Bài viết tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm hiểu mối liên quan của một số chỉ số sinh hóa và huyết học với tình trạng sắt và ferritin huyết thanh ở bệnh nhân lọc máu chu kì tại Đơn nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn.
Trang 1KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN CỦA MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HÓA
VÀ HUYẾT HỌC VỚI TÌNH TRẠNG SẮT VÀ FERRITIN HUYẾT THANH
Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KÌ
Vương Tuyết Mai * , Nguyễn Hoài Nam * , Tạ Hữu Duy **
TÓM TẮT
Mục tiêu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm hiểu mối liên quan của một số chỉ số sinh hóa và huyết học với tình trạng sắt và ferritin huyết thanh ở bệnh nhân lọc máu chu kì tại Đơn nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên các bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối lọc máu chu kì điều trị ngoại trú tại Đơn nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, số liệu thu thập của 12 tháng từ tháng 1/2014 đến tháng 01/2015
Kết quả: Nghiên cứu bao gồm 55 bệnh nhân lọc máu chu kì cho thấy không thấy sự khác biệt có nghĩa thống kê về nồng độ sắt, ferritin huyết thanh ở các mức độ thiếu máu Nồng độ sắt, ferrritin huyết thanh có sự tương quan thuận với chỉ số thể tích trung bình hồng cầu (MCV) (r=0,3; p<0,05), tương quan thuận mức độ vừa với chỉ số huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH) (r=0,3; p<0,05) Nồng độ ferritin huyết thanh có sự tương quan thuận khá chặt chẽ với chỉ số MCV (r=0,6; p<0,05), tương quan thuận mức độ vừa với chỉ số MCH (r=0,4; p<0,05) Sắt huyết thanh có sự tương quan thuận mức độ vừa với nồng độ ure (r= 0,4; p< 0,05); creatinin huyết thanh (r=0,5;p< 0,05); albumin huyết thanh (r=0,3; p< 0,05)
Kết luận: Nồng độ sắt, ferrritin huyết thanh đều có sự tương quan thuận với các chỉ số MCV, MCH Nồng
độ sắt huyết thanh có sự tương quan thuận với ure, creatinin, albumin huyết thanh
Từ khoá: Sắt huyết thanh, bệnh thận giai đoạn cuối, lọc máu chu kì
ABSTRACT
THE ASSOCIATION OF SEVERAL FACTORS WITH THE SERUM IRON AND FERRITIN LEVELS IN
THE END-STAGE RENAL DISEASE PATIENTS ON HEMODIALYSIS
Vuong Tuyet Mai, Nguyen Hoai Nam, Ta Huu Duy
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 1 - 2016: 408 – 412
Objectives: We conducted this study with the aim was to find out the association of several factors with the serum iron and ferritin levels in the end-stage renal disease patients on hemodialysis at Hemodialysis Division in Saint Paul Hospital, Hanoi, Vietnam
Methods: One retrospective study was performed on hemodialysis patients who were treated in Hemodialysis Division, Saint Paul Hospital, Hanoi, Vietnam The parameters of patients were collected during 12 months from January 2014 to January 2015
Results: The study was included 55 hemodialysis patients; there was no significant diference between serum iron and ferritin levels with anemia The serum iron levels had a positive correlation with the mean corpuscular volume (MCV) (r=0.3; p<0.05), and the mean corpuscular hemoglobin (MCH) (r=0.3; p<0.05) The serum
* Bộ môn Nội tổng hợp, Đại học Y Hà Nội
** Đơn nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
Tác giả liên lạc: BS Vương Tuyết Mai ĐT: 0915518775 Email:vuongtuyetmai@gmail.com
Trang 2ferrritin levels had a positive correlation with the mean corpuscular volume (MCV) (r=0.6; p<0.05), and the mean corpuscular hemoglobin (MCH) (r=0.4; p<0.05) The serum iron levels had correlated moderately with s-urea levels (r=0.4; p<0.05); s-creatinine levels (r=0.5; p<0.05); s-albumin levels (r=0.3; p<0.05)
Conclusions: Our results suggested that the serum iron and ferrritin levels had a positive correlation with MCV, MCH The serum iron levels had correlated moderately with s-urea; s-creatinine; s-albumin
Keywords: Serum iron, end stage renal disease, hemodialysis.
MỞ ĐẦU
Bệnh thận giai đoạn cuối đang ngày càng gia
tăng trên toàn thế giới, ước tính năm 2012 có đến
3 triệu người đang bị bệnh thận mạn tính giai
đoạn cuối, là giai đoạn nặng nhất của bệnh thận
mạn Người bệnh thận giai đoạn cuối có chỉ định
điều trị thận thay thế có thể áp dụng phương
pháp ghép thận, lọc máu hoặc lọc màng bụng để
có thể loại bỏ độc chất, nước và lượng muối thừa
khỏi cơ thể Bệnh nhân thực hiện điều trị bằng
lọc máu và lọc màng bụng phải được thực hiện
đều đặn theo chu kì để duy trì cuộc sống của
người bệnh
Trong các phương pháp điều trị thận thay
thế đang được sử dụng, lọc máu chu kỳ bằng
máy thận nhân tạo, hiện đang được thực hiện
phổ biến ở trên thế giới và cả ở Việt Nam Bệnh
nhân lọc máu chu kỳ là những người đều ở giai
đoạn cuối của bệnh thận nên tình trạng thiếu hụt
sắt huyết thanh là rất thường gặp Thiếu sắt có
thể do bệnh nhân có tình trạng giảm hấp thu sắt,
tình trạng viêm, sự mất máu trong quá trình lọc
máu Để khắc phục tình trạng này, bệnh nhân
thường được bổ sung sắt, kèm theo với việc sử
dụng erythropoietin (EPO) Như vậy sự thiếu
hay thừa sắt đều ảnh hưởng không tốt đến hiệu
quả điều trị ở những bệnh nhân lọc máu chu kì,
vì vậy, việc đánh giá, theo dõi tình trạng sắt
huyết thanh và dự trữ sắt là rất quan trọng
Hiện nay các xét nghiệm đồng thuận được
Hội thận học Quốc tế và hội thận học Mỹ
(Kidney Disease: Improving Global
Outcomes - KDIGO) khuyến cáo sử dụng là sắt,
ferritin huyết thanh và độ bão hòa transferrin(2)
Một số yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh
nhân bệnh thận mạn, đặc biệt là bệnh nhân lọc
máu có thể có những ảnh hưởng đến nồng độ
sắt và ferritin ở bệnh nhân Sự suy giảm dự trữ sắt có thể do tình trạng mất máu mạn tính do lấy mẫu máu xét nghiệm, biến chứng liên quan đến đường vào mạch máu, mất máu do phẫu thuật, xuất huyết tiêu hóa ẩn, giảm hấp thụ sắt trong chế độ ăn, tăng nhu cầu sắt dự trữ do sử dụng tác nhân kích thích hồng cầu và nhiều yếu tố khác Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm hiểu mối liên quan của một
số chỉ số sinh hóa và huyết học với tình trạng sắt
và ferritin huyết thanh ở bệnh nhân lọc máu chu
kì với tình trạng sắt và ferritin huyết thanh ở bệnh nhân lọc máu chu kì tại Đơn nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên
55 bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối lọc máu chu kì điều trị ngoại trú tại Đơn nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn,
số liệu thu thập của 12 tháng từ tháng 1/2014 đến tháng 01/2015 Các thông tin thu thập theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất bao gồm các thông số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, trong đó đặc biệt là các xét nghiệm sắt và ferritin huyết thanh
Phân loại thiếu máu dựa vào nồng độ Hemoglobin theo WHO 2011
Phân loại thiếu máu theo các chỉ số hồng cầu
Trang 3Thiếu máu bình sắc hồng cầu to là khi chỉ số
thể tích trung bình hồng cầu (MCV)> 100 fl, nồng
độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC) từ
300 – 360 g/l Thiếu máu bình sắc HC bình
thường là khi MCV từ 80 – 100 fl, MCHC từ 300
– 360 g/l Thiếu máu nhược sắc HC nhỏ là khi
MCV < 80 fl, MCHC < 300 g/l
Xử lý số liệu: Test Pearson Chi-square
và/hoặc test Fisher’s Exact được sử dụng cho so
sánh tỷ lệ phần trăm tùy thuộc là so sánh hai hay
nhiều tỷ lệ với nhau Mann-Whitney hoặc
Kruskal-Wallis tests được sử dụng khi so sánh
các mức độ khác nhau Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê sử dụng theo p<0,05 hoặc tính theo
khoảng tin cậy 95% (95% CI) Các phân tích được
thực hiện bằng SPSS statistics 17.0 software
KẾT QUẢ
Nghiên cứu ở 55 bệnh nhân bệnh thận giai
đoạn cuối lọc máu chu kì trong đó nam chiếm
tỷ lệ 50,9% (n=28) và 49,1% là nữ (n=27)
Bảng 1: Nồng độ sắt, ferritin ở các mức độ thiếu máu
Mức độ thiếu
Bình thường 15,925 ± 9,006
>0,05
963,375 ± 585,288
>0,05
Thiếu máu
nhẹ
15,892 ±
7,650
729,750 ± 682,396 Thiếu máu
vừa
16,543 ±
8,151
884,395 ± 1072,508 Thiếu máu
nặng
10,850 ±
7,874
827,582 ± 952,128
Nhận xét: Nồng độ sắt và ferritin được khảo
sát ở bệnh nhân không có biểu hiện thiếu máu
và các mức độ thiếu máu nhẹ, vừa và nặng theo
chỉ số Hemoglobin của bệnh nhân, tuy nhiên sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê về nồng độ
sắt, ferritin huyết thanh ở các mức độ thiếu máu
(p > 0,05)
Bảng 2: Liên quan giữa nồng độ sắt và các chỉ số
huyết học
Nhận xét: Sắt huyết thanh có tương quan thuận mức độ ít với chỉ số thể tích trung bình hồng cầu (MCV) (r=0,3; p<0,05), tương quan thuận mức độ vừa với chỉ số huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH) (r=0,3; p<0,05), tương quan mức độ yếu với chỉ số nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC) (r=0,016; p<0,05) Sắt huyết thanh không có sự tương quan với chỉ
số Hồng cầu (HC), Hemoglobin (Hb), Hematocrit (Ht)
Bảng 3: Liên quan giữa nồng độ ferritin và các chỉ số huyết học
Nhận xét: Nồng độ ferritin huyết thanh có sự tương quan thuận khá chặt chẽ với chỉ số MCV (r=0,6; p< 0,05), tương quan thuận mức độ vừa với chỉ số MCH (r=0,4; p<0,05) Không thấy có mối tương quan của nồng độ ferritin với nồng
độ Hemoglobin, huyết sắc tố
Bảng 4: Liên quan giữa nồng độ sắt và các chỉ số hóa sinh
Nhận xét: Sắt huyết thanh có sự tương quan thuận mức độ vừa với nồng độ ure (r=0,4; p<0,05);
Trang 4creatinin (r=0,5;p<0,05); albumin (r=0,4; p<0,05)
Sắt huyết thanh có sự tương quan thuận mức độ
vừa với nồng độ kali máu (r=0,4; p<0,05) Không
thấy có sự liên quan có ý nghĩa thống kê của nồng
độ sắt huyết thanh với các chỉ số lipid máu
Bảng 5: Liên quan giữa nồng độ ferritin và các chỉ số
hóa sinh
Nhận xét: Nồng độ ferritin huyết thanh có sự
tương quan thuận mức độ vừa với nồng độ kali
máu (r=0,4; p<0,05) Nồng độ ferritin huyết thanh
không có sự tương quan có ý nghĩa thống kê với
các chỉ số sinh hóa máu khác
BÀN LUẬN
Khảo sát nồng độ sắt và ferritin huyết thanh
là những xét nghiệm dùng để đánh giá tình
trạng sắt và dự trữ sắt, qua đó hỗ trợ điều trị
thiếu máu ở những bệnh nhân bệnh thận mạn
Sắt là thành phần quan trọng của Hemoglobin
(Hb) và myoglobin, với chức năng vận chuyển
oxy trong máu, cơ Ferririn huyết thanh là xét
nghiệm đánh giá gián tiếp lượng sắt dự trữ Do
vậy định lượng ferritin huyết thanh ở bệnh nhân
bệnh thận mạn là cần thiết để có chế độ điều trị
phù hợp Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tiến
hành ở 55 bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối
lọc máu chu kì cho thấy nồng độ sắt và ferritin
được khảo sát ở bệnh nhân không có biểu hiện
thiếu máu và các mức độ thiếu máu nhẹ, vừa và
nặng theo chỉ số Hemoglobin của bệnh nhân
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Phần lớn bệnh nhân có hồng cầu (HC) kích
thước bình thường (90,9%), 100% bệnh nhân có
HC bình sắc, điều này tương đương với trong nghiên cứu của các tác giả Lâm Thành Vững, Lê Việt Thắng, Phan Thế Cường và Võ Tam(3,4,5,6) Điều này cho thấy cơ chế bệnh sinh gây thiếu máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn là do giảm nồng độ erythropoietin (EPO) nội sinh, hoặc các yếu tố ảnh hưởng đời sống hồng cầu (HC) như nồng độ ure máu cao
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự tương quan thuận mức độ vừa của sắt huyết thanh với MCH, mức độ ít với MCV, sự tương quan thuận khá chặt chẽ của ferritin huyết thanh với MCV, mức độ vừa với MCH Điều này chứng tỏ sắt có vai trò quan trọng trong quá trình tạo hồng cầu bình thường Có nghĩa là, khi bệnh nhân bệnh thận mạn, nhất là những bệnh nhân lọc máu chu kì, được cung cấp đủ sắt thì giá trị MCH, MCV cũng ở mức bình thường Ure, creatinin là hai xét nghiệm phản ánh chức năng thận, trong đó creatinin là xét nghiệm
có giá trị cao hơn Việc theo dõi nồng độ creatinin thường xuyên và so sánh với creatinin nền của bệnh nhân giúp chẩn đoán bệnh thận mạn Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có tương quan thuận mức độ vừa giữa nồng độ sắt huyết thanh và ure máu (r=0,4; p<0,05), creatinin máu (r=0,5; p<0,05) Nghĩa là nồng độ ure, creatinin càng tăng tức là mức độ suy thận càng lớn thì mức độ sắt và ferritin huyết thanh càng tăng Nguyên nhân có thể do sự giảm tổng hợp EPO do suy thận, dẫn đến giảm tổng hợp HC, vì vậy sắt huyết thanh và ferritin tăng cao do không được sử dụng vào tổng hợp Hb Mức độ suy thận càng nặng, sự thiếu hụt EPO càng nhiều, sắt càng không được tham gia tổng hợp
HC mới Đây là tình trạng thiếu sắt chức năng, khi mà sắt không được tham gia sản xuất HC trong khi sắt huyết thanh và dự trữ sắt tăng cao Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sắt huyết thanh có sự tương quan thuận mức độ vừa với albumin máu (r=0,3; p<0,05) nhưng không có sự tương quan với protein máu (p>0,05) Điều này
có nghĩa là nồng độ albumin tăng thì sắt huyết thanh tăng và ngược lại Kết quả này chứng tỏ
Trang 5sắt huyết thanh có liên quan đến nồng độ
albumin máu, cũng có nghĩa là liên quan đến
tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân Tình
trạng thiếu máu, ngoài do giảm EPO nội sinh,
còn do tình trạng dinh dưỡng kém của bệnh
nhân bệnh thận mạn Vì vậy, điều trị thiếu máu,
ngoài việc bổ sung sắt, còn cần quan tâm đến
việc bổ sung dinh dưỡng cho bệnh nhân
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy sắt
huyết thanh có tương quan thuận mức độ vừa
với nồng độ kali máu (r=0,4; p<0,05) Kali máu
tăng là một trong những biến chứng của bệnh
thận mạn, do giảm khả năng thải kali qua các
ống thận Mức độ suy thận càng nặng, kali máu
càng tăng cao Mức độ tăng kali máu phụ thuộc
vào mức độ suy thận Sắt huyết thanh cũng tăng
theo mức độ suy thận Vì vậy, kali máu tăng có
sự liên quan đến nồng độ sắt huyết thanh tăng ở
những bệnh nhân lọc máu chu kì
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
không có sự liên quan giữa mức độ ferritin và
mức độ albumin thấp (<35 mg/l) và bình thường
(≥35 mg/l) (p > 0,05) Mặt khác cũng không có sự
tương quan nào giữa nồng độ ferritin huyết
thanh và albumin máu Điều này cũng phù hợp
với nghiên cứu của Kamyar K và cộng sự trên 84
bệnh nhân lọc máu chu kì thấy nồng độ ferritin
không có mối tương quan với albumin máu(1)
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự
tương quan thuận mức độ vừa giữa ferritin
huyết thanh và kali máu (r = 0,4; p < 0,05) Điều
này có thể giải thích do kali máu tăng phụ thuộc
mức độ suy thận Mức độ kali máu cao, chứng tỏ
tình trạng suy thận càng nặng, kéo theo nồng độ
ferritin máu cao do tình trạng thiếu sắt chức
năng vì giảm EPO nội sinh
KẾT LUẬN
Nồng độ sắt, ferrritin huyết thanh đều có sự tương quan thuận với các chỉ số thể tích trung bình hồng cầu (MCV), tương quan thuận mức
độ vừa với chỉ số huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH) Nồng độ sắt huyết thanh có sự tương quan thuận với ure, creatinin, albumin Không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ sắt, ferritin huyết thanh với các mức độ thiếu máu
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, các bác sỹ và điều dưỡng Đơn nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Kamyar KZ, Rudolph A, Rodriguer H, et al (2004) Association between serum ferritin and measures of inflamation, nutrition and iron in heamodialysis patients
Oxford Journals: Nephrology Dialysis Transplantation, 19,
141-149
2 KDIGO Clinical Practice Guideline for Anemia in Chronic Kidney Disease (2012), Kidney International 2(4) 299-310
3 Lâm Thành Vững (2013), Nghiên cứu đặc điểm thiếu máu và
hiệu quả điều trị EPO β kết hợp sắt truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ, Đại
học Y dược Huế, Thừa Thiên – Huế
4 Lê Việt Thắng, Nguyễn Văn Hùng (2011) Nghiên cứu sự thay đổi nồng độ sắt, ferritin huyết thanh ở bệnh nhân
suy thận mạn tính lọc máu chu kỳ Y học thực hành, 5,
167-170
5 Phan Thế Cường, Hoàng Trung Vinh, Nguyễn Anh Trí (2012) Khảo sắt tình trạng sắt ở bệnh nhân suy thận mạn
giai đoạn cuối trước lọc máu chu kỳ Tạp chí Y–Dược học
Quân sự, 8, 61-68
thiếu máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối
có thẩm phân màng bụng Y học Việt Nam, 8(409), 366-372
diagnosis of anemia and assessment of severity Geneva (Switzerland) 1-6
Ngày nhận bài báo: 24/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2015 Ngày bài báo được đăng : 15/02/2016