường mật, áp xe gan… Giun ñũa
có thể chui lên ruột thừa gây viêm ruột thừa, gây lồng ruột , thủng ruột Giun trưởng thành gây tắc ruột chiếm tỷ lệ 38-87,5%; số giun ñếm ñược trong những trường hợp này lên ñến trên 60 con Mỗi ngày cứ 26 con giun ñũa
Trang 23trong ruột có thể ăn hết 4g ñạm trong tổng số 35-50g ñạm ñược ñưa vào cơ thể Đối với trẻ em bị nhiễm giun ñũa, cơ thể sẽ giảm hấp thu ñường từ gạo Nếu nhiễm khoảng 15 con giun ñũa, cơ thể sẽ mất ñi 13,4% chất mỡ, 7,2% chất ñạm trong khẩu phần ăn hằng ngày, nên rất ảnh hưởng ñến sự phát triển
cả thể chất và tinh thần của trẻ
Trẻ nhiễm GTQĐ sẽ làm suy giảm thành tích học tập, theo Ngô Hùng Dũng, trường Đại học Y dược Tp.HCM, cho rằng: “Giun ñường ruột ký sinh
sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều ñến sự phát triển về thể chất cũng như trí tuệ, nhất
là ñối với trẻ em” Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm giun ñũa tại các tỉnh phía Bắc từ 60-95%, tại các tỉnh phía nam có tỷ lệ từ 13-46% và bình quân mỗi người có 14,3 ± 8,4 giun ñũa trong ruột
1.2.2 Tác hại của giun Tóc
Nếu số lượng nhiễm ít, sẽ không có biểu hiện lâm sàng Trường hợp nhiễm nhiều, niêm mạc ruột sẽ bị tổn thương nặng và luôn bị kích thích gây nên các triệu chứng buồn nôn, ñau bụng, tiêu chảy, hay một hội chứng giống
lỵ (ñi ngoài nhiều lần, phân có lẫn nhầy máu mũi) Chỗ trực tràng bị viêm và trực tràng bị sa thường phủ ñầy giun
Hình 1.1 Trứng và giun tóc trưởng thành [55]
Trang 24Nhiễm giun tóc nhiều sẽ dẫn ñến hội chứng thiếu máu Ở trẻ nhỏ sẽ gây chậm lớn, chậm phát triển trí tuệ Giun tóc ký sinh trong ruột thừa, hoặc chính chúng là tác nhân dẫn vi trùng vào gây nên tình trạng viêm ruột thừa
1.2.3 Tác hại của giun móc/mỏ
Giun này xâm nhập vào cơ thể qua da, mô, biểu bì, hoặc nhiễm theo ñường tiêu hóa, xuyên qua thực quản tới phổi Người bị lây nhiễm lần ñầu, ở vùng da ấu trùng chui qua có phản ứng viêm da dị ứng tại chỗ gây hiện tượng
“ñất ăn chân” Giun trưởng thành ngoạm sâu dưới lớp niêm mạc ruột gây ra những vết loét, khi bị bội nhiễm vi khuẩn vết loét sẽ sùi như hạt ổi Trong ruột, giun móc/mỏ thường xuyên hút chất dinh dưỡng, làm cơ thể mất sắt, giảm huyết sắc tố, giảm một số loại vitamin A, B1, B2, C , ion sắt[27]
Hình 1.2 Chu kỳ của giun móc [2]
Các biểu hiện lâm sàng thường là rối loạn tiêu hóa, rối loạn vị giác (người bệnh ăn dở), buồn nôn, ăn mất ngon, ñau bụng vùng quanh rốn hay ở vùng thượng vị như trong bệnh loét dạ dày - tá tràng, ñại tiện phân ñen
Trang 25.Người bệnh thấy mệt mỏi, làm việc uể oải, chán ăn, nặng chi dưới khi ñi lại Một triệu chứng nổi bật ở những người bệnh giun móc/mỏ là thiếu máu
Hình 1.3 Ấu trùng của giun móc chui qua da và giun móc [31]
Thiếu máu ngày một nặng, ở trẻ em và phụ nữ có thai, tình trạng thiếu máu còn có thể phát triển rầm rộ dẫn ñến tử vong Vừa hút máu, giun còn tiết
ra chất làm chậm ñông máu nên dẫn ñến mất máu kéo dài Các ñộc chất này còn hủy hoại các loại thức ăn giàu ñạm, mỡ, ñường khiến người bệnh mất hết sinh lực và khả năng lao ñộng Trẻ em bị còi cọc, chậm lớn, phụ nữ có thai dễ
bị sảy thai hoặc thai chết lưu Giun móc/mỏ ký sinh chủ yếu ở người nhưng cũng có nhiều báo cáo ñã gặp ở khỉ
Trang 261.3 Chu kỳ phát triễn của giun truyền qua ñất
1.3.1 Chu kỳ phát triễn của giun ñũa
Giun ñũa sống chủ yếu ở ruột non Lây lan chủ yếu qua thức ăn vấy bẩn,
có chứa trứng giun Khi ăn phải trứng có ấu trùng vào ñường tiêu hoá, nhờ tác dụng co bóp của dạ dầy, ruột và dịch vị, dịch ruột, dịch tiêu hoá sẽ làm tan vỏ trứng và ấu trùng ñược giải phóng xuyên qua thành ruột non, theo ñường máu ñến gan, lưu lại ở ñó 3-4 ngày rồi sau ñó theo tĩnh mạch trên gan ñến tim rồi ñến phổi Ở ñây nó lột xác hai lần rồi ñi dần lên cuống phổi, sang hầu, sau ñó ñược nuốt trở xuống ống tiêu hoá, ñịnh vị ở ruột non và trưởng thành ở ñó Thời gian diễn biến của chu kỳ trong cơ thể con người kể từ khi người ăn phải trứng có ấu trùng ñến khi giun trưởng thành phải mất khoảng 60 ngày Giun ñũa có thể sống ñến một năm
1.3.2 Chu kỳ phát triễn của giun Tóc
Giun tóc trưởng thành dài khoảng 4cm, ký sinh ở manh tràng và ruột kết,; giun tóc cái bắt ñầu ñẻ trứng 60-70 ngày sau khi nhiễm Giun tóc cái ở manh tràng ñẻ trứng 3.000-20.000 trứng/ ngày Trứng chưa có phôi bài xuất theo phân ra ngoài, ở ngoài ñất, trứng sẽ phát triển thành trứng giai ñoạn 2 tế bào, rồi trứng ở giai ñoạn phôi dâu; sau ñó trứng phát triển thành trứng có ấu trùng bên trong, trở thành trứng có khả năng gây nhiễm; sau khi người ăn phải trứng này qua tay bẩn hoặc qua thức ăn, các ấu trùng thoát vỏ trong ruột non;
ấu trùng trưởng thành và ký sinh ở manh tràng, giun tóc trưởng thành sống khoảng 5-10 năm trong ñường tiêu hóa của người
Trang 27Hình 1.4 Chu kỳ phát triển của giun Tóc
1.3.3 Chu kỳ phát triển của giun móc/mỏ
Chu kỳ của 2 loài giun N.americanus và A.duodenale không hoàn toàn giống nhau Có những ñiểm khác biệt quan trọng Giun N.americanus chỉ lây nhiễm qua ñường da Giun A.duodenale lây nhiễm cả qua ñường tiêu hóa cả qua ñường da Chu kỳ sinh học của giun A.duodenale lây qua ñường da giống như giun N.americanus [22], [45]
Trang 281.3.3.1 Chu kỳ sinh học giun móc/mỏ lây qua ñường da
- Vị trí kí sinh: Giun móc/mỏ ký sinh ở tá tràng, nếu số lượng giun nhiều
có thể thấy giun móc/mỏ ký sinh cả ở phần ñầu và phần giữa của ruột non Giun móc/mỏ ngoạm vào niêm mạc ruột ñể chiếm thức ăn [35], [45]
- Dinh dưỡng: Cả giun ñực và cái trưởng thành ñều sống ký sinh
Phương thức ăn của giun móc/mỏ: Wel, (1931), quan sát giun móc chó, thấy giun móc ngoạm vào niêm mạc hút máu và thải ra hậu môn giun sau 1 -
4 phút Theo báo cáo kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (1982) một giun
móc A.duodenale hút 0,16 - 0,34ml máu/1 ngày Một giun N.americanus hút
0,03 - 0,05ml máu/1 ngày , ( trích từ: [27], [50]), [51]
Giun móc/mỏ ăn máu, ăn hồng cầu, hemoglobin , ăn sắt trong hồng cầu
và cả sắt huyết thanh, acid folic, protein huyết thanh Giun móc/mỏ có nhu cầu sử dụng protein huyết thanh nhiều hơn hồng cầu Những chất dinh dưỡng giun móc/mỏ chiếm của vật chủ là những chất ñã ñồng hóa [45]
- Chu kỳ sinh học của giun móc/mỏ
Sau khi giao phối, giun cái ñẻ trứng ở ruột non, một giun A.duodenale ñẻ khoảng 20.000 trứng mỗi ngày và N.americanus ñẻ khoảng 10.000 trứng mỗi
ngày Số lượng trứng ñẻ hàng ngày của giun móc/mỏ thay ñổi khác nhau, tùy thuộc nhiều yếu tố như: tuổi nhiễm giun, tình trạng dinh dưỡng của vật chủ, ñáp ứng miễn dịch cục bộ tại ruột của vật chủ Trứng theo phân ra ngoại cảnh gặp ñiều kiện thuận lợi: ấm, ẩm ướt, có ñủ oxy, ñộ ẩm cao, pH trung tính và nhiệt ñộ thích hợp (25 OC - 35OC), sự phôi hóa và nở ấu trùng trong vòng 24
giờ Trứng của A.duodenale không thể nở ở nhiệt ñộ ≥ 450C, còn trứng của
N americanus không thể nở ở nhiệt ñộ ≥ 400C [2], [22], [27]
Ấu trùng không thể phát triển trong nước mặn, khi bị khô ấu trùng sẽ bị chết nhanh trong 24 giờ Cũng vì vậy việc lan truyền bệnh thường bị hạn chế trong mùa khô của năm [27]
Lúc ñầu ấu trùng có kích thước dài khoảng 0,2mm - 0,3mm, ñầu hơi tày, ñuôi nhỏ, thực quản có ụ phình Ấu trùng giai ñoạn I sống trong ñất, lớn
Trang 29nhanh, ăn các chất hữu cơ ở ñất Sau khoảng 3 ngày, lột vỏ thành ấu trùng giai ñoạn II, chiều dài ≥ 0,5 mm, thực quản phần trên hình trụ, phần dưới hình củ
Ấu trùng giai ñoạn II phát triển chừng 5 ngày, thực quản chuyển thành hình trụ mất ụ phình, lột vỏ lần thứ hai ñể chuyển thành ấu trùng giai ñoạn III (larva filariform), có chiều dài 0,5 - 0,7mm, có khả năng chui qua da vật chủ vào cơ thể Ấu trùng giai ñoạn III có hướng ñộng ñặc biệt ñể tìm vật chủ,
có thể sống tới 6 tuần ở ñất, ấu trùng giai ñoạn III không ăn uống gì, di chuyển bằng năng lượng dự trữ, ấu trùng ưa nơi ñất cát, nhiệt ñộ thích hợp 28
- 320C [2], [22], [27]
Sau khi chui qua da xâm nhập vào cơ thể vật chủ, ấu trùng theo ñường tĩnh mạch tới tim phải rồi tới phổi, ấu trùng chọc thủng mao mạch vào phế nang, theo khí quản lên họng, ñến thực quản, xuống dạ dày, ruột, phát triển thành giun trưởng thành, ký sinh ở tá tràng hoặc ruột non Từ ấu trùng giai ñoạn III phát triển thành giun trưởng thành phải qua hai lần lột vỏ thành ấu trùng giai ñoạn IV (cần 3 - 7 ngày), thành ấu trùng giai ñoạn V (cần khoảng
13 ngày), ấu trùng giai ñoạn V cần 3 - 4 tuần mới phát triển thành giun trưởng thành Cả chu kỳ giun móc/mỏ gồm hai giai ñoạn phát triển: Giai ñoạn phát triển ở ngoại cảnh và giai ñoạn ký sinh, ấu trùng qua 5 lần lột vỏ Thời gian hoàn thành chu kỳ cần 6 - 8 tuần lễ, có giai ñoạn ấu trùng chu du trong cơ thể như giun ñũa [2], [23],[27]
Gần ñây người ta ñã chứng minh: Trong chu kỳ sinh học của giun móc
(A.duodenale) lây nhiễm qua ñường da, ấu trùng có giai ñoạn ngủ (thời kỳ
nằm yên) ở tổ chức của vật chủ Giai ñoạn ngủ có thể kéo dài tới 8 tháng, ñây
là một tiến bộ trong lĩnh vực nghiên cứu sinh học giun móc, có tầm quan trọng trong dịch tễ học cũng như kiểm soát, ñiều trị bệnh giun móc Tới nay vẫn chưa hiểu biết hết những biến ñổi của ấu trùng giun móc trong giai ñoạn ngủ, ấu trùng giun móc ở giai ñoạn ngủ kháng lại hầu hết các loại thuốc, các hóa chất ñặc hiệu ñiều trị giun móc Sau thời gian ngủ ấu trùng lại tiếp tục phát triển ñể hoàn thành chu kỳ Hiện tượng ngủ của ấu trùng giun móc cũng
Trang 30có thể xảy ra ở cơ của các ñộng vật có vú khác, do vậy gợi ý có thể nhiễm giun móc do ăn thịt sống chưa nấu chín Người ta ñã chứng minh bằng thí nghiệm gây nhiễm ấu trùng giun móc vào ñộng vật mồi, rồi cho chó ăn ñộng vật mồi, ấu trùng giun móc tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành ở chó Qua nhiều nghiên cứu gây nhiễm thực nghiệm, người ta thấy không phải tất
cả các ấu trùng giun móc A.duodenale ñều có giai ñoạn ngủ Có những ấu trùng giun móc A.duodenale sau khi chu du trong cơ thể, ñến thẳng ruột, phát
triển thành giun móc trưởng thành Nhưng một số ấu trùng có giai ñoạn ngủ ở
tổ chức trước khi di chuyển tới phổi và ruột [2], [22],[27]
Tuổi thọ của giun N.americanus 10 - 15 năm, giun A.duodenale 4 - 5 năm
1.3.3.2 Chu kỳ sinh học của giun móc lây qua ñường tiêu hóa
Chu kỳ sinh học giun móc lây qua ñường tiêu hóa có nhiều ñiểm khác biệt quan trọng so với chu kỳ giun móc lây qua da, ấu trùng thực quản có hình
trụ A.duodenale có thể theo các thực phẩm tươi sống, rau quả nhiễm qua
ñường ăn uống Tuy nhiên trên thực tế ñiều tra ở Việt Nam và một số nước trên thế giới cho thấy: Hiện tượng nhiễm qua ñường tiêu hóa nếu có thì cũng không ñáng kể, vì tỷ lệ nhiễm giun móc ở trẻ em nói chung rất thấp, trong khi trẻ em nhiễm rất nhiều loài giun khác qua ñường tiêu hóa [27], [55], [56] Khi nhiễm qua ñường tiêu hoá, ấu trùng không có giai ñoạn chu du trong
cơ thể Ấu trùng xuống thẳng ruột non chui vào niêm mạc ruột, phát triển ở ñó rồi chui ra lòng ruột, phát triển thành giun trưởng thành [27], [55], [56]
Ngoài ra ấu trùng A.duodenale có thể truyền qua nhau thai gây nhiễm
cho bào thai ở tử cung Có khoảng 100 trường hợp trẻ em dưới 5 tuổi ở Trung Quốc bị bệnh giun móc ñược mô tả từ những năm 1960, kết quả xét nghiệm
ñều do A.duodenale [27],[43],[44]
Foster (1932) ñã gây nhiễm giun móc trên chó có thai và thấy chó con ñẻ
ra ñã có giun A.duodenale ngay Nhiều trẻ sơ sinh dưới 30 ngày tuổi ñã nhiễm
A.duodenale, trong khi ñó thời gian ủ bệnh ngắn nhất do A.duodenale là (42 -
52 ngày), do ñó những trẻ sơ sinh này chắc chắn phải nhiễm trước khi sinh ở
Trang 31tử cung Người ta cho rằng: A.duodenale trong các tổ chức có thể là nguồn lây
nhiễm truyền qua vú, gây nên bệnh giun móc ở trẻ sơ
Hình 1.5 Chu kỳ phát triển của giun móc/mỏ [2]
1.4 Những yếu ảnh hưởng tới tình trạng nhiễm giun sán truyền qua ñất
1.4.1 Yếu tố tự nhiên
Các ñiều kiện thích hợp ñể trứng và ấu trùng GTQĐ phát triển là phải có
ñủ oxy, ấm, ẩm ướt, ñộ ẩm cao, nhiệt ñộ từ 200C - 300C, râm mát, lượng mưa cần phải ñạt 100mm ñối với bất kỳ tháng nào, tức là 9 - 10 ngày mưa/1 tháng,
pH ñất trung tính, ñộ mùn của ñất cao và các ñiều kiện kinh tế - xã hội khác phải phù hợp Mật ñộ dân số cao ở những thành phố, thị trấn, ñồng bằng, tạo ñiều kiện thuận lợi lan truyền bệnh GTQĐ [2],[27],[55]
Nếu một nơi nào ñó, lượng mưa trung bình hằng năm ñủ cho trứng và ấu trùng GTQĐ phát triển, nhưng mưa chỉ tập trung theo mùa và chỉ kéo dài vài tháng thì sự lây nhiễm ở ñó rất nhẹ Nhiễm GTQĐ nặng có thể xảy ra ở vùng khô cằn, nếu như việc tưới nước cho cây trồng ở ñó ñủ tạo ra ñộ ẩm thích hợp
Trang 32(Bắc Phi, Đông Địa Trung Hải, Tây Bắc Ấn ñộ) Sự nhiễm giun móc/mỏ cũng
có thể xảy ra ở những vùng hầm mỏ, ñường hầm [27], [55],[56]
1.4.2 Yếu tố xã hội
Kinh tế nước ta chủ yếu là nền nông nghiệp, có tập quán dùng phân tươi
ñể bón ruộng và hoa màu không qua giai ñoạn xử lý Mặt khác không sử dụng bảo hộ lao ñộng, thói quen ñi chân ñất, ăn rau sống, uống nước chưa ñun sôi, thói quen phóng uế bừa bãi, không rửa tay trước khi ăn và sau khi ñi vệ sinh, việc sử dụng hố xí không hợp vệ sinh…tạo ñiệu kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triễn và lan truyền của bệnh GTQĐ
1.5 Tình hình nhiễm giun truyền qua ñất trên thế giới và trong nước
1.5.1 Tình hình nhiễm giun trên thế giới
Giun Trên thế giới, theo tổ chức CDC (The Centers for Disease Control and Prevention) 2005, ước tính tỷ lệ nhiễm GTQĐ: ở Trung Quốc 86 triệu người, Đông Nam châu Á-Thái bình dương 204 triệu người, Cận Sahara Châu Phi 173 triệu, Châu Mỹ La tinh và vùng Caribe 84 triệu người và vùng Trung Đông và Bắc Phi là 23 triệu người
Hình 1.6 Bản ñồ phân bố và tỷ lệ nhiễm giun
Trang 33Theo thống kê của chuyên gia Tổ chức Y Tế Thế Giới Dr.Carlo Urabani (1998) Năm 1987, trên thế giới có 900 - 1000 triệu người nhiễm giun ñũa, 500
- 700 triệu người nhiễm giun móc Năm 1997, trên thế giới ước tính có khoảng hơn 1 tỷ người nhiễm giun ñũa, 800 - 900 triệu người nhiễm giun móc Số liệu trên phân theo khu vực cho thấy: 685 triệu người Đông Nam Á, 132 triệu người
ở Châu Phi, 104 triệu người ở Trung Nam Mỹ Năm 1998 của Tổ chức Y tế Thế giới ñánh giá rằng trên toàn cầu có: 1,4 tỷ người nhiễm giun ñũa; 1,3 tỷ người nhiễm giun móc Ngày nay, các nước ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ tỷ
lệ nhiễm GTQĐ vẫn còn cao: giun Đũa 96%, giun tóc 98% và giun móc 41% (Stephenson LS; Latham MC; Adams EJ; Kinoti SN; Pertet A, 1993)
Trên thế giới có khoảng 900 triệu người mắc bệnh giun móc và khoảng 60.000 người chết hàng năm Bệnh giun móc khu trú ở các vùng nhiệt ñới và cận nhiệt ñới, Châu Á, Nam và Trung Mỹ, Phi châu Các nước có tỷ lệ nhiễm cao như Ấn Độ, Philippines, Úc, Trung Quốc, Thái Lan, lào, Campuchia và Việt Nam Ở Việt Nam tỷ lệ nhiễm giun móc khác nhau và phân vùng theo ñiều kiện thổ nhưỡng, miền cao hay miền sông nước, nghề nghiệp Tỷ lệ nhiễm ở phía Bắc khoảng 30-40%, phía Nam khoảng 10-20%
1.5.2 Tình hình nhiễm giun ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, có khí hậu nhiệt ñới nóng
ẩm, mặt khác có nền kinh tế chưa phát triển, có nhiều phong tục, tập quán lạc
Hình 1.7 Phân bố tỷ lệ nhiễm giun ở Việt Nam [44]
Trang 34hậu…Tất cả những yếu tố ñó tạo ñiều kiện cho bệnh GTQĐ tồn tại và phát triển Theo kết quả nghiên cứu 500.000 người trên toàn quốc của Hoàng Thị
Kim (1998)cho thấy: Nhiễm giun Đũa (Ascaris lumbricoides): Vùng ñồng
bằng phía Bắc 80-95%; vùng ñồng bằng miền Trung 70,5%; vùng Tây Nguyên 10-25%; vùng ñồng bằng miền Nam 45-60% Tuy tỷ lệ nhiễm rất cao, nhưng cường ñộ nhiễm không cao, số trứng trung bình / 1 g phân < 10.000 trứng (khoảng 5-10 con giun/ người) Lứa tuổi nhiễm cao nhất là trẻ
em và tuổi học ñường Tỷ lệ nhiễm giun ñũa có sự biến ñộng lớn về khu vục, khuynh hướng gia tăng ở miền núi và miền Nam do sự di dân từ miền xuôi ñến các vùng kinh tế mới mang theo cả tập quán dùng phân tươi ñể bón hoa màu…
Nhiễm giun móc: Ở Việt Nam chủ yếu là loài Necator americanus (95%), còn loài Ancylostoma duodenale (5%) Tỷ lệ nhiễm này ñứng hàng thứ hai sau
giun ñũa (trên phạm vi cả nước): Vùng ñồng bằng phía Bắc nhiễm từ 3-60 %; vùng ñồng bằng miền Trung 66-69 %; vùng Tây Nguyên 47 % và vùng ñồng bằng miền Nam 52-68 % Nhiễm giun móc chủ yếu tập trung ở những người trồng hoa màu, trồng cây ăn trái, vườn cà phê, công nhân cạo mủ cao su, công nhân nông trường mía Các tỉnh thuộc vùng ñồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ nhiễm thấp Các tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ tỷ lệ nhiễm cao, có nơi ñến 50% người ñược ñiều tra phát hiện có mang giun móc/mỏ trong người
Nguyên nhân gây ra tỷ lệ nhiễm khác nhau là do tính chất thổ nhưỡng và ñiều kiện canh tác, tuổi, giới và nghề nghiệp của từng vùng Cường ñộ nhiễm chung không cao, ña số là ở mức ñộ trung bình (khoảng <1000 trứng / 1g phân và khoảng dưới 25 con giun/ người) [9], Nhiễm giun tóc (Trichuris
trichiura): Phân bố không ñều, có sự chênh lệch rất rõ giữa các vùng: Vùng
ñồng bằng phía Bắc 58-89 %; vùng ñồng bằng miền Trung 27-47 %; vùng Tây Nguyên 1,7 % và vùng ñồng bằng miền Nam 0,5-1,2 % Sự khác nhau trên có thể là: Nhân dân ở niềm Nam không có tập quán dùng phân tươi ñể
Trang 35bón cây trồng, mặt khác ở miền Nam cường ñộ nắng và số giờ nắng trung bình cao hơn ở miền Bắc, trứng giun ở trong ñất có thể dễ bị phá huỷ hơn Theo Nguyễn Võ Hinh và cộng sự (2005), nghiên cứu tình hình nhiễm giun tại 3 xã vùng xa của huyện A Lưới tỉnh Thừa thiên Huế cho thấy tình hình nhiễm giun rất nặng: Đặc biệt là dân tộc thiểu số người Pa Kô (nhiễm chung 90,65%, giun ñũa 84,17%; giun tóc 25,90 và giun móc 55,40% )
Trứng giun tóc có sức ñề kháng ở ngoại cảnh khá cao Trứng ñã có ấu trùng vẫn có thể tồn tại ñến 5 năm Miền Bắc: tỷ lệ nhiễm rất cao, chỉ ñứng sau bệnh giun ñũa, tỷ lệ nhiễm ở vùng ñồng bằng khoảng 58-89%, trung du là 38-41%, vùng núi 29-52% và ven biển là 28-75% Miền Trung: tỷ lệ nhiễm có phần thấp hơn, vùng ñồng bằng là 27-47%, vùng núi: 4-10%, ven biển: 12.7%
và Tây Nguyên là 1.7% Miền Nam: tỷ lệ nhiễm thấp nhất so với cả nước, vùng ñồng bằng có tỷ lệ nhiễm chỉ 0.5-1.5% (nguyên do có thể miền Nam, người dân không có tập quán dùng phân tươi ñể bón, mặt khác số giờ nắng, cường ñộ nắng và nhiệt ñộ cao hơn miền Bắc, nên trứng giun vì thế khó tồn tại và không sống ñược) Nhiễm giun ñũa thường ñồng nhiễm với giun tóc, liên quan giữa nhiễm giun tóc với ñộ tuổi và giới tương tự như giun ñũa; cường ñộ nhiễm giun tóc ở mức ñộ nhẹ ở ña số các vùng ñiều tra,số trứng trung bình trên 1 gam phân < 1.000 trứng; tỷ lệ tái nhiễm sau ñiều trị 6 tháng bằng Albendazole liều 400 mg x 3 ngày là 51% và cường ñộ tái nhiễm thấp
1.5.3 Tình hình nhiễm giun ở Tây nguyên
Khu vực Tây Nguyên có khí hậu và ñiều kiện môi trường rất thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng phát triển, ñặc biệt là các bệnh giun sán Trong những năm qua, khoa Ký sinh trùng – Viện sốt rét KST - CT Quy Nhơn ñã ñiều tra cơ bản ở 14 tỉnh: Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Gia Lai, Kon Tum, ĐắkLắk Kết quả ñiều tra xét nghiệm 35.651 mẫu phân ở người thuộc 14 tỉnh cho thấy: tỷ lệ nhiễm giun ñũa là 30, 28%, giun tóc 4,83%, giun móc 35,12% Khu vực miền Trung-Tây Nguyên, tập
Trang 36quán sử dụng phân tươi rất ít, nhưng thói quen phóng uế ra các bãi cát, bãi biển, cánh rừng… lại phổ biến,[41],[48]
Thời tiết của khu vực miền Trung-Tây Nguyên có mưa và nắng kéo dài
ít nhiều ñã làm hỏng trứng giun móc/mỏ không phát triển thành ấu trùng nên khả năng lây nhiễm hạn chế Điều tra của khoa Ký sinh trùng, Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn ñầu năm 2008 tại một số ñiểm thuộc 4 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và ĐắkLắk qua 1623 người xét nghiệm, phát hiện 339
ca nhiễm giun móc/mỏ, chiếm tỷ lệ chung là 20,88%; trong ñó cao nhất tại ñiểm Eakênh (ĐắkLắk) 27,31%, có lẽ do ấu trùng giun móc/mỏ phát triển thuận lợi ở vùng cà phê ñất xốp, ẩm thấp cộng với người dân ñi chân ñất chăm bón cây cà phê, cao su sẽ tạo thuận lợi cho ấu trùng tiếp cận qua da Về cường ñộ nhiễm giun móc/mỏ chung qua số trứng trung bình/1 gam phân là 186,33, trong ñó cường ñộ nhiễm cao cũng ở Eakênh (ĐắkLắk) 243,22 và Yang Bắc (Gia Lai) 214,23 Kết quả này so với tiêu chuẩn phân loại cường ñộ nhiễm các bệnh GTQĐ của Tổ chức Y tế thế giới thì cường ñộ nhiễm giun móc/mỏ ở các ñiểm nghiên cứu này ở mức ñộ nhẹ
Tây Nguyên có tỷ lệ nhiễm giun truyền qua ñất khá cao, nhiễm giun móc/mỏ cao nhất kế ñến giun ñũa, giun tóc tỷ lệ nhiễm thấp nhất khác hẳn với các vùng khu vực phía Bắc: Nhiễm cao nhất là giun ñũa ñến giun tóc giun móc/mỏ thấp nhất [12],[34],[49]
Nguyễn Xuân Thao và cộng sự (2006) nghiên cứu nhiễm giun TQĐ
ở hai xã tỉnh Đắk Lắk thấy tỷ lệ nhiễm giun TQĐ là 72,51%, trong ñó người Kinh nhiễm giun ñũa 4,48% giun móc/mỏ 66,50%, giun tóc thấp 0,75%; người ÊĐê nhiễm giun ñũa 33,51% giun móc/mỏ 64,49%, giun tóc thấp 0,51% [38]
Phan Văn Trọng (2000) ñiều tra trên người dân ở các vùng canh tác khác nhau cho thấy: tỷ lệ nhiễm giun TQĐ 51,82-71,87% trong ñó giun ñũa 25,13%; giun tóc 3,77%; giun móc/mỏ 61,84% [47] Một nhiên cứu khác của cùng tác giả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ 44,5%-85,3% tùy vùng ñất