1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhồi máu mạc nối lớn nguyên phát

6 66 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 372,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn, nêu kết quả bước đầu trong chẩn đoán và xử trí nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn vẫn còn là thách thức vì những dấu hiệu và triệu chứng không đặc hiệu và được xem như là một trong những chẩn đoán phân biệt của bệnh nhân đau hố chậu phải.

Trang 1

Nguyễn Thanh Phong* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn là nguyên nhân ít gặp ở bệnh nhân đau bụng cấp. 

Cho đến nay vẫn chưa tìm thấy nguyên nhân, bệnh có biểu hiện lâm sàng giống như viêm ruột thừa cấp và  thường chỉ xác định được khi mổ.  

Mục tiêu nghiên cứu: Nhằm nêu kết quả bước đầu trong chẩn đoán và xử trí nhồi máu nguyên phát một 

phần mạc nối lớn. 

Đối  tượng‐  Phương  pháp: Hồi cứu các trường hợp nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn được 

điều trị tại khoa cấp cứu bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/2010 đến tháng 8/2013. 

Kết quả: Có 16 bệnh nhân bao gồm 10 nữ và 6 nam, tuổi trung bình 45 (thay đổi từ 22 đến 70 tuổi). Biểu 

hiện lâm sàng gồm: đau hố chậu phải 8 (50%) trường hợp, hạ sườn phải 4 (25%) trường hợp, nửa bụng phải 3  (18,8%) trường hợp, quanh rốn 1 (6,2%) trường hợp, phản ứng thành bụng 14 (87,5%) trường hợp. Về cận lâm  sàng, 68,8% trường hợp có bạch cầu tăng trên 10000/mm 3  Siêu âm bụng kết luận được ở 4 (25%) trường hợp,  trong khi CT scan bụng được thực hiện ở 7 trường hợp nhưng chỉ cho chẩn đoán chính xác được 42,8%. Có 14  (87,5%) trường hợp được mổ nội soi, 2 (12,5%) trường hợp mổ mở. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 4,6  ngày. Có 1 (6,2%) trường hợp có biến chứng viêm hô hấp hậu phẫu ở bệnh nhân nữ 70 tuổi, không có tử vong. 

Kết luận: Nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn vẫn còn là thách thức vì những dấu hiệu và triệu 

chứng không đặc hiệu và được xem như là một trong những chẩn đoán phân biệt của bệnh nhân đau hố chậu  phải. Vì thế, kiểm tra mạc nối lớn nên là động tác thường qui trong lúc mổ khi mà những nguyên nhân thường  gặp của đau bụng cấp không tìm thấy. 

Từ khóa: nhồi máu mạc nối lớn, nguyên phát, đau hố chậu phải 

ABSTRACT 

INITIAL RESULTS IN TREATMENT PRIMARY SEGMENTAL INFARCTION 

 OF GREATER OMENTUM 

Nguyen Thanh Phong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 369 ‐ 374 

Background:  Primary right segmental infarction of the greater omentum is an uncommon cause of acute 

abdominal pain. The aetiology has been still unclear, the symptoms mimick acute appendicitis and can usually  only be established during surgery. 

The  aim  of  the  study:  We  report  our  initial  results  in  diagnosis  and  treatment  primary  segmental 

infarction of the greater omentum. 

Methods: Having retrospectively studied of primary segmental infarction of the greater omentum treated at 

Binh Dan hospital from January 2010 to August 2013. 

Results: There were 16 patients including 10 females and 6 males with the mean age of 45 years (range 22 

to 70 years). Clinical manifestations were included: right lower quadrant pain 8 (50%), right upper quadrant  pain 4 (25%), right abdominal pain 3 (18.8%) and periumbilicus 1 (6.2%), abdominal tenderness 14 (87.5%). In  paraclinical datas, WBC above 10000/mm 3  was noticed in 68.8% of cases. Abdominal ultrasound was conclusive 

* Đại học Y Dược TPHCM 

Trang 2

(87.5%)  patients  were  suffered  from  laparoscopic  surgery  and  2  (12.5%)  open  surgery.  There  was  1  (6.2%) 

postoperative pneumonitis in 70 year‐old female and have been no death.  

Conclusion:  primary  segmental  infarction  of  the  greater  omentum  is  still  a  challenge  because  of  its 

nonspecific symptoms and signs, and should be included in the differential diagnosis of any patient with right 

lower quadrant pain. Therefore, inspection of the omentum should be a routine part of exploration when a more 

common cause of acute abdominal pain is not readily apparent at operation. 

Key words: infarction of the greater omentum, right lower quarand pain. 

ĐẶT VẤN ĐỀ  

Nhồi máu mạc nối lớn là nguyên nhân hiếm 

gặp  của  đau  bụng  cấp  được  mô  tả  lần  đầu  bởi 

Bush(2), kể từ đó đã có 160 trường hợp được báo 

cáo trong y văn(11). Vào 1972, Schnur(9) chẩn đoán 

phân  biệt  giữa  nhồi  máu  vô  căn  nguyên  phát 

của mạc nối lớn với loại thứ phát là xoắn, viêm 

tắc  hay  thuyên  tắc  mạch.  Cho  đến  nay  nguyên 

nhân và sinh bệnh học của loại nguyên phát còn 

chưa được xác định chính xác. 

Mục tiêu nghiên Cứu 

Nhằm  nêu  kinh  nghiệm  bước  đầu  trong 

chẩn đoán và xử trí nhồi máu nguyên phát một 

phần mạc nối lớn. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Nghiên cứu hồi cứu 16 trường hợp nhồi máu 

nguyên phát một phần mạc nối lớn được  phẫu 

thuật  tại  khoa  cấp  cứu  bệnh  viện  Bình  Dân  từ 

tháng 1/2010 đến 8/2013. 

Các dữ kiện thu thập bao gồm: tuổi, giới, chỉ 

số  khối  cơ  thể  (BMI),  thời  gian  đau  bụng,  thời 

gian kể  từ  khi  khởi  phát  đau  bụng  đến  lúc  can 

thiệp  phẫu  thuật,  công  thức  bạch  cầu,  Hb,  siêu 

âm  bụng,  CTscan  bụng,  chẩn  đoán  trước  sau 

mổ, xử trí, tai biến biến chứng. 

Chỉ số BMI từ 18‐25 là bình thường, trên 25 

là quá cân, trên 30 là béo phì. 

Các số liệu được phân tích thống kê dựa vào 

phần mềm SPSS 16.  

Phương pháp nghiên cứu 

Hồi cứu mô tả hàng loạt ca. 

KẾT QUẢ  

Có  10  nữ  và  6  nam,  trung  bình  là  45  tuổi  (22‐70),  tất  cả  mạc  nối  lớn  cắt  đi  sau  mổ  đều  được gửi giải phẫu bệnh.  

Chỉ số khối cơ thể (BMI) 

BMI trung bình: 23, BMI thấp nhất: 20, BMI  cao nhất: 33. 

Đa  số  bệnh  nhân  là  thừa  cân  và  béo  phì  (87,5%) trường hợp. 

Triệu chứng lâm sàng 

Bảng 1. Thời gian đau bụng 

2-7 ngày 14 87,5

>7 ngày 1 6,2

Thời  gian  đau  bụng  trung  bình  là  4,1  ngày,  ngắn nhất là 1 ngày lâu nhất là 14 ngày. 

Đa số bệnh nhân nhập viện vì đau bụng cấp 

15 (93,8%) trường hợp. 

Bảng 2. Vị trí đau  

Hố chậu phải 8 50

Hạ sườn phải 4 25 Nửa bụng phải 3 18,8 Quanh rốn 1 6,2

Đau vùng bụng phải chiếm đa số 93,8%. 

Bảng 3. Đặc điểm lâm sàng 

Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Đau bụng 14 87,5

Phản ứng thành bụng 14 87,5

Bảng 4. Đặc điểm cận lâm sàng 

Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Bạch cầu >10000mm3 11 68,8

Bảng 5. Kết quả siêu âm bụng 

Trang 3

Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Sưng  nề  mạc  nối  hố  chậu 

phải 

Thâm  nhiễm  mô  mạc  treo 

đại tràng P 

Chúng tôi thực hiện chụp cắt  lớp  điện  toán 

(computed  tomography)  ở  7  bệnh  nhân.  Trong 

đó,  chẩn  đoán  đúng  nguyên  nhân  ở  3  (42,8%) 

trường hợp, 2 (28,6%) trường hợp viêm bờm mỡ, 

1 (14,3%) trường hợp cho chẩn đoán bướu manh 

tràng  và  1  (14,3%)  trường  hợp  được  trả  lời  kết 

quả bình thường. 

Bảng 6. Chẩn đoán trước mổ 

Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Viêm ruột thừa 9 56,2

Viêm túi mật 2 12,5

Bướu manh tràng 1 6,2

Nhồi máu mạc nối lớn 4 25

Bảng 7. Vị trí mạc nối lớn bị nhồi máu 

Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Hố chậu phải 8 50

Hạ sườn phải 7 43,8

Bên phải 1 6,2

Tất cả mạc nối lớn bị nhồi máu đều ở bên phải. 

Bảng 8. Phương pháp mổ 

Số bệnh nhân Tỉ lệ %

PTNS cắt mạc nối lớn 5 31,2

Mổ mở cắt mạc nối lớn 2 12,5

PTNS cắt mạc nối lớn+

cắt ruột thừa

7 43,8 PTNS cắt mạc nối lớn+

cắt túi mật

2 12,5

Bảng 9. Kết quả giải phẫu bệnh 

Thời  gian  nằm  viện  sau  mổ  trung  bình  4,6  ngày ngắn nhất là 1 ngày lâu nhất là 18 ngày.  Tai biến‐ biến chứng: 1 (6,2%) trường hợp có  biến chứng viêm hô hấp hậu phẫu ở bệnh nhân 

nữ 70 tuổi điều trị nội ổn định xuất viện, không 

có tử vong. 

BÀN LUẬN   Dịch tễ học 

Nhồi máu 1 phần mạc nối lớn đã được mô tả  cách  nay  hơn  trăm  năm.  Theo  Grattan(5)  nhồi  máu mạc nối lớn là nguyên nhân hiếm gặp đau  bụng  cấp  của  trẻ  em,  hơn  85%  những  trường  hợp  được  báo  cáo  trong  y  văn  xảy  ra  ở  người  trưởng  thành(4).  Phần  lớn  bệnh  nhân  đau  hố  chậu  phải  (90%),  nam  nhiều  hơn  nữ  (tỷ  lệ  2:1),  thường xảy ra ở những người 40‐50 tuổi. 

Trong nghiên cứu này tuổi trung bình là 45  gần giống với các nghiên cứu khác. Tỉ lệ nam/nữ 

= 3:5. Đau vùng bụng phải chiếm đa số (93,8%). 

Cơ chế 

Nhồi  máu  1  phần  mạc  nối  lớn  là  nguyên  nhân hiếm gặp của đau bụng cấp vùng hố chậu  phải.  Cho  đến  nay  vẫn  không  xác  định  được  nguyên  nhân  và  tại  sao  bên  phải  mạc  nối  lớn  thường bị hơn.  

Nhiều tác giả cho rằng chính sự bất thường  bẩm sinh mạch máu cung cấp cho phần mạc nối  lớn  dưới  bên  phải  nên  dễ  gây  nhồi  máu(4),  nghiên  cứu  khác  cho  rằng  do  sự  khác  biệt  về  nguồn  gốc  phôi  thai  nên  mạch  máu  vùng  bờ  phải mạc nối lớn nhỏ và mong manh hơn nên dễ 

bị kéo dài và tắc nghẽn hơn(11).  Scobie(10)  cũng  cho  rằng  thiếu  máu  động  mạch  tạng  cũng  là  1  yếu  tố  chính,  bệnh  nhân  trong nghiên cứu của ông bị nhồi máu mạc nối  lớn khi chạy marathon, nhiều mạch máu ở vùng 

bờ  phải  mạc  nối  lớn  ở  người  béo  phì,  chấn  thương bụng kín, ăn quá nhiều, tình trạng tăng  đông  máu,  ho  hay  thay  đổi  tư  thế  đột  ngột  là  những  yếu  tố  thuận  lợi(7).  Ngoài  ra  do  ứ  huyết  tĩnh  mạch  sau  bữa  ăn  thịnh  soạn  hay  sự  kéo  căng tĩnh mạch  mạc  nối  do  mạc  nối  lớn  quá  to 

Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Nhồi máu 9 56,2

Viêm bán cấp 3 18,8

Viêm cấp hoại tử 2 12,5

Viêm cấp /xơ hoá 1 6,2

Viêm hoại tử 1 6,2

Trang 4

Những giả thuyết này phần nào giải thích 

lí do tại sao bệnh này thường xảy ra ở bờ phải 

của  mạc  nối  lớn  (100%  trong  nghiên  cứu  của 

chúng tôi). 

Nhồi máu 1 phần mạc nối lớn chiếm 0,1% 

những  trường  hợp  phẫu  thuật  bụng  vì  đau 

bụng  cấp(7),  nhiều  yếu  tố  thuận  lợi  bao  gồm: 

chấn  thương,  tập  thể  thao  quá  mức  hay  dùng 

thuốc  nhuận  trường,  phẫu  thuật  bụng  gần 

đây,  sung  huyết  mạch  máu  sau  bữa  ăn,  tăng 

áp  lực  ổ  bụng  đột  ngột,  và  tình  trạng  tăng 

đông(3), đặc biệt là tình trạng béo  phì,  béo  phì 

làm  tăng  quá  mức  lượng  mỡ  trong  mạc  nối 

lớn, tăng lắng đọng mỡ trong mạch máu cung 

cấp  cho  mạc  nối  quá  dày.  Đa  số  bệnh  nhân 

trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  yếu  tố 

thuận lợi là thừa cân và béo phì (87,5%). 

Tần suất 

Nhồi  máu  mạc  nối  lớn  đôi  khi  là  vô  căn 

nhưng  thường  kết  hợp  với  xoắn  mạc  nối  là 

nguyên  nhân  hiếm  gặp  của  đau  bụng  cấp  tại 

bệnh viện, có khoảng 0,1% bệnh nhân được mổ 

với chẩn đoán là viêm ruột thừa cấp nhưng khi 

mổ  phát  hiện  nhồi  máu  mạc  nối  lớn  do  xoắn. 

Chúng  tôi  có  9(56,2%)  trường  hợp  chẩn  đoán 

trước mổ là  viêm  ruột  thừa  cấp  khi  mổ  là  nhồi 

máu mạc nối lớn cho thấy bệnh có biểu hiện lâm 

sàng  giống  như  viêm  ruột  thừa  cấp  và  thường 

chỉ xác định được khi mổ. 

Chẩn đoán 

Biểu hiện lâm sàng nhồi máu 1 phần mạc nối 

lớn thì không đặc hiệu, bệnh nhân có tổng trạng 

tốt,  biểu  hiện  đau  bụng  cấp  hay  bán  cấp,  triệu 

chứng  đường  tiêu  hoá  như  buồn  nôn,  nôn  ói, 

chán  ăn,  tiêu  chảy  thì  ít  gặp.  Thân  nhiệt  bình 

thường hay tăng nhẹ.  

Trong nghiên cứu này đa số bệnh nhân nhập 

viện  vì  đau  bụng  cấp  15  (93,8%)  trường  hợp, 

thời gian đau bụng trong vòng 7 ngày, chỉ có 1 

(6,2%) trường hợp đau bụng kéo dài hơn 7 ngày. 

Khám  thực  thể  thì  không  đặc  hiệu  nhưng 

thường  có  phản  ứng  thành  bụng  ở  nửa  bụng 

phải  chủ  yếu  là  hố  chậu  phải,  thân  nhiệt  bình  thường hay tăng nhẹ, trong đa số trường hợp có  tăng  số  lượng  bạch  cầu.  Phản  ứng  thành  bụng  khu  trú  nửa  bụng  phải,  công  thức  bạch  cầu  và  CRP  có  thể  tăng.  Điều  này  cũng  phù  hợp  với  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  hầu  hết  bệnh  nhân  khi khám đều có dấu hiệu phản ứng thành bụng  (87,5%), chỉ có 25% bệnh nhân có sốt và bạch cầu  tăng trong 68,8% trường hợp.  

Vì vậy nhồi máu 1 phần mạc nối lớn thì khó  phân biệt về lâm sàng với các bệnh bụng ngoại  khoa thường gặp như: viêm ruột thừa, viêm túi  mật, viêm túi thừa, viêm manh tràng. 

Các chẩn đoán hình ảnh là quan trọng trong  chẩn  đoán  và  thiết  lập  kế  hoạch  điều  trị  thích  hợp  nhất  cho  bệnh  nhân,  siêu  âm  hay  CTscan  bụng là phương tiện chẩn đoán tin cậy(8). 

Theo  Puylaert(8)  siêu  âm  giúp  loại  trừ  viêm  túi mật và trên siêu âm có hình ảnh sang thương  đặc hình ovan hay hình bánh tăng âm đáng kể, 

ấn không xẹp tương ứng với điểm đau nhiều khi  khám  nằm  quanh  rốn  hay  trước  bên  đại  tràng  phải. Siêu âm doppler cho thấy hình ảnh mạch  máu  trong  khối  này  và  tăng  mạch  máu  xung  quanh.Trong nghiên cứu của chúng tôi siêu âm  chỉ  phát  hiện  được  1  (6,2%)  trường  hợp  nhồi  máu  mạc  treo  và  3(18,8%)  trường  hợp  có  hình  ảnh  gợi  ý  thương  tổn  của  mạc  nối  lớn.  Vì  vậy,  siêu âm bụng mặc dù theo y văn không đuợc coi 

là phương tiện chẩn đoán nhồi máu mạc nối lớn  nhưng chúng tôi vẫn xem đó là 1 phương tiện có  thể  áp  dụng  tại  các  bệnh  viện  vì  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  siêu  âm  giúp  chẩn  đoán  tới  25% trường hợp. 

CTscan  bụng  có  vai  trò  quan  trọng  trong  chẩn  đoán  nhồi  máu  mạc  nối  lớn,  giúp  chẩn  đoán phân biệt với viêm ruột thừa, viêm túi mật,  viêm  túi  thừa  manh  tràng.  Trên  CTscan  bụng,  sang thương có giới hạn rõ với hình ảnh mô mỡ  lan  giữa  các  vệt  tăng  mật  độ.  Sang  thương  thường ở vị trí trước bên thành bụng phải, giữa  thành bụng và đại tràng phải ở ngang hay trên  rốn.  Chẩn  đoán  phân  biệt  với  viêm  ruột  thừa  cấp, viêm túi thừa hay bệnh Crohn mà hầu như 

Trang 5

trú thành ruột. Trong nghiên cứu của chúng tôi 

có  7  trường  hợp  được  thực  hiện  CTscan  bụng, 

chẩn  đoán  đúng  nguyên  nhân  ở  3  (42,8%) 

trường hợp, 2 (28,6%) trường hợp viêm bờm mỡ, 

1 (14,3%) trường hợp cho chẩn đoán bướu manh 

tràng  và  1  (14,3%)  trường  hợp  được  trả  lời  kết 

quả bình thường. 

Để chẩn đoán xác định nhiều tác giả đề nghị 

nội soi ổ bụng chẩn đoán và kết hợp điều trị. 

Về  mặt  mô  học  nhồi  máu  mạc  nối  lớn  có 

nhiều  hình  ảnh  khác  nhau  tuỳ  theo  thời  gian, 

đầu tiên là sung huyết với hoại tử mỡ, kế đến là 

thâm  nhiễm  lympho  và  mô  bào  cuối  cùng  là 

nguyên  bào  sợi  dẫn  tới  xơ  hoá  và  tạo  sẹo. 

Nghiên cứu của chúng tôi đa số là viêm cấp, chỉ 

có 1 trường hợp là viêm cấp ‐ xơ hoá trên bệnh 

nhân đau bụng kéo dài trên 7 ngày. 

Điều trị 

Nhồi máu 1 phần mạc nối lớn có thể điều trị 

bảo tồn hay phẫu thuật và vẫn còn nhiều tranh 

cãi  về  cách  điều  trị  đúng,  nhiều  tác  giả  ủng  hộ 

phẫu  thuật  vì  sẽ  giúp  làm  giảm  thời  gian  nằm 

viện và cải thiện triệu chứng đau của bệnh nhân 

nhanh hơn, hơn nữa phẫu thuật cũng có ít nguy 

cơ  có  biến  chứng  như  áp  xe,  dính  hay  nhiễm 

trùng.  Tỉ  lệ  biến  chứng  trong  nghiên  cứu  của 

chúng tôi là 6,2%, không có tử  vong.  Thời  gian 

nằm viện sau mổ trung bình 4,6 ngày. 

Phẫu  thuật  thám  sát  bụng  trong  những 

trường hợp chẩn đoán hình ảnh không rõ ràng, 

hay tình trạng lâm sàng của bệnh nhân xấu hơn.  

Nếu  có  chỉ  định  phẫu  thuật  thì  nên  phẫu 

thuật nội soi vì sẽ giúp chẩn đoán và cả điều trị 

và có tỉ lệ biến chứng thấp(4).  

Khi  chẩn  đoán  trước  mổ  không  rõ  ở  bệnh 

nhân đau hố chậu phải thì nội soi ổ bụng thám 

sát  là  phương  pháp  thích  hợp  và  tiện  lợi  trong 

việc quan sát toàn bộ ổ bụng giúp chẩn đoán xác 

định và điều trị. Phẫu thuật nội soi cắt bỏ mảng 

mạc  nối  bị  nhồi  máu  thì  ít  biến  chứng  và  rút 

ngắn thời gian hồi phục của bệnh nhân. 

Nếu không phát hiện bất cứ tạng nào trong ổ 

bụng bị thương tổn mà lại có thanh dịch trong ổ  bụng  thì  nên  kiểm  tra  mạc  nối  lớn  có  bị  nhồi  máu không. 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  thì  tất  cả  những  trường hợp nhồi máu mạc nối lớn đều can thiệp  phẫu thuật. Có 14 (87,5%) trường hợp được mổ  nội  soi,  2  (12,5%)  trường  hợp  mổ  mở.  Tất  cả  mảng mạc nối lớn bị nhồi máu đều được cắt bỏ, 

có  7  (43,8%)  trường  hợp  cắt  ruột  thừa  và  2  (12,5%) trường hợp cắt túi mật kèm theo. 

Một số nghiên cứu khác cho rằng không nên  phẫu thuật không cần thiết vì đây là bệnh tự giới  hạn và hết triệu chứng sau 2 tuần. Mặt khác khi  trên  CTscan  chẩn  đoán  xác  định  là  nhồi  máu  mạc  nối  lớn  thì  có  thể  điều  trị  bảo  tồn  tránh  được cuộc mổ là nguyên nhân tiềm ẩn dính ruột  sau mổ về sau(8). Chúng tôi có 4 trường hợp nhồi  máu  mạc  nối  lớn  được  chẩn  đoán  trước  mổ  và  được  mổ  vì  bệnh  nhân  đau  nhiều.  Không  có  trường hợp nào điều trị bảo tồn. Chúng tôi cũng  đồng  ý  với  quan  điểm  của  Lardies(7)  và  Tolenaar(11)  là  chỉ  định  phẫu  thuật  khi:  đau  dữ  dội, kháng trị và triệu chứng lâm sàng xấu hơn.   Tai  biến‐  biến  chứng:  phẫu  thuật  cắt  bỏ  mảng  mạc  nối  lớn  bị  nhồi  máu  qua  nội  soi  ổ  bụng hay mổ mở thì an toàn và hiệu quả có tỉ lệ  biến  chứng  thấp.  Với  sự  áp  dụng  ngày  càng  nhiều phẫu thuật ít xâm hại, ngày càng có nhiều 

ca  được  chẩn  đoán  và  điều  trị.  Chúng  tôi  có  1  (6,2%)  trường  hợp  có  biến  chứng  viêm  hô  hấp  hậu phẫu ở bệnh nhân nữ 70 tuổi điều trị nội ổn  định xuất viện, không có tử vong. 

Phẫu thuật cắt bỏ mạc nối lớn hoại tử là điều  trị  thường  dùng  khi  không  chẩn  đoán  được  trước  mổ.  Cho  đến  nay  vẫn  chưa  có  phác  đồ  chuẩn điều trị nhồi máu 1 phần mạc nối lớn vì  vậy phần lớn trường hợp nhồi máu 1 phần mạc  nối  lớn  đều  được  phẫu  thuật  nhưng  chúng  tôi  tin rằng điều trị bảo tồn sẽ ngày càng chiếm ưu  thế  nhờ  vào  các  phương  tiện  chẩn  đoán  hình  ảnh  hiện  đại  giúp  loại  trừ  bệnh  lý  bụng  ngoại  khoa khác. 

KẾT LUẬN  

Trang 6

Nhồi  máu  nguyên  phát  một  phần  mạc  nối 

lớn vẫn còn là thách thức vì những dấu hiệu và 

triệu chứng không đặc hiệu và được xem như là 

một trong những chẩn đoán phân biệt của bệnh 

nhân đau hố chậu phải. Vì thế, kiểm tra mạc nối 

lớn nên là động tác thường qui trong lúc mổ khi 

mà  những  nguyên  nhân  thường  gặp  của  đau 

bụng cấp không tìm thấy. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO  

infarction in children: Color Doppler Sonography Correlated 

with Surgery and Pathology Findings. AJR, 184(1): 156‐162.  

omentum. Lancet. 286. 

infarction  of  the  greater  omentum  case  report  and  collective 

review of the literature. Ann Surg, 167:437‐ 443. 

segmental  infarction  of  the  greater  omentum  successfully 

treated by laparoscopy: report of case. Surgery Today, 30(5): 

451–453. 

in Pediatric Patients: Sonographic and CT Findings. AJR, 178:  1537‐ 1539. 

greater  omentum.  Case  report  and  review  of  the  literature.  Acta chir belg, 104: 459‐461. 

infarction  of  the  greater  omentum:  a  rare  cause  of  RLQ  syndrome:  laparoscopic  resection.  Surgical  Laparoscopy,  Endoscopy and Percutaneous Techniques, 11(1): 60–62. 

omentum: Clinical, US, and CT finding. Radiology, 185: 169‐

172. 

the greater omentum. Mayo Clinic Proc, 47: 751‐755. 

type  running:  omental  infarction  with  pancreatitis  and  liver  failure with portal vein thrombosis. N Z Med J, 111: 211‐212. 

the greater omentum. Br J Surg, 74: 1182. 

 

Ngày nhận bài báo: 22/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 18:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w