Tuy nhiên, trong những năm gần đây có sự gia tăng số lượng bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp leukemia dòng T lympho tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương HHTM-TW theo từng năm thể hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Trần Thị Thúy Lan
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH HÌNH NHIỄM HTLV (HUMAN T-CELL LYMPHOTROPIC VIRUS) Ở ĐỐI TƯỢNG NGƯỜI HIẾN MÁU
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Trần Thị Thúy Lan
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH HÌNH NHIỄM HTLV (HUMAN T-CELL LYMPHOTROPIC VIRUS) Ở ĐỐI TƯỢNG NGƯỜI HIẾN MÁU
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60420107
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.BS NGUYỄN TRIỆU VÂN PGS.TS BÙI THỊ VIỆT HÀ
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn:
TS.BS Nguyễn Triệu Vân - Trưởng phòng Quản lý các chương trình dự án
và Đối ngoại, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương
PGS.TS Bùi Thị Việt Hà - Chủ nhiệm Bộ môn Vi sinh vật học, Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội
Là những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng ủy, Ban lãnh đạo Viện Huyết học
- Truyền máu TW, Phòng Tổ chức cán bộ, Khoa Hiến máu & Các thành phần máu,
Khoa Xét nghiệm Sàng lọc máu, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã ủng hộ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Đặc biệt, xin cảm ơn BSCKII Phạm Tuấn Dương - Phó Viện trưởng, Phụ
trách Khối Truyền máu - Viện Huyết học Truyền máu TW
ThS Nguyễn Thị Thanh Dung - Trưởng khoa Xét nghiệm Sàng lọc máu,
Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương
Là những người đã ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình công tác và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy, cô giáo trong khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo Bộ môn Vi sinh vật học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng… năm 2017
Học viên
Trần Thị Thúy Lan
Trang 4i
DANH MỤC VIẾT TẮT
AIDS Acquired immune deficiency syndrome/
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
ATL Adult T-cell leukemia/
Bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành
CMIA Chemiluminescent microparticle immuno assay/
Xét nghiệm miễn dịch vi hạt hóa phát quang
DNA Deoxyribonucleic acid
EBV Epstein barr virus
ELISA Enzyme-linked immunosorbent assay/
Kỹ thuật miễn dịch gắn men
FDA Food and Drug administration/
Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ
HAM HTLV-I associated myelopathy/
Bệnh viêm tủy sống do nhiễm HTLV-I
HBV Hepatitis B virus/Virút viêm gan B
HCV Hepatitis C virus/Virút viêm gan C
HHTM-TW Huyết học - Truyền máu Trung ương
HIV Human immunodeficiency virus/
Virút gây suy giảm miễn dịch ở người
HTLV Human T-cel lymphotropic virus
NAT Nucleic acid testing/Xét nghiệm phát hiện acid nucleic
RLU Relative light unit/Đơn vị ánh sáng tương đối
RNA Ribonucleic acid
S/CO Sample Rlu/Cutoff Rlu
TSP Tropical spastic paraparesis/Bệnh liệt cứng chi dưới nhiệt đới WHO World Health Organization/Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 5ii
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về lịch sử truyền máu 3
1.1.1 Lịch sử truyền máu trên thế giới 3
1.1.2 Lịch sử truyền máu tại Việt Nam 3
1.2 Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu 4
1.2.1 Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu trên thế giới 4 1.2.2 Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu tại Việt Nam 5 1.3 Tổng quan về Human T-cell lymphotropic virus (HTLV) 6
1.3.1 Cấu trúc 6
1.3.2 Phân loại 7
1.3.2.1.HTLV-I 7
1.3.2.2.HTLV-II 9
1.3.2.3.HTLV-III và HTLV-IV 9
1.3.3 Đường lây truyền 9
1.3.3.1.Lây qua đường truyền máu 9
1.3.3.2.Lây truyền qua đường tình dục 10
1.3.3.3.Lây truyền từ mẹ sang con thông qua sữa mẹ 11
1.3.3.4.Lây truyền do dùng chung bơm kim tiêm 11
1.3.4 Các bệnh lý liên quan đến Human T-cell lymphotropic virus 11
1.3.5 Các kỹ thuật xét nghiệm phát hiện HTLV 12
1.3.6 Thực trạng về Human T-cell lymphotropic virus 12
1.3.6.1.Thực trạng về Human T-cell lymphotropic virus trên thế giới 12
Trang 6iii
1.3.6.2.Thực trạng về Human T-cell lymphotropic virus tại Việt Nam 16
1.3.7 Các yếu tố liên quan 17
1.3.7.1.Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và đồng nhiễm với HBV 17
1.3.7.2.Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và đồng nhiễm với HCV 17
1.3.7.3.Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và đồng nhiễm với HIV 17
1.3.7.4.Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và yếu tố giới tính 18
1.3.7.5.Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và yếu tố địa lý 19
1.3.7.6.Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và tỷ lệ tử vong, bệnh tật 19
1.3.7.7.Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và tuổi tác 20
1.4 Thực trạng về tình hình xét nghiệm sàng lọc Human T-cell lymphotropic virus (HTLV) cho đơn vị máu 20
1.4.1 Thực trạng về tình hình xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II Trên thế giới 20
1.4.2 Thực trạng về tình hình xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II tại Việt Nam22 CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Địa điểm nghiên cứu 23
2.2 Thời gian nghiên cứu 23
2.3 Đối tượng nghiên cứu 23
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.3.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu 23
2.3.3 Tiêu chuẩn loại trừ 23
2.3.4 Giải thích từ ngữ 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.4.2 Chọn mẫu 24
2.4.2.1.Phương pháp chọn mẫu 24
2.4.2.2.Cỡ mẫu 24
2.5 Trang thiết bị, vật liệu, sinh phẩm 25
Trang 7iv
2.5.1 Trang thiết bị 25
2.5.2 Vật liệu nghiên cứu 25
2.5.3 Sinh phẩm 25
2.6 Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 25
2.6.1 Nguyên lý kỹ thuật 26
2.6.2 Các hóa chất sử dụng 27
2.6.3 Các bước thực hiện kỹ thuật 28
2.6.4 Cách biện luận kết quả 29
2.7 Xử lý số liệu 29
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29
2.9 Sơ đồ nghiên cứu 30
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 31
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 31
3.1.1 Đặc điểm của người hiến máu bình thường 31
3.1.1.1.Đặc điểm về tuổi của người hiến máu bình thường 31
3.1.1.2.Đặc điểm về giới tính của người hiến máu bình thường 32
3.1.1.3.Đặc điểm về số lần hiến máu của người hiến máu bình thường 33
3.1.1.4.Đặc điểm nghề nghiệp của người hiến máu bình thường 34
3.1.1.5.Đặc điểm về nhóm máu ABO của người hiến máu bình thường 35
3.1.1.6.Đặc điểm về địa dư của người hiến máu bình thường 36
3.1.2 Đặc điểm của người hiến máu có đồng nhiễm viêm gan B hoặc viêm gan C hoặc HIV 37
3.1.2.1.Đặc điểm về tuổi của người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV 38
3.1.2.2.Đặc điểm về giới tính của người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV 39
3.1.2.3.Đặc điểm về số lần hiến máu của người hiến máu có đồng nhiễm HBV hoặc HCV hoặc HIV 40
Trang 8v
3.1.2.4.Đặc điểm về nghề nghiệp của người hiến máu có đồng nhiễm HBV
hoặc HCV hoặc HIV 41 3.1.2.5.Đặc điểm về nhóm máu của người hiến máu có đồng nhiễm HBV
hoặc HCV hoặc HIV 42 3.1.2.6.Đặc điểm về địa dư của người người hiến máu có đồng nhiễm với
HBV hoặc HCV hoặc HIV 43
3.2 Thực trạng nhiễm Human T-cell Lymphotropic virus (HTLV) ở người hiến máu bình thường 44
3.2.1 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường 44 3.2.2 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo nhóm
tuổi 45 3.2.3 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo giới tính 46 3.2.4 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo số lần
hiến máu 47 3.2.5 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo nhóm
nghề nghiệp 48 3.2.6 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo hệ nhóm
máu ABO 49 3.2.7 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo yếu tố
KẾT LUẬN 58 KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 9vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường 44 Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo nhóm tuổi 45 Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo giới tính 46 Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo số lần hiến
máu 47 Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo nhóm nghề
nghiệp 48 Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo hệ nhóm máu
ABO 49 Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo yếu tố địa dư 49 Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường và ở người hiến
máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV 50 Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu có đồng nhiễm với HBV theo
nhóm tuổi, giới tính, số lần hiến máu, nghề nghiệp, nhóm máu và yếu tố địa dư 52 Bảng 3.10 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu có đồng nhiễm với HCV theo
nhóm tuổi, giới tính, số lần hiến máu, nghề nghiệp, nhóm máu và yếu tố địa dư 54 Bảng 3.11 Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu có đồng nhiễm với HIV theo
nhóm tuổi, giới tính, số lần hiến máu, nghề nghiệp, nhóm máu và yếu tố địa dư 55
Trang 10vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của virút 6
Hình 1.2 Phân bố các dưới nhóm của HTLV-I tại các quốc gia trên thế giới [37] 8
Hình 1.3 Phân bố HTLV-I trên toàn thế giới [37] 13
Hình 1.4 Tình hình xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu ở một số quốc gia trên thế giới 21
Hình 2.1 Hệ thống máy xét nghiệm tự động Abbott Architect I 4000 [5] 26
Hình 2.2 Nguyên lý kỹ thuật xét nghiệm miễn dịch hóa phát quang [5] 26
Hình 3.1 Tỷ lệ nhóm tuổi của người hiến máu bình thường 31
Hình 3.2 Tỷ lệ giới tính của người hiến máu bình thường 32
Hình 3.3 Tỷ lệ về số lần hiến máu của người hiến máu bình thường 33
Hình 3.4 Tỷ lệ nhóm nghề nghiệp của người hiến máu bình thường 34
Hình 3.5 Tỷ lệ nhóm máu ABO của người hiến máu bình thường 35
Hình 3.6 Tỷ lệ theo yếu tố địa dư của người hiến máu bình thường 36
Hình 3.7 Tỷ lệ người hiến máu có đồng nhiễm HBV hoặc HCV hoặc HIV 37
Hình 3.8 Tỷ lệ nhóm tuổi của người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV 38
Hình 3.9 Tỷ lệ giới tính của người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV 39
Hình 3.10.Tỷ lệ về số lần hiến máu ở người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV 40
Hình 3.11.Tỷ lệ nghề nghiệp ở người hiến máu có đồng nhiễm HBV hoặc HCV hoặc HIV 41
Hình 3.12.Tỷ lệ nhóm máu của người hiến máu có đồng nhiễm HBV hoặc HCV hoặc HIV 42
Hình 3.13.Tỷ lệ theo địa dư của người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV 43
Trang 111
ĐẶT VẤN ĐỀ
Truyền máu là một biện pháp điều trị và điều trị hỗ trợ cho người bệnh Máu
là một loại chế phẩm đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có một loại thuốc nào có thể thay thế được Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi quốc gia cần phải tiếp nhận được số lượng máu tương đương khoảng 2% dân số của quốc gia đó, thì mới cung cấp đủ máu cho nhu cầu cấp cứu, điều trị và dự phòng Vì vậy, việc cung cấp máu và chế phẩm máu an toàn là mục tiêu hàng đầu của dịch vụ truyền máu ở mỗi quốc gia Một đơn vị máu trước khi được truyền cho người bệnh phải trải qua hàng loạt quá trình từ bước tuyên truyền vận động hiến máu tình nguyện, tiếp nhận đơn vị máu, xét nghiệm sàng lọc, sản xuất, lưu trữ và phân phối đơn vị máu Trong
đó việc xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu đóng vai trò quan trọng góp phần ngăn ngừa lây truyền các bệnh qua đường truyền máu [2] Các tác nhân lây qua đường truyền máu bao gồm: virút viêm gan B, virút viêm gan C, HIV, CMV, EBV…và HTLV cũng là một trong những tác nhân lây qua đường truyền máu
HTLV (Human T-cel lymphotropic virus) là virút gây bệnh cho người được phân lập từ tế bào lympho T của bệnh nhân bị mắc bệnh ung thư tế bào lympho T thể ATL (Adult T-cell Leukemia) hay còn gọi là bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho
ở người trưởng thành và bệnh viêm tủy sống do nhiễm HTLV-I [60]
Theo ước tính có khoảng 20 triệu người nhiễm HTLV-I trên toàn thế giới và
có tới (90%) những người nhiễm HTLV-I không có triệu chứng lâm sàng [15] Nhiễm HTLV-II có liên quan tới chủng tộc và hành vi nguy cơ, tỷ lệ nhiễm cao ở người nghiện chích ma túy Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nước tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu như: Nhật Bản, Mỹ, Canada, Pháp… Tại Việt Nam trước năm 1995 tỷ lệ nhiễm virút Human T-cell lymphotropic (HTLV) trong cộng đồng là tương đối thấp Tuy nhiên, trong những năm gần đây có
sự gia tăng số lượng bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp (leukemia) dòng T lympho tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương (HHTM-TW) theo từng năm thể hiện trong nghiên cứu của các tác giả Đỗ Trung Phấn, Nguyễn Triệu Vân, Nguyễn Quang Tùng và Bạch Quốc Khánh [8]
Trang 122 Xác định được một số các yếu tố liên quan đến thực trạng nhiễm HTLV-I/II
ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam
Trang 133
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về lịch sử truyền máu
1.1.1 Lịch sử truyền máu trên thế giới
Ý tưởng truyền máu từ một loài động vật này sang loài động vật khác hay từ động vật sang con người hoặc từ người này sang người khác đã có từ rất xa xưa Năm 1628, Wiliam Harvey đã khám phá ra sự tuần hoàn máu [7], chính nhờ ý tưởng này đã tạo ra động lực thúc đẩy ngành truyền máu phát triển
Năm 1901, Giáo sư Karl Landsteiner người Áo đã phát minh ra hệ nhóm máu ABO [7] Đây là một phát minh hết sức vĩ đại và đã mở ra một bước tiến hết sức quan trọng cho lịch sử truyền máu trên thế giới Cho tới ngày nay, truyền máu là
hoạt động không thể thiếu trong công tác cấp cứu và điều trị cho người bệnh
1.1.2 Lịch sử truyền máu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, Truyền máu được thực hiện từ thời chiến tranh Trước năm
1954 cơ sở cung cấp máu đầu tiên do quân đội Pháp thành lập và trường hợp truyền máu đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện Đồn Thủy Từ năm 1954 sau khi hoà bình được lập lại, Bệnh viện Đồn Thủy được Nhà nước ta tiếp quản và đổi tên thành Quân Y viện 108, ngày nay gọi là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 [7]
Năm 1956, Bệnh viện Việt Đức đã thành lập khoa “Lấy máu và Truyền máu” Đến năm 1970, Bệnh viện Bạch Mai đã thành lập khoa “Lấy máu” do GS Bạch Quốc Tuyên là Chủ nhiệm khoa [7]
Ngày 31 tháng 12 năm 1984, Viện Huyết học và Truyền máu thuộc Bệnh viện Bạch Mai được thành lập Đây là cơ quan tham mưu cho Bộ Y tế và chỉ đạo các hoạt động thuộc chuyên ngành Huyết học - Truyền máu trên phạm vi toàn quốc [7] Quyết định số 31/2004/QĐ-TTg ngày 08 tháng 03 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương trực thuộc
Bộ Y tế [7] Đây là một bước tiến vượt bậc của chuyên ngành Huyết học - Truyền máu tại Việt Nam
Trang 144
Năm 2016, cả nước tiếp nhận được 1.176.986 lượt hiến máu và các thành phần máu đạt tỷ lệ 1,28% trên dân số toàn quốc (với dân số ước tính năm 2016 là 92.000.000 người), trong đó lượng máu tiếp nhận từ người tình nguyện đạt 97,6% [4]
1.2 Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu
Truyền máu có vai trò thiết yếu trong điều trị và thay thế trong những trường hợp bị mất máu do các chấn thương, phẫu thuật hay một số bệnh nội khoa khác nhằm cứu sống người bệnh Tuy nhiên truyền máu cũng có thể gây ra các tai biến trong đó có các bệnh lây qua đường truyền máu, nếu việc xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu không được tuân thủ
1.2.1 Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu trên thế giới
Bên cạnh những thành công về việc phát hiện ra hệ thống nhóm máu ABO góp phần đảm bảo an toàn truyền máu, từ năm 1950 đã có những phát hiện về bệnh lây qua đường truyền máu [6]
Năm 1943, Beeson đã mô tả một bệnh nhân bị viêm gan B sau truyền máu và thấy rằng số lượng đơn vị máu truyền càng nhiều thì khả năng mắc càng cao [68] Đây cũng là tiền đề cho việc nghiên cứu về các virút lây qua đường truyền máu Cũng trong khoảng thời gian này hàng loạt các virút được phát hiện như: HBV, HCV, HIV…[68]
Năm 1965, Blumberg và cộng sự lần đầu tiên miêu tả kháng nguyên Australia
và cho rằng kháng nguyên này có thể được phát hiện trong huyết tương của bệnh nhân Hemophilia được truyền máu nhiều lần [17]
Năm 1970, nhà bác học Dane và cộng sự đã phân lập được viút viêm gan B hoàn chỉnh gọi là thể Dane [6] Từ đó việc sàng lọc HBsAg cho đơn vị máu bắt đầu được thực hiện từ năm 1971, kỹ thuật ban đầu được sử dụng là kỹ thuật khuếch tán trên gel thạch Năm 1980, bắt đầu sử dụng kỹ thuật ELISA để sàng lọc HBsAg cho đơn vị máu [14]
Năm 1988, Houghton và Ezzel đã phân lập được virút viêm gan C và năm
1989 ông cũng là người nghiên cứu thành công việc sản xuất kít ELISA để chẩn đoán tình trạng nhiễm virút viêm gan C [14]
Trang 155
Năm 1998, các Quốc gia như Đức, Anh, Pháp và Mỹ đã tiến hành xét nghiệm sàng lọc virút viêm gan C cho đơn vị máu cùng với virút viêm gan B và HIV [6] Năm 1981, Michael Goleb đã mô tả bệnh nhân đầu tiên bị hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người [43] Năm 1984, Montagner và Gallo đã phân lập được HIV và đồng thời cũng xác định được đường lây truyền của HIV trong đó có nguyên nhân do bệnh nhân đã được truyền những đơn vị máu không được xét nghiệm sàng lọc HIV Từ đó vấn đề xét nghiệm sàng lọc HIV cho đơn vị máu trở thành yêu cầu bắt buộc [6]
Năm 1999, FDA đã cho phép sử dụng kỹ thuật NAT trong xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu để phát hiện HBV, HCV, HIV tại Mỹ [39], nhờ ứng dụng kỹ thuật NAT đã góp phần rút ngắn được giai đoạn cửa sổ đối với HBV, HCV, HIV ngay tại thời điểm đó các kỹ thuật huyết thanh học chưa phát hiện được [53]
Xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu được thực hiện vào năm 1986 tại Nhật Bản Nối tiếp Nhật Bản, Mỹ tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II vào cuối năm 1988 và đã mang lại được hiệu quả trong việc làm giảm sự lây truyền HTLV-I/II qua đường truyền máu[72]
1.2.2 Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu tại Việt Nam
Trong những năm vừa qua, công tác xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu đã
có những bước tiến vượt bậc, bắt đầu từ năm 1973 đã ứng dụng kỹ thuật điện di khuếch tán trên gel thạch để phát hiện kháng nguyên HBsAg, năm 1987 tiến hành xét nghiệm sàng lọc HBsAg và HIV bằng kỹ thuật ELISA Năm 1994, đã tiến hành xét nghiệm đồng thời HBV, HCV, HIV bằng kỹ thuật ELISA [13]
Năm 2011, đã ứng dụng kỹ thuật miễn dịch hóa phát quang, sử dụng các hệ thống máy xét nghiệm tự động hoàn toàn để tiến hành xét nghiệm sàng lọc HBV, HCV, HIV cho đơn vị máu, qua đó đã rút ngắn được thời gian thực hiện xét nghiệm
và đồng thời cũng làm giảm được các sai sót trong quá trình thực hiện xét nghiệm Năm 2015, được coi là năm tạo được bước đột phá trong công tác xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu với việc ứng dụng kỹ thuật NAT Việc ứng dụng kỹ thuật NAT đã mở ra kỷ nguyên mới trong công tác đảm bảo an toàn truyền máu góp phần
Trang 166
rút ngắn giai đoạn cửa sổ Đối với HBV nếu sử dụng kỹ thuật huyết thanh học phát hiện được HBsAg ở ngày thứ 59 thì khi sử dụng kỹ thuật NAT đã phát hiện được ở ngày thứ 34, tương tự đối với HCV cũng giảm từ 82 ngày xuống còn 23 ngày và HIV giảm từ 21 ngày xuống còn 11 ngày [53]
Hiện nay theo quy định tại Thông tư số 26/2013/TT/BYT, Hướng dẫn hoạt động Truyền máu thì xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II chưa yêu cầu bắt buộc phải
thực hiện như xét nghiệm sàng lọc HBV, HCV, HIV cho đơn vị máu [2]
1.3 Tổng quan về Human T-cell lymphotropic virus (HTLV)
1.3.1 Cấu trúc
HTLV có cấu trúc tương tự như HIV, bao gồm lớp vỏ ngoài cùng với những chân gai có tác dụng bám dính lên bề mặt tế bào đích, sau đó đến lớp vỏ nhân và trong cùng là nhân virút gồm RNA, enzym sao chép ngược, protease [18]
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của virút
Trang 177
Genome của HTLV là ARN sợi đơn dương với enzym phiên mã ngược HTLV có đường kính từ 70 - 130 nm, màng gồm lớp lipid tạo thành vỏ bọc của virút Nhân chứa hai chuỗi RNA giống hệt nhau có trọng lượng từ 8-10 kb, trên đó
có gắn enzym sao chép ngược và RNA vận chuyển Genome của virút bao gồm cả vùng mã hoá và vùng không mã hoá Những vùng không mã hoá cũng có vai trò quan trọng trong quá trình nhận biết tín hiệu để tổng hợp DNA và RNA đó là vị trí tận cùng 5’ và 3’
1.3.2 Phân loại
HTLV thuộc họ Retrovirrus, trong đó gồm có Lentivirinea mà đại diện là HIV-I/II, nhóm Spumavirinea chưa phát hiện được khả năng gây bệnh và nhóm Oncovirinea bao gồm HTLV-I và HTLV-II [18] Kể từ lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1980 cho đến nay, sau hơn 30 năm đã có 4 chủng loại HTLV được phát hiện Trong đó HTLV-I và HTLV-II là những chủng loại xuất hiện nhiều trong các đợt dịch bệnh bùng nổ và có khả năng lây lan lớn Trong đó hai chủng loại HTLV-III và HTLV-IV được phát hiện vào năm 2005 [26]
1.3.2.1 HTLV-I
HTLV-I lần đầu tiên được phân lập tại Nhật Bản vào năm 1980 từ tế bào T lympho của bệnh nhân bị bệnh u lympho tế bào T thể da Sau đó những thông tin khác đã chỉ ra sự khác biệt của thể u lympho này với các thể thông thường khác và đặt tên là adult T-cell leukemia (Bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành) Kết quả nghiên cứu đã dần chứng minh HTLV-I là căn nguyên của hai bệnh
đó là bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành (ATL) và bệnh viêm tủy sống do nhiễm HTLV-I (HAM) [35]
Trang 188
Hình 1.2 Phân bố các dưới nhóm của HTLV-I tại các quốc gia trên thế giới [37]
Hiện nay có 4 dưới nhóm (Subtypes) chính của HTLV-I đã được phát hiện và mỗi dưới nhóm đặc trưng cho một khu vực nhất định [37], từ đó dẫn đến sự phân nhóm của HTLV-I và bằng chứng là tỷ lệ nhiễm HTLV-I cao ở phía Tây Nam Nhật Bản, mặc dù những khu vực lân cận có tỷ lệ nhiễm thấp như: Hàn Quốc, Trung Quốc và hiện tại vẫn chưa xác định rõ được nguyên nhân dẫn đến sự phân bố của dịch bệnh [49]
- Dưới nhóm (Subtypes) A là nhóm có sự phân bố rộng rãi nhất bao gồm: Nhật Bản, Tây Phi, Bắc Phi, vùng Caribe, Trung và Nam Mỹ cũng như một phần của vùng Trung Đông;
- Dưới nhóm B, D phân bố ở Châu Phi;
- Dưới nhóm C phân bố ở khu vực Thái Bình Dương;
- Dưới nhóm ít phổ biến hơn như E,F,G phân bố ở Châu Phi [37]
Trang 19- Dưới nhóm A, B phân bố ở châu Âu và xuất hiện lẻ tẻ ở châu Á và châu Phi;
- Dưới nhóm C xuất hiện ở các khu đô thị của Brazil;
- Dưới nhóm D được tìm thấy trong một quần thể người lùn ở châu Phi
1.3.2.3 HTLV-III và HTLV-IV
Cả HTLV-III và HTLV-IV được phân lập vào năm 2005 HTLV-III được phân lập từ một bệnh nhân nam 62 tuổi ở miền nam Cameroon [26], bệnh nhân bị nhiễm HTLV-III được mô tả là không có triệu chứng lâm sàng HTLV-IV được tìm thấy ở các bệnh nhân là thợ săn trong rừng tại Châu Phi
Cho đến ngày nay, cả HTLV-III và HTLV-IV chưa xác định được có sự đồng nhiễm với một nhóm bệnh cụ thể nào và vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu Với việc phát hiện liên tục các dưới nhóm và chủng loại mới, các nghiên cứu cho thấy
có đến 28% dân số ở Châu Phi được báo cáo là có kết quả xét nghiệm HTLV dương tính bằng kỹ thuật huyết thanh học [80]
1.3.3 Đường lây truyền
Đường lây truyền HTLV bao gồm: lây qua đường truyền máu, lây truyền qua đường tình dục, lây từ mẹ sang con thông qua sữa mẹ, dùng chung kim tiêm và tiêm chích ma túy
1.3.3.1 Lây qua đường truyền máu
Lây qua đường truyền máu chỉ xảy ra khi sử dụng các chế phẩm có chứa tế bào như: máu toàn phần, khối hồng cầu, khối bạch cầu và khối tiểu cầu Bệnh nhân được truyền những đơn vị máu có chứa tế bào bạch cầu lympho từ người cho bị nhiễm HTLV-I là nguyên nhân chính gây ra tình trạng nhiễm HTLV-I (15-60%) [37] Bệnh nhân sử dụng các chế phẩm không có chứa tế bào như huyết tương hoặc
Trang 2010
các sản phẩm từ huyết tương thì rất ít khi bị lây nhiễm [57] Nguy cơ lây nhiễm HTLV-I/II cho người nhận khi được truyền những đơn vị khối hồng cầu, khối bạch cầu bị nhiễm HTLV-I/II trong giai đoạn chuyển đổi huyết thanh đã được báo cáo là 40-60% và làm tăng nguy cơ suy giảm miễn dịch cho người nhận [79]
Để xác định nguy cơ lây truyền HTLV-I cho người nhận máu ở Jamaica trước khi việc xét nghiệm sàng lọc HTLV-I cho đơn vị máu được cấp phép Manns và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu hồi cứu, dựa trên 14.870 mẫu máu được lấy từ người hiến máu khỏe mạnh đã được xét nghiệm sàng lọc các bệnh lây truyền khác như: HBV, HCV, HIV cho kết quả âm tính Tất cả 14.870 đơn vị máu đã đã được truyền cho bệnh nhân Nhóm nghiên cứu tiến hành làm xét nghiệm sàng lọc HTLV-
I cho 14.870 mẫu máu lưu tại ngân hàng máu ở Jamaica bằng kỹ thuật ELISA đã đã phát hiện được 361 mẫu cho kết quả là dương tính với kháng thể kháng HTLV-I Trong số 361 mẫu dương tính với kháng thể kháng HTLV-I đã được truyền cho bệnh nhân thì có tới 247 bệnh nhân bị nhiễm HTLV-I và tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh ở những bệnh nhân được chẩn đoán dương tính với HTLV-I trong nghiên cứu
là 44% [50]
Một nghiên cứu khác của Murata và cộng sự đã mô tả một ca tử vong xảy ra ở một người phụ nữ 42 tuổi sống tại Kumamoto thuộc phía nam Nhật Bản được chẩn đoán bị bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành và có kèm theo hội chứng viêm tủy sống do nhiễm HTLV-I Đây cũng là báo cáo đầu tiên về ca khám nghiệm tử thi, khi khám nghiệm tử thi cho thấy tế bào Lympho T xuất hiện ở phổi, gan, thận, lá lách, tuyến giáp và hạch bạch huyết [55]
1.3.3.2 Lây truyền qua đường tình dục
Lây truyền qua đường tình dục thì khả năng lây truyền từ nam sang nữ lớn hơn
so với từ nữ sang nam Một nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy tỷ lệ lây truyền từ nam sang nữ là 60,8%, đặc biệt ở các cặp vợ chồng kết hôn trong vòng 10 năm và chỉ có dưới 1% là lây nhiễm từ nữ sang nam Tại Mỹ những người có quan hệ tình dục với người nhiễm HTLV-I/II có tỷ lệ lây nhiễm từ 25-30% [71]
Trang 2111
1.3.3.3 Lây truyền từ mẹ sang con thông qua sữa mẹ
Lây truyền từ mẹ sang con chủ yếu liên quan đến việc cho con bú sữa mẹ sau
6 tháng tuổi Khoảng 10-25% trẻ em sinh ra từ các bà mẹ nhiễm HTLV-I có sử dụng sữa mẹ sẽ bị nhiễm bệnh Với lượng virút tồn tại trong sữa mẹ, trong tế bào máu cũng như lượng kháng thể kháng lại HTLV-I tồn tại trong huyết thanh và thời gian cho con bú lâu (ít nhất là > 6 tháng) là những yếu tố nguy cơ chính cho sự lây truyền HTLV-I từ mẹ sang con [37]
1.3.3.4 Lây truyền do dùng chung bơm kim tiêm
Lây truyền do dùng chung bơm kim tiêm chủ yếu liên quan đến HTLV-II Khi
bị nhiễm HTLV-II làm tăng nguy cơ tử vong cho người bệnh, đặc biệt đối với những người bệnh có mắc đồng nhiễm với HIV Phần lớn các nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HTLV-II thường tập trung vào đối tượng người bệnh có mắc đồng nhiễm HTLV-II với HIV, đặc biệt ở những người tiêm chích ma túy Các nghiên cứu đã cho thấy nhiễm HTLV-II có ảnh hưởng đến sự sống sót của người bệnh [38] Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá đầy đủ về thực trạng nhiễm HTLV-I và HTLV-II ở cộng đồng cũng như ở đối tượng người hiến máu Trong khi nhiễm HTLV-I có tác động bất lợi đến sức khỏe nhưng những thống kê về tỷ lệ tử vong vẫn chưa có ý nghĩa thống kê [59] Nhiễm HTLV-I cũng xuất hiện ở những người tiêm chích ma tuý nhưng ở một mức độ thấp hơn HTLV-II [56]
1.3.4 Các bệnh lý liên quan đến Human T-cell lymphotropic virus
HTLV-I và HTLV-II gần với retrovirus type C ở người [62], HTLV-I có liên quan đến tình trạng ung thư biểu mô và các rối loạn thần kinh về bệnh thoái hóa myelin: Bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành (ATL) [22], bệnh liệt cứng chi dưới nhiệt đới (TSP) [36] hay bệnh viêm tủy sống do nhiễm HTLV-I (HAM) [60] Gần đây là bệnh viêm đa cơ, viêm khớp và viêm da lây nhiễm được phát hiện thấy ở những bệnh nhân bị nhiễm HTLV-I [36]
Trang 2212
Với HTLV-II, tuy sự liên quan đến bệnh bạch cầu cấp chưa được chứng minh nhưng có một số nghiên cứu cho thấy có sự liên quan với bệnh thoái hóa thần kinh tương tự như bệnh viêm tủy sống (HAM) hoặc liệt cứng chi dưới nhiệt đới (TSP) [66] và thỉnh thoảng cũng liên quan đến bệnh tăng sinh tế bào lympho [44]
1.3.5 Các kỹ thuật xét nghiệm phát hiện HTLV
- Xét nghiệm hóa miễn dịch phát quang;
- Xét nghiệm ELISA (Enzyme-linked immunosorbent assay);
- Xét nghiệm Western blot;
- Xét nghiệm sinh học phân tử
1.3.6 Thực trạng về Human T-cell lymphotropic virus
1.3.6.1 Thực trạng về Human T-cell lymphotropic virus trên thế giới
Nhật Bản là Quốc gia có tỷ lệ nhiễm HTLV-I cao nhất Thế giới, có những vùng tỷ lệ nhiễm tới 35% dân số như Okinawa Vùng Tây Nam Nhật Bản cũng có
tỷ lệ nhiễm khá cao từ 8% - 10% như Kyushu, các khu vực khác không nằm trong vùng dịch có tỷ lệ nhiễm từ 0,3 - 1,2% [75]
Tại Nhật Bản, HTLV-I đã được triển khai nghiên cứu rộng rãi hơn 30 năm qua
và trên thực tế có khoảng 1.000 ca mắc bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành được chẩn đoán mỗi năm và hàng chục ca được chẩn đoán là viêm tủy sống do nhiễm HTLV-I (TSP/HAM) đã được báo cáo Tỷ lệ nhiễm HTLV-I ở người hiến máu được ước tính khoảng 1,08 triệu người vào năm 2006 Sự phân bố tỷ lệ nhiễm HTLV-I ở người hiến máu không đồng đều giữa các khu vực: từ 1% ở Hokkaido đến 6% ở các đảo Kyushu và Okinawa [37]
Trang 23Châu Âu
Pháp 54/1.115.030 4,8 × 10 −5 Laperche S, Vox Sang 2009
Hy Lạp 29/1.524.568 1,9 × 10 −5 Laperche S, Vox Sang 2009
Châu Á
Ấn Độ 14/10.000 0,1% Kumar H, Indian J Pathol
Microbiol 2006 Nhật Bản 3787/1.196.321 0,3% Satake M, J Med Virol 2012 Hàn Quốc 1/15.173 6,6 × 10 −5 Kwon SY, J Med Virol 2008
2009
Hình 1.3 Phân bố HTLV-I trên toàn thế giới [37]
Trang 2414
*Tại Mỹ
HTLV-I: Nhiễm HTLV-I có liên quan đến những người nhập cư, trẻ em nhập
cư, đối tượng hành nghề mại dâm và tiêm chích ma túy [65] Dựa trên số liệu nghiên cứu từ năm 2000-2009 với đối tượng là người hiến máu lần đầu tại Mỹ thì tỷ
lệ nhiễm HTLV-I là 0,219% và đối tượng bị nhiễm HTLV-I thường xuất hiện ở giới tính nữ, người lớn tuổi [28]
HTLV-II: Tỷ lệ nhiễm HTLV-II trong những người tiêm chích ma túy ở Bắc
Mỹ từ 8 - 17% [34] Nghiên cứu tại Washington từ năm 1994 -1997 cho thấy tỷ lệ nhiễm HTLV-II dựa trên đối tượng là 2799 người tiêm chích ma túy thì có 189 người
bị nhiễm HTLV-II chiếm 6,75% Lây nhiễm HTLV-II gặp nhiều nhất ở người Mỹ gốc Phi (22%), ít gặp hơn ở người Mỹ gốc La tinh và người Mỹ bản địa (4,7%) và ít gặp nhất ở người da trắng (3,0%) Cũng dựa trên một nghiên cứu khác được thực hiện
từ năm 2000-2009, tiến hành nghiên cứu trên đối tượng người hiến máu lần đầu tại
Mỹ cho thấy tỷ lệ nhiễm HTLV-II là 14,7 trường hợp/100.000 người hiến máu và cũng thường xuất hiện ở giới nữ, người lớn tuổi [28]
Tóm lại, tỷ lệ nhiễm HTLV-I và HTLV-II ở người hiến máu tại Mỹ đã giảm từ những năm 90 và dường như đã ổn định trong thập kỷ qua Nhưng với 3,2 triệu đơn
vị máu được tiếp nhận từ người hiến máu lần đầu mỗi năm, tác giả ước tính rằng hàng năm các ngân hàng máu của Mỹ vẫn phát hiện thêm gần 700 ca nhiễm HTLV-I/II và đây cũng là gánh nặng bệnh tật cho cộng đồng [28]
* Tại Châu Âu
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã được thực hiện tại Châu Âu, chủ yếu các nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng là những người hiến máu và ở phụ nữ mang thai, như nghiên cứu Courtois năm 1990 [30], Courouce 1993 [29], Zaaijer
1994 [83], Dalekos năm 1995 [31], Ferrante năm 1997 [33], Poljak năm 1998 [63], Ades năm 2000 [16], Tseliou năm 2006 [76], Laperche năm 2009 [46], Brant năm
2011 [23], ngoài ra cũng có rất nhiều những số liệu quan trọng về bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành (ATL) và bệnh liệt cứng chi dưới nhiệt đới (TSP) hay bệnh thoái hóa thần kinh tương tự như bệnh viêm tủy sống do nhiễm
Trang 2515
HTLV-I (HAM) cũng đã được báo cáo như nghiên cứu của Gout năm 1989 [40], Martin năm 2010 [51], Ceesay năm 2012 [27] Trong đó, các Quốc gia thực hiện nghiên cứu nhiều nhất là Anh, Pháp và Tây Ban Nha Dựa trên số liệu của những nghiên cứu trên có thể cho thấy rằng có ít nhất là 80% người nhiễm HTLV-I hiện đang sống ở Châu Âu có nguồn gốc trực tiếp hoặc là con cháu của những người nhập cư từ các vùng lãnh thổ chủ yếu là khu vực phía tây của Ấn độ và Châu Phi Ngoài ra có một tỷ lệ nhất định người bị nhiễm bệnh là phụ nữ da trắng do đã
bị lây nhiễm HTLV-I thông qua quan hệ tình dục với một người có nguồn gốc từ những khu vực có lưu hành dịch HTLV-I
Để ước tính được số người nhiễm HTLV-I ở Châu Âu cũng là một thách thức lớn, dựa trên kết quả nghiên cứu của Graham Taylor và cộng sự cho thấy có 20.000-30.000 người bị nhiễm HTLV-I ở Anh [37]
*Tại Châu Á
Châu Á là châu lục lớn nhất và đông dân nhất thế giới với gần 3,9 tỷ người (chiếm khoảng 60% dân số thế giới hiện nay) Châu Á được chia thành bốn khu vực: Đông Á, Bắc Á, Nam Á và Đông Nam Á Ngoại trừ một số khu vực có tỷ lệ nhiễm HTLV-I cao như Nhật Bản và Iran, tỷ lệ nhiễm HTLV-I và các bệnh liên quan ở châu Á chiếm tỷ lệ thấp Tuy nhiên, trong hầu hết các lĩnh vực do thiếu các nghiên cứu lớn và có đủ số mẫu đại diện thì thực trạng về tình hình nhiễm HTLV-I vẫn còn ít được biết đến
Tại Trung Quốc dựa trên một nghiên cứu với quy mô lớn, cỡ mẫu là 145.293 người hiến máu đại diện cho 13 tỉnh thành phố Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm HTLV-I trên toàn quốc là 0,013% [37]
Ở Đài Loan có nhiều nghiên cứu hơn về tỷ lệ nhiễm HTLV-I Kết quả xét nghiệm sàng lọc HTLV-I tại 6 trung tâm truyền máu cho thấy tỷ lệ nhiễm HTLV-I
ở người hiến máu là 0,058% [37]
Trang 2616
Tại Indonesia, một vài nghiên cứu cho thấy không có trường hợp nhiễm HTLV-I trong những người hiến máu được thử nghiệm dựa trên nghiên cứu của Tanggo và cộng sự năm 2000 [74] Tại các nước lân cận như Malaysia, Việt Nam, Campuchia, Lào và Myanmar chưa có những nghiên cứu đầy đủ về thực trạng nhiễm HTLV-I/II
1.3.6.2 Thực trạng về Human T-cell lymphotropic virus tại Việt Nam
Tại Việt Nam trước năm 1995 tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II là tương đối thấp, tuy nhiên trong những năm gần đây có sự gia tăng số lượng bệnh nhân bị mắc bệnh lơ
xê mi cấp dòng T lympho tại Viện Huyết học - Truyền máu TW theo từng năm thể hiện trong nghiên cứu của các tác giả Đỗ Trung Phấn, Nguyễn Triệu Vân, Nguyễn Quang Tùng, Bạch Quốc Khánh [8], đồng thời cũng thấy có sự gia tăng tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở các tỉnh phía nam có thể coi như là dấu hiệu gia tăng tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II trong cộng đồng
Theo một nghiên cứu của Yamamoto và cộng sự thực hiện vào năm 1994 đã tiến hành nghiên cứu dựa trên 1000 người hiến máu tại Việt Nam thì tỷ lệ nhiễm HTLV-II tại khu vực Miền Nam Việt Nam là 0,008% và không có trường hợp nào nhiễm HTLV-II tại khu vực Miền Bắc [81]
Cũng theo một nghiên cứu khác của tác giả Lin và cộng sự vào năm 1997 nghiên cứu dựa trên 66 bệnh nhân Thalassemia thể nặng được truyền máu tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học thành phố Hồ Chí Minh thì có đến 6/66 bệnh nhân bị nhiễm HTLV-II chiếm tỷ lệ 9,1% [48]
Theo tác giả Futoshi Matsubara và cộng sự nghiên cứu dựa trên 545 mẫu sữa được thu thập trong năm 2004 và năm 2010 Trong đó có 266 mẫu được thu thập tại Nhật Bản, 91 mẫu tại Trung Quốc, 100 mẫu tại Hàn Quốc, 88 mẫu tại Việt Nam Trong tổng số 545 mẫu được làm xét nghiệm đã phát hiện thấy có 35 mẫu có kết quả dương tính với HTLV-I chiếm tỷ lệ là 6,42% Trong 88 mẫu sữa được lấy tại
Hà Nội Việt Nam thì có 2 mẫu dương tính với HTLV-I chiếm tỷ lệ 2,3% [52]
Trang 2717
1.3.7 Các yếu tố liên quan
1.3.7.1 Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và đồng nhiễm với HBV
Cho đến nay, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu riêng về thực trạng nhiễm I/II và đồng nhiễm với virút viêm gan B, nhưng theo một vài nghiên cứu về sự đồng nhiễm chung của các bệnh lây qua đường truyền máu đều chỉ ra rằng có sự đồng nhiễm giữa hai virút này mặc dù tỷ lệ không cao Ví dụ như kết quả nghiên cứu tại nhà tù Javan Indonesia với cỡ mẫu là 375 tù nhân có sử dụng ma túy tại nhà tù cho thấy tỷ lệ đồng nhiễm HTLV-I/II với HBV là 0,3% [64] hay tại nhà tù Khorasan Razavi Iran với cỡ mẫu là 1114 tù nhân thì tỷ lệ đồng nhiễm HTLV-I/II với HBV là 0,09% [45] Nhưng cả hai nghiên cứu đều chưa đưa ra được những bàn luận về sự đồng nhiễm này
HTLV-1.3.7.2 Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và đồng nhiễm với HCV
Nhiễm HTLV-I/II và đồng nhiễm với virút viêm gan C gặp ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới Đồng nhiễm HTLV-I/II với HCV là một vấn đề rất được quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng về sự đồng nhiễm giữa HTLV-I/II với HCV [69]
Trong một nghiên cứu đánh giá mối liên quan giữa HTLV-I/II với HCV cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm những bệnh nhân sử dụng ma túy qua đường tiêm chích tĩnh mạch Kết quả cho thấy có tỷ lệ đồng nhiễm HTLV-I/II với HCV cao hơn so với những bệnh nhân sử dụng ma túy qua các con đường khác không sử dụng tiêm chích [15]
1.3.7.3 Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và đồng nhiễm với HIV
Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và đồng nhiễm với HIV vẫn còn chưa được hiểu
rõ và cần phải có thêm nghiên cứu sâu hơn Nhiễm HTLV-I và HTLV-II dường như
có ảnh hưởng đến tiến triển lâm sàng của bệnh nhân bị nhiễm HIV
Sobesky và cộng sự đã phát hiện thấy nguy cơ tử vong tăng lên đối với những bệnh nhân HIV khi xảy ra đồng nhiễm HTLV-I với HIV ở Guiana thuộc Pháp so với những bệnh nhân chỉ bị nhiễm HIV
Trang 2818
Tuy nhiên đến năm 2004, một nghiên cứu theo dõi dọc được thực hiện ở New Orlean dựa trên 62 bệnh nhân có đồng nhiễm HTLV-I với HIV được so sánh với nhóm 824 bệnh nhân chỉ nhiễm HIV Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng
kể về sự tiến triển tới AIDS cũng như sự có mặt của các bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc tử vong giữa hai nhóm này [70] Điều này cho thấy tỷ lệ đồng nhiễm HTLV-I với HIV rất khác nhau giữa các Quốc gia trên thế giới
Sự đồng nhiễm giữa HTLV-I với HIV chiếm tỷ lệ khá cao ở Bắc Mỹ và Châu
Âu, đặc biệt là trong nhóm những người có sử dụng ma túy [47] Trong một nghiên cứu hồi cứu của Beilke và cộng sự dựa trên 141 bệnh nhân có mắc đồng nhiễm HTLV-II với HIV được so sánh với 824 bệnh nhân chỉ nhiễm HIV đã kết luận rằng
sự đồng nhiễm HTLV-II với HIV có liên quan tới sự tiến triển của bệnh và tỷ lệ tử vong [70]
1.3.7.4 Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và yếu tố giới tính
Các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng không có mối liên quan giữa yếu tố giới tính với tỷ lệ nhiễm HTLV-I Tuy nhiên trong một nghiên cứu tại Nhật Bản năm 2010 cho thấy có mối liên quan giữa yếu tố giới tính với tỷ lệ nhiễm HTLV-I,
tỷ lệ nhiễm HTLV-I ở nam cao hơn so với nữ Sự chênh lệch giữa kết quả của các nghiên cứu trước đây và những nghiên cứu vào thời điểm hiện tại có thể được giải thích chủ yếu bởi sự khác biệt về đặc điểm của mẫu nghiên cứu Những đặc điểm về
sự phân bố tỷ lệ nhiễm HTLV-I này cũng đặt ra mối quan tâm khi chúng ta xem xét
sự khác biệt theo yếu tố giới tính với tỷ lệ bệnh nhân bị mắc bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành (ATL) và bệnh viêm tủy sống (HAM) Bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành (ATL) gặp chủ yếu ở đối tượng
là nam giới, bệnh nhân lớn tuổi Trong khi bệnh viêm tủy sống gặp ở phụ nữ trung niên
Trong vùng dịch tễ, tỷ lệ nhiễm HTLV-I thường tập trung trong một gia đình đặc biệt là ở phụ nữ điều đó đã cho thấy sự lây truyền xảy ra từ nam sang nữ dễ dàng hơn
Trang 2919
1.3.7.5 Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và yếu tố địa lý
Trên thế giới, sự phân bố tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II là không đồng đều giữa các khu vực, HTLV-I thường gặp ở phía Tây Nam Nhật Bản, quần đảo Caribean, Nam
Mỹ và ở Châu Phi [24] Tại Nhật Bản số người nhiễm HTLV-I được ước tính là khoảng 1,2 triệu người vào khoảng cuối những năm 1980 [25] HTLV-I phân bố ở khắp mọi nơi với tỷ lệ cao như ở phía Tây Nam Nhật Bản, nhưng tỷ lệ thấp ở các vùng lân cận như Hàn Quốc, Trung Quốc Theo một kết quả nghiên cứu trên toàn quốc lần thứ 4 tại Nhật Bản, trong số tất cả các trường hợp mắc bệnh Bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành đang theo dõi thì có tới 51% bệnh nhân đến từ đảo Kyushu (một trong bốn đảo chính của Nhật Bản) và 29% là từ các khu vực đô thị (Kanto, Chubu và Kinki) và hầu hết những bệnh nhân bị bệnh đang sinh sống trong các khu vực đô thị đều đến từ các khu vực có lưu hành dịch bệnh
Một nghiên cứu khác với cỡ mẫu 88 bệnh nhân bị nhiễm HTLV-I tại Tokyo, 39,5% trong số này đã được sinh ra trong vùng lưu hành dịch bệnh trong đó bao gồm Kyushu/Okinawa, phía nam Shikoku, Tohoku và Hokkaido Có tới 38,3% bệnh nhân được sinh ra ở Tokyo và tỷ lệ được cho là ngày càng tăng Một nửa trong số người bị nhiễm bệnh ở Tokyo đến từ các vùng lưu hành dịch bệnh, một nửa còn lại được cho
là bị lây nhiễm HTLV-I từ bạn đời đến từ khu vực có lưu hành dịch bệnh thông qua con đường tình dục Nhìn chung, khoảng 70% người nhiễm HTLV-I sinh sống tại khu vực sân bay Tokyo Những hiện tượng di cư có thể làm tăng tỷ lệ nhiễm HTLV-I
ở khu vực Tokyo [78] Để xác định được sự thay đổi tỷ lệ nhiễm HTLV-I theo từng khu vực thì hàng năm tại Nhật Bản vẫn cần phải có thêm những nghiên cứu tiếp theo
để xác định được sự thay đổi tỷ lệ nhiễm HTLV-I [73]
1.3.7.6 Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và tỷ lệ tử vong, bệnh tật
Tình trạng bệnh tật chủ yếu liên quan đến nhiễm HTLV-I, cụ thể là bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành và bệnh viêm tủy sống do nhiễm HTLV-I
Trang 3020
Dựa vào nghiên cứu của Beilke và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc đồng nhiễm HTLV-I hoặc HTLV-II ở những người nhiễm HIV cao gấp từ 100-500 lần so với quần thể dân số nói chung [20] Sự đồng nhiễm HTLV-I với HIV thường xảy ra ở Nam Mỹ, Caribê và Châu Phi Các nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân bị nhiễm HIV mà có đồng nhiễm với HTLV-I/II thì có diễn biến lâm sàng nặng hơn và đồng thời cũng có tiến triển thành AIDS nhanh hơn, thời gian sống ngắn hơn [20]
Người bị nhiễm bệnh có nguy cơ mắc bệnh suốt đời từ 1-4% [19] Thời gian ủ bệnh ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho ở người trưởng thành
có thể kéo dài từ 30-50 năm Bệnh thường tiến triển nhanh chóng và gây tử vong với thời gian sống trung bình là 2 năm [82] Trong một số trường hợp bệnh cũng có thể xuất hiện sớm nhất là 3 tháng tính từ khi nhiễm HTLV-I và thời gian ủ bệnh có thể kéo dài đến 3 năm hoặc thậm chí lâu hơn có thể kéo dài từ 20-30 năm
Một số nghiên cứu cho rằng HTLV-II gây bệnh thoái hóa thần kinh [66] Biswas và cộng sự nghiên cứu vào năm 2009 và nhận thấy rằng những bệnh nhân bị nhiễm HTLV-II có số ngày phải nghỉ làm việc nhiều hơn so với những bệnh nhân bị nhiễm HTLV-I Nguyên nhân được lý giải là những bệnh nhân bị nhiễm HTLV-II thường có các biểu hiện về bệnh thần kinh và thường gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên và viêm khớp do nhiễm HTLV-II [21]
1.3.7.7 Thực trạng nhiễm HTLV-I/II và tuổi tác
Tỷ lệ nhiễm HTLV-I và HTLV-II tăng lên cùng với tuổi tác Hiện nay cũng có rất ít những nghiên cứu đề cập riêng đến mối liên quan giữa tuổi và tình trạng nhiễm HTLV-I/II
1.4 Thực trạng về tình hình xét nghiệm sàng lọc Human T-cell lymphotropic virus
(HTLV) cho đơn vị máu
1.4.1 Thực trạng về tình hình xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II Trên thế giới
Ngay sau khi HTLV-I được phát hiện vào năm 1980 đã có một số nghiên cứu xác định sự lây truyền HTLV-I qua đường truyền máu Tại Nhật Bản thì Okochi là người đầu tiên chứng minh HTLV-I lây qua đường truyền máu, tác giả đã nghiên cứu dựa trên 41 bệnh nhân được truyền các chế phẩm máu có chứa tế bào như: máu
Trang 3121
toàn phần, khối hồng cầu, khối tiểu cầu từ những người cho bị nhiễm HTLV-I thì chỉ có những bệnh nhân nhận các chế phẩm có chứa tế bào mới bị nhiễm HTLV-I Những bệnh nhân nhận các chế phẩm máu không có chứa tế bào như huyết tương thì không bị nhiễm HTLV-I [57]
Chính vì vậy, để đảm bảo an toàn truyền máu, việc xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu đã trở thành thường quy ở một số quốc gia trên thế giới Hiện nay, đã có rất nhiều quốc gia trên thế giới tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu Nhật Bản là quốc gia đầu tiên tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu vào năm 1986 Mỹ tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II vào cuối năm 1988 và tiếp theo là Canada (1989), Pháp (1991), Úc,
Bồ Đào Nha, Đức, Anh, Hồng Công (Hình 1.4) Kết quả xét nghiệm cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu chiếm tỷ lệ khá cao ở một số Quốc gia như: Nhật Bản là 0,3%, ở Brazil là 0,12%, Ấn Độ là 0,1% (Bảng 1.1) Việc triển khai xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II đã mang lại được hiệu quả trong việc làm giảm
sự lây truyền HTLV-I/II qua đường truyền máu [72]
Hình 1.4 Tình hình xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu ở một số
quốc gia trên thế giới
Trang 3222
1.4.2 Thực trạng về tình hình xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II tại Việt Nam
Theo quy định tại Thông tư số 26/2013/TT-BYT, Hướng dẫn hoạt động Truyền máu [2] Hiện nay, xét nghiệm sàng lọc HBV, HCV, HIV là 3 loại virút bắt buộc phải thực hiện cho đơn vị máu và xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II chưa phải là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện cho đơn vị máu Tại Việt Nam mới chỉ có Bệnh viện Truyền máu Huyết học thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu Kết quả xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 cho thấy tỷ
lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu là 0,075% [4]
Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở đối tượng người hiến máu Chính vì vậy, đề tài được thực hiện nhằm mục đích đánh giá thực trạng và nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tình hình nhiễm HTLV ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam
Trang 3323
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại khoa Xét nghiệm Sàng lọc máu, Viện Huyết học - Truyền máu TW
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2014 đến tháng 06/2017
2.3 Đối tượng nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những người hiến máu đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Thông tư 26/2013/TT-BYT, Hướng dẫn hoạt động Truyền máu [2]
2.3.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Lựa chọn người hiến máu theo hướng dẫn tại Thông tư 26/2013/TT/BYT, Hướng dẫn hoạt động Truyền máu bao gồm những tiêu chuẩn như sau:
- Có giấy tờ tùy thân (chứng minh thư nhân dân, hộ chiếu hoặc bằng lái xe), có địa chỉ liên lạc rõ ràng;
- Tuổi: Nam từ 18 đến 60, nữ từ 18 đến 55 tuổi;
- Huyết sắc tố: Từ 120g/l trở lên;
- Không mắc các bệnh cấp và mạn tính về thần kinh, tâm thần, hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, gan mật, nội tiết, bệnh máu và cơ quan tạo máu, không mang thai và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi vào thời điểm đăng ký hiến máu (đối với phụ nữ) không mắc các bệnh lây qua đường truyền máu, các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại thời điểm đăng ký hiến máu [2]
2.3.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Người hiến máu không đủ tiêu chuẩn theo hướng dẫn tại Thông tư 26/2013/TT/BYT, Hướng dẫn hoạt động Truyền máu [2]
2.3.4 Giải thích từ ngữ
- Người hiến máu là người đủ điều kiện hiến máu theo quy định tại mục 2.3.2
và tự nguyện hiến máu
- Người hiến máu lần đầu là những người đã hiến máu 1 lần
Trang 34>55 tuổi
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu
2.4.2 Chọn mẫu
2.4.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Tiến hành chọn mẫu thuận tiện dựa trên số lượng mẫu máu thu được từ người hiến máu bình thường tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương và mẫu máu thu được trong chương trình Hành trình đỏ xuyên việt từ năm 2014 - 2016 tại khu vực Miền Trung và Miền Nam
Trang 3525
- 1007 mẫu lưu từ ngân hàng mẫu dương tính tại Viện Huyết học - Truyền máu TW bao gồm:
+ 499 mẫu dương tính với viêm gan B;
+ 414 mẫu dương tính với viêm gan C;
+ 94 mẫu dương tính với HIV
2.5 Trang thiết bị, vật liệu, sinh phẩm
2.5.1 Trang thiết bị
- Tủ lạnh bảo quản mẫu và sinh phẩm;
- Máy ly tâm ống mẫu xét nghiệm;
- Máy xét nghiệm tự động Abbott Architect I 4000
2.5.2 Vật liệu nghiên cứu
2.6 Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
Kỹ thuật xét nghiệm miễn dịch hóa phát quang: Phát hiện định tính các kháng thể kháng lại HTLV-I và HTLV-II trong huyết thanh hoặc huyết tương người
Trang 36Hình 2.2 Nguyên lý kỹ thuật xét nghiệm miễn dịch hóa phát quang [5]
Trang 37Kết quả của phản ứng hóa phát quang được tính bằng đơn vị ánh sáng tương đối (RLU) Có sự tương quan trực tiếp giữa lượng kháng thể kháng HTLV-I/II trong mẫu thử và ánh sáng đo được
Sự có mặt hay không có kháng thể kháng HTLV-I/II trong mẫu được xác định bằng cách so sánh tín hiệu hóa phát quang trong phản ứng với ngưỡng phát hiện đã xác định từ đường cong hiệu chuẩn hoạt hóa Nếu tín hiệu hóa phát quang trong phản ứng lớn hơn hoặc bằng tín hiệu ngưỡng, thì mẫu được xem như có phản ứng với kháng thể HTLV-I và hoặc kháng thể HTLV-II
Vùng miễn dịch trội của gp21 giống nhau 100% giữa hệ gen virút HTLV-I và HTLV-II, tính tương đồng giữa 2 protein gp21 này là 86% Ngoài ra, tính tương đồng giữa 2 peptid gp46 này là 65%, do đó các thuốc thử chọn lọc (peptid tổng hợp gp46 và kháng nguyên tái tổ hợp gp21) trong xét nghiệm này có thể đồng thời phát hiện kháng thể kháng lại HTLV-I và HTLV-II [5]
2.6.2 Các hóa chất sử dụng
- Microparticles (các vi từ): Peptid tổng hợp HTLV-I/II và kháng nguyên tái
tổ hợp HTLV-II phủ trên vi hạt trong dung dịch muối đệm TRIS Chất bảo quản Proclin 950 và sodium azide
- Conjugate (cộng hợp): Peptide tổng hợp HTLV-I/II và kháng nguyên tái tổ
hợp HTLV-I có đánh dấu acridinium trong dung dịch đệm HEPES với chất
ổn định protein và chất tẩy Chất bảo quản Proclin 950
Trang 3828
- Assay Diluent (dung dịch pha loãng mẫu): rHTLV-I/II dung dịch pha loãng
xét nghiệm chứa dung dịch đệm TRIS và chất tẩy Chất bảo quản Proclin 950
- Wash Buffer (Dung dịch rửa): Dung dịch có chứa muối đệm phosphate
Chất bảo quản, tác nhân kháng vi sinh vật
2.6.3 Các bước thực hiện kỹ thuật
- Bước 1: Tiến hành lấy 133 µl mẫu huyết thanh hoặc huyết tương (đã được tách từ máu toàn phần bằng cách ly tâm 10 phút ở tốc độ 3000 vòng/phút)
trộn với 67µl Assay Diluent trong cóng phản ứng
- Bước 2: Tiến hành ủ 7 phút (trong buồng ủ của máy Architect)
- Bước 3: Lấy 150 µl hỗn hợp đã pha loãng ở trên cho vào 1 cóng phản ứng
mới, sau đó bổ sung thêm 50 µl Microparticles
- Bước 4: Tiến hành hành ủ 18 phút (trong buồng ủ của máy Architect)
- Bước 5: Bổ sung 50 µl Conjugate vào cóng phản ứng
- Bước 6: Tiếp tục ủ hỗn hợp trong cóng phản ứng thêm 4 phút (trong buồng ủ của máy Architect)
- Bước 6: Đọc kết quả, kết quả được tính bằng đơn vị ánh sáng tương đối (RLUs) Có sự tương quan trực tiếp giữa lượng kháng thể kháng HTLV-I/II trong mẫu và lượng ánh sáng đo được thông qua bộ phận quang học trong hệ thống máy Architect
Trang 3929
2.6.4 Cách biện luận kết quả
- Mẫu có giá trị S/CO <1,00 ở lần xét nghiệm thứ nhất được kết luận là không phản ứng với HTLV-I/II
- Mẫu có giá trị S/CO ≥ 1,00 ở lần làm xét nghiệm đầu tiên được kết luận là phản ứng
- Tất cả mẫu phản ứng ở lần làm xét nghiệm đầu tiên đều được thực hiện xét nghiệm lặp lại thêm 2 lần
- Mẫu được kết luận dương tính với HTLV-I/II là những mẫu có giá trị S/CO ≥
1 ở 2 trong 3 lần làm xét nghiệm
2.7 Xử lý số liệu
Số liệu được được nhập, xử lý bằng Excel và phần mềm SPSS 20.0
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện dựa trên những mẫu máu thu thập được từ người hiến máu Các thông tin liên quan, mẫu máu thu thập và kết quả nghiên cứu được để dưới dưới dạng khuyết danh và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Đối với người hiến máu: các xét nghiệm được thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư số 26/2013/TT-BYT, Hướng dẫn hoạt động Truyền máu Toàn bộ quá trình nghiên cứu không can thiệp trực tiếp vào tính mạng của người hiến máu cũng như không gây thêm bất cứ ảnh hưởng và phiền toái gì đến người hiến máu Các mẫu có kết quả dương tính với kháng thể kháng HTLV-I/II không được sử dụng để truyền cho người bệnh
Trang 40NHM nhiễm với một trong các tác nhân như:
HBV, HCV, HIV (n=1.007)
Dương tính (n=0)
Dương tính (n=2)