1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát các yếu tố liên quan đến nguy cơ tử vong sơ sinh sớm của trẻ ở tuổi thai 28-32 tuần tại Bệnh viện Hùng Vương

6 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 358,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh non là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới. Một nửa số trẻ sinh ra bằng hoặc dưới 32 tuần trong 2 tháng đầu sẽ chết do thiếu các dịch vụ chăm sóc khả thi hiệu quả chi phí, chẳng hạn như sự ấm áp, hỗ trợ cho con bú và chăm sóc cơ bản cho bệnh nhiễm trùng và suy hô hấp.

Trang 1

KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NGUY CƠ TỬ VONG

SƠ SINH SỚM CỦA TRẺ Ở TUỔI THAI 28-32 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN

HÙNG VƯƠNG

Trương Quang Hưng*, Hoàng Thị Diễm Tuyết**

TÓM TẮT

Mở đầu: Sinh non là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới Một nửa số trẻ

sinh ra bằng hoặc dưới 32 tuần trong 2 tháng đầu sẽ chết do thiếu các dịch vụ chăm sóc khả thi hiệu quả chi phí, chẳng hạn như sự ấm áp, hỗ trợ cho con bú và chăm sóc cơ bản cho bệnh nhiễm trùng và suy hô hấp

Phương pháp: Một nghiện cứu bệnh – chứng thực với tỷ lệ 1:2, thực hiện trên 375 trẻ sinh ở tuổi thai 28 –

32 tuần tại Bệnh viện Hùng Vương trong thời gian từ 01/09/2016 đến 30/04/2017 Nhóm bệnh 125 trẻ mất sau sinh trước 7 ngày và 250 trẻ sinh nuôi sống

Kết quả: Các yếu tố làm giảm nguy cơ tử vong sơ sinh sớm của trẻ: (i) Hoàn tất liệu pháp corticoid với OR =

0,39, KTC 95% = 0,20-0,76, p=0,01 (ii) Cân nặng trẻ ≥ 1000 gram, p < 0,001 Các yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong sơ sinh sớm của trẻ: (i) Đa ối OR = 6,42, KTC 95% = 1,27-32,52, p = 0,03 (ii) Giới tính trẻ là nam OR = 2,68, KTC 95% = 1,47-4,87, p = 0,001 (iii) Nhiễm trùng sơ sinh OR = 3,97, KTC 95% = 2,15-7,19, p <0,001

Kết luận: Cân nặng trẻ từ 28 - 32 tuần hơn 1000 gr và corticoids kích thích trưởng thành phổi thai là những

yếu tố tiên lượng khả năng sống ở trẻ sơ sinh sớm Cần thêm những cứu về vấn đề này trong tương lai

Từ khóa: trẻ sơ sinh non tháng sớm, nghiên cứu bệnh - chứng

ABSTRACT

ACCESSMENT RISK FACTORS OF NEONATAL MORTALITY IN EARLY PRETERM BABIES

WITH 28-32 WEEKS AGE AT HUNG VUONG HOSPITAL

Truong Quang Hung, Hoang Thi Diem Tuyet

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 49 - 54

Background: Preterm birth is the leading cause of deaths among children under 5 years old all over the

world Half of babies born at or below 32 weeks in the first two months will die due to the lack of cost-effective care services, such as warmth, breastfeeding support and basic care for the disease infections and respiratory failure

Methods: A case – control study with ratio 1: 2 was performed on 375 births at 28-32 weeks of gestation at

Hung Vuong Hospital from September 2016 to April 2017 Patient group includes 125 preterm babies died before

7 days and control group includes 250 babies having live births

Results: Factors that reduced the risk of infant mortality were: (i) complete corticosteroid therapy with OR =

0.39, 95% CI[0.20-0.76], p = 0.01 (ii) Birth body weight ≥ 1000 grams, p <0.001 Factors that increase the risk of infant mortality are: (i) polyhydramios OR = 6.42, 95% CI [1.27-32.5], p = 0.03 (ii) boy babies, OR = 2.68, 95%

CI [1.47-4.8], p = 0.001 (iii) neonatal infection OR = 3.97, 95% CI [2.15-7.19], p <0.001

Conclusion: Weights of 28-32 weeks were more than 1000 gr and corticosteroid stimulation of fetal lung

maturation was a predictor of survival in early neonates It needs more help on this issue in the future

Key words: early preterm birth, case - control study

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, sinh non là nguyên nhân hàng đầu

gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi và ở hầu hết các

nước có số liệu đáng tin cậy, tỷ lệ sinh non đang

gia tăng(1) Định nghĩa sinh non là những trẻ

được sinh ra có tuổi thai từ 22 tuần, nghĩa là

nhiều hơn 154 ngày tính từ ngày đầu kỳ kinh

cuối, đến trước tuần thứ 37, nghĩa là ít hơn 259

ngày sau kỳ kinh cuối.Vì vậy dựa vào tuổi thai

có thể phân thành (1): Cực kỳ non (<28 tuần); Rất

non tháng (28 đến <32 tuần); Non tháng trung

bình đến muộn (32 đến <37 tuần)

Ở những nơi có thu nhập thấp, một nửa số

trẻ sinh ra bằng hoặc dưới 32 tuần (2 tháng đầu)

chết do thiếu các dịch vụ chăm sóc khả thi hiệu

quả chi phí, chẳng hạn như sự ấm áp, hỗ trợ cho

con bú và chăm sóc cơ bản cho bệnh nhiễm

trùng và suy hô hấp Ở các quốc gia có thu nhập

cao, gần như tất cả những đứa trẻ có khả năng

sống sót Ước tính năm 2010, số ca sinh non ở Ấn

Độ là 3519000, Mỹ là 517400(1) Trẻ sơ sinh non

tháng có nhiều nguy cơ bệnh tật như suy hô hấp,

bệnh màng trong, viêm phổi, di chứng thần

kinh, chậm phát triển về cân nặng và chiều

cao.Những di chứng ở trẻ là gánh nặng về tinh

thần và tài chính cho gia đình và xã hội Ở châu

Âu và nhiều nước phát triển tỷ lệ sinh non thường là

5-9%(7) Tỷ lệ sinh non ở Việt Nam dao động từ

6,80% đến 13,80%(12) Việc giảm tỷ lệ sinh non là

một vấn đề toàn cầu

Do đó, những dữ liệu về các yếu tố ảnh

hưởng đến khả năng sống ở trẻ sinh non cung

cấp những thông tin quý báu trong hướng dẫn

và quản lý thai nghén Bên cạnh đó, hỗ trợ cho

nhân viên y tế và sản phụ quyết định khi cần can

thiệp trên thai kỳ

Trong thực tế tại nơi làm việc, chúng tôi ghi

nhận có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng

sống của trẻ sinh non tự nhiên hay chủ động do

phải chấm dứt thai kỳ vì bệnh lý mẹ, có dùng

corticoid để kích thích trưởng thành phổi thai

nhi kịp và đủ thời gian chưa Với câu hỏi nghiên

cứu “Có những yếu tố nào có thể liên quan đến

khả năng sống của trẻ sinh ra có tuổi thai từ

28-32 tuần?” Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảo

sát các yếu tố liên quan đến nguy cơ tử vong sơ sinh sớm của trẻ ở tuổi thai 28-32 tuần tại bệnh viện Hùng Vương” nhằm góp phần hỗ trợ các bác sĩ sản khoa có cơ sở để lựa chọn quyết định theo dõi hay chấm dứt thai kỳ trên các đối tượng non tháng có nguy cơ cao

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định một số yếu tố liên quan đến nguy

cơ tử vong sơ sinh sớm của trẻ ở tuổi thai 28-32 tuần trong một tuần đầu sau sinh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu bệnh chứng

Chọn mẫu

Trẻ sơ sinh có tuổi thai từ 28-32 tuần được sinh tại Bệnh viện Hùng Vương trong thời gian

từ 01/09/2016 đến 30/04/2017, được theo dõi và chia thành 02 nhóm:

Nhóm bệnh: các trẻ có tuổi thai từ 28-32 tuần

sinh tại Bệnh viện Hùng Vương không nuôi sống được trong thời gian nghiên cứu

Nhóm chứng: các trẻ có tuổi thai từ 28-32

tuần sinhtại Bệnh viện Hùng Vương nuôi sống được trong thời gian nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn vào

Tất cả các trường hợp sinh đơn thai từ 28-32 tuần (tính theo kỳ kinh cuối nếu chu kỳ kinh đều 28-30 ngày, siêu âm 3 tháng đầu) trong thời gian nghiên cứu Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Các sản phụ không xác định được chính xác tuổi thai Các sản phụ có trẻ sinh ra do đình chỉ thai nghén như thai dị dạng, dị tật bẩm sinh, thai chết lưu, hoang thai

Cỡ mẫu

Tính dựa công thức sau:

2 1

2 2 2 1 1 2

/

) (

) 1 ( / 1 ( )

1 ( ) / 1 1 (

p p

p p m p p Z p p m Z

N





Trang 3

Trong đó: Z là trị số từ phân phối chuẩn α:

xác suất sai lầm loại 1 β:xác suất sai lầm loại

2.1-β: sức mạnh của phép kiểm p1: xác suất phơi

nhiễm trong nhóm bệnh p2: xác suất phơi

nhiễm trong nhóm chứng

Chọn: α= 0,05; Z0.975=1,96; (1-β)=0,80 OR =2, tỉ

lệ nhóm bệnh: nhóm chứng 1:2 P2 chọn theo

nghiên cứu của Roberts D và Dalziel SR (2006) là

xác suất trẻ sinh có tuổi thai < 32 tuần sống khi có

liệu pháp corticoid =0,6435(18) Cỡ mẫu tính được

là 375 trẻ Chọn mẫu đủ 375 trường hợp với

nhóm bệnh là 125 trẻ; nhóm chứng là 250 trẻ

Phương pháp thống kê

Nhập số liệu và xử lí số liệu bằng phần mềm

Stata 13.0

KẾT QUẢ

Bảng 1 Đặc điểm dân số nghiên cứu (n =375)

bệnh N=125

Nhóm chứng N= 250

P

Tuổi mẹ < 20

20-34

≥ 35

10

92

23

16

184

50

0,6 0,5 Tuổi thai (tuần): 28 - <29

29 -<30

30 - <31

31 - <32

32

44

28

25

15

13

22

35

45

83

65

0,001

Con so

Con rạ

63

106

132

118

0,66 Tiền căn sinh non: Có

Không

13

112

23

227

0,71 Cao huyết áp/TSG: Có

Không

30

95

55

195

0,10 ĐTĐ thai kỳ: Có

Không

10

115

42

208

0,29 Thai chậm tăng trưởng

Không

28

97

29

221

0,01

Ối vỡ non: Có

Không

12

113

49

201

0,01 Dùng Corticoides *

Không

Chưa hoàn tất

Hoàn tất

63

18

44

104

50

96

0,10 0,25

Phép kiểm Chi bình phương

TSG: tiền sản giật; ĐTĐ: Đái tháo đường

*Corticoides kích thích trưởng thành phổi thai

Bảng 2 Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố nguy cơ

cho sanh non

Đa ối 6,42 1,27-32,52 0,03 Liệu pháp corticoid

Chưa hoàn tất 0,67 0,30-1,51 0,33 Hoàn tất 0.39 0,20-0,76 0,01

Giới tính trẻ Trai 2,68 1,47-4,87 0,001

Cân nặng trẻ (gr)

<1000 1 1000-1499 0,10 0,03-0,30 <0,001 1500-1999 0,01 0,003-0,04 <0,001 2000-2499 0,01 0,002-0,06 <0,001

>2500 Không xác định Nhiễm trùng sơ

sinh

3,97 2,15-7,19 <0,001 Suy hô hấp 3,75 0,22-4,75 0,01

BÀN LUẬN

Tuổi mẹ có liên quan đến sinh non đã được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định Có nhiều cách phân loại nhóm tuổi, nhưng được dùng phổ biến là chia thành 3 nhóm: dưới 20 tuổi, từ 20 – 34 tuổi và từ 35 tuổi trở lên(3,10,12) Theo nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ của ba nhóm tuổi lần lượt là 6,93%, 73,6%,19,47% Phân

bố tuổi của chúng tôi cũng tương tự các nghiên cứu của tác giả Marisa IP, tác giả Lo CC và thống

kê tại bệnh viện ở Canada năm 2006 -2007 về nhóm tuổi bà mẹ(3,11,14)

Rối loạn tăng số lượng nước ối là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ sinh non Theo chúng tôi điều này là hoàn toàn hợp lý đa

ối làm cho tử cung giãn quá mức dễ phát sinh chuyển dạ sinh non, đặc biệt là đa ối cấp Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Vân cho thấy 9/9 thai phụ

đa ối trong nhóm nghiên cứu bị sinh non(9) Nghiên cứu của Phạm Văn Hoàn có 6/6 các thai phụ bị đa ối sinh non và trong nhóm sinh non,

đa ối chỉ chiếm 27%(18) Kết quả này cũng tương

tự của Nguyễn Văn Phong đa ối chiếm tỷ lệ 1,4% trong nhóm sinh non và nguy cơ sinh non tăng cao gấp 19 lần khi bị đa ối(16)

Trang 4

Tuổi thai là một yếu tố bảo vệ trẻ non

tháng(1,15,19) Theo Mai Thị Phương, sự khác biệt

giữa khả năng sống của nhóm tuổi thai 29 tuần

đến 31 tuần 6 ngàyso với trẻ sinh ra ở tuổi thai 28

đến 28 tuần 6 ngày không có ý nghĩa thống kê(12)

Riêng nhóm tuổi thai 31 tuần đến 32 tuần, khi

phân tích đơn biến, khả năng sống tăng gấp 6,4

lần so với trẻ sinh ra ở tuổi thai 28 đến 28 tuần 6

ngày Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,003,

khoảng tin cậy 95% là 1,85-22,05) Tuy nhiên, khi

phân tích đa biến, mối liên quan trên không

còn(12) Điều này cũng tương tự như trong nghiên

cứu của chúng tôi Tuổi thai tăng lên một nhóm

thì nguy cơ tử vong của trẻ giảm đi với p<0,001

Theo Ladan H,tỉ lệ tử vong chung của dân số

nghiên cứu là 9,1%(8) Trong một nghiên cứu gần

đây ở Qatar, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh 28-32 tuần

là 65,3%(17)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có trọng

lượng trung bình của trẻ sơ sinh non tháng là

1468,11 + 388,78gr Kết quả này thấp hơn Lê Thị

Thanh Vân với trọng lượng trung bình 1945.23 +

714.68gr(9), Phạm Văn Hoàn: 1593 + 651gr(18) Bên

cạnh đó, nghiên cứu chúng tôi còn cho thấy

phần lớn trẻ sinh non có cân nặng sau sinh dưới

2500 gam chiếm đa số và chỉ có vỏn vẹn 0.53%

trẻ sinh non có cân nặng ≥ 2500gr Kết quả tỷ lệ

trẻ ≥2500gr này thấp hơn nhiều so với các nghiên

cứu tại Việt Nam như Phạm Văn Hoàn là 10,1%,

Trần Quang Hiệp là 8,06%, Nguyễn Văn Phong

là 8,2%(16,18,22) Đặc biệt thấp hơn rất nhiều so với

nghiên cứu của Lê Thị Thanh Vân là 25% và Mai

Trọng Dũng là 25,6%(9,13) Về ảnh hưởng của cân

nặng thai lên khả năng sống trong 7 ngày sau

sinh, nghiên cứu chúng tôi có ý nghĩa thống kê

với p= <0.001 tương đổng với kết quả của tác giả

Ladan với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở

nhóm <2500gr, <1500gr, <1000gr với p = 0,0001,

trong đó khả năng sống thấp nhất thuộc về

nhóm < 1000gr chiếm 24%, tiếp đến là nhóm

1000-1500gr chiếm 68% và cao nhất 1500-2500g là

96% trong 7 ngày đầu sau sinh(8) Tuy nhiên theo

Escobar G J, cân nặng khi sinh khoảng 2000gr

không bảo vệ chống lại sự trợ giúp thông khí

hoặc tái nhập viện(6) Nghiên cứu trên còn cho thấy trẻ sơ sinh có trọng lượng lớn có thể khiến nhiều bác sĩ lâm sàng coi chúng là "những đứa trẻ khỏe" nhưng vẫn mắc phải bệnh suất đáng

kể(6) Theo tác giả Shrestha S, tỷ lệ tử vong của trẻ sinh non có cân nặng lúc sinh < 1000gr, 1000-1500gr, > 1500gr lần lượt là 80%, 39,5%, 6,18%(20) Trong nghiên cứu của chúng tôi, suy hô hấp chiếm 76.27% số trẻ sinh ra trong 7 ngày đầu ở tuổi thai từ 28 đến 32 tuần Suy hô hấp có ảnh hưởng lên kết quả sơ sinh sớm khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,001, nghĩa là nguy cơ tử vong trong 7 ngày đầu sau sinh ở nhóm có suy

hô hấp tăng 9,86 lần so với với những trường hợp không có suy hô hấp Khuynh hướng này biến mất sau khi phân tích đa biến.Tuy nhiên theo Mai Thị Phương, suy hô hấp chiếm 69,10%

số trẻ sinh ra trong 7 ngày đầu ở tuổi thai từ 28 đến 32 tuần(12) Suy hô hấp có ảnh hưởng lên kết quả sơ sinh sớm khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,017 và khả năng sống trong 7 ngày đầu sau sinh ở nhóm có suy hô hấp giảm 12,5 lần so với với những trường hợp không có suy hô hấp

Đa số tử vong là do suy hô hấp chiếm tỷ lệ 78%

số tử vong Khuynh hướng này không thay đổi sau khi phân tích đa biến với tỷ số số chênh hiệu chỉnh là 0,08(12) Theo Trần Diệu Linh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2011, suy hô hấp vẫn là nguyên nhân hàng đầu ở trẻ sơ sinh(21) Đối tượng nghiên cứu của tác giả này là tất cả trẻ được sinh ra và tỷ lệ suy hô hấp phải nhập phòng hồi sức tích cực là 55,60%, thấp hơn hơn kết quả của chúng tôi, có thể do đối tượng của chúng tôi là các trẻ sinh non Trong nghiên cứu của tác giả De Castro MP, suy hô hấp là yếu tố độc lập với tử vong sau sinh với tỷ số số chênh là 2,50, khoảng tin cậy 95% là 1,10-6,10(4)

Trẻ sinh ra ở tuổi thai từ 28 đến 30 tuần có phổi chưa hoàn thiện Suy hô hấp là bệnh cảnh thường gặp và cần được điều trị bằng hỗ trợ hô hấp (thở oxy, thông khí áp lực dương, thở máyhoặc surfactant) khi cần thiết và cải thiện trong 2-4 ngày và đôi khi dùng trong 7 đến 14 ngày Việc cung cấp surfactant ngoại

Trang 5

sinh thông qua một ống nội khí quản giúp cải

thiện trao đổi khí phổi và giảm tỷ lệ tử vong

Do đó, trẻ thường được sử dụng kháng sinh

dự phòng khi có chỉ định

Với nhiễm trùng sơ sinh, mối liên quan với

kết quả sau sinh sớm có ý nghĩa thống kê với p

<0,001.Khi phân tích đa biến, tỷ số số chênh giảm

khoảng một nửa còn 2.35.Theo nghiên cứu của

Shrestha S, tỷ lệ trẻ sinh non tử vong do nhiễm

trùng lên tới 50,80%(20) Trong bài báo của tác giả

Vergnano cho thấy, tỷ lệ nhiễm trùng sơ sinh

sớm tại Malaysia là 12.00% (1991), tại Ấn Độ là

49,00% (19961997), Kenya là 4,00% (1997

-1998)(23) Như vậy, kết quả của chúng tôi nhận

được là cao hơn Kết quả này có thể do đối tượng

của chúng tôi là nhóm trẻ non tháng từ 28 đến 32

tuần, còn của các tác giả là trên đối tượng tất cả

trẻ sinh ra Theo nghiên cứu của tác giả Leal YA

tại Mexico năm 2012, nhiễm trùng sơ sinh ở đối

tượng sinh non có nguy cơ tử vong tăng 1,08 lần

với p = 0,02, KTC 95% [1,03-1,14](10)

Hạn chế

Điểm hạn chế trong nghiên cứu của chúng

tôi là việc xác định các yếu tố liên quan trẻ ở

tuổi thai 28-32 tuần sinh sống chỉ trong tuần

đầu sau sinh (sơ sinh sớm) Tuy nhiên tại thời

điểm này nhiều vấn đề trên trẻ sơ sinh non

tháng chưa được bộc lộ hết, nhiều trường hợp

sau đó đã tử vong Tỷ lệ sống sót ở trẻ non

tháng cải thiện đáng kể trong những năm gần

đây Tuy nhiên, trẻ vẫn có những nguy cơ dài

hạn đáng kể như những khiếm khuyết về phát

triển tâm thần vận động, những vấn đề sức

khỏe: tim mạch, hô hấp và chuyển hóa Đặc biệt

là những “khuyết tật tiềm ẩn” trong học tập,

hành vi, lối sống(13) Thời điểm sau 7 ngày tuổi

không được theo dõi tiếp với các bệnh lý có thể

gặp là: nhiễm trùng sơ sinh, bệnh lý võng mạc,

bệnh lý thần kinh(5) Do đó, một nghiên cứu lớn

hơn với thiết kế nghiên cứu phù hợp: nghiên

cứu đoàn hệ thì việc theo dõi kết cục trẻ sẽ

được hoàn thiện và toàn diện hơn

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu bệnh chứng 375 trường hợp, với tỷ lệ 1 bệnh: 2 chứng, rút ra một số kết luận sau:

Các yếu tố làm giảm nguy cơ tử vong sơ sinh

sớm của trẻ: (i) Hoàn tất liệu pháp corticoid với

OR = 0,39, KTC 95% [0,20-0,76], p=0,01 (ii) Cân nặng trẻ ≥ 1000 gram, p < 0,001

Các yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong sơ sinh

sớm của trẻ: (i) Đa ối OR = 6,42, KTC 95% [1,27-32,52], p = 0,03 (ii) Giới tính trẻ là nam OR = 2,68, KTC 95% [1,47-4,87], p = 0,001 (iii) Nhiễm trùng

sơ sinh OR = 3,97, KTC 95% [2,15-7,19], p <0,001

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Blencowe H, Cousens S, Oestergaard M, Chou D, Moller AB, Narwal R, Adler A, Garcia CV, Rohde S, Say L, Lawn JE (2012)

"National, regional and worldwide estimates of preterm birth"

The Lancet, 379(9832):pp.2162-2172

2 Bộ Y Tế (2009) “Chăm sóc trẻ sơ sinh đẻ non /nhẹ cân Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản”,

pp.224 Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

3 Canadian Institute for Health Information (2009) "Too Early,

Too Small: A Profile of Small Babies Across Canada" Ottawa,

https://secure.cihi.ca/free_products/too_early_too_small_en.pdf

4 De Castro MP, Rugolo LM, Margotto PR (2012) "Survival and morbidity of premature babies with less than 32 weeks of

gestation in the central region of Brazil" Rev Bras Ginecol Obstet,

34(5):pp.235-242

5 Doyle LW, Saigal S (2009) "Long-term Outcomes of Very

Preterm or Tiny Infants" Neoreviews, 10(3):pp.130-137

6 Escobar GJ, McCormick MC, et al (2006) "Unstudied infants:

outcomes of moderately premature infants in the neonatal

intensive care unit" Arch Dis Child Fetal Neonatal,

91(4):pp.238-244

7 Goldenberg RL, Culhane JF, Iams JD, Romero R (2008)

"Epidemiology and causes of preterm birth" The Lancet,

371(9606):pp.75-84

8 Ladan H, Marzieh N, et al (2013) "Survival predictors of preterm neonates: Hospital based study in Iran (2010-2011)" Iran J Reprod

Med, 11(12):pp.957-964

9 Lê Thị Thanh Vân, Nguyễn Tiến Lâm (2011) "Nhận xét một số yếu tố nguy cơ đẻ non tại bệnh viện phụ sản Trung ương năm

2008" Y học Thực Hành, 759(4):pp.14-16

10 Leal YA, Álvarez-Nemegyei J, Velázquez JR, Rosado-Quiab U, Diego-Rodríguez N, Paz-Baeza E, Dávila-Velázquez J (2012)

"Risk factors and prognosis for neonatal sepsis in southeastern

Mexico: analysis of a four-year historic cohort follow-up" BMC

Pregnancy and Childbirth, 12(48):pp.1-9

11 Lo CC, Hsu JJ, Hsieh CC, et al (2007) "Risk factors for

spontaneous pretermdelivery before 34 weeks of gestation

among taiwanese women" Taiwan J Obstet Gynecol,

46(6):pp.389-394

Trang 6

12 Mai Thị Phương (2014) “Kết cục thai kỳ ở tuổi thai từ 28 tuần

đến 32 tuần tại Bệnh viện Hùng Vương” Luận văn Thạc sĩ Y học,

pp.5-69 Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh

13 Mai Trọng Dũng (2004) “Nghiên cứu tình hình sanh non tại

Bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ tháng 1 năm 2003 đến tháng

8 năm 2004” Luận văn tốt nghiệp nội trú, pp.60-80 Đại học Y Hà

Nội

14 Marisa IP, Elmera P, Vitool L, Michelle AW (2010) "A

Case-Control Study of Preterm Delivery Risk Factors According to

Clinical Subtypes and Severity" J Obstet Gynaecol Res,

36(1):pp.34-44

15 Ngô Minh Xuân, Nguyễn Tấn Tài (2010) "Tình hình tử vong sơ

sinh tại khoa sơ sinh bệnh viện Từ Dũ từ năm 1999 đến năm

2009" Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, 14:pp.124-131

16 Nguyễn Văn Phong (2003) “Nghiên cứu tình hình sanh non và

các yếu tố liên quan đến sanh non tại Bệnh viện Phụ sản Trung

Ương trong 2 năm 2001 – 2002” Luận văn Thạc sĩ Y học, tr.58-67

Đại học Y Hà Nội

17 Parappil H, Rahman S, Salama H, Al Rifai H, Parambil NK, El

Ansari W (2010) "Outcomes of 28+1 to 32+0 weeks gestation

babies in the state of Qatar: finding facility-based cost effective

options for improving the survival of preterm neonates in low

income countries" Int J Environ Res Public Health, 7:pp.2526-2542

18 Phạm Văn Hoàn (2015) “Nhận xét các yếu tố nguy cơ trên sản

phụ đẻ non tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2014, Luận văn tốt

nghiệp bác sỹ y khoa, pp.5-57 Trường Đại Học Y Hà Nội

19 Roberts D, Dalziel SR (2006) "Antenatal corticosteroids for accelerating fetal lung maturation for women at risk of preterm

birth" Cochrane Database of Systematic Reviews, (3):pp.1-179

20 Shrestha S, Dangol Singh S, Shrestha M, Shrestha KPB (2010)

"Outcome of preterm babies and associated risk factor in a

hospital" J Nepal Med Assoc, 49(180):pp.286-290

21 Trần Diệu Linh (2012) "Tình hình bệnh lý suy hô hấp của trẻ sơ sinh tại trung tâm chăm sóc và điều trị sơ sinh bệnh viện phụ

sản Trung Ương năm 2011" Tạp Chí Phụ Sản, 10(2):pp.104-110

22 Trần Quang Hiệp (2001) “Nhận xét tình hình sanh non tại Viện

bảo vệ bà mẹ trẻ sơ sinh trong 3 năm 1998 – 2000” Luận văn Thạc

sĩ Y học, tr.52-75 Đại học Y Hà Nội

23 Vergnano S, Sharland M, Kazembe P, Mwansambo C, Heath P

(2005) "Neonatal sepsis: an international perspective" Arch Dis

Child Fetal Neonatal Ed, 90(3):pp.220-224

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/10/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 04:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN