1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tính hiệu quả của sát khuẩn tay nhanh theo mức độ che phủ của hóa chất sát khuẩn trên bề mặt da bàn tay

6 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 422,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về tuân thủ vệ sinh tay trong chăm sóc người bệnh, khảo sát tính hiệu quả của quy trình sát khuẩn tay nhanh đang áp dụng thông qua độ che phủ hóa chất sát khuẩn trên bề mặt da bàn tay sau khi hoàn tất quy trình sát khuẩn tay nhanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần có chương trình tập huấn, đào tạo, tuyên truyền hiệu quả dựa trên thực hành và minh họa bằng hình ảnh.

Trang 1

THEO MỨC ĐỘ CHE PHỦ CỦA HÓA CHẤT SÁT KHUẨN  

TRÊN BỀ MẶT DA BÀN TAY 

Huỳnh Minh Tuấn*,**, Nguyễn Vũ Hoàng Yến*, Trịnh Thị Thoa*, Nguyễn Kim Huyền*, Vũ Thị Châm*, 

Vương Minh Nguyệt* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Tuân thủ vệ sinh tay trong chăm sóc người bệnh là một trong các vấn đề y tế quan trọng và thu 

hút nhiều sự quan tâm vì sự liên quan trực tiếp tới khả năng lan truyền mầm bệnh gây nhiễm khuẩn bệnh viện, 

vì tính thách thức trong vấn đề tuân thủ của nhân viên y tế, tính hiệu quả của các loại hóa chất sát khuẩn tay và  của các quy trình kỹ thuật vệ sinh tay. 

Mục tiêu: Khảo sát tính hiệu quả của quy trình sát khuẩn tay nhanh đang áp dụng thông qua độ che phủ 

hóa chất sát khuẩn trên bề mặt da bàn tay sau khi hoàn tất quy trình sát khuẩn tay nhanh. 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  Thực nghiệm mô tả, tiền cứu; thu thập mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên 

phân tầng (n=410). Đối tượng: Nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, nhân viên hành chính…).  

Kết quả: Độ che phủ trung bình của hóa chất sát khuẩn trên bề mặt da bàn tay: 88,02% (<50%: 1,7%;50%‐

75%: 9,7%;>75%: 88,6%). Tỷ lệ không được che phủ bởi hóa chất sát khuẩn: lưng bàn tay: 60% (247); móng và  dưới móng: 57% (236), lòng và lưng ngón: 55% (227), kẽ tay: 48% (198), lòng bàn tay: 3%. 

Kết luận:Trong điều kiện chăm sóc y tế giản đơn tại khu khám bệnh hoặc bệnh phòng thường, phương 

pháp sát khuẩn tay nhanh với dung dịch hoặc gel chứa cồn còn bộc lộ những hạn chế nhất định về mặt kỹ  thuật. Phần lưng bàn tay, móng và dưới móng, lòng và lưng ngón, kẽ ngón tay rất dễ không tiếp xúc với  hóa chất sát khuẩn. Cần có chương trình tập huấn, đào tạo, tuyên truyền hiệu quả dựa trên thực hành và  minh họa bằng hình ảnh. 

Từ khóa: Nhiễm khuẩn bệnh viện, vệ sinh tay, hóa chất sát khuẩn, độ che phủ. 

ABSTRACT 

EVALUATE THE EFFICACY OF RAPID HAND SANITIZER BY THE COVERAGE RATE (%)  

OF DISINFECTANT ON THE SURFACE OF HAND SKIN 

Huynh Minh Tuan, Nguyen Vu Hoang Yen, Trinh Thi Thoa, Nguyen Kim Huyen, Vu Thi Cham,   Vuong Minh Nguyet * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 412 ‐ 417 

Background:  Hand  hygiene  compliance  related  to  taking  care  of  patient  is  currently  one  of  the  most 

important  medical  issues  and  attracted  to  many  interests  because  of  its  direct  involvement  to  the  potential  transmissions of microbial pathogens which cause healthcare associated infections, the challenge of the compliance  among healthcare workers, and the quality of different disinfectants and technical procedures.  

Objectives: Evaluate the efficacy of the technical procedure of rapid hand sanitizer by the coverage rate (%) 

of disinfectants on the surface of hand skin. 

Method: Empirical description, prospective; stratified random sampling method (n=410). 

Results: The average coverage rate of fluorescence on the surface of hand skin: 88.02% (<50%: 1.7%; 50%‐

* Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn – Bệnh viện Đại học Y Dược Tp. HCM 

** Bộ môn Vi sinh ‐ Đại học Y Dược Tp. HCM 

Tác giả liên lạc: ThS Huỳnh Minh Tuấn  ĐT: 0909349918 Email: huynhtuan@yds.edu.vn 

Trang 2

75%: 9.7%; >75%: 88.6%). The missing parts, which are the ones of the hand skin not covered by fluorescence  were the dorsum of the hand: 60% (247); the nail and under‐nail areas: 57% (236); the front and back sites of  fingers: 55% (227); the both sides of fingers: 48% (198); and the palm of the hand: 3%. 

Conclusions: In the situation of carrying simple medical practices at outpatient department and/or normal 

patient  room,  hand  hygiene  technique  by  alcohol‐based  rub  (liquid  or  gel)  still  remains  some  particular  limitations in term of technical. Hand skin area covered less than 75% by antiseptic after applying completely  six‐step  hand  hygiene  technique  is  more  than  10%.  Furthermore,  such  areas  of  dorsum  of  the  hand,  nail  and  under‐nail areas, front and back sites of fingers, and between fingers are not easily exposed by antiseptic. It is  necessary  to  organize  training,  teaching  courses  efficiently  in  hand  hygiene  basing  on  good  practice  and  visualization of the risk of microbial pathogen transmission via hand. 

Keywords: Health care associated infection (HCAI), Hand hygiene, disinfectant, coverage rate. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Hiện  nay,  nhiễm  khuẩn  bệnh  viện  (NKBV) 

là  một  trong  những  vấn  đề  y  tế  nóng  bỏng  và 

được  quan  tâm  nhiều  nhất.  NKBV  làm  kéo  dài 

thời gian nằm viện, gây ra nhiều biến chứng tàn 

phế,  làm  tăng  khả  năng  đề  kháng  kháng  sinh 

của  vi  khuẩn  gây  bệnh,  là  gánh  nặng  tài  chính 

cho  người  bệnh  và  gia  đình,  và  cuối  cùng  làm 

tăng tỷ lệ tử vong. 

Về vai trò của bàn tay NVYT làm lan truyền 

các tác nhân gây NKBV, ngay từ thế kỷ 17, các 

nghiên cứu của Ignaz Semmelweis ở Vienna, Áo 

và Oliver Wendell Holmes ở Boston, Mỹ đã cho 

thấy bàn tay của NVYT là trung gian lan truyền 

các mầm bệnh trong bệnh viện. Tiếp theo nhiều 

thập  kỷ  sau  đó,  nhiều  nghiên  cứu  đã  đưa  ra 

chứng cứ về khả năng lây truyền mầm bệnh qua 

trung gian bàn tay (Casewell, 1977; Allen, 1975; 

Pittet, 1999). Tác nhân vi khuẩn gây bệnh sẽ có 

thể  được  lan  truyền  từ  người  bệnh  này  sang 

người  bệnh  khác  (hoặc  từ  người  bệnh  sang 

NVYT) thông qua một chuỗi các sự kiện liên tục: 

(i) vi sinh vật tồn tại trên da của người bệnh, và 

được  thải  vào  môi  trường  chung  quanh  người 

bệnh, (ii) các vi sinh vật này có khả năng ngoại 

nhiễm  vào  bàn  tay  của  NVYT  thông  qua  các 

hoạt  động  chăm  sóc,  đụng  chạm  trực  tiếp  vào 

người bệnh hoặc môi trường xung quanh người 

bệnh,  (iii)  nhiều  loại  vi  sinh  vật  có  khả  năng 

sống sót và tồn tại trên bàn tay NVYT vài phút, 

(iv)  không  vệ  sinh  tay  hoặc  vệ  sinh  tay  không 

đúng cách hoặc hóa chất sát khuẩn dùng cho vệ 

sinh  tay  không  có  tác  dụng,  (v)  bàn  tay  ngoại 

nhiễm  của  NVYT  tiếp  xúc  trực  tiếp  với  người  bệnh khác hoặc làm lây nhiễm lên một dụng cụ  chăm sóc người bệnh khác. Từ đó đã hình thành  khái niệm về vệ sinh tay trong cơ sở y tế, những  năm của thập kỷ 1980 đánh dấu các tiến bộ vượt  bậc về khái niệm và thực hành vệ sinh tay trong 

cơ  sở  y  tế  khi  hướng  dẫn  vệ  sinh  tay  cấp  quốc  gia đầu tiên ra đời (Hoa Kỳ). 

Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cũng đã phát  hành các khuyến cáo về vệ sinh bàn tay trong cơ 

sở y tế, bản cập nhật năm 2009 (WHO, 2009).  Tại Việt Nam cho đến hiện nay, văn bản nhà  nước quy định về vấn đề vệ sinh tay trong cơ sở 

y  tế  là  Công  Văn  số  7517/BYT‐ĐTr  về  “Hướng  dẫn thực hiện quy trình rửa tay thường quy và  sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn”  ban  hành  ngày  12/10/2007  (Công  văn  số  7517/BYT‐ĐTr,  2007).  Theo  tài  liệu  này,  quy  trình  kỹ  thuật  sát  khuẩn  tay  nhanh  gồm  sáu  bước như sau: 

Lấy  3ml  dung  dịch  chứa  cồn  vào  lòng  bàn  tay. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau. 

Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các  ngón tay của bàn tay kia và ngược lại. 

Chà  hai  lòng  bàn  tay  vào  nhau,  miết  mạnh  các kẽ ngón tay. 

Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này  vào lòng bàn tay kia và ngược lại. 

Dùng  lòng  bàn  tay  này  xoay  ngón  cái  của  bàn tay kia và ngược lại. 

Xoay đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia 

và ngược lại. 

Trang 3

Ghi  chú:  1/  Mỗi  bước  “chà”  5  lần;  2/  Thời 

gian “chà” tay tối thiểu 30 giây, hoặc chà xát tay 

cho đến khi tay khô; 3/ Không áp dụng phương 

pháp này trong trường hợp biết chắc hoặc nhìn 

thấy vết bẩn trên tay như: cầm nắm, đụng chạm 

vào vật dụng bẩn, tay dính máu, dính chất tiết. 

Rõ ràng là theo các quy trình này (WHO và 

Bộ Y Tế) các bước kỹ thuật đã được thiết kế để 

có  thể  “nhắm”  đến  việc  loại  bỏ  vi  sinh  vật  ô 

nhiễm trên da bàn tay ở các vùng: lòng bàn tay, 

lưng  bàn  tay,  phần  da  lòng  và  lưng  ngón  tay, 

phần  da  kẽ  tay  hai  bên,  phần  móng  và  dưới 

móng. Các quy trình kỹ thuật có đặt yêu cầu cụ 

thể về thời gian nhằm mục đích đạt được sự tiếp 

xúc  cần  thiết  (về  thời  gian)  giữa  hóa  chất  sát 

khuẩn  và  vi  sinh  vật  ô  nhiễm  (nếu  có)  nhằm 

mục đích tiêu diệt vi sinh vật. 

Trong quá trình thực hành kiểm soát nhiễm 

khuẩn, sự quan sát của chúng tôi dấy lên lo ngại 

rằng quy trình kỹ thuật sát khuẩn tay nhanh đã 

không được thực hiện một cách đúng đắn. Bởi vì 

chúng tôi cho rằng các bước kỹ thuật trong quy 

trình dù không thật phức tạp nhưng cũng không 

phải quá đơn giản, trong khi thái độ của đại đa 

số  nhân  viên  y  tế  lại  rất  thờ  ơ  và  không  quan 

tâm  đến  vấn  đề  này.  Khi  tìm  tài  liệu  y  văn  tại 

Việt  Nam  thì  thấy  số  liệu  khoa  học  về  vấn  đề 

này còn rất ít, do vậy chúng tôi thực hiện nghiên 

cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của sát khuẩn 

tay nhanh dựa trên một yếu tố là độ che phủ của 

hóa  chất  sát  khuẩn  trên  da  bàn  tay  sau  hoàn 

thành quy trình kỹ thuật. Thực hiện nghiên cứu 

này,  chúng  tôi  mong  muốn  đóng  góp  vào  kiến 

thức y học chung về vệ sinh tay trong cơ sở y tế, 

nhằm  giúp  nhân  viên  y  tế  nâng  cao  kiến  thức, 

thái độ, thực hành đối với vệ sinh bàn tay trong 

chăm sóc người bệnh. 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Nhân  viên  y  tế  đang  công  tác  trong  bệnh 

viện  không  phân  biệt  tuổi,  giới,  trình  độ,  khoa 

làm việc. 

Cỡ  mẫu  và  phương  pháp  lấy  mẫu  ngẫu  nhiên phân tầng 

Dân số chung (N: tổng số nhân viên tại các  khoa  phòng  có  tiếp  xúc  với  người  bệnh)  được  chia thành các dân số nhỏ hơn (Số nhân viên tại  các  khoa),  mỗi  một  khoa  được  gọi  là  một  tầng. 

Để đạt được kết quả tối ưu của sự phân tầng, số  lượng nhân viên của từng khoa phải được chia 

tỷ lệ, có nghĩa là sự phân bố của nhân viên y tế  trong cỡ mẫu tương đương với sự phân bố trong  dân số chung. Gọi Ni là dân số của khoa i, n là 

cỡ mẫu, và ni là số đối tượng được chọn từ tầng 

i, thì Ni/N = ni/n, hay số đối tượng được chọn từ  mỗi khoa sẽ là ni = n(Ni/N) (Bảng 1). 

Bảng 1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo khoa/phòng 

trong bệnh viện 

Khoa phòng số (N Tổng

i )

% theo dân số (N i /N)

Số lượng (n i )

Tạo Hình Thẩm Mỹ 15 1,97109067 8

Chẩn Đoán Hình Ảnh 101 13,27201051 54

Thăm Dò Chức Năng 9 1,182654402 5

Quy  trình  kỹ  thuật  sát  khuẩn  tay  nhanh  bằng hóa chất sát khuẩn dạng gel có chứa cồn và  chất phát huỳnh quang: áp dụng theo quy trình  của WHO và Bộ Y Tế (WHO, 2009 và Công văn 

số 7517/BYT‐ĐTr, 2007). 

Quy ước và phương pháp tính diện tích da  bàn tay 

Theo phương pháp tính diện tích da bị bỏng  của Blokhin và Glumov (1953) thì diện tích một 

Trang 4

tay) của bệnh nhân bằng 1% diện tích da toàn cơ 

thể  người  đó.  Suy  ra  diện  tích  da  một  bàn  tay 

chiếm 2% diện tích da toàn cơ thể. Các nhà khoa 

học  ước  tính  diện  tích  da  bao  phủ  cơ  thể  một 

người trung bình khoảng 2m2. Do đó, diện tích 

da của một bàn tay là 0,04m2 (400cm2). 

Toàn  bộ  da  từ  cổ  tay  trở  xuống  là  100%  và 

được  chia  thành  các  vùng  với  tỷ  lệ  %  như  sau 

(Hình 1): 

‐ Lòng bàn tay: 25%, trong đó 

Chia làm 4 phần đều nhau, mỗi phần 6,25% 

‐ Mu bàn tay: 25%, trong đó 

Chia làm 4 phần đều nhau, mỗi phần 6,25% 

‐ Mỗi ngón tay: 10%, trong đó: 

Vùng móng và dưới móng: 3,3%. 

Vùng kẽ tay 2 bên: 3,3%. 

Vùng lòng và lưng ngón: 3,3%. 

 

Hình 1: Quy ước phân chia các khu vực trên bàn tay 

Tính  toán  “độ  che  phủ”  của  hóa  chất  sát  khuẩn trên da bàn tay 

Quan  sát  các  vùng  không  sáng  màu  huỳnh  quang và cộng tỷ lệ %, sau đó tính độ che phủ  của dung dịch sát khuẩn tay bằng cách lấy 100% 

trừ  đi  cho  tỷ  lệ  các  vùng  da  mà  dung  dịch  sát  khuẩn tay không che phủ. 

KẾTQUẢ‐BÀNLUẬN  Phân tích mẫu nghiên cứu (Bảng 2) 

Toàn  bộ  có  412  nhân  viên  y  tế  tham  gia  nghiên  cứu,  trong  đó  chúng  tôi  đã  hoàn  thành  việc  thực  nghiệm  sát  khuẩn  tay  nhanh  và  ghi  hình trong 410 trường hợp (tỷ lệ 99,51%). 

Bảng 2: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Số lượng (Tỉ lệ %)

Phân bố mẫu theo tuổi Dưới 30 tuổi 268(65,29)

Từ 30 - 50 tuổi 129(31,55) Trên 50 tuổi 13(3,16) Phân bố mẫu theo số năm kinh nghiệm làm việ

Dưới 5 năm 266(64,81) Trên 5 năm 144(35,19) Phân bố mẫu theo trình độ của nhân viên y tế

Bác sỹ 33(8,01) Điều dưỡng 215(52,43)

Nhân viên Dược 32(7,77)

Kết quả phân tích mức độ che phủ của hóa  chất sát khuẩn trên bề mặt da bàn tay sau  khi  đã  thực  hiện  quy  trình  kỹ  thuật  sát  khuẩn tay nhanh 

Trong  412  nhân  viên  y  tế  tham  gia  nghiên  cứu, chúng tôi ghi hình được tổng cộng 410 hình  ảnh  bàn  tay  sau  khi  thực  hiện  quy  trình  sát  khuẩn  tay  nhanh  với  hóa  chất  sát  khuẩn  dạng  gel chứa  cồn  có  pha  hợp  chất  phát  màu  huỳnh  quang (khi soi dưới đèn huỳnh quang). 

Trong 410 mẫu thu thập được, chỉ có 47 mẫu  (chiếm  11,46%)  đạt  100%  mức  độ  che  phủ  của  hóa  chất  sát  khuẩn  trên  toàn  bộ  bề  mặt  da  bàn  tay. Sự khác biệt theo tuổi, số năm kinh nghiệm  làm việc và trình độ không có ý nghĩa thống kê. 

Trang 5

ở tất cả các nhóm đối tượng (Bảng 3). 

Bảng 3: Tỷ lệ số bàn tay đạt 100% độ che phủ của 

hóa chất sát khuẩn sau khi thực hiện xong quy trình 

sát khuẩn tay nhanh với hóa chất sát khuẩn dạng gel 

có chứa cồn và chất phát huỳnh quang. 

Tỷ lệ số bàn tay đạt 100% độ che phủ của hóa chất sát khuẩn (%)

Bác sỹ 15,15

Điều dưỡng 9,35

Nhân viên Dược 18,75

Khi phân tích và tính toán mức độ che phủ 

trung  bình  của  hóa  chất  sát  khuẩn  trên  da  bàn 

tay sau khi hoàn thành quy trình sát khuẩn tay 

nhanh,  điều  an  ủi  là  gần  90%  nhân  viên  y  tế 

tham  gia  nghiên  cứu  đạt  mức  độ  che  phủ  của 

hóa  chất  sát  khuẩn  trên  da  bàn  tay  từ  75‐100% 

(Bảng 4),  Tuy  vậy,  vẫn  có  7  trường  hợp  (chiếm 

1,7%), sau khi đã hoàn tất đầy đủ sáu bước của 

quy  trình  sát  khuẩn  tay  nhanh  mà  độ  che  phủ 

của hóa chất trên da bàn tay vẫn thấp hơn 50% 

(!),  Các  nhóm  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cứu 

gồm  bác  sĩ,  điều  dưỡng,  kỹ  thuật  viên,  nhân 

viên  hành  chánh  đều  cho  kết  quả  tương  đối 

tương đồng (từ trên 88% mức độ che phủ da bàn 

tay),  chỉ  có  nhóm  hộ  lý  cho  kết  quả  thấp  hơn 

(hơn 86%), dù rằng sự khác biệt này không có ý 

nghĩa thống kê (p>0,05) (Bảng 5). 

Bảng 4: Độ che phủ trung bình da bàn tay sau hoàn 

thành quy trình sát khuẩn tay nhanh 

Độ che phủ bàn tay (%)

Khi tiến hành phân tích vùng nào của bàn 

tay ít được che phủ bởi hóa chất sát khuẩn tay 

sau  khi  hoàn  thành  quy  trình  sát  khuẩn  tay 

nhanh,  chúng  tôi  phát  hiện  được:  ngoại  trừ 

vùng  lòng  bàn  tay  (là  nơi  trực  tiếp  hứng  hóa 

chất sát khuẩn từ bình đựng), những vùng da 

còn  lại  trên  bàn  tay,  bao  gồm  vùng  lưng  bàn  tay,  vùng  lòng  và  lưng  ngón  tay,  vùng  kẽ  tay  hai  bên,  vùng  móng  và  dưới  móng,  đều  có  tỷ 

lệ bị bỏ sót (không được che phủ bởi hóa chất  sát khuẩn) rất cao, từ khoảng 50‐60% (Bảng 6). 

Khi  phân  tích  riêng  đối  tượng  bác  sĩ  và  điều  dưỡng,  thậm  chí  vùng  móng  và  dưới  móng  còn có tỷ lệ bị bỏ sót lên đến hơn 75% (Bảng 7), 

mà  y  văn  đã  ghi  nhận  nhiều  đây  là  vùng  ẩn  nấp của vi khuẩn và cũng là vùng có tần suất  đụng chạm đến người bệnh (có nghĩa là có khả  năng lây truyền bệnh nhiều nhất). 

Bảng 5: Độ che phủ trung bình da bàn tay sau hoàn 

thành quy trình sát khuẩn tay nhanh theo từng đối 

tượng nhân viên y tế 

Độ che phủ trung bình theo đối tượng

(%)

Bác sỹ 88,1 Điều dưỡng 87,8

NVHC 88,6

Bảng 6: Tỷ lệ các vùng da của bàn tay không được 

che phủ bởi hóa chất sát khuẩn sau hoàn thành quy  trình sát khuẩn tay nhanh (bác sĩ và điều dưỡng) 

Bác sỹ (33) Điều dưỡng (216)

Lòng 0 3,7

Bảng 7: Tỷ lệ các vùng da của bàn tay không được 

che phủ bởi hóa chất sát khuẩn sau hoàn thành quy  trình sát khuẩn tay nhanh 

Tỷ lệ các vùng da của bàn tay không được che phủ bởi hóa chất sát khuẩn (%)

Lòng 3.16 Lưng 59,95

Trong  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  thực  nghiệm  mô  phỏng  tình  huống  chăm  sóc  người  bệnh trong phòng khám bệnh hay trong phòng  bệnh bình thường, yêu cầu nhân viên y tế tham  gia nghiên cứu hoàn thành quy trình sát khuẩn 

Trang 6

Các  kết  quả  thu  được  đã  phân  tích  ở  trên  bao 

gồm độ che phủ của hóa chất sát khuẩn trên da 

bàn  tay  (trung  bình  88,6%),  các  vùng  dễ  bị  bỏ 

sót…  cho  thấy  có  lẽ  còn  có  nhiều  vấn  đề  cần 

phải được nghiên cứu sâu rộng hơn đối với kỹ 

thuật  sát  khuẩn  tay  nhanh  bằng  các  loại  dung 

dịch hoặc gel có chứa cồn. Chúng ta biết đối với 

kỹ  thuật  này,  yếu  tố  duy  nhất  giúp  loại  bỏ  vi 

sinh vật ô nhiễm trên da bàn tay là sự tiếp xúc 

(có  điều  kiện  về  thời  gian)  giữa  hóa  chất  sát 

khuẩn với vi sinh vật, chứ không hề có tác động 

của yếu tố vật lý như cọ rửa bằng bàn chải trong 

kỹ  thuật  rửa  tay  với  nước  và  xà  phòng  (trong 

nghiên cứu này chúng tôi không đặt vấn đề với 

hóa chất sát khuẩn và giả thuyết rằng hóa chất 

sát khuẩn sử dụng ở đây đạt hiệu quả tiêu diệt 

vi  sinh  vật  theo  yêu  cầu).  Nếu  cho  rằng  quy 

trình  kỹ  thuật  sát  khuẩn  tay  nhanh  là  hợp  lý, 

trong  các  bước  kỹ  thuật  đều  có  nhắm  đến  các 

vùng  da  khác  nhau  trên  bàn  tay  thì  có  lẽ  động 

tác  kỹ  thuật  phức  tạp  đã  hạn  chế  hiệu  quả  của 

quy  trình,  và  rõ  ràng  kết  quả  nghiên  cứu  của 

chúng tôi cho thấy người nhân viên y tế, bất kể 

lứa  tuổi,  trình  độ,  kinh  nghiệm  lâu  năm  hay 

không,  đều  không  dễ  dàng  thực  hiện  tốt  quy 

trình kỹ thuật này (mà trong thâm tâm của tất cả 

mọi  người  chúng  ta  đều  cho  nó  là  giản  đơn, 

không  mấy  khi  được  quan  tâm  đến).  Do  vậy, 

chúng  tôi  cho  rằng  điều  cốt  lõi  ở  đây  là  phải 

được  đào  tạo  một  cách  nghiêm  túc,  thực  hành 

nhiều lần, và phải có kiểm soát chặt chẽ. 

KẾTLUẬN 

Sau  hoàn  thành  quy  trình  sát  khuẩn  tay  nhanh  bằng  hóa  chất  sát  khuẩn  dạng  gel  có  chứa  cồn,  độ  che  phủ  trung  bình  da  toàn  bộ  bàn tay là 88,6%. Ngoại trừ vùng lòng bàn tay,  các vùng khác của bàn tay (lưng bàn tay, lòng 

và  lưng  ngón  tay,  kẽ  tay  hai  bên,  phần  móng 

và  dưới  móng)  đều  có  tỷ  lệ  bị  bỏ  sót  (không  được che phủ bởi hóa chất sát khuẩn sau hoàn  thành  quy  trình  sát  khuẩn  tay  nhanh)  rất  cao  (xoay  quanh  50%).  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cũng  không  phát  hiện  được  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa thống kê theo độ tuổi, theo kinh nghiệm  lâu  năm,  và  theo  trình  độ  của  nhân  viên  y  tế  tham  gia  nghiên  cứu  (bác  sĩ,  điều  dưỡng,  kỹ  thuật viên, nhân viên hành chánh, hộ lý, nhân  viên vệ sinh). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

thực  hiện  quy  trình  rửa  tay  thường  quy  và  sát  khuẩn  tay  nhanh bằng dung dịch chứa cồn”, Hà Nội, Việt Nam. 

for Klebsiella species, B MJl, 2:1315–1317, 

hospital staff during routine patient care, Archives of Internal  Medicine, 159: 821–826, 

the  prevention  of  nosocomial  infection,  Annals  of  Internal  Medicine, Vol, 83:683‐685, 

WHO  Press,  World  Health  Organization,  20  AvenueAppia, 

1211 Geneva 27, Switzerland, 

  Ngày nhận bài báo: 07/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014  

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w