1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những kết quả bước đầu trong phẫu thuật nội soi hẹp môn vị phì đại

4 85 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 239,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm trình bày xẻ cơ môn vị theo Fredet-Ramstedt trở thành phương pháp phẫu thuật tiêu chuẩn cho hẹp môn vị phì đại. Gần đây trên thế giới áp dụng kỹ thuật xẻ cơ môn vị qua nội soi bước đầu có kết quả tốt. Tác giả cũng có những thành công ban đầu khi ứng dụng nội soi trong phẫu thuật hẹp môn vị.

Trang 1

NghiêncứuYhọc YHọcTP.HồChíMinh*Tập18*Số6*2014

NHỮNG KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI HẸP MÔN VỊ PHÌ ĐẠI

Vương Minh Chiều*, Trần Thanh Trí*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xẻ cơ môn vị theo Fredet-Ramstedt trở thành phương pháp phẫu thuật tiêu chuẩn cho hẹp môn

vị phì đại Gần đây trên thế giới áp dụng kỹ thuật xẻ cơ môn vị qua nội soi bước đầu có kết quả tốt Chúng tôi cũng có những thành công ban đầu khi ứng dụng nội soi trong phẫu thuật hẹp môn vị

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo hàng loạt ca Chúng tôi tổng hợp lại những đặc tính cũng như kết quả

của 10 trường hợp hẹp môn vị phì đại được phẫu thuật nội soi trong 1 năm từ tháng 02 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014

Kết quả: 10 trường hợp xe cơ môn vị nội soi Tuổi trung bình là 35,1 ngày (18 89 ngày) Cân nặng trung bình 3,69 kg (2,6 5,4 kg) Thời gian phẫu thuật từ 10 phút đến 50 phút, trung bình 27 phút Không bệnh nhi nào phải truyền máu Không có biến chứng trong và sau phẫu thuật Cho ăn đường miệng được bắt đầu 6 giờ sau mổ Dinh dưỡng hoàn toàn bằng đường miệng khi 32 giờ sau mổ (24 60 giờ) Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 3,5 ngày (3 5 ngày) Không có trường hợp nào tái phát

Kết luận: Phẫu thuật nội soi xẻ cơ môn vị là một lựa chọn mới và ban đầu có kết quả tốt cho bệnh lý hẹp

môn vị phì đại

Từ khóa: Phẫu thuật nội soi xẻ cơ môn vị, hẹp môn vị phì đại

ABSTRACT

INITIAL RESULTS OF LAPAROSCOPIC PYLOROMYOTOMY

IN HYPERTROPHIC PYLORIC STENOSIS

Vuong Minh Chieu, Tran Thanh Tri * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 6 - 2014: 12 - 15

Objective: Fredet-Ramstedt’s pyloromyotomy procedure remains standard of care for hypertrophic pyloric

atresia Recently, there are some reports of laparoscopic pyloroyotomy with good results We also have some initial good results with this procedure

Method: Case series We report characterizes and results of ten cases of laparoscopic pyloromyotomy from

02/2013 to 02/2014

Results: Ten patients underwent laparoscopic pyloromyotomy Mean age is 35.1 days (18 89 days) Mean weight is 3.69 kg (2.6 5.4 kg) The operating time varies from 10 to 50 minutes (mean, 27 minutes) No patient require blood transfusion There is no complication Feeding is started 6 hours after operating Total oral feeding

32 hours (24 60 hours) after operating Mean postoperative length of stay is 3.5 days (3 5 days) There is no recurrent case

Conclusion: Laparoscopic operation is a good choice for pyloromyotomy

Key words: Laparoscopic pyloromyotomy, pyloric hypertrophic stenosis.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hẹp môn vị phì đại là tình trạng phì đại và

tăng sinh cơ môn vị, chủ yếu là lớp cơ vòng,

gây tắc đường ra dạ dày(10) Bệnh nhi nôn ói

tăng dần dẫn đến mất nước, chất dinh dưỡng

và suy kiệt(9) Tần suất bệnh tương đối cao với khoảng 1,5-4/1000 trẻ sinh sống(9)

Hẹp môn vị phì đại được phẫu thuật bằng xẻ

cơ môn vị ngoài niêm mạc hay còn gọi là

* Bệnh viện Nhi Đồng 2

Trang 2

YHọcTP.HồChíMinh*Tập18*Số6*2014 NghiêncứuYhọc

phương pháp Fredet-Ramstedt(9)

Phẫu thuật nội soi hẹp môn vị phì đại được

thực hiện thành công đầu tiên bởi Alain và cộng

sự 1991(2,7) Hiện tại đã được áp dụng tại một số

trung tâm nhi khoa trên thế giới

Ưu điểm quan trọng của mổ nội soi hẹp môn

vị là dể thực hiện, rất ít xâm lấn, phục hồi sau

mổ nhanh và tính thẩm mỹ cao(14) Theo Tander,

giữa mổ hở và mổ nội soi không có sự khác biệt

có ý nghĩa về thời gian phẫu thuật, thời gian hậu

phẫu và các biến chứng(13)

Tại Việt Nam bác sĩ Bùi Đức Hậu đã thực

hiện 29 trường hợp bằng nội soi năm 2011.Chưa

được áp dụng tại miền nam

Dựa trên những kinh nghiệm của những tác

giả đi trước, chúng tôi áp dụng phẫu thuật nội

soi trong hẹp môn vị phì đại từ tháng 02 năm

2013 với những kết quả rất tốt

Mục tiêu nghiên cứu

Xẻ cơ môn vị theo Fredet-Ramstedt trở thành

phương pháp phẫu thuật tiêu chuẩn cho hẹp

môn vị phì đại Gần đây trên thế giới áp dụng kỹ

thuật xẻ cơ môn vị qua nội soi bước đầu có kết

quả tốt Chúng tôi cũng có những thành công

ban đầu khi ứng dụng nội soi trong phẫu thuật

hẹp môn vị

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân nằm ngữa cuối bàn, màn hình

máy nội soi đặt bên phải bệnh nhi

Chúng tôi đặt trocar 5,5 hoặc 3,5 mm ở rốn

cho camera, 2 trocar 3,5 mm tại hạ sườn trái và

hạ sườn phải cho dụng cụ mổ

Hình 1: Vị trí đặt trocar

Chúng tôi dùng 1 kelly 3 mm để tách cơ môn

vị đến lớp khi thấy lớp niêm mạc môn vị và đủ chiều dài từ hang vị đến tá tràng

Hình 2: Tách cơ môn vị

Tất cả các bệnh nhi chúng tôi đều được phẫu thuật bởi một êkíp phẫu thuật viên

Chúng tôi thu thập các đặc tính và kết quả của các bệnh nhi được phẫu thuật trong giai đoạn từ tháng 02 năm 2013 đến tháng 02 năm

2014 Các đặc tính cần thu thập gồm giới, tuổi, cân nặng, thời gian phẫu thuật, thời gian cho ăn bằng miệng và thời gian nằm viện sau mổ, biến chứng trong và sau mổ

KẾT QUẢ

Trong 12 tháng nghiên cứu, chúng tôi có 10 trường hợp xẻ cơ môn vị nội soi

Tuổi trung bình là 35,1 ngày (18 − 89 ngày) Tất cả các bệnh nhi đều là nam

Cân nặng trung bình 3,69 kg (2,6 − 5,4 kg)

Bảng 1: Thời gian phẫu thuật

Không bệnh nhi nào phải truyền máu

Trang 3

NghiêncứuYhọc YHọcTP.HồChíMinh*Tập18*Số6*2014

Không có biến chứng trong và sau phẫu

thuật

Cho ăn đường miệng được bắt đầu 6 giờ sau

mổ Có 1 trường hợp ói 2 lần sau mổ, và bắt đầu

hấp thụ được sau 12giờ sau mổ

Bảng 2: Ăn đường miệng hoàn toàn hoàn toàn và

thời gian nằm viện

hoàn toàn (giờ)

Thời gian nằm viện sau mổ(ngày)

BÀN LUẬN

Thời gian phẫu thuật thay đởi rất nhiều tùy

theo tác giả Trong những năm đầu áp dụng

phẫu thuật nội soi, Greason (1995) cho thấy

không khác biệt về thời gian giữa mổ hở và nội

soi, 25,4 phút trong nội soi so với 26,1 mổ hở

(n=14, p=0,84)(6)

Đến nghiên cứu của Fujimoto (1999) vàcủa

Yagmurlu (2004) thì thời gian mổ nội soi ngắn

hơn mổ hở có ý nghĩa thống kê (p=0,01)(5,15)

Bảng 3: Thời gian phẫu thuật của các nghiên cứu

So với các tác giả khác, thời gian phẫu

thuật của chúng tôi khá ngắn.Ngoài ra, những

ca phẫu thuật gần đây, thao tác nhanh hơn nên

thời gian từ lúc rạch da đến khi đóng bụng là

khoảng 10 phút

Theo Greason (1995), thời gian bắt đầu cho

ăn ở mổ nội soi ngắn hơn mổ hở có ý nghĩa thống kê, 3,61 giờ so với 13,57 giờ (n=14, p<0,0001) Chúng tôi bắt đầu cho bệnh nhi uống sữa lại 6 giờ sau mổ và hầu hết dung nạp tốt, chỉ

có 1 trường hợp còn ói 2 lần sau phẫu thuật Theo Fijimoto (1999) thời gian cho ăn đường miệng hoàn toàn ở mổ nội soi ngắn hơn mổ hở

có ý nghĩa thống kê, 34,79 giờ so với 61,23 giờ (n=29, p <0,0001)(5)

Bảng 4: Thời gian ăn đường miệng hoàn toàn của các

nghiên cứu

miệng hoàn toàn (giờ)

Như vậy trong lô nghiên cứu này, thời gian cần thiết để cho ăn đường miệng hoàn toàn khá dài, khoảng 1,5 ngày sau mổ Điều này kéo theo bệnh nhi nằm viện trung bình là 3,5 ngày, khá dài hơn các tác giả khác

Bảng 5: Thời gian nằm viện của các nghiên cứu

(ngày)

Tác giả Fujimoto (1999) có 29 ca mổ hở so sánh với 30 ca mổ nội soi thì trong mổ hở có 10% rách thanh mạc khi cố gắng đưa môn vị ra ngoài thành bụng và 7% nhiễm khuẩn vết mổ trong khi không gặp trong nhóm nội soi Điều này cho thấy một lợi điểm nữa của phẫu thuật nội soi trong hẹp môn vị phì đại

Riêng trong mổ xẻ cơ môn vị bằng nội soi thì biến chứng trong lúc mổ gặp nhiều nhất là thủng niêm mạc môn vị hoặc thủng tá tràng trong khi sau mổ chủ yếu là còn tắc đường ra dạ dày do chưa xẻ hết cơ môn vị

Trang 4

YHọcTP.HồChíMinh*Tập18*Số6*2014 NghiêncứuYhọc

Bảng 6: Tỷ lệ biến chứng của các nghiên cứu

trong mổ

Biến chứng sau mổ

Như vậy biến chứng sau phẫu thuật hẹp

môn vị phì đại thay đổi nhiều theo từng tác giả

Trong 10 ca đầu tiên trong nghiên cứu này,

chúng tôi chưa gặp biến chứng nào

Một lợi điểm quan trọng khác của mổ nội soi

là tính thẩm mỹ so với mổ hở

Tác giả Siddiqui (2012) so sánh 72 trường

hợp mổ nội soi với 28 trường hợp mổ hở bằng

một bảng thang điểm dành cho gia đình bệnh

nhi cho thấy sự hài lòng cao về mặt thẩm mỹ của

mổ nội soi tốt hơn so với mổ hở (p=0,03) (12)

Dưới đây là hình ảnh vết mổ rất mờ của

bệnh nhi sau phẫu thuật một tuần

Hình 3: Vết mổ sau 1 tuần

KẾT LUẬN

Với thời gian mổ ngắn và những lợi điểm về

khả năng phục hồi nhanh sau mổ thì phẫu thuật

nội soi trong hẹp môn vị phì đại là một lựa chọn

đúng đắn

Tuy chỉ mới thực hiện trên 10 bệnh nhi

nhưng những kết quả khả quan mà chúng tôi có

là nền tảng để có những công trình nghiên cứu

lớn hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Adibe O.O., Nichol P.F., Flake A.W et al (2006) “Comparison

of outcomes after laparoscopic and open pyloromyotomy at a high-volume pediatric teaching hospital” J Pediatr Surg 41(10), pp.1676-1678

2 Alain J L., Grousseau D., Longis B., et all (1996),

“Extramucosal pyloromyotomy by laparoscopy” J Laparoendosc Surg 6(1), pp.41-44

3 Bùi Đức Hậu, Nguyễn Thanh Liêm, Vũ Mạnh Hoàn (2011)

“Kết quả bước đầu điều trị bệnh hẹp phì đại môn vị bằng phẫu thuật nội soi: 29 ca kinh nghiệm” Y Học TP Hồ Chí Minh 15(3), tr.56-59

4 Campbell B.T., McLean K., Barnhart D.C et al (2002) “A comparison of laparoscopic and open pyloromyotomy at a teaching hospital” J Pediatr Surg 37(7), pp.1068-1071

5 Fujimoto T,Lane G.J,Segawa O (1999)

“Laparoscopicextramucosalpyloromyotomyversusopen pyloromyotomyforinfantilehypertrophicpyloricstenosis: Whichisbetter?” JPediatrSurg34(2), pp.370-372

6 Greason K.L., Thompson W.R., Downey E.C et al (1995)

“Laparoscopic pyloromyotomy for infantile hypertrophic pyloric stenosis: report of 11 cases” J Pediatr Surg 30(11), pp.1571-1574

7 Gudrun A., Jacob C.L (2007), “Current management of hypertrophic pyloric stenosis” Seminars in Pediatric Surgery

16, pp.27-33

8 Leclair M.D., Plattner V., Mirallie E et al (2007)

“Laparoscopic pyloromyotomy for hypertrophic pyloric stenosis: a prospective, randomized controlled trial” J Pediatr Surg 42(4), pp.692-698

9 Marshall Z.S (2006), Hypertrophic pyloric stenosis, 6 th edition, Elsevier, pp.1215-1224

10 Oue T., Puri P (1999), “Smooth muscle cell hypertrophy versus hyperplasia in infantile hypertrophic pyloric stenosis” Pediatr Res 45(6), pp.853-857

11 Saha N., Saha D.K., et al (2012) “Laparoscopic versus open pyloromyotomy for infantile hypertrophic pyloric stenosis: an early experience.” Mymensingh Med J 21(3), pp.430-434

12 Siddiqui S., Heidel R.E., Angel C.A (2012) “Pyloromyotomy: randomized control trial of laparoscopic vs open technique” J Pediatr Surg 47(1), pp.93-98

13 Tander, B., Shanti C.M., et al (2009) “Access to the hypertrophic pylorus: does it make a difference to the patient?”.Eur J Pediatr Surg 19(1), pp.14-16

14 Turial S., J Enders, et al (2011) “Microlaparoscopic pyloromyotomy in children: initial experiences with a new technique.” Surgical endoscopy 25(1), pp.266-270

15 Yagmurlu A., Barnhart D.C., Vernon A et al (2004)

“Comparison of the incidence of complications in open and laparoscopic pyloromyotomy: a concurrent single institution series” J Pediatr Surg 39(3), pp.292-296

Ngày đăng: 22/01/2020, 06:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w