MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẦM NON THÔNG QUA CÁC SÁNG TÁC THƠ PHẠM HỔ..... Nhiều tác phẩm của ông được dịch và giới thiệu ở các nước như Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức… Ông l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
Người hướng dẫn khoa học:
TS Lê Thị Thùy Vinh
HÀ NỘI, 2018
Trang 3luận tốt nghiệp này.
Chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến ban quản lí thư viện trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện, giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành khóa luậncủa mình
Trong công trình nghiên cứu, không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạnchế Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp, góp ý của các thầy cô giáo vàcác bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Khánh Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các căn cứ, số liệutrong khóa luận là trung thực, đề tài này chưa được công bố trong bất kì khóaluận nào khác
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Khánh Huyền
Trang 5LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Cơ sở tâm lí 6
1.1.1 Kĩ năng giao tiếp của trẻ có bước phát triển mới 6
1.1.2 Trẻ bắt đầu hình thành cái tôi cá nhân và tính từ lập 6
1.1.3 Khả năng tư duy 7
1.1.4 Khả năng chú ý 8
1.1.5 Trí tưởng tượng của trẻ 8
1.2 Cơ sở sinh lí 8
1.3 Cơ sở giáo dục học 10
1.4 Cơ sở ngôn ngữ 11
1.4.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát tiển của trẻ em 11
1.4.2 Khái niệm từ 13
1.4.3 Phân loại từ 13
1.4.4 Đặc điểm vốn từ trẻ mầm non 14
1.5 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Hổ 17
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẦM NON THÔNG QUA CÁC SÁNG TÁC THƠ PHẠM HỔ 21
Trang 62.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 21
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 21
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của trẻ 23
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với vốn sống và kinh ngiệm của trẻ 24
2.2 Thơ Phạm Hổ với phát triển vốn từ cho trẻ mầm non 25
2.2.1 Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các bài thơ về thiên nhiên trong trẻo, đầy chất thơ 26
2.2.2 Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các bài thơ về thế giới thực vật 27
2.2.3 Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non qua các bài thơ về thế giới các đồ vật sống động 34
2.3 Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ 37
2.3.1 Biện pháp đọc thơ cho trẻ nghe 37
2.3.2 Biện pháp đàm thoại 39
2.3.3 Biện pháp giải nghĩa của từ 40
2.3.4 Dạy trẻ học thuộc thơ 43
KẾT LUẬN 44
TÀI LỆU THAM KHẢO 45
Trang 7Văn chương khơi dậy cảm xúc cho con người, làm cho người ta biết khóc,biết cười, biết vui, biết buồn, biết yêu, biết ghét… nó bồi đắp cho con ngườinhiều hơn về mặt tình cảm Thật khó có thể hình dung một người sống màkhông có cảm xúc, không có tình cảm Sự nhạy cảm, tinh tế của tâm hồn đượchình thành từ thời thơ ấu Trên thực tế, không ai không thừa nhận vai trò của vănhọc thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, cao hơn là cách xây dựng nhâncách cho các thế hệ trẻ thơ Trẻ nhỏ thường đến với thơ ca một cách tự nhiênnhư đến với chính mình vậy Cho trẻ tiếp xúc với thơ ca ngay từ khi còn nằmtrong lòng mẹ là điều nên làm, bởi thơ ca là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ
về nhiều mặt như phát triển ngôn ngữ, giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, tưduy… góp phần làm phong phú thêm vốn tri thức của trẻ
Nhắc đến dòng văn học thiếu nhi chúng ta không thể không nhắc tớinhững nhà thơ nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Đăng Khoa,
Võ Quảng và đặc biệt là nhà thơ, nhà văn Phạm Hổ - một cái tên đã trở nên kháquen thuộc đối với trẻ thơ Phạm Hổ được biết đến với những vần thơ ngộnghĩnh, cách định nghĩa sự vật hiện tượng xung quanh đáng yêu và với khátvọng cháy lòng là mãi được làm bạn với trẻ thơ
Khác với nhiều người, Phạm Hổ chọn con đường đi vào thế giới tâm hồn
trẻ thơ: “Đối với tôi, được viết cho các em là cả một hạnh phúc” , “Nếu được
sống thêm lần nữa, tôi vẫn chọn nghề cũ: Làm thơ, viết văn cho các em đọc, còn
vẽ tranh cho các em xem nữa Tôi thường lấy lòng yêu mến các em, lấy những
Trang 8công việc mình làm cho các em làm thước đo lòng mình đối với dân đối với nước Bây giờ đã trên bẩy mươi, tôi vẫn thấy cái thước đo ấy có độ chuẩn, có độ tin cậy” Tinh thần ấy ta bắt gặp trong Những bài thơ nho nhỏ, khúc đồng dao
được cất lên từ một tâm hồn đồng điệu với trẻ em và của một tấm lòng nhân hậu
vì trẻ thơ :
Trang 9Hay:
“Suốt đời tôi chỉ mơ Được viết cho các em Những bài thơ nho nhỏ”
“Thật đơn sơ là hạnh phúc của tôiĐược viết cho các em
Những bài thơ nho nhỏ”
Nói về thơ Phạm Hổ, Vũ Duy Thông nhận xét: “Một cách tự nhiên, Thơ
Phạm Hổ thiên về lứa bạn đọc nhỏ tuổi” Đây là lứa tuổi có đặc thù riêng về tâm
lí tiếp nhận thơ ca Phạm Hổ không ngừng tìm tòi những nội dung, những hìnhthức biểu đạt phù hợp, khiến mỗi bài thơ là một niềm vui dành tặng cho các em
Đi vào thế giới thơ Phạm Hổ, ta bắt gặp tất cả những gì quen thuộc trong cuộcsống hàng ngày của các em Đó là cái kéo, cái chổi, dây cầu chì, là con chó, conmèo, là cây na, quả khế Tất cả đều có mặt trong thơ ông một cách tự nhiên,dung dị Nhiều tác phẩm của ông được dịch và giới thiệu ở các nước như Nga,
Pháp, Trung Quốc, Đức… Ông là tác giả của những tập thơ: Ra Khơi(1960),
Chú bò tìm bạn (1970), Những ô cửa những ngả đường(1976)…
Với ý nghĩa ấy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ” nhằm mục đích phát
triển vốn từ vựng cho các em, giúp các em cảm thấy yêu đời, yêu cuộc sống và
có những bước đệm vững vàng nhất trong tương lai của mình
Trang 10rằng việc giúp trẻ mầm non phát triển ngôn ngữ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Về vấn đề phát triển ngôn ngữ và phát triển vốn từ cho trẻ đến nay đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu được xã hội ghi nhận
Ở Việt Nam, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng được quan tâm Một số hội nghị khoa học ở Trung Ương cũng như địa phương
đã hướng vào nội dung việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn Phương pháp phát triến lời nói trẻ
em, NXB Đại học Sư phạm, 2007, đã nêu lên đặc điểm ngôn ngữ và chú trọng
đến dạy nói cho trẻ, phát triển ngôn ngữ thông qua các thành phần của ngữ pháptiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, pháttriển lời nói mạch lạc, phát triến vốn từ nghệ thuật cho trẻ thông qua các tácphẩm văn học, tạo tiền đề tốt để trẻ chuẩn bị vào lớp một
Trong cuốn Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB Đại học Sư phạm,
năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nói về phương pháp phát triển ngônngữ cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, tỉ mỉ Qua đó, ông đưa ra một số phương phápphát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó có cả vấn đề phát trienr lời nóimạch lạc cho trẻ
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa cũng đã cung cấp tri thức cơ bản về tiếng việt
trong 2 tập Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, 2003; từ đó giúp giáo viên mầm
non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triển ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ mầm non
Trong cuốn Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh- Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát
âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Trang 11Tạp chí Giáo dục mầm non có rất nhiều bài viết về cách tố chức, quản lí,những sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và cán bộ quản lí ngành mầm non.Trong đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triến ngôn ngữ cho trẻ mầm
non Trong đó tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2006, tác giả Đinh Thị Uyên có
bài dịch tìm hiểu về chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non HànQuốc Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục mầm non Việt Nam hiện nay
Cũng trong tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2009, có bài: “Một số biện
pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non”, của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến(Viện
khoa học giáo dục Việt Nam), đã đề cập tới việc tạo thói quen nói đúng ngữpháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ bằng những câu hỏi gợi mở
Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác
giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”, 2005,
đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, từng lứa tuối
Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ, pháttriển vốn từ cho trẻ mầm non Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiêncứu về phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ.Đây là vấn đề mà chúng tôi đã tìm được và có hướng đi riêng cho việc nghiêncứu và đưa ra các phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua các sáng tác thơ của nhà thơ Phạm Hổ, khóa luận hướng tớikhẳng định vai trò của các sáng tác thơ Phạm Hổ nói riêng và thơ ca nói chungđối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Từ đó, khóa luận cũng đưa ramột số biện pháp phát triển vốn từ cụ thể thông qua những sáng tác thơ của nhàthơ viết cho thiếu nhi này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số cơ sở lí luận phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thôngqua các sáng tác thơ Phạm Hổ
Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông quacác sáng tác thơ Phạm Hổ
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển vốn từ cho trẻ mầm nonthông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những bài thơ viết cho thiếu nhi của nhàthơ Phạm Hổ
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Ngoài các phần mở đầu và kết luận nội dung khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận.
Chương 2: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông
qua các sáng tác thơ Phạm Hổ
Trang 131.1 Cơ sở tâm lí
NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Ở từng giai đoạn phát triển, trẻ có những đặc điểm tâm lí riêng đòi hỏigiáo viên phải nắm bắt một cách rõ ràng để có thể giao tiếp tốt với trẻ cũng nhưđưa ra phương pháp, chương trình dạy học phù hợp Đứng ở góc độ tâm lí học,các nhà ngôn ngữ thấy rằng: việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều điểm khác so vớitiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác Ngôn ngữ được hình thành rất sớm.Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngônngữ Nhu cầu giao tiếp với người lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nóinói năng của trẻ Trẻ không có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước
có tính bản năng, trẻ em sẽ được học nói từ những người xung quanh mình
1.1.1 Kĩ năng giao tiếp của trẻ có bước phát triển mới
Phát triển kí năng giao tiếp là một trong những đặc điểm tâm lí trẻ mầmnon Ở độ tuổi này trẻ bắt đầu được giao tiếp nhiều hơn và cảm thấy hào hứngvới việc này Trẻ sẽ quan sát những gì xảy ra xung quanh và ghi nhớ những lờinói và hành động của người lớn để học theo từ đó ngôn ngữ của trẻ được pháttriển hoàn thiện hơn Việc cho trẻ học các tác phẩm thơ góp phần quan trọngtrong việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
1.1.2 Trẻ bắt đầu hình thành cái tôi cá nhân và tính từ lập
Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non nổi bật ở giai đoạn này là bắt đầu hìnhthành ý thức cá nhân Trẻ có thể tự đưa ra nhận xét hay – không hay , thích -không thích khi xem một bộ phim hay nghe một bài hát.Trẻ thích được thể hiệncái tôi cá nhân của mình, thích tự mình làm những việc như mặc quần áo, đánhrăng, rửa tay, tự ăn, sắp xếp đồ chơi, đi vệ sinh… Ngoài ra, trẻ cũng luôn chú ýđến những lời nhận xét của người khác dành cho mình Với đặc điểm tâm sinh
lý trẻ mầm non như vậy, giáo viên nên hỗ trợ trẻ trong quá trình hình thành ýthức bản thân bằng các tác phẩm thơ phát triển kĩ năng sống Việc cho trẻ tiếpxúc nhiều với thơ và việc giáo dục đạo đức trẻ thông qua nội dung các bài thơ là
Trang 14hai hướng đi song song nhất quán, thúc đẩy, hỗ trợ phát triển cho trẻ và dần hìnhthành nhân cách trẻ thơ.
1.1.3 Khả năng tư duy
Tư duy và tưởng tượng của con người không thể tách rời ngôn ngữ Ngônngữ là phương tiện tư duy, hay ngôn ngữ cũng chính là “dòng tư duy” Tư duycủa trẻ: tư duy trực quan - hành động và trực quan hình ảnh Ở trẻ chưa hìnhthành loại tư duy ngôn ngữ - logic nên ngôn ngữ của trẻ mầm non còn hạn chế
Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, tưduy phát triển khá mạnh, đó là tư duy trực quan hành động Nhưng đó mới chỉ lànhững hành động bên ngoài, làm tiền đề cho sự hình thành những hoạt độngđịnh hướng bên trong Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất
cơ bản, chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực hình tượng Tuổi mẫu giáo bé, trẻ bắt đầu biết tư duy bằng những hình ảnh trongđầu, nhưng do những biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từbình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ chỉ mới giải quyết đượcnhững bài toán hết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan- hình tượng ở tuổimẫu giáo nhỡ trẻ phải giải những bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng, đòihỏi tách biệt và sử dụng mối liên hệ giữa những sự vật, hiện tượng và hành động.Trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu đề ra những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giảithích những sự vật, hiện tượng mà mình nhìn thấy, kiểu tư duy trực quan hìnhtượng đã bắt đầu chiếm lĩnh Đến tuổi mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thànhphương tiện của tư duy và cho phép trẻ giải những bài toán trí tuệ mà không cần
quan-sử dụng trực tiếp hành động và biểu tượng Lúc này trẻ bắt đầu tập làm quen,lĩnh hội những khái niệm đơn giản, khái niệm trừu tượng những khái niệm đó lànhững tri thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiệntượng trong hiện thực đã được khái quát lại bằng các từ Trẻ biểu hiện năng lựctrí tuệ qua hoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý và suy nghĩ bằngnăng lực ghi nhớ liên tưởng và khả năng giải quyết các nhiệm vụ thông qua vuichơi sáng tạo Tư duy trực quan giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ
có vốn từ biểu danh là chủ yếu Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở
Trang 15có sự chú ý, ghi nhớ tác phẩm.
1.1.5 Trí tưởng tượng của trẻ
Trẻ mầm non lứa tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) có trí tưởng tượng vô cùngphong phú, trẻ biết sử dụng trí tưởng tượng của mình để khám phá thế giới vàthỏa mãn nhu cầu nhận thức của bản thân Như vậy, trí tưởng tượng là một phầnquan trọng của các quá trình tâm lí góp phần tích cực vào hoạt động tư duy,nhận thức và phát triển ngon ngữ của trẻ Theo nghiên cứu của các nhà tâm lí,tưởng tượng của trẻ em lứa tuổi này đã bắt đầu mang tính chất sáng tạo Giaiđoạn đầu tiên của tưởng tượng là tưởng tượng hoang đường Đặc điểm của giaiđoạn này là tưởng tượng những điều mang tính chất kì diệu, khác thường Đâychính là cơ hội để chúng ta sử dụng các tác phẩm văn học, nhất là tuyện cổ tíchcho trẻ làm quen Thể giới đầy bí ẩn, diệu kì trong truyện cổ tích sẽ làm khơidậy trong trẻ trí tưởng tượng phong phú và sự sáng tạo phong phú trong trẻ
1.2 Cơ sở sinh lí
Hệ thần kinh là một hệ thống trẻ tuổi trong các hệ thống cơ quan của conngười, là cơ quan điều khiển mọi hoạt động của cơ thể Hệ thần kinh duy trì mốiliên hệ giữa cơ thể với môi trường, điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, và tạomối thống nhất giữa hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong cơ thể Não bộchính là cơ quan trung tâm điều khiển hệ thần kinh trung ương Cho đến lúc rađời, não bộ của trẻ phát triển chưa hoàn thiện, mặc dù hình thái và cấu tạo giảiphẫu của nó không khác não người lớn là mấy Ở trẻ sơ sinh: não bộ có kíchthước nhỏ, khoảng 370 - 392g (1/8 - 1/9 trọng cơ thể) Trong 9 năm đầu, trọng
Trang 16lượng não trẻ tăng lên mạnh mẽ Chẳng hạn, trẻ được 6 tháng tuổi, trọng lượngcủa não tăng lên gấp đôi lúc sơ sinh; trẻ 3 tuổi tăng gấp 3 và đa số các tế bàothần kinh đã được biệt hóa.
Ở người, hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai có mối liên hệ chặt chẽ vớinhau, trong đó hệ thống tín hiệu thứ hai chiếm ưu thế So với hệ thống tín hiệuthứ nhất thì hệ thống tín hiệu thứ hai có đặc điểm vượt trội hơn đó là khả năngtrừu tượng hóa, khái quát hóa các sự vật, hiện tượng xảy ra ngoài môi trườngcũng như xảy ra bên trong cơ thể Do vậy, hệ thống tín hiệu thứ hai chính là cơ
sở tư duy của con người Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định:Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầuđại não Hệ thống tín hiệu thứ hai có được là nhờ những kích thích trừu tượngnhư ngôn ngữ, lời nói, chữ viết… Việc phát triển ngôn ngữ phải liên quan mậtthiết tới việc phát triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh Trong banăm đầu là kết thúc sự trưởng thành về mặt giải phẫu vùng não chỉ huy ngônngữ, vì thế phải phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc mới đạt hiệu quả tốt nhất
Để có thể giao tiếp tốt chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát âm.Mỗi con người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sảnsinh âm thanh ngôn ngữ Đó là một trong những điều kiện vật chất quan trọngnhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như bộ máy phát âm có một khiếmkhuyết nào đó (ví dụ như sứt môi, hở hàm ếch, ngắn lưỡi, lưỡi dài…) thì việchình thành lời nói cũng gặp rất nhiều khó khăn Khi sinh ra mỗi con ngườikhông phải đã có ngay bộ máy phát âm hoàn chỉnh Độ tuổi mầm non là giaiđoạn hoàn thiện dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện của hai hàm răng, sựvận động của môi, lưỡi, hàm dưới…quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quyluật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng sự lớn lên của trẻ Trong thực tế ởcùng một độ tuổi nhiều em có ngôn ngữ phát triển tốt, phát âm rõ ràng bên cạnh
đó có những em ngôn ngữ kém phát triển hơn, nói ngọng hoặc lời nói không rõràng Có sự khác nhau như thế là do bộ máy phát âm khác nhau và quá trìnhchăm sóc giáo dục cũng khác nhau Trẻ nói ngọng là do bộ máy phát âm pháttriển chưa hoàn chỉnh Tuy nhiên bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề
Trang 17vật chất Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống
sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âmthanh ngôn ngữ Cấu tạo bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộnghưởng phía trên thanh hầu Âm sắc và tiếng nói do tính chất của âm xác định vàphụ thuộc vào các khoang cộng hưởng của phần trên các bộ phận thanh quản,họng, khoang, miệng, mũi Bộ máy phát âm của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các
bộ phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn chưachuẩn, không chính xác Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểuvốn từ của trẻ mầm non hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoa học
Ở cuối Tuổi mẫu giáo , do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tainghe âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghengười lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đến mức trẻ có thểphát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng Trẻmẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếphay nội dung câu chuyện mà trẻ kể
1.3 Cơ sở giáo dục học
Dạy học ở trường mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kếhoạch, có mục đích các năng lực nhận thức cửa trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống trithức sơ đẳng, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng trên cơ sở đó góp phần hìnhthành nhân cách cho trẻ Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt động khác
nhau như: Làm quen với văn học, Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ
mầm non, Làm quen với môi trường xung quanh… Tất cả các hoạt động này
nhằm mục đích mở rộng kiến thức hiểu biết cho trẻ và bên cạnh đó còn mộtnhiệm vụ quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ Hiện nay ở các trường mầmnon có hai hình thức phát triển lời nói cho trẻ đó là : tiết học và ngoài tiết học
Các tiết học như: nhận biết tập nói, làm quen với chữ cái, làm quen với các tác
phẩm văn học, làm quen với môi trường xung quan, Hình thành biểu tượng toán
sơ đẳng cho trẻ mầm non, Tổ chức hoạt động tạo hình, Giáo dục âm nhạc… Tất
cả đều phát triển lời nói cho trẻ Vì vậy trong giờ học các hoạt động khác chúng
Trang 18ta phải chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻ vì ngôn ngữ là cửa ngõ để trẻ phát triểntoàn diện nhân cách.
Ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với conngười, với sự vật hiện tượng xung quanh Để thực hiện điều đó phải thông quanhiều hoạt động khác nhau như qua các giờ học, các trò chơi, dạo chơi ngoài trời
và sinh hoạt hằng ngày Qua đó rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tập chotrẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướng dẫn trẻbiết cách diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu.Vì vậy, khi cho trẻ làmquen, tiếp xúc với các sự vật hiện tượng ngoài việc giới thiệu tên gọi, đặc điểmcủa đối tượng cho trẻ thì giáo viên cần dạy trẻ biết nói các câu đầy đủ, rõ nghĩa,dạy trẻ phát âm đúng các âm chuẩn tiếng Việt, đảm bảo các nguyên tắc của giáodục như tính khoa học, tính hệ thống, tính vừa sức
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chươngtrình giáo dục toàn diện trẻ Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã đượcnhà giáo dục mầm non Liên Xô (cũ) nổi tiếng Eiti- Kheeva xem là khâu chủ yếunhất của các hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề thành công của cáccông tác khác
1.4 Cơ sở ngôn ngữ
1.4.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát tiển của trẻ em
a, Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp
“Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (C.Mac) Con
người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một đặc trưng
quan trọng của con người “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của con người” (V.I.Lênin) Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thẻ hiểu được
nhau, cùng nhau hành động vì có mục đích chung: Lao động, đấu tranh, xâydựng và phát triển xã hội
Không có ngôn ngữ không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tạiđược, nhất là đứa trẻ, một sinh thể yếu ớt cần sự chăm sóc và bảo vệ của ngườilớn
Trang 19Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người.Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng củamình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ,
là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia mọi hoạt động và trong hoạt độnghình thành nhân cách trẻ
b, Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức
Quá trình trưởng thành của một đứa trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ Công
cụ để phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là hiện thựccủa tư duy Tư duy của con người có thể hoạt động được cũng chính nhờphương tiện là ngôn ngữ tư duy và ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau.Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người cũng không diễn rađược ngôn ngữ làm cho các kết quả tư duy được cố định lại, do đó có thể kháchquan hóa nó cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy Ngược lại nếukhông có tư duy với các sản phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là các âm thanh vônghĩa
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ có mục đích tự thân Có ngôn ngữ,
tư duy của trẻ được phát triển Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng cótác động qua lại ảnh hướng mạnh mẽ đến nhau Ngôn ngữ phát triển làm cho tưduy phát triển Ngược lại tư duy phát triển càng đẩy mạnh quá trình phát triểnngôn ngữ
Ngôn ngữ là công cụ để học tập, vui chơi – Hoạt động chủ đạo ở tườngmầm non Giống như dạy tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác, phát triển lời nói chotrẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép” Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ
đẻ, đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học tập Ngôn ngữ đượctích hợp trong tất cả các loại hình giáo dục, ở mọi nơi, mọi lúc Như vậy, ngônngữ cần thiết cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động tạo cơ hộicho ngôn ngữ trẻ phát triển
c Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sự phát triển toàn diện của đứa trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức,chuẩn mực hành vi văn hóa Điều gì tốt, điều gì xấu, cần phải ứng xử, giao tiếp
Trang 20như thế nào cho phù hợp … chứ không phải chỉ là bắt chước một cách máy móc.Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp Điều này làm cho trẻ cóđiều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh trẻ Cô giáo cũng sẽ dễ dàng hơntrong việc giải thích, nêu gương, thuyết phục trẻ, giáo dục những hành vi đạođức cho trẻ.
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong thơ
ca, truyện kể - những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đemđến cho trẻ ngay từ những ngày thơ ấu Đó là sự tác động của lời nói nghệ thuậtnhư một phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ
1.4.2 Khái niệm từ
Từ là đơn vị cơ bản, trung tâm của ngôn ngữ Tuy nhiên để đưa ra mộtkhái niệm đầy đủ và toàn diện về từ thì các nhà ngôn ngữ đều thấy khá nan giải.Cái khó ở đây một phần do từ trong các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, khácnhau về nguồn gốc và có những đặc trưng rất khác nhau Vì thế đi tìm một địnhnghĩa về từ, một mặt phải chú ý đến những điểm đồng nhất, chú ý đến tính phổquát của từ nói chung, mặt khác cũng phải chú ý đến đặc điểm riêng của từngngôn ngữ Dựa theo phương châm này, từ của tiếng Việt được định nghĩa nhưsau:
Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang theo những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định Tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong hệ thống và nhỏ nhất
để tạo câu (Đỗ Hữu Châu)
Định nghĩa này cho thấy từ là một đơn vị bao gồm 2 bộ phận: hình thứccủa từ (thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo) và ýnghĩa của từ Những thành phần này có sự quy định lẫn nhau, thống nhất vớinhau thành một hợp thể là từ
Trang 21Đại bộ phận các từ đơn là một âm tiết, chúng mang những đặc trưng ngữnghĩa chủ yếu của từ vựng Tiếng Việt Ví dụ: Nước, cơm, cây, … có một số ít từđơn đa âm tiết như: bù nhìn, mồ hôi, bò hóng Có một số từ đơn đa âm tiết là từvay mượn của các ngôn ngữ ẩn ấu như: cà phê, ô tô, …
- Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với nhau, cácthành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập Từ ghép bao gồm từ ghép đẳnglập (nhà cửa, to lớn, đẹp tươi, …) và từ ghép chính phụ (áo dài, nhà ăn, sânbay…)
1.4.4 Đặc điểm vốn từ trẻ mầm non
a, Xét về mặt số lượng
Trong độ tuổi từ 0 – 1 tuổi, trẻ sẽ nói chuyện với bạn bằng nét mặt, tiếngkhóc hay ánh mắt.Trẻ giao tiếp thông qua nét mặt và nụ cười Khả năng ngônngữ giao tiếp với thế giới bên ngoài của trẻ khác nhau theo đặc điểm phát triểncủa trẻ từng tháng tuổi Khi trẻ đươc 7-8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên mình.Từ 10-
11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ sự vật, người mà trẻ thường xuyên đượctiếp xúc
Từ 12 tháng trở đi, nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh ngàycàng tăng, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu tiên.Khi 18tháng, số từ bình quân là 11 từ, cháu ít nhất là 0, nhiều nhất là 25 từ (trường hợp
đặc biệt lên tới 45 từ) trẻ bắt chước người lớn và lặp lại một số từ gần gũi như:
bố, mẹ, bà, măm…
Từ 19-21 tháng, môi trường tiếp xúc của trẻ được mở rộng, trẻ được làmquen với nhiều sự vật, hiện tượng hơn, số lượng từ của trẻ tăng lên rõ rệt Đến
Trang 2221 tháng tuổi, trẻ đạt 220 từ Giai đoạn 21- 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt
234 từ vào tháng 24, sau đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ
Trẻ 3 tuổi sử dụng được hơn 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ
và các từ loại khác danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần gũi
như: búp bê, siêu nhân, quả bóng, con chó, con mèo, con gà… Động từ chỉ những hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh như: ăn, uống, ngủ,
Mặc dù số lượng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lí học, ngôn ngữ họcđưa ra không khớp nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ số lượng từcủa trẻ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau trong đó quan trọng nhất làtác động của môi trường như sự tiếp xúc thường xuyên với những người xungquanh, sự chăm sóc giáo dục của gia đình và nhà trường
b, Xét về mặt cấu trúc từ loại
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất lượngvốn từ Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho trẻ diễnđạt thuận lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn từ của trẻ TheoXtecnơ, ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ, tính từ và các từ loạikhác xuất hiện muộn hơn
Theo nhà nghiên cứu Đinh Hồng Thái, đến 3-4 tuổi, về cơ bản vốn từ củatrẻ đã có đủ các loại từ Tuy nhiên tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn nhiều so vớicác loại từ khác: danh từ chiếm 38%, động từ 32%; còn lại là tính từ 6,8%, đại
Trang 23Từ đặc điểm này chúng ta cần chú ý đến các loại từ khác khi dạy từ cho trẻ, chútrọng tới vốn từ cho trẻ vì lúc này vốn từ của trẻ còn nghèo nàn: lúc đầu sốlượng danh từ chiếm phần lớn, sau đó đến động từ, rồi đến tính từ.
c, Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mẫu giáo
Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từ ngữ có ý nghĩa cụ thể
như những từ ngữ là tên gọi các đồ vật trong gia đình ( bát, đĩa, bàn, tủ, ghế…), tên gọi các con vật (lợn, chó, gà, mèo…), thực vật ( cây chuối, quả cam, hoa loa kèn…) Từ “đồ vật” có ý nghĩa trừu tượng, trẻ hiểu nó không phải bằng cảm
giác mà bằng sự trừu tượng hóa Đến 6 tuổi, để nắm từ với ý nghĩa khái quát trẻkhông đòi hỏi cảm giác trực tiếp nữa
Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từnhư sau:
- Mức độ zero ( mức độ 0): mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó Cuối tuổi lên một,đầu tuổi lên 2, trẻ hiểu được những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn lẻ, cụ thể,tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh)
Ví dụ: Mẹ, bố, bàn bát…
Một điều cần chú ý là: động từ và tính từ không có mức khái quát zero nhưdanh từ
- Mức độ 1: cuối tuổi lên hai, trẻ nắm được mức độ thứ nhất của sự khái
quát-ý nghĩa biểu niệm ở mức thấp, tức là tên gọi chung của đối tượng cùng loại( đồ vật, hành động, tính chất)
Ví dụ: “Bóng” chỉ một quả bóng bất kì như bóng bay, bóng nhựa, bóng cao su;
“cốc” chỉ những vật dùng để uống nước.
- Mức độ 2: trẻ nắm được những từ ngữ thể hiện sự khái hơn
Trang 24Ví dụ: “quả” có thể chỉ bất cứ loại quả nào ( quả cam, quả xoài, quả táo…);
“xe” ( xe đạp, xích lô, ô tô…); “con” (gà, mèo, lợn, chim…).
Cam , xoài, táo: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “quả”: mức độ thứ hai của
sự khái quát
- Mức độ 3: trẻ 5-6 tuổi có thể nắm được mức độ ba của sự khái quát
Ví dụ: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi như búp bê, máy bay, ô tô…; “đồ gỗ” chỉ các đồ dùng, vật dụng được làm từ gỗ (bàn, ghế, giường…); “phương tiện
giao thông” (xe máy, tàu thủy, tàu hỏa, máy bay…).
“Búp bê”: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “đồ chơi”: mức độ thứ hai của sự khái quát; “đồ vật”: mức độ thứ ba của sự khái quát.
- Mức độ 4: trẻ hiểu được những từ biểu thị sự khái quát tối đa - những kháiniệm thực sự khoa học
Ví dụ: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ…
Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổithiếu niên Đối với trẻ mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểudanh ( mức độ zero và 1) Mức độ 2 và 3 dành cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là mẫugiáo lớn
1.5 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Hổ
Phạm Hổ có bút danh là Hồ Huy Ông sinh ngày 28-11-1926 trong mộtgia đình nho học tại xã Thanh Liêm (nay là xã Nhơn An), Thị xã An Nhơn, tỉnhBình Định Ông qua đời ngày 4 tháng 5 năm 2007, hưởng thọ 80 tuổi
Phạm Hổ cũng chịu ảnh hưởng rất sâu ở ông anh ruột của mình là nhà báo,nhà thơ, nhà văn viết tiếng Việt và tiếng Pháp - Phạm Văn Ký - người đạt giảithưởng lớn về tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp năm 1961, người đã viết tựacho tập "Gái quê" của Hàn Mặc Tử Thời kỳ ông Ký làm chủ bút tờ "Gazette deHue" (Tạp chí Huế), Phạm Hổ đã ra đây học ở anh Phạm Hổ kể: "Lúc bé tôi cóngười anh viết văn, làm thơ Anh tôi thường cho tôi tiền, mỗi tháng phải mua vàđọc cho được bốn quyển sách Hồng Cứ đọc xong quyển nào thì viết tóm tắtquyển ấy Viết càng gọn và càng đầy đủ thì càng được anh tôi khen… Nhờ đó
mà sau này, đọc sách, tôi dễ dàng nắm được ý chính - tức chủ đề của câu chuyện,
Trang 25của bài thơ Có lẽ thời kỳ này, Phạm Hổ làm quen với những tác phẩm củaAndecxen, anh em Grim, Laphongten… và điều đó đã nuôi dưỡng hoài bão viếtvăn, làm thơ cho nhà thơ sau này
Cuộc đời Phạm Hổ, ngay từ những ngày đầu đến với nghệ thuật, đã cómay mắn gặp được những bậc thầy thật sự Ngoài việc sáng tác thơ và truyệncho thiếu nhi và người lớn, ông còn sáng tác âm nhạc và hội họa Năm 1995,ông đã có một cuộc triển lãm tranh đầu tiên tại Hà Nội Với ông, tranh cũng nhưthơ, đều thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên Thời khángchiến chống Pháp, ông đã từng theo học một lớp họa do danh họa Nguyễn ĐỗCung giảng dạy Hơn nữa, ông còn được "đặc ân" cắp giá vẽ theo hầu thầy suốt
2 năm
Lĩnh vực mà Phạm Hổ thành công hơn cả là văn thơ viết cho thiếu nhi.Điều đó, giúp ông có một vị trí trong nền văn học thiếu nhi hiện đại của nước ta
Có thể kể các tập truyện dành cho các bạn đọc nhỏ tuổi là: Bê và Sáo, Viết thư
cho cha, Khẩu súng người ông, Chuyện hoa chuyện quả, Bạn trong vườn, Chú
bò tìm bạn, Từ không đến mười, Mẹ, Mẹ ơi, Cô bảo
Tính từ tập truyện đầu tiên "Em Tre" (1949) đến năm 1993, Phạm Hổ đã
có 11 tập thơ, 9 tập truyện, 4 vở kịch viết cho các em Ngoài ra ông có 8 tập thơ,văn viết cho người lớn Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Phạm Hổhoạt động văn nghệ ở khu V Thơ của ông được in ở 2 tập "Em vẽ Bác Hồ"(1948) và "Lúa non" (1952) Ở 2 tập sáng tác phục vụ kịp thời và có ý nghĩa tậpdượt này đã bắt đầu bộc lộ thiên hướng viết cho thiếu nhi của ông
Ông cũng gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp với rất nhiềugiải thưởng: Giải chính thức về thơ, Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà vănnăm 1985 cho tác phẩm "Những người bạn im lặng" Giải thưởng về kịch viếtcho thiếu nhi do Trung ương Đoàn và Hội Nghệ sỹ Sân khấu tặng cho vở kịch
"Nàng tiên nhỏ thành ốc", năm 1986 Tặng thưởng loại A cuộc vận động sángtác cho thiếu nhi do Trung ương Đoàn tổ chức năm 1967-1968 cho tác phẩm
"Chú vịt bông" Tặng thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do
Trang 26Trung ương Đoàn tổ chức năm 1957-1958 cho bài thơ "Chú bò tìm bạn" Giảithưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I, năm 2001.
Ông sáng tác và cho ra mắt rất nhiều tác phẩm, một số tác phẩm chính
như: Những người bạn im lặng (tập thơ, 1984); Ra khơi (thơ, năm 1960); Những
ô cửa, những ngả đường (thơ, năm 1976); Tình thương (tiểu thuyết, năm 1974); Ngựa thần từ đâu tới (tập truyện, năm 1986); Cất nhà giữa hồ (tập truyện cổ tích, năm 1995); Tuyển tập Phạm Hổ (năm 1999); Những ngày xưa thân ái (thơ, năm 1957); Đi xa (thơ, năm 1970); Vườn xoan (truyện ngắn, năm 1964); Chú
bò tìm bạn (thơ, năm 1970); Chuyện hoa qua chuyện quả (6 tập từ năm 1994); Nàng tiên nhỏ thành ốc (bộ ba vở kịch in năm 1980); Cây bánh tét của người cô (truyện, năm 1993); Mỵ Châu - Trọng Thủy (kịch, năm 1993) và rất
1974-nhiều các sáng tác thơ, truyện, kịch khác
Bằng các bài thơ, Phạm Hổ đã dẫn các em vào thế giới những vật xungquanh, từ những cái rất bình thường ông đã khám phá ra những vẻ đẹp, sự giàu
có và giàu chất thơ nữa Thơ ông hay vì đã nhuyễn cái mộc mạc trong sáng, ngộnghĩnh của ca dao vào nét nhuần nhị, thâm thúy của thơ ca cổ điển Mỗi bài làmột bài học nhưng ông không cao giọng rao giảng mà nhỏ nhẹ tâm tình vớinhững câu thơ ngọt ngào vần điệu và tươi sáng những màu sắc, đường nét tạo
hình Chúng ta tin đã và sẽ còn nhiều thế hệ bạn đọc nữa thuộc lòng: Chú bò tìm
bạn, Xe chữa cháy, Mười quả trứng tròn, Bắp cải xanh, Gà nở…
Viết cho các em, ngòi bút Phạm Hổ khá linh hoạt với những cách chuyểnđổi từ góc nhìn đến giọng điệu, lúc giọng trẻ thơ nói với nhau, lúc là giọng cáccháu trò chuyện với thế giới thiên nhiên, và cũng có lúc là giọng của ông, mộtngười cha, người anh ôn tồn, nhân hậu … Với bút pháp đó, thế giới trẻ thơ trongsáng tác của Phạm Hổ khá phong phú, vừa gần gũi với những trò chơi, sinh hoạthọc hành, lại vừa dẫn dắt suy tưởng làm tâm hồn các em bay bổng hơn
Ngoài ra, Phạm Hổ còn là họa sĩ và đã có tranh triển lãm, dẫu vậy người
ta vẫn coi ông là một nhà thơ Một nhà thơ cho thiếu nhi với sự tâm huyết, say
mê và lòng nhiệt thành Sáng tác của ông vun đắp tâm hồn cho các em từ cây cỏ,loài vật đến con người, và đến cả các mối quan hệ, tình cảm giữa mọi người