Việc đề cao nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ của các nhà khoahọc xuất phát từ nhận thức của họ về vai trò, chức năng của từ trong hệ thốngngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp, tư duy
Trang 1TR ƯỜ G ĐẠI HỌC S N Ư PHẠM HÀ NỘI
2 KHOA GIÁO D C Ụ MẦM NON
ĐINH THỊ HÀ PH ƯƠ G N
V G Ề IA ĐÌNH VÀ XÃ
H I Ộ
KHÓA LU N Ậ T T Ố NGHIỆP Đ I Ạ
H C Ọ Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn
ThS.GVC Phan Thị Thạch
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong
tổ bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong thời gianhọc tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - Th.S Phan Thị Thạch – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập,
nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này Đồng thời, em xin chânthành cảm ơn Ban Giám hiệu, toàn thể các cô giáo trường Mầm non ĐạiThịnh đã giúp em có những tư liệu tốt
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ,động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện khóa luận
Do hạn chế về thời gian, do bước đầu tập làm quen với công tác nghiêncứu, khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy,
em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Đinh Thị Hà Phương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu Bên cạnh đó, tôi được sự quan tâm của các thầy côgiáo trong khoa Giáo dục Mầm non, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Đinh Thị Hà Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Mục đích nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 7
1.1.1 Những hiểu biết chung về từ trong Tiếng Việt 7
1.1.2 Vốn từ và đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non 13
1.1.3 Năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp 17
1.2 Cơ sở tâm lí học 18
1.3 Cơ sở giáo dục học 21
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MGN TÌM HIỂU VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 24
2.1 Khảo sát thực trạng vốn từ của trẻ MGN ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 24
2.2 Khảo sát nội dung chương trình giáo dục dành cho trẻ MGN 27
2.2.1 Khảo sát nội dung chương trình giáo dục cho trẻ MGN do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành 27
2.2.2 Khảo sát việc thực hiện nội dung chương trình cho trẻ MGN ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 36
Trang 62.3 Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xã hội theo định
hướng phát triển vốn từ cho trẻ 42
2.3.1 Sử dụng biện pháp đàm thoại giúp trẻ MGN khám phá về Gia đình của bé theo định hướng phát triển vốn từ 42
2.3.2 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ khi tìm hiểu về Nhu cầu của gia đình thông qua việc tổ chức cho trẻ hoạt động cho trẻ hoạt động ở các góc
45 2.3.3 Sử dụng biện pháp hướng dẫn trẻ quan sát giúp trẻ MGN khám phá về Ngôi nhà gia đình ở theo định hướng phát triển vốn từ 47
2.3.4 Sử dụng trò chơi học tập giúp trẻ khám phá Một số nghề phổ biến, quen thuộc trong xã hội và một số nghề phổ biến ở địa phương theo định hướng vốn từ 50
2.3.5 Sử dụng đồ chơi để giúp trẻ MGN khám phá về Phương tiện giao thông theo định hướng phát triển vốn từ 56
2.3.6 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ thông qua hoạt động dạy trẻ đọc những bài thơ tìm hiểu về một số Luật giao thông 57
2.3.7 Sử dụng tranh ảnh để giúp trẻ khám phá về Đất nước Việt Nam diệu kì theo định hướng phát triển vốn từ 60
2.3.8 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ khi tìm hiểu về Bác Hồ kính yêu thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe 63
2.3.9 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ khi tìm hiểu về Quê hương thông qua hoạt động ngoài trời – dạo chơi tham quan 66
2.4 Giáo án thể nghiệm 67
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Các nhà khoa học giáo dục đều xác định phát triển vốn từ là một trongnhững nhiệm vụ trọng yếu để thực hiện mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻmầm non Việc đề cao nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ của các nhà khoahọc xuất phát từ nhận thức của họ về vai trò, chức năng của từ trong hệ thốngngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp, tư duy của con người nói chung, củatrẻ mầm non nói riêng
Với trẻ mầm non đặc biệt là trẻ MGN, việc phát triển vốn từ giúp cácbé: tăng số lượng từ, hiểu nghĩa của chúng và biết cách sử dụng loại đơn vịnày trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Nhờ vậy trẻ được bồi dưỡng vềnăng lực ngôn ngữ, trong đó có năng lực sử dụng từ, năng lực tư duy và giaotiếp
Hòa chung với không khí đổi mới của toàn ngành Giáo dục – Đào tạo,trước những đòi hỏi của công cuộc Công nghiệp hóa – hiện đại hóa và xu thếhội nhập toàn cầu, trong những năm gần đây nội dung chương trình giáo dục
ở bậc mầm non đã có những thay đổi Biểu hiện rõ nhất về sự thay đổi đó làviệc tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mầm non theo những đề tài, nhữngchủ đề thuộc cấp độ khác nhau Những thay đổi đó góp phần giúp trẻ hìnhthành và phát triển các năng lực cơ bản trong đó có năng lực sử dụng từ
Trong ngôn ngữ, từ là một thể thống nhất giữa âm thanh và nội dung ýnghĩa, là đơn vị trung tâm, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu Để
có thể giao tiếp tốt, để có thể tự bộc lộ những nhu cầu, momg muốn, tâm tư,tình cảm của bản thân trẻ em cần được trang bị cho mình một vốn từ ngữphong phú Việc có được một vốn từ ngữ phong phú sẽ giúp ích cho trẻ rấtnhiều, nhờ đó trẻ có thể tự nắm bắt được những gì mà trẻ nghe được từ mọingười xung quanh Trẻ có thể tự do bày tỏ cảm xúc và nói lên suy nghĩ củabản thân với nhiều người khác, qua đó nâng cao khả năng giao tiếp xã hội củatrẻ Trẻ mầm non nói chung và trẻ MGN nói riêng cần phải được trang bị chomình một vốn từ nhất định để giao tiếp, tiếp thu những tri thức ban đầu trongtrường mầm non, là nền tảng để trẻ lĩnh hội các kiến thức ở các bậc học tiếptheo
Trang 8Có thể thấy rằng, Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thốnggiáo dục quốc dân Nếu ví rằng quá trình học tập của con người giống như
quá trình xây dựng một ngôi nhà thì bậc học mầm non chính là những “viên
gạch” đầu tiên đặt nền móng cho ngôi nhà ấy, nền móng có chắc thì ngôi nhà
mới trở nên vững chãi Như vậy, bậc học mầm non được coi là bước đệm, làtiền đề vô cùng quan trọng cho trẻ trước khi đến trường phổ thông Sinh thời,Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:
“Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”.
Điều đó cho thấy rằng trẻ em ở lứa tuổi mầm non cần được nâng niu,chăm sóc và dạy dỗ một cách đặc biệt Trường mầm non là nơi nuôi dưỡng,khơi dậy và phát huy tối đa các năng lực và trí tuệ của trẻ ngay từ những nămtháng đầu tiên của cuộc sống Ở đó, trẻ phải được hoạt động để bộc lộ mình
và phát triển tối đa các năng lực, phẩm chất, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ, laođộng Nội dung tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường mầm non gắn
với chín chủ đề và khi nói về chủ đề “Gia đình và xã hội” là nói tới chủ đề mà
GV có thể tích hợp nhiều tri thức để phát triển vốn từ cho trẻ MGN Có thể
nói rằng, Gia đình và xã hội là một trong những chủ đề quan trọng và hấp
dẫn, một trong những chủ đề khơi nguồn cho sự tìm tòi, khám phá đối với trẻmầm non đặc biệt là trẻ MGN Thông qua các hoạt động tìm hiểu về gia đình
và xã hội, ngôn ngữ của trẻ ngày càng được mở rộng và hoàn thiện dần, giúptrẻ tích lũy được nhiều vốn từ vựng cần thiết và lĩnh hội ý nghĩa của từ Đểthực hiện được mục tiêu này đòi hỏi người giáo viên khi tổ chức cho trẻ hoạtđộng phải có sự kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp, hình thức dạy học đểtrẻ có thể phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển hoànthiện bản thân
Là một sinh viên khoa Giáo dục Mầm non, tương lai sẽ chăm lo đếntừng bữa ăn, từng giấc ngủ, chăm sóc những mầm xanh của cuộc đời, chúngtôi thực sự rất chú ý đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, đặc biệt làphát triển vốn từ cho trẻ MGN
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ cho trẻ mầmnon và mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc cụ thệ hóa nội dung,biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua một nội dung cụ thể,
Trang 9chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ
thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội”.
2 Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu về từ, vốn từ và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo không phải
là vấn đề mới mẻ vì đã có nhiều nhà khoa học, nhiều sinh viên khoa Giáo dụcMầm non Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nghiên cứu Chúng ta có thểtổng thuật tình hình nghiên cứu về vấn đề này từ các nhóm tác giả sau:
2.1 Việc tìm hiểu về vốn từ nói chung và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non nói riêng từ góc nhìn của các nhà khoa học:
- Đỗ Hữu Châu,“Giáo trình Việt ngữ tập hai”, NXB Giáo dục, 1962.
Trong cuốn giáo trình này, Đỗ Hữu Châu đã nghiên cứu các đơn vị từ vựngtrong tiếng Việt Vốn từ là một trong những nội dung được ông đề cập đếnkhi tìm hiểu về loại đơn vị ngôn ngữ được xem là đơn vị trung tâm, đơn vị cơbản của tiếng Việt
- Nguyễn Xuân Khoa là nhà khoa học giáo dục đầu tiên ở Việt Nam đã
đề cập đến và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Trong cuốn giáo trình
“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB Đại học Sư
phạm, 2004 tác giả đã dành chương V- một trong mười hai chương sách đểtrình bày khái quát những nội dung liên quan đến việc phát triển vốn từ chotrẻ mẫu giáo
- Trong cuốn “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ dưới 6 tuổi”,
nhóm tác giả Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức, NXB Đạihọc Quốc gia Hà Nội, 2005 cũng đã dành một chương (chương IV) trong támchương của giáo trình để trình bày phương pháp phát triển vốn từ cho trẻthuộc đối tượng nghiên cứu
- Đinh Hồng Thái - tác giả giáo trình: “Phương pháp phát triển lời nói
cho trẻ em” đã trình bày ba vấn đề chính Ở phần thứ ba của giáo trình tác giả
đã dành chương VI để trình bày khái quát về nội dung, biện pháp hình thành
và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
2.2 Việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non từ góc nhìn của sinh viên khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trang 10Trong những năm gần đây, phát triển ngôn ngữ nói chung và phát triểnvốn từ cho trẻ mầm non nói riêng là một vấn đề được rất nhiều sinh viên khoaGiáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đi vào nghiên cứu trêncác khía cạnh khác nhau
Năm 2009 với đề tài: “Phương pháp trực quan trong việc phát triển
vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé”, Nguyễn Thị Hoa, Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã
trình bày cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu Đồng thời, ở khóa luận nàyNguyễn Thị Hoa cũng đã đưa ra những hướng dẫn sử dụng một số đồ dùngtrực quan trong việc phát triển vốn từ cho trẻ MGB
Trẻ 5-6 tuổi là lứa tuổi phát triển nhất về nhận thức trong giai đoạn mẫugiáo, trẻ chuẩn bị bước vào một môi trường hoàn toàn mới mẻ nên việc trang
bị cho các em một vốn từ ngữ phong phú là rất cần thiết Xuất phát từ gócnhìn này, năm 2012 khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Quyên, Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 đã bàn về: “Một số biện pháp dùng lời nói nhằm phát triển
vốn từ ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các tác phẩm văn học” Vũ Thị Quyên
đã trình bày những cơ sở lí luận sắc bén về đề tài nghiên cứu, đưa ra nhữngkết luận khoa học trên cơ sở phân tích và miêu tả kết quả một số biện phápdùng lời để phát triển vốn từ ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các tác phẩm vănhọc
Cũng nghiên cứu về vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ, Trần Ngọc Anh,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 lại nhìn nhận vấn đề ở góc nhìn khác Với
đề tài: “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện cổ
tích”,2013 Trần Ngọc Anh đã hệ thống hóa được cơ sở lí luận của việc phát
triển vốn từ, đồng thời đề ra các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGLthông qua truyện cổ tích rất sáng tạo và sinh động
Với đề tài: “Nội dung, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông
qua các hoạt động giáo dục tìm hiểu về thế giới thực vật” (2016), Nguyễn Thị
Huệ, sinh viên khoa Giáo dục Mầm non – Trường Đại học sư Phạm Hà Nội 2lựa chọn được một số lí thuyết tiêu biểu của ngôn ngữ học, tâm lí học và giáodục học làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu Cũng ở đề tài này, tác giảkhóa luận đã bước đầu đề xuất một số nội dung, biện pháp phát triển vốn từcho trẻ MGN thông qua các hoạt động giáo dục tìm hiểu về thế giới thực vật
Trang 11Tựu chung, các nhà khoa học, các bạn sinh viên đều muốn tìm ra cáchình thức, biện pháp để phát triển vốn từ cho trẻ một cách hiệu quả nhất, nângcao chất lượng dạy và học của ngành Giáo dục Mầm non nói riêng và nềngiáo dục của đất nước ta nói chung Chúng ta có thể thấy rằng, tìm hiểu vềvốn từ và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non không phải là một vấn đề mới
mẻ Tuy nhiên, cho tới thời điểm này chưa có một tác giả, một công trìnhkhoa học nào đi sâu, tìm hiểu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông quahoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của
vấn đề này, chúng tôi lựa chọn và tìm hiểu đề tài: “Phát triển vốn từ cho trẻ
mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội”.
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những biện pháp phát triển vốn
từ cho trẻ thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Lựa chọn những lí thuyết chuyên ngành sát thực làm cơ sở lí luận cho khóa luận
4.2 Khảo sát thống kê
a Thực trạng vốn từ của trẻ MGN trong hoạt động tìm hiểu về gia đình và
xã hội ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thànhphố Hà Nội
b Nội dung chương trình hướng dẫn trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xãhội trong chương trình giáo dục ở bậc mầm non
5 Mục đích nghiên cứu
Việc thực hiện đề tài trước hết giúp tác giả khóa luận nắm chắc cơ sở líluận của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Đồng thời,nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn tìm ra được các biệm pháp tốtnhất để phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua hoạt động tìm hiểu về giađình và xã hội
Đề tài nghiên cứu góp phần cung cấp thêm một tài liệu tham khảo chocác bạn sinh viên cuối khóa khoa Giáo dục Mầm non và những người quan
Trang 12Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thu thập tài liệu và xử lí những
số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
7.2 Phương pháp phân tích
Đây là một trong những phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng
để phân tích hiệu quả tác động của các hoạt động tìm hiểu về gia đình và xãhội đến việc phát triển vốn từ cho trẻ MGN
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận được chia thànhhai chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xã hội
theo định hướng phát triển vốn từ cho trẻ
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1 Những hiểu biết chung về từ trong tiếng Việt
1.1.1.1 Khái niệm về từ
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn
Như Ý (chủ biên), NXB Giáo dục, 1996, khái niệm về từ được Đỗ Hữu Châu
quan niệm như sau: “Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng là
một hình thức ngữ pháp được các thành viên của một tập thể hiểu như nhau trong quá trình trao đổi Từ có âm thanh và hình thức Tuy vậy âm thanh và hình thức chỉ là những phương tiện cấu tạo nên từ, bản thân chúng chưa phải
là từ Chỉ khi nào gắn liền với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng biểu đạt tư tưởng” [1, tr.330-331].
1.1.1.2 Đặc điểm của từ trong tiếng Việt
a Về mặt cấu tạo
Từ là đơn vị được cấu tạo bởi hai mặt: hình thức (CBĐ) và nội dung(CĐBĐ) Hình thức của từ có thể là ngữ âm (ở dạng nói) hoặc chữ viết (ởdạng viết) Nội dung của từ là các thành phần ý nghĩa được biểu đạt tronghình thức của nó
Trang 14Dựa vào phương thức được vận dụng để cấu tạo từ, các nhà khoa học
phân chia thành hai kiểu chính, đó là từ đơn và từ phức.
a.Từ đơn
a1 Khái niệm
Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra rằng: “Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt
ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của chúng từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” [1,
tr.354]
a2 Phân loại
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong “Tiếng Việt” (tập hai) đã chia từ đơn
thành hai loại:
- Từ đơn đơn âm: là những từ có một âm tiết
VD: ăn, mặc, đi, đứng, chạy, nhảy,…
- Từ đơn đa âm: là những từ có nhiều âm tiết, đó là những từ thuần Việt và
từ vay mượn từ tiếng nước ngoài
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về từ ghép Ở đây, chúng tôi lựa chọn
khái niệm: “Khác với các từ láy trong đó một hình vị (hình vị láy) được sản
sinh từ hình vị kia (hình vị cơ sở), từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo), taxhs biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau”.
(Đỗ Hữu Châu [1, tr.361])
VD: xăng dầu, điện nước, buôn bán, phố phường, đường sá,…
Trang 15Về mặt ngữ pháp, Từ ghép được chia thành hai nhóm lớn dựa vào quan
hệ ngữ pháp giữa các thành tố tham gia cấu tạo từ, đó là: từ ghép đẳng lập và
từ ghép chính phụ
b1.1 Từ ghép đẳng lập (từ ghép hợp nghĩa, từ ghép tổng hợp)
Từ ghép đẳng lập được Đỗ Hữu Châu định nghĩa như sau: “Hai hình vị
kết hợp với nhau để tạo nên một từ ghép hợp nghĩa phải cùng một phạm trù ngữ nghĩa (nghĩa là hoặc cùng chỉ sự vật, hoặc cùng chỉ hoạt động, hoặc cùng chỉ tính chất, hoặc cùng chỉ số lượng…) và phải hoặc đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa với nhau cùng chỉ những sự vật, hiện tượng…có quan hệ cùng cấp…(tức thuộc cùng một loại) gần gũi nhau” [1, tr.367].
VD: sách vở, quần áo, bàn ghế, ăn uống, yêu thương, già trẻ, gái trai,…
b1.2 Từ ghép chính phụ (từ ghép phân nghĩa, từ ghép phân loại)
“Từ ghép phân nghĩa là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay
đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong dod cơ một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập với nhau, và độc lập với loại lớn Các từ ghép phân nghĩa lập thành những hệ thống lớn gồm một số từ thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn”.
Phân loại từ láy:
Trang 16b2.1 Dựa vào số lượng tiếng tham gia cấu tạo, người ta phân chia thành: từláy đôi, từ láy ba, từ láy tư
VD1: nhỏ nhắn, xinh xắn, xấu xa, đùng đùng, khéo léo, rì rào,…
VD2: sạch sành sanh, sát sàn sạt, dửng dừng dưng, tẻo tèo teo,…
VD3: nhí nha nhí nhảnh, khấp kha khấp khểnh, dung dăng dung dẻ, vội
vội vàng vàng,…
b2.2 Dựa vào yếu tố ngữ âm của tiếng gốc được láy lại trong cấu tạo từ, người
ta phân chia từ láy thành:
- Từ láy toàn phần
VD: xanh xanh, ào ào, ầm ầm, oang oang,…
- Từ láy bộ phận: Ở kiểu từ này, người ta lại phân chia thành từ láy phụ âmđầu và từ láy vần
VD1: nhỏ nhoi, đẹp đẽ, phảng phất, đo đỏ, lấp lánh,…
VD2: lúng túng, lỏng chỏng, bối rối, bồi hồi, linh tinh,…
1.1.1.4 Sự phân loại từ theo đặc điểm ngữ nghĩa
a Từ một nghĩa và từ nhiều nghĩa
a2 Từ nhiều nghĩa
Từ nhiều nghĩa hay còn gọi là từ đa nghĩa được Đỗ Hữu Châu định
nghĩa: “Từ đa nghĩa là một từ, có sự thống nhất về nội dung và hình thức.
Trong một giai đoạn lịch sử nhất định các ý nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa vẫn có liên hệ chặt chẽ với nhau và không thoát li nghĩa chính” [1,
tr.3387]
Trang 17Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xảy ra với cả ý nghĩa biểu vật, cả với ýnghĩa biểu niệm, cả với ý nghĩa biểu thái.
VD: Từ “MŨI” trong tiếng Việt, với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ cónhững nghĩa khác nhau
1 Bộ phận của cơ quan hô hấp
2 Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi súng
3 Phần trước của tàu thuyền: mũi tàu, mũi thuyền
4 Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi Cà Mau
5 Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có cái mũi rất thính.
6 Đơn vị quân đội: Mũi quân bên trái.
[2, tr.131-132]
b Từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa
b1 Từ đồng nghĩa
Khái niệm từ đồng nghĩa được Đỗ Hữu Châu định nghĩa một cách ngắn
gọn như sau: Từ đồng nghĩa “là những từ căn bản tương đồng về nội dung, là
những đồng nghĩa tự nhiên không bị lệ thuộc vào hoàn cảnh ngôn ngữ”.
Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm về từ trái nghĩa như sau: “Từ trái
nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập nhau, biểu thị những khái nệm tương phản, chống đối nhau Sự tương phản bao giờ cũng thuộc một sự thống nhất nào đó: nếu không có sự thống nhất thì các sự vật không thể là tương phản được.” [1, tr.401]
VD: tốt > < xấu, thiện > < ác, chăm chỉ > < lười biếng, dũng cảm > < hèn
nhát,…
1.1.1.5 Sự phân loại từ theo đặc điểm ngữ pháp
Trang 18Dựa vào đặc điểm ngữ pháp (tức là dựa vào khả năng kết hợp của từtrong cụm từ và chức năng của nó trong cụm từ và câu), các nhà khoa họcphân chia từ tiếng Việt thành 9 từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ,phụ từ, quan hệ từ, thán từ, tình thái từ
- Danh từ: là những thực từ dùng để biểu đạt các sự vật, hiện tượng trongthế giới khách quan
VD1: Thùy Linh, Hà Nội, sách vở, cái bàn, cái ghế,…
- Động từ: là những thực từ dùng để chỉ hoạt động, trạng thái của các sự vậthiện tượng
VD2: đi, đứng, chạy, nhảy, ao ước, biến mất, sinh ra,…
- Tính từ: là những thực từ biểu thị tính chất, đặc điểm, màu sắc của sự vật
VD3: xanh lơ, nóng, lạnh, nặng, nhẹ, nhiều ít, cao, thấp, đầy, vơi,…
- Đại từ: là những từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Đại từ không trực tiếp biểuthị thực thể, quá trình hoặc đặc trưng như danh từ, động từ và tính từ Đại
từ chỉ biểu thị các ý nghĩa đó một cách gián tiếp, chúng mang nội dungphản ánh vốn có của các thực từ được chúng thay thế
VD4: chúng tôi, mình, tớ, sếp, bác sĩ, vì sao, bao giờ, bao lâu,…
- Số từ: gồm những từ biểu thị ý nghĩa số Xét theo đối tượng phản ánhtrong nhận thức và tư duy, ý nghĩa số vừa có tính chất thực, vừa có tínhchất hư
VD5: một, hai, ba, một phần hai, một phần tư, chừng, khoảng,…
Trang 19- Quan hệ từ: là từ loại biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm
và đối tượng được phản ánh Quan hệ từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các
từ, các cụm từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa các câu mà nó liên kết.Quan hệ từ không có ý nghĩa từ vựng chỉ thuần túy mang ý nghĩa ngữ pháp
VD8: và, với, cùng, hay, hoặc, do, vì, bởi, tại,…
- Thán từ: là từ loại dùng để biểu hiện cảm xúc, biểu lộ trực tiếp thái
độ, tình cảm chủ quan của chủ thể phát ngôn
VD9: ôi, chao ôi, trời ơi, ủa, chà, ái chà,…
- Tình thái từ: là những tiểu từ chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa tình tháitrong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phảnánh, hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn
VD10: à, ạ, ư, nhỉ, nhé, chứ, chăng, hử, hả,…
1.1.2 Vốn từ và đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
1.1.2.1 Khái niệm về vốn từ
Các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau về vốn từ
Trong “777 khái niệm ngôn ngữ học”, NXB Đại học Quốc gia, 2010, Nguyễn
Thiện Giáp đã trình bày khái niệm về vốn từ một cách ngắn gọn như sau:
“Vốn từ là một bộ phận trong tập hợp từ vựng của ngôn ngữ Từ vựng của
một ngôn ngữ là cái khách quan, là bộ phận cấu thành một ngôn ngữ Vốn từ chỉ là bộ phận từ vựng của một cá nhân, một văn bản nào đó hay của một lĩnh vực nào đó mà thôi”.
1.1.1.2 Sự phân loại vốn từ từ góc nhìn của các nhà khoa học
Các nhà ngôn ngữ học đã phân chia vốn từ thành hai loại: Vốn từ tíchcực và vốn từ tiêu cực
- Nguyễn Thiện Giáp đã cho rằng: “Từ vựng tích cực là những từ ngữ
quen thuộc, được sử dụng thường xuyên trong phạm vi nào đó của việc giao tiếp bằng ngôn ngữ” [1, tr.429].
- “Từ vựng tiêu cực là những từ ngữ ít dùng hoặc không được dùng Nó
bao gồm các từ ngữ đã lỗi thời và các từ ngữ còn mang sắc thái mới, chưa được dùng rộng rãi” (Nguyễn Thiện Giáp, [1, tr.430].
Trang 20Đinh Hồng Thái trong “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” đã đưa
ra khái niệm về vốn từ tích cực và vốn từ tiêu cực (vốn từ thụ động) như sau:
- Vốn từ tích cực: là vốn từ bao gồm những từ người ta hiểu và sử dụngđược trong giao tiếp
- Vốn từ tiêu cực: là vốn từ con người hiểu mà không sử dụng được Khinghe người khác nói, ta hiểu, nhiều khi đoán hết nghĩa của từ nào đó (nhất lànghe tiếng nước ngoài) nhưng lại không sử dụng vào giao tiếp được Trẻ mẫugiáo có giai đoạn chỉ nghe hiểu mà không nói được Tích cực hóa vốn từ(chuyển từ thụ động sang tích cực) là một nội dung quan trọng của giáo dụcngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
1.1.2.3 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo
a Vốn từ xét về mặt số lượng
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non là một quá tình từ thấp đến caovới các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi củatrẻ
Trẻ sơ sinh chưa hiểu được ngôn ngữ của người lớn Ở giai đoạn này,trẻ bắt đầu cảm nhận ngữ điệu và giọng nói của người mẹ
Khi trẻ được 7 – 8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên của mình
Đến 10 – 11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ các sự vật, người màtrẻ thường xuyên được tiếp xúc
Từ 12 tháng trở đi, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện từ ngữ chủ độngđầu tiên Ở 18 tháng tuổi, số từ bình quân là 11 từ, trẻ bắt chước người lớn lặp
lại một số từ đơn gần gũi: bà, mẹ, bố,…
Từ 19 – 21 tháng, số lượng từ tăng nhanh Đến 21 tháng trẻ đạt tới 220
từ Giai đoạn 21 – 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt 234 từ vào tháng 24, sau
đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ
Theo thống kê của tác giả Đinh Hồng Thái, đến năm thứ ba, trẻ đã sửdụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các loại khácrất ít Trẻ nắm được một số danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con
Trang 21vật gần gũi như: gà, chó, mèo,…Động từ chỉ hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh như: ăn, uống, đi, đứng, chạy, nhảy,…
Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ Ưu thế vẫn thuộc về danh
từ và động từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ
Từ 5 – 6 tuổi, vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1.033 từ, tính từ và các
loại khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn
Tốc độ tăng vốn từ của trẻ em ở các độ tuổi là khác nhau, chậm dầntheo độ tuổi: cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi
so với đầu 4 tuổi tăng 40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi vốn từ củatrẻ tăng
10,04%; cuối 6 tuổi so với đầu 6 tuổi chỉ tăng 10,01%
Chúng ta có thể nhận thấy rằng quy luật tăng số lượng từ của trẻ diễn ra
như sau:
- Số lượng từ của trẻ tăng theo thời gian
- Sự gia tăng tốc độ không đồng đều, có giai đoạn tăng nhanh, có giai
chậm
- Trong năm thứ 3 tốc độ số lượng từ của trẻ tăng nhanh nhất
- Trẻ từ 4 – 6 tuổi tốc độ tăng vốn từ giảm
dần b Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất
lượng từ Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện chotrẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn từcủa trẻ, ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ và tính từ, các loại
từ khác xuất hiện muộn hơn
Theo Xtecnơ, trong ngôn ngữ trẻ em xuất hiện trước hết là danh từ
Trang 226,8%, đại từ: 3,1%, phó từ: 7,8%, tình thái từ: 4,7%, số từ 2,5%, quan hệ từ1,7%.
Trang 23Giai đoạn 5 – 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu
từ loại trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (chỉ khoảng 50%),các từ loại khác tăng lên: tính từ đạt tới 15%, quan hệ từ tăng lên đến5,7%, còn lại là các loại từ khác [6, tr.78]
Trẻ mẫu giáo nói nhiều nhưng chưa phải là nói hay, vì vậy cần bồidưỡng cho trẻ các từ loại khác nhau để trẻ nói hay, diễn đạt chính xác nội
dung thông báo và biểu cảm
c Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ mẫu giáo
Theo Fedorenko (Nga), trẻ em nói chung có 5 mức độ hiểu nghĩa khái
quát nghĩa của từ, tương ứng với các mức độ: mức độ zero (mức độ 0),mức độ 1, mức độ 2, mức độ 3, mức độ 4
- Mức độ zero (mức độ 0): Mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó Cuối một tuổi,đầu hai tuổi, trẻ hiểu được những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn lẻ, cụthể, tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh)
- Mức độ 2: Mức độ hiểu nghĩa từ của trẻ mang tính khái quát hơn
VD: Trẻ hiểu được rằng “xe” có thể chỉ bất cứ một loại xe nào đó: xe
đạp, xe máy, xích lô, ô tô,…
“con vật” có thể là: chó, mèo, gà, vịt, cá, tôm,…
- Mức độ 3: Đây là mức độ hiểu nghĩa của từ cao hơn mà trẻ 5 – 6 tuổi cóthể nắm được
VD: “đồ vật” có thể chỉ “đồ chơi” như: búp bê, siêu nhân,…; “đồ dùng
gia đình” như: giường, tủ, bàn ghế,…; “đồ dùng học tập” như: bút chì, thước
kẻ, vở, tẩy,…
Trang 24“bút chì” chính là mức độ 1 của sự khái quát, “đồ dùng học tập”: mức
độ 2 của sự khái quát; “đồ vật”: mức độ 3 của sự khái quát.
Trang 25- Mức độ 4: Khái quát tối đa, gồm những khái niệm trừu tượng.
VD: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng,…
1.1.3 Năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp
1.1.3.1 Khái niệm về năng lực
Phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau và mỗi
cách hiểu lại có những thuật ngữ tương ứng:
- Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiệnkhi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định Chẳnghạn, khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh,…thường được đánh giábằng các trắc nghiệm trí tuệ
- Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ / mộthành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểubiết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động [11, tr.7]
1.1.3.2 Năng lực ngôn ngữ
Năng lực ngôn ngữ được hiểu là: “Khả năng sáng tạo cuả người nói
không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp nhằm tạo ra hàng loạt các phát ngôn và hiểu được chúng một cách tự nhiên, còn gọi là “ngữ năng” Nhờ năng lực này mà con người tạo ra những câu có tính ngữ pháp, có thể nói năng một cách tự nhiên, nhận thức và hiểu một cách tự nhiên số câu mà phần lớn trước đó họ chưa hề nói Năng lực này được hình thành rất sớm, ngay từ khi còn rất nhỏ” [1, tr.142].
Các nhà ngữ pháp tạo sinh cho rằng: “Con người sinh ra đã có hiểu biết
về tiếng mẹ đẻ” Mức độ hiểu biết đó ở mỗi cá nhân có sự khác biệt nhau
do: đặc điểm lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, khả năng nhận thức, đặcđiểm cá tính của mỗi người Khả năng đó phản ánh năng lực ngôn ngữ củamỗi cá nhân
Giải thích về hiện tượng trẻ em trước khi được tiếp thu giáo dục chínhquy đã có thể nói được những câu hoàn chỉnh, các nhà ngữ pháp tạo sinh
Trang 26linh” của chúng đã dần hình thành một số quy tắc cơ bản Vì thế DellHymess
đề nghị nên gọi năng lực ngôn ngữ là năng lực ngữ pháp [3, tr.180]
Trang 27Theo chúng tôi, năng lực ngôn ngữ của trẻ biểu hiện ở việc trẻ có vốn
từ phong phú, hình thành nên những câu nói hay, có ý nghĩa và phù hợpvới hoàn cảnh giao tiếp
1.1.3.3 Năng lực giao tiếp
Nguyễn Văn Khang cho rằng, năng lực giao tiếp có thể được hiểu lànăng lực vận dụng ngôn ngữ để giao tiếp xã hội
Cũng theo tác giả, nội dung của khái niệm này là sự kết hợp linh hoạtgiữa ba thành tố gồm: Cấu trúc ngôn ngữ, sự vận dụng ngôn ngữ và đời sống
xã hội
Đối với trẻ nhỏ, nói cách khác con người ở tuổi ấu thơ cùng một lúc cầnhọc để có năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp Nội dung phát triển ngônngữ cho trẻ mẫu giáo cần chú ý bồi dưỡng cả hai nhiệm vụ này [3, tr.183]
1.2 Cơ sở tâm lí học
Vui chơi là một dạng hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo Ở tuổiMGB, hoạt động vui chơi đã phát triển mạnh, đặc biệt là sự phát triển củatrò chơi ĐVTCĐ Tuy nhiên phải đến tuổi MGN thì hoạt động vui chơi mớiđạt tới dạng chính thức và mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất Có thể nói rằng,hoạt động vui chơi ở lứa tuổi MGN đang phát triển tới mức hoàn thiện,điều đó
được thể hiện ở các đặc điểm sau đây:
Trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN thể hiện rõ tính tự lực, tự do và chủđộng Trẻ MGB tuy đã biết chơi nhưng tính tự lực còn yếu, khi chơi đặc biệt
là trò chơi ĐVTCĐ, trẻ còn bị phụ thuộc vào người lớn Đối với trẻ MGN,trong quá trình vui chơi, trẻ bộc lộ toàn bộ tân trí của mình, nhận thức, tìnhcảm, ý chí, nói năng đều tỏ ra tích cực và chủ động Trong khi vui chơi, trẻmẫu giáo thể hiện tính tích cực, tính tự do rất rõ, ít lệ thuộc vào người lớn vàhoàn toàn phụ thuộc vào ý thích của mình Tính tự lực, tự do của trẻđược biểu hiện thông qua việc trẻ có thể tự do lựa chọn chủ đề chơi và nộidung chơi, lựa chọn bạn cùng chơi và tự do tham gia vào trò chơi nào màmình muốn, đồng thời tự do rút khỏi trò chơi khi mà mình không còn thích
Trang 28Trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN đã biết thiết lập những quan hệ
rộng rãi và phong phú với các bạn cùng chơi, một “xã hội trẻ em” được hình
thành Ở tuổi MGN, việc chơi của trẻ đã tương đối thành thạo và việc chơivới nhau
Trang 29trong nhóm bạn bè đã trở thành một nhu cầu bức bách, vì trò chơi phảicó
nhiều vai thì trò chơi ấy mới trở nên hấp dẫn hơn bao giờ
hết
VD: Trò chơi theo chủ đề “bệnh viện” trẻ đặt ra rất nhiều nhân vật
khác nhau và mỗi trẻ sẽ hóa thân vào một nhân vật: một người con bị ốm, người mẹ đưa con đi bệnh viện để khám, bác tài xế chở hai mẹ con đến bệnh viện Khi ở bệnh viện, có thể có bác sĩ, y tá và các bệnh nhân khác,…
Cứ như thế, quan hệ của trẻ ngày càng trở nên đa dạng hơn, một xã hộicủa con người được thu nhỏ lại, sự nhập vai của trẻ cũng trở nên thành thạohơn
Ở lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là trẻ MGN, nhu cầu giao tiếp với bạn bè
đang ở thời kì phát triển rất mạnh Từ đó, những “xã hội trẻ em” được hình
thành (A.P Uxôva)
Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên củatrẻ em, do đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫugiáo cũng như ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư, để tạo ra một môitrường lành mạnh có tác dụng giáo dục tích cực đối với trẻ
Lứa tuổi mẫu giáo là giai đoạn phát triển mạnh tư duy trực quan hình
tượng Trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, nhưng dobiểu
tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vàobình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải quyết vấn đề theo kiểu tư duy trựcquan – hình tượng Cùng với sự hoàn thiện của hoạt động vui chơi và sự pháttriển các hoạt động khác như vẽ, nặn, kể chuyện, dạo chơi,…vốn biểu tượngcủa trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu thêm, chức năng kí hiệu phát triển mạnh,long ham hiểu biết và hứng thú nhận thức của trẻ tăng lên rõ rệt Đó là điềukiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng
Trong khi giúp trẻ phát triển tư duy hình tượng, cần cung cấp cho trẻnhững hiểu biết cần thiết Trước hết cần cung cấp các biểu tượng cho trẻ
Trang 30buổi đi chơi, đi dạo, qua những câu chuyện kể, qua các bức tranh, bài hát,…
Đặc biệt, thông qua các trò chơi, “tiết học”, GV giúp trẻ hệ thống hóa và
chính xác hóa dần các biểu tượng về thế giới xung quanh
Trang 31Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh, là điều kiện thuận lợigiúp cho trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật được xây dựngnên trong các tác phẩm văn học nghệ thuật Đồng thời cần giúp trẻ tạo ranhững tiền đề cần thiết để làm nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tưduy trừu
đó Cũng ở lứa tuổi này, quan hệ của trẻ với những người xung quanhđược mở rộng ra một cách đáng kể, do đó tình cảm của trẻ cũng được pháttriển về nhiều phía đối với những người trong xã hội Có thể coi đây lànguồn xúc cảm mạnh mẽ nhất và quan trọng nhất trong đời sống tinh thầncủa trẻ MGN
Trẻ MGN khao khát có được sự yêu thương, trìu mến, đồng thời rất
lo sợ trước thái độ thờ ơ lạnh nhạt của mọi người xung quanh Các béthực sự vui mừng khi được bố mẹ, cô giáo hay bạn bè yêu thương, khenngợi và cũng thực sự buồn khi bị người khác ghét bỏ hay tẩy chay
Nhu cầu được yêu thương của trẻ MGN cũng rất lớn, nhưng điều đángchú ý hơn là sự bộc lộ tình cảm của chúng rất mạnh mẽ đối với những ngườixung quanh, trước hết là với bố mẹ, anh chị, cô giáo,…Trẻ thường thể hiện
sự quan tâm, thông cảm đối với họ
Ở tuổi MGN động cơ hành vi và sự hình thành hệ thống thứ bậc cácđộng cơ phát triển mạnh Các động cơ như muốn tự khẳng định, muốn đượcsống và làm việc như người lớn, muốn nhận thức sự vật hiện tượng xungquanh,… đều phát triển mạnh Đặc biệt những động cơ đạo đức, sự thể hiệnthái độ của trẻ đối với những người khác có một ý nghĩa hết sức quan trọngtrong sự phát triển các động cơ hành vi Những động cơ này gắn liền với việclĩnh hội có ý thức những chuẩn mực về quy tắc đạo đức hành vi trong xã hội
Trang 32Theo thời gian, chúng ta nhận thấy rằng động cơ hành vi của trẻmẫu giáo đã trở nên nhiều màu, nhiều vẻ Sự biến đổi động cơ hành vi trongtuổi MGN không chỉ thể hiện ở mặt nội dung của động cơ và sự xuất hiệnnhiều loại động cơ mới, mà điều cần lưu ý là trong lứa tuổi này đã bắt
đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động cơ, được gọi
là hệ thống
Trang 33thứ bậc các động cơ Đó là một cấu tạo tâm lí mới trong sự phát triển nhân
cách của trẻ mẫu giáo nói chung
Tuổi MGN là chặng giữa của tuổi mẫu giáo Nó đã vượt qua thời kìchuyển tiếp từ tuổi ấu nhi lên để tiến tới một chặng đường phát triểntương đối ổn định Có thể coi đây là một thời kì phát triển rực rỡ nhất củanhững nét tâm lí đặc trưng cho tuổi mẫu giáo, mà bao trùm lên tất cả là
tư duy hình
tượng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm trong hoạt động tâm lí Điều nàykhiến cho nhân cách của trẻ ở giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thànhmang những nét độc đáo nhất
Những phẩm chất tâm lí cũng như phẩm chất nhân cách đang pháttriển ở độ tuổi này là điều kiện hết sức quan trọng để tạo ra một sự chuyểntiếp mạnh mẽ ở độ tuổi sau, tiến dần đến thời kì chuẩn bị cho trẻ tới trườngphổ thông Do đó, giáo dục cần tập trung hết mức để giúp trẻ phát triển tốtnhững đặc điểm này
phẩm văn học, giờ làm quen với chữ cái, giờ hình thành biểu tượng toán cho trẻ, giờ tạo hình, giờ âm nhạc, giờ phát triển thể chất, giờ hoạt động góc.
Hoạt động ngoài giờ học lại
được phân ra thành: hoạt động lao động, hoạt động vui chơi, dạo chơi, tham
quan, sinh hoạt hàng ngày,… Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục đích
mở rộng hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh và bên cạnh đó còn có mộtnhiệm vụ vô cùng quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ Vì vậy trong khi
tổ chức các hoạt động, chúng ta phải chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻđặc biệt mở rộng vốn từ cho trẻ mầm non nói chung và trẻ MGN nói riêng
Trang 34Tác giả Đinh Hồng Thái [6, tr.80-81] đã quan niệm phát triển vốn từ chotrẻ mẫu giáo là một trong bảy nhiệm vụ của phát triển ngôn ngữ cho trẻmầm
Trang 35non Theo tác giả, việc phát triển vốn từ cho trẻ phải tập trung vào những nội dung sau:
Làm tăng số lượng từ, vốn từ cần thiết cho giao tiếp ngôn ngữ của trẻ.
Mặc dù chức năng cơ bản của từ không phải là giao tiếp nhưng từ là đơn vịtrung tâm, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu Thiếu từ, việc giaotiếp của trẻ sẽ trở nên khó khăn Vì vậy cần phải cung cấp cho trẻ một vốn từcần thiết, đó là từ ngữ về những gì có ở xung quanh trẻ (ở gia đình, ở trườngmầm non), những từ có liên quan đến cuộc sống cá nhân và quan hệ của trẻ;những từ cần cho cuộc sống sinh hoạt, học tập, vui chơi của trẻ
Giúp trẻ lĩnh hội ý nghĩa của từ: Hiểu nghĩa của từ là một trong những
nội dung quan trọng của phát triển lời nói Nhiệm vụ này bao gồm:
- Giúp trẻ nắm được ý nghĩa của từ trên cơ sở đối chiếu chính xác chúngvới các đồ vật ở xung quanh
- Giúp trẻ lĩnh hội được ý nghĩa khái quát của từ trên cơ sở phân biệtđược những dấu hiệu đặc trưng của sự vật hiện tượng
- Thâm nhập vào thế giới hình tượng của lời nói và biết cách sử dụngchúng
- Tích cực hóa vốn từ, có nghĩa là giúp trẻ không những hiểu biết mà còn
sử dụng được chúng trong giao tiếp Đây là quá trình biến những từ ngữ thụđộng thành từ ngữ chủ động Trẻ phải phát âm đúng mỗi từ và sử dụngchính xác trong các ngữ cảnh khác nhau
Cần phải có sự cân đối về cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ sao cho có
đủ các từ loại tiếng Việt với tỉ lệ thích hợp Số lượng từ lớn nhưng cơ cấu từloại không hợp lí hoặc thiếu đi một hoặc một số từ loại nào đó sẽ khiếntrẻ gặp phải những khó khăn trong khi diễn đạt Thường trong vốn từcủa trẻ danh từ chiếm số lượng nhiều nhất, sau đó là động từ và tính từ Các
từ loại khác xuất hiện muộn hơn với một tỉ lệ thấp Đến khoảng 4 tuổi thìcần có đủ từ loại trong vốn từ của trẻ
Việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non cần gắn liền với những nộidung tổ chức hoạt động giáo dục theo những biện pháp tích cực (có nội
Trang 36dung, có biện pháp) và tất cả phải nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục chođối tượng này ở trường mầm non
Trang 37Đinh Hồng Thái cũng đã đề ra các nguyên tắc xây dựng nội dung pháttriển vốn từ cho trẻ mẫu giáo Theo tác giả, sự hình thành vốn từ cần kết hợpchặt chẽ với hoạt động nhận thức tích cực của trẻ Đứa trẻ phải đượchoạt động và phát triển ngôn ngữ như một chủ thể nói năng Các nộidung phát triển vốn từ phải được đưa vào tất cả các hoạt động của trẻ nhưhọc tập, vui chơi, sinh hoạt,…
Nội dung phát triển vốn từ cần được phức tạp hóa dần cùng với sự tăng
độ tuổi của trẻ Điều này có thể thực hiện theo ba bước sau:
- Mở rộng vốn từ của trẻ trên cơ sở cho trẻ làm quen với thế giới các sự
vật, hiện tượng đang dần dần mở rộng
- Đưa vào những từ chỉ rõ những thuộc tính, phẩm chất, quan hệ trên cơ
sở cho trẻ hiểu sâu thêm về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh
- Đưa ra những từ chỉ rõ những khái niệm sơ đẳng trên cơ sở phân biệt
và khái quát các sự vật theo những dấu hiệu căn bản
Tiểu kết chương 1: Trên đây chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận của đề
tài “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tìm hiểu
về gia đình và xã hội” Trong đó bao gồm cơ sở ngôn ngữ học, cơ sở tâm lí
học và cơ sở giáo dục học Những cơ sở lí luận trên đây sẽ làm căn cứ chokhoa học giúp chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của
đề tài khóa luận
Trang 38CHƯƠNG 2:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MGN TÌM HIỂU VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ.
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày những vấn đề lí thuyếtmang tính nền tảng cho đề tài nghiên cứu Ở chương này, chúng tôi tiếnhành điều tra và đánh giá thực trạng của việc phát triển vốn từ cho trẻ MGN
từ phía GV thuộc trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh,thành phố Hà Nội Căn cứ vào kết quả điều tra thu thập được, chúng tôibước đầu đề xuất những nội dung, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGNthông qua các hoạt động giáo dục tìm hiểu về gia đình và xã hội
2.1 Khảo sát thực trạng vốn từ của trẻ MGN lớp 4TB9 Trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Để tìm hiểu thực trạng phát triển vốn từ của trẻ MGN, Chúng tôi đãtiến hành khảo sát thực trạng vốn từ của một số trẻ MGN lớp 4TB9 ở trườngMầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội với sốlượng là 25 trẻ Trong quá trình khảo sát, biện pháp đàm thoại đã đượcchúng tôi vận dụng một cách tối ưu
Kết quả điều tra mà chúng tôi thu được đó
là:
Câu 1: Hãy kể tên các thành viên trong gia đình của con?
- Thu Hoài: Kể được 3 thành viên (bố, mẹ và con)
- Anh Tuấn: Kể được 6 thành viên (ông, bà, bố, mẹ, chị Mai Anh và con)
- Lê Dương: Kể được 5 thành viên (bố, mẹ, chị Ngọc, anh Mít, con)
- Thảo Phương: Kể được 3 thành viên (bố, mẹ, con)
- Kim Ánh: kể được 4 thành viên (bố, mẹ, bác, con)
- Ánh Nguyệt: Kể được 6 thành viên (bà, bố, mẹ, em Thảo, em Lan, con)
- Gia Khánh: kể được 4 thành viên (bà, bố, mẹ, con)
- Anh Đức: Kể được 3 thành viên (bố, mẹ, con)
Trang 39Câu 2: Con hãy kể tên các đồ dùng trong gia đình của con?
Trang 40- Thu Hoài: Cốc, chén, bát
- Anh Tuấn: ti vi, giường
- Lê Dương: tủ, ấm chén, tủ lạnh
- Thảo Phương: ti vi, điều hòa, nồi cơm điện, tủ bát
- Kim Ánh: giường ngủ, chậu, ti vi
- Ánh Nguyệt: xe máy, ti vi
- Gia Khánh: nồi, bát, cốc
- Anh Đức: ti vi, tủ lạnh, máy giặt, quạt điện
Câu 3: Con hãy kể tên những nghề nghiệp trong xã hội mà con biết?
- Anh Tuấn: bác sĩ, cô giáo
- Thu Hoài: công an, cảnh sát
- Lê Dương: bác sĩ, công an, nông dân
- Ánh Nguyệt: công nhân, bác sĩ
- Thảo Phương: công nhân, cô giáo, bộ đội
- Kim Ánh: thợ mộc, nông dân
- Gia Khánh: công nhân
- Anh Đức: lái xe, cô giáo, phi công, cắt tóc
Câu 4: Kể tên một số phương tiện giao thông?
- Anh Tuấn: ô tô, xe máy
- Thu Hoài: xe máy, xe đạp, ô tô
- Lê Dương: xe máy, ô tô, tàu hỏa
- Ánh Nguyệt: tàu hỏa, thuyền buồm
- Kim Ánh: thuyền, xe máy