ở trường mầm non, trẻ được hoạt động, được tự bộc lộ mình và phát triển tối đa thông qua các hoạt động vui chơi, giao lưu và học tập, ngôn ngữ của trẻ qua đó mà được phát triển, hoàn thi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
TH.S NGUYỄN THU TRANG
HÀ NỘI - 2011
Trang 2mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ mầm non Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã được nhà giáo dục mầm non Liên Xô Eiti-Khêva xem là khâu chủ yếu nhất của hoạt động giáo dục trong trường mầm non, là tiền đề thành công của các công tác khác Trong công tác giáo dục mầm non cho đất nước, chúng ta thấy ngôn ngữ đã góp phần to lớn trong việc đào tạo trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện Mặt khác, ngôn ngữ là một hiện tượng lịch sử - xã hội, ngôn ngữ có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người Nó là phương tiện quan trọng để trẻ lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để bồi dưỡng tâm hồn Cho nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non mà đặc biệt là phát triển hệ thống vốn từ cho trẻ ngay từ đầu tuổi mẫu giáo là việc làm rất cần thiết và quan trọng
Giai đoạn 3 - 4 tuổi được coi là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ của trẻ mầm non Đây là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ ban đầu của trẻ “Trẻ lên ba cả nhà học nói”- trẻ lên ba thích nói và nói rất nhiều ở giai đoạn này trẻ đạt được những kĩ năng mà ở giai đoạn trước hoặc sau không thể có được Trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ ngữ để diễn đạt những suy nghĩ, nguyện vọng và cảm xúc của bản thân, để giao tiếp với mọi người xung quanh Vì vậy đây là thời điểm thích hợp để phát triển ngôn ngữ cũng như phát triển hệ thống vốn từ cả về số lượng và chất lượng cho trẻ
ở trường mầm non, trẻ được hoạt động, được tự bộc lộ mình và phát triển tối đa thông qua các hoạt động vui chơi, giao lưu và học tập, ngôn ngữ của trẻ qua đó mà được phát triển, hoàn thiện dần Việc phát triển ngôn ngữ nói chung và phát triển vốn từ nói riêng cho trẻ không thể tách rời giữa các môn học cũng như các hoạt động của trẻ Mỗi từ cung cấp cho trẻ phải dựa
Trang 3trên một biểu tượng cụ thể có nghĩa, gắn liền với hoàn cảnh giao tiếp và tình huống sử dụng chúng Nội dung vốn từ cung cấp cho trẻ phụ thuộc vào khả năng tiếp xúc, hoạt động và nhận thức của trẻ Để thực hiện được những mục tiêu trên đòi hỏi người giáo viên trong khi tổ chức cho trẻ hoạt động phải sử dụng phối hợp, linh hoạt các phương pháp và các hình thức dạy học để có thể phát huy tính tích cực chủ động nhận thức và phát triển hoàn thiện bản thân của trẻ
Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé có nhiều phương pháp và hình thức khác nhau, trong đó có hình thức phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt
động giao tiếp Kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu đã có
và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của bản thân trong việc phát triển vốn từ cho
trẻ mẫu giáo bé, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt động giao tiếp”
2 Lịch sử vấn đề
Việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé không phải là vấn đề mới
được đặt ra mà từ lâu các nhà khoa học đã đi vào nghiên cứu và tìm hiểu vấn
đề này Đã có một số bài nghiên cứu về nội dung và phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ
Giáo trình “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo”
của Nguyễn Xuân Khoa (NXB ĐHSP, 2003) là giáo trình đầu tiên đề cập đến một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề khoa học và thực tiễn của tiếng mẹ
đẻ đang được thực hiện trong các lớp nhà trẻ, mẫu giáo ở nước ta bằng phương pháp tiếp cận hoạt động – nhân cách tích hợp
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
(NXB ĐHQG, 2005) của Hoàng Thị Oanh – Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim
Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược về nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Trang 4Giáo trình “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” (NXB ĐHSP)
được tác giả Đinh Hồng Thái biên soạn dựa trên những thành tựu nghiên cứu của các nhà sư phạm Nga trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ trẻ em Cuốn sách gồm bốn phần:
- Những vấn đề chung
- Dạy nói cho trẻ trong ba năm đầu
- Dạy nói cho trẻ tuổi mẫu giáo
- Chuẩn bị cho trẻ học Tiếng Việt ở trường phổ thông
Tạp chí GDMN số 01/2009, có bài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến cũng đề cập tới việc tạo thói
quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ
Còn nhiều các cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập đến vấn đề này Cơ
sở lí luận và phương pháp này đã được nhiều chuyên gia về giáo dục nghiên cứu Không ai có thể phủ nhận được mặt tích cực của các dạng hoạt động trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Tuy nhiên chưa có tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ thông qua giao tiếp Nhận
thức được tầm quan trọng của vấn đề chúng tôi đã tìm hiểu về đề tài “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáobé thông qua hoạt động giao tiếp” Chúng tôi có thể khẳng định đây là một vấn đề mới mẻ mang tính thời
sự và có khả năng khơi nguồn cho nhiều hướng nghiên cứu mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp và hình thức để phát
triển vốn từ thông qua hoạt động giao tiếp cho trẻ mẫu giáo bé
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu phát triển vốn từ trong phạm vi độ tuổi 3 – 4 ở trẻ mầm non
4 Giả thuyết khoa học
Nghiên cứu thành công khoá luận này sẽ góp phần cung cấp thêm cho các giáo viên những phương pháp và biện pháp tốt nhất để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé đạt hiệu quả cao
Trang 55 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn tìm ra các phương pháp, hình thức tốt nhất để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt đông giao tiếp
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khoá luận này chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt động giao tiếp
- Tìm hiểu các phương pháp và hình thức để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài hai phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung của khoá luận được triển khai như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Một số hình thức và biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu
giáo bé thông qua hoạt động giao tiếp
Chương 3: Thể nghiệm giáo án
Trang 6Nội dung Chương 1 Cơ sở lí luận
Trẻ mẫu giáo bé là thời kì có nhiều sự biến đổi quan trọng và rõ rệt về mặt tâm sinh lí so với giai đoạn trước đó Biểu hiện cụ thể như sau:
1.1 Tiền đề phát triển vốn từ ở trẻ mẫu giáo bé
1.1.1 Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo bé
a Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo bé
Giai đoạn trẻ mẫu giáo bé, hoạt động vui chơi mới #ược chuyển sang vị trí chủ đạo nên chưa đạt được tới hình thái chính thức mà mới chỉ ở dạng sơ khai Chính vì vậy hoạt động vui chơi của trẻ có những đặc điểm sau đây:
Chủ đề và nội dung chơi của trẻ còn chật hẹp, nghèo nàn do vốn sống của trẻ còn quá ít ỏi nên việc mô phỏng lại đời sống xã hội của người lớn còn
bị hạn chế, chỉ dừng lại ở những sự việc gần gũi đối với trẻ như trò chơi “mẹ
con”, “cô giáo”, “khám bệnh”… Bên cạnh đó trẻ chưa biết nhập vai và hoạt
động chơi chưa theo một hướng nhất định
Hoạt động với đồ vật vẫn tiếp tục xuất hiện và bắt đầu xuất hiện một số hoạt động mới là hoạt động vui chơi Đây là một bước thay đổi mới trong hoạt
động của trẻ, từ chơi một mình đến chơi cạnh nhau và chơi cùng nhau Trẻ lên
ba xuất hiện mâu thuẫn cơ bản giữa một bên là tính độc lập – muốn được làm công việc như người lớn và một bên là thái độ, khả năng của trẻ còn non yếu chưa thể làm được như người lớn
Để giải quyết mâu thuẫn này, buộc trẻ phải tìm đến một hoạt động mới
đó là hoạt động vui chơi Nghĩa là trẻ không làm thật được như người lớn nhưng có thể giả vờ được trong trò chơi Do đó trò chơi đóng vai theo chủ đề
đã xuất hiện Rõ ràng trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện để thỏa mãn nhu cầu của trẻ - muốn được sống và làm việc như người lớn
Trang 7Hoạt động vui chơi vừa xuất hiện còn non yếu nhưng đây là hoạt động chủ đạo, hoạt động này tạo ra cấu tạo tâm lí mới của trẻ Đó chính là nhân cách Tuy nhiên cấu trúc của nhân cách còn sơ khai nhưng nó quy định xu hướng phát triển sau này của trẻ
b Đặc điểm về quỏ trỡnh hỡnh thành ý thức của bản thõn trẻ
ý thức về bản thân của trẻ cuối tuổi ấu nhi còn hết sức mờ nhạt và pha trộn tính chất mơ hồ, do đó trẻ chưa phân biệt được một cách rõ rệt đâu là mình và đâu là người khác Tuy nhiên qua việc tiếp xúc của trẻ với thế giới bên ngoài được mở rộng dần ra trẻ biết được nhiều điều lí thú trong thiên nhiên và thế giới xung quanh nhưng quan trọng hơn là trẻ bắt đầu tìm hiểu thế giới của chính con người và dần nhận ra xung quanh nó là một mối quan hệ chằng chịt giữa con người với nhau Đến tuổi mẫu giáo, trẻ rất muốn phát hiện
ra những mối quan hệ ấy, nhập vào đó để làm người lớn Như vậy trò chơi
đóng vai theo chủ đề trở thành một hoạt động đặc biệt giúp trẻ thực hiện điều
đó một cách hiệu quả nhất Khi nhập vào những quan hệ đó điều quan trọng là trẻ phát hiện ra mình trong nhóm bạn bè cùng chơi, biết so sánh đối chiếu những bạn cùng chơi với bản thân mình, trẻ thấy được vị trí của mình trong nhóm chơi, khả năng của mình với các bạn ra sao và cần phải điều chỉnh hành
vi của mình như thế nào để phục vụ cho mục đích chơi chung Dần dần những
đòi hỏi vô lí mà người lớn không thể đáp ứng được Sở dĩ như vậy vì kinh nghiệm của trẻ còn quá nghèo nàn, sự hiểu biết còn bị giới hạn, đặc biệt là do hoạt động vui chơi còn chi phối mạnh mẽ dẫn đến trẻ chưa có khả năng phân biệt ý muốn chủ quan và ý muốn khách quan
Trang 8Chuyển qua giai đoạn khủng hoảng, sự phát triển tự ý thức của trẻ đã
được hình thành nhưng còn mờ nhạt Biểu hiện ở một số đặc điểm sau:
+ Trẻ đã bắt đầu nhận ra nhiều thuộc tính của sự vật, hiện tượng, nhiều mối quan hệ giữa người với người và đặc biệt bước đầu nhận ra mối quan hệ giữa mình với mọi người xung quanh
+ ở trẻ đã hình thành ý thức bản ngã nhận ra cái tôi thể chất và phát hiện vị trí của mình trong nhóm chơi, trẻ có dịp đối chiếu so sánh những bạn cùng chơi với bản thân mình, trẻ thấy được vị trí của mình trong nhóm chơi, nhận ra khả năng của mình với các bạn ra sao để điều chỉnh hành vi của mình phục vụ cho mục đích chơi chung dần dần sẽ giúp trẻ nhận ra được chính mình
Cuối tuổi mẫu giáo bé, sù tự ý thức đã dần hoàn thiện, trẻ ít có những câu hỏi vô lí mà hoạt động phù hợp với quy định xã hội nhiều hơn do trẻ được
cọ xát với thế giới đồ vật, trẻ tích cực hoạt động để nhận ra sự giống và khác nhau, ở giai đoạn này trò chơi đóng vai theo chủ đề vẫn đóng vai trò tích cực
và chủ đạo
c Một vài đặc điểm tư duy của trẻ MGB
Trẻ ấu nhi hầu hết đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ ,
đặc biệt là tư duy phát triển khá mạnh
Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt cơ bản Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động
định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm Quá trình tư duy của trẻ bắt đầu dựa vào những hình ảnh của sự vật, hiện tượng đã có trong đầu, cũng có nghĩa
là chuyển từ kiểu tư duy trực quan hành động sang kiểu tư duy trực quan hình tượng
Sự xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng là sự xuất hiện cấu tạo tâm lí mới có nghĩa là trẻ giải quyết các nhiệm vụ bắt đầu từ các biểu tượng đã
có trong đầu
Trang 9Việc chuyển từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng là nhờ vào:
Thứ nhất, do trẻ tích cực hoạt động với đồ vật, hoạt động đó được lặp
đi lặp lại nhiều lần lâu dần được nhập tâm thành hình ảnh, thành biểu tượng trong đầu Đó là cơ sở để cho hoạt động tư duy được diễn ra ở bình diện bên trong
Thứ hai, là do hoạt động vui chơi mà trọng tâm là trò chơi ĐVTCĐ
Loại trò chơi này giúp trẻ hình thành chức năng kí hiệu, tượng trưng của ý thức Nó thể hiện ở khả năng dùng vật này thay thế cho vật khác và hành động với vật thay thế như hành động với vật thật
Tuy nhiên bước nhảy này mới chỉ là một bước nhảy từ bờ bên này (tức tư duy trực quan hành động) sang bờ bên kia (tức tư duy trực quan hình tượng) nên nó mới chỉ là điểm khởi đầu của kiểu tư duy mới Do đó tư duy của trẻ ở
đầu tuổi MGB có mang những đặc điểm sau:
+ Tư duy còn gắn liền với hành động: ở trẻ MGB hoạt động vui chơi
là chủ đạo, trong hoạt động này trẻ không có vật thật mà phải dùng vật thay thế Vật thay thế lúc này trở thành đối tượng của tư duy, trong khi hoạt động với vật thay thế trẻ nghĩ về đồ vật thật, từ đó hình thành ở trẻ mối quan hệ giữa vật thay thế và đồ vật thực Vì vậy, việc giáo dục phát triển tư duy cho trẻ ở thời điểm này là cần giúp trẻ tích luỹ nhiều biểu tượng bằng cách cho trẻ quan sát, tiếp xúc, va chạm với sự vật hiện tượng đồng thời rèn luyện các giác quan
để tăng cường khả năng thu nhận những ấn tượng bên ngoài làm cho thế giới biểu tượng của trẻ ngày một phong phú Mặt khác, tổ chức cho trẻ hoạt động tích cực với thế giới đồ vật bằng nhiều phương thức khác nhau để trẻ nắm vững chức năng và cách sử dụng của nó làm cho quá trình nhập tâm được thực hiện dễ dàng
+ Tư duy còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan Tư duy của trẻ
còn bị xúc cảm chi phối mạnh, trẻ thường suy nghĩ về những cái mà trẻ thích, những cái thường bị lôi cuốn vào ý thích của trẻ Do vậy, trẻ chưa nhận ra
Trang 10được tính khách quan của đối tượng Trẻ chưa nhận ra những biểu tượng ý muốn chủ quan trong đầu mình chỉ là hình ảnh về đối tượng bên ngoài, nghĩa
là đồng nhất cái tinh thần và cái vật chất
Tuy vậy, trẻ cũng bắt đầu tìm hiểu nguyên nhân của sự vật hiện tượng, nhưng chưa nhận ra được tính khách quan của đối tượng Trẻ cho rằng tất cả các nguyên nhân đều là do ý muốn chủ quan của người nào đó
+ Là kiểu tư duy theo lối trực giác thể hiện rõ néttức là nhìn mọi vật một cách tổng thể, bao quát nhất của sự vật ở tuổi MGB, do trẻ chưa biết phân tích, tổng hợp, chưa biết một sự vật gồm nhiều bộ phận kết hợp lại thành một tổng thể, chưa xác định quan hệ giữa các bộ phận trong một sự vật dẫn
đến cách nhìn nhận sự vật của trẻ là theo lối trực giác toàn bộ
VD: Một em bé tuy chưa biết chữ nhưng vẫn nhận ra tên mình được mẹ
thêu trên áo Nghĩa là em bé chưa phân tích được trong tên mình gồm nhiều chữ cái khác nhau ghép lại
Tư duy kiểu này là chịu ảnh hưởng của tính duy kỉ Trẻ em không tư duy theo lối phân tích tổng hợp mà thường là chộp lấy một cách rất nhanh một
sự vật nào đó trong một trực giác bao quát cả toàn bộ nhưng trong đó những chi tiết, những thuộc tính hay các mối quan hệ không tách bạch rõ ràng mà còn hỗn hợp lại với nhau
Như vậy, việc chuyển từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong phát triển trí tuệ lứa tuổi mẫ giáo, hoạt động định hướng bên ngoài bằng đồ vật dần được thay thế bằng hoạt động định hướng bên trong với hình ảnh, kinh nghiệm được
coi là bước chuyển tiếp – phát triển kiểu tư duy người.
d Đặc điểm động cơ hành vi của trẻ
Trong suốt thời kì mẫu giáo bé, ở trẻ em có một sự biến đổi căn bản trong hành vi là: chuyển từ hành vi bột phát sang hành vi mang tính xã hội hay
là hành vi mang tính nhân cách Đó cũng chính là quá trình hình thành động cơ của hành vi Tuy nhiên ở lứa tuổi mẫu giáo bé thì bước chuyển này mới ở
Trang 11thời điểm khởi đầu Phần nhiều hành động của trẻ mẫu giá bé còn giống với hành động của trẻ ấu nhi Trẻ hành động thường là do những nguyên nhân trực tiếp như theo ý muốn chủ quan của mình hoặc do tình huống ở thời điểm đó thúc giục và không ý thức được nguyên cớ nào khiến mình hành động như vậy
Dần dần trong hành vi của trẻ có một sự biến đổi quan trọng Đó là sự nảy sinh động cơ Lúc đầu động cơ còn đơn giản và mờ nhạt, thường khi hành
động trẻ bị kích thích bởi những động cơ sau:
Trước hết đó là những động cơ gắn liền với ý thích muốn được như người lớn Nguyện vọng này biến thành động cơ dẫn trẻ đến việc sắm các vai trong trò chơi đóng vai theo chủ đề
Những động cơ gắn liền với quá trình chơi có tác động khá mạnh
mẽ thúc đẩy hành vi của trẻ
Như chúng ta đã biết, trẻ ham chơi không phải do kết quả chơi mang lại
mà chính quá trình chơi làm cho trẻ thích thú Do đó có thể nói rằng hành
động của trẻ được thúc đẩy bằng động cơ vui chơi Động cơ này làm cho toàn
bộ hành vi của trẻ mang một sắc thái riêng mà nó cũng là một nét độc đáo của tuổi mẫu giáo
Chẳng hạn, khi cô giáo yêu cầu trẻ thu dọn đồ dùng gọn gàng sau khi chơi thì hầu như trẻ không thích làm thế nhưng cô giáo lại bày ra trò chơi chuyên chở, sắp xếp các đồ chơi về chỗ cũ thì trẻ sẽ làm việc đó một cách hào hứng và thích thú, tích cực
Những động cơ nhằm làm cho người lớn vui lòng và yêu mến cũng bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy trẻ thực hiện những hành vi tích cực
Đầu tuổi mẫu giáo bé, trẻ rất thích được bố mẹ, cô giáo và những người lớn xung quanh khen ngợi, thương yêu mình Nhiều khi trẻ cố gắng làm những việc tốt để được khen, được yêu mến Tuy nhiên việc thích được người lớn yêu mến thường đi đôi với nhu cầu cụ thể Trẻ cho rằng nếu được yêu mến thì sẽ
Trang 12được quà hay được đi chơi ở đây đặt ra một vấn đề giáo dục heét sức tế nhị,
đó là khen thưởng đúng lúc, kịp thời đồng thời củng cố những hành vi tốt Vấn
đề đặt ra là thưởng như thế nào để sự phát triển động cơ của trẻ được lành mạnh
Trên cơ sở được củng cố như vậy, một loại động cơ của hành vi mang tính đạo đức xã hội được hình thành, thể hiện ở sự quan tâm của trẻ đối với những người xung quanh Loại động cơ này thường xuất hiện ở tuổi mẫu giáo
bé Nếu được giáo dục đúng đắn thì loại động cơ này sẽ phát triển mạnh ở các giai đoạn sau
Nhóm động cơ này được đánh giá là có ý nghĩa tích cực trong quá trình hòa nhập vào môi trường xã hội của trẻ Tuy nhiên nếu chỉ để trẻ hướng tới nhu cầu được khen, được hưởng sẽ làm phát triển những nhu cầu mang tính cá nhân vụ lợi hoặc đưa trẻ vào những động cơ mang tính vị kỉ Vì vậy người lớn cần thúc đẩy hành vi của trẻ đúng đúng chỗ và kịp thời
Từ những vấn đề được trình bày trên đây, chúng ta có thể rút ra kết luận rằng lứa tuổi mẫu giáo bé là điểm khởi đầu của cả giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách con người Đồng thời đây cũng là giai đoạn diễn ra bước ngoặt quan trọng trong đời sống tâm lí của trẻ
1.1.2 Cơ sở sinh lí
Với trẻ mẫu giáo bé, các chức năng sinh lí đang phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần Biểu hiện rõ rệt là sự thay đổi về trọng lượng và kích thước ở trẻ Chẳng hạn, trẻ được 6 tháng tuổi trọng lượng của não tăng gấp đôi so với lúc mới sinh, khi trẻ được 3 tuổi trọng lượng tăng gấp 3 lần
Cơ quan vận động của trẻ có những thay đổi cơ bản: Các cơ duỗi tăng trương lực và khả năng vận động linh hoạt Trẻ 3-4 tuổi sự vận động phối hợp chính xác hơn làm cho trẻ đi và chạy dễ dàng mà vẫn giữ được thăng bằng
Hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn thiện đầy đủ: Các tế bào thần kinh chưa
được biệt hóa hoàn toàn, các sợi thần kinh chưa miêlin hóa đầy đủ, hệ thống mao mạch của não tăng nhiều, trong não có chứa nhiều nước Chính vì điều
Trang 13này đã làm hạn chế nhận thức và hoạt động của trẻ Khả năng hưng phấn của
vỏ não còn yếu, chóng bị mệt mỏi vì vậy những kích thích quá mức như sợ hãi, tức giận có thể gây ức chế hoạt động của vỏ não, giải phóng trung tâm
dưới vỏ và tạo nên những cử động bình thường của hệ thống vỏ như: chán nản,
không trật tự, không phối hợp
Sự hình thành phản xạ có điều kiện diễn ra nhanh chóng ở trẻ Phản xạ
có điều kiện đối với tác nhân kích thích là thời gian, hoạt động thường ngày diễn ra theo một trình tự là cơ sở sinh lí của việc tuân thủ một chế đọ chặt chẽ trong mọi sinh hoạt của trẻ ở trẻ em có thể thành lập được phản xạ có điều kiện cấp sáu
Cơ quan phát thanh của trẻ đang dần hoàn thiện: Thanh quản gồm các sụn phổi, sụn nhẵn và sụn thanh nhiệt Bên trong thanh quản có lót một lớp niêm mạc, trên bề mặt lớp niêm mạc ở mỗi bên có hai nếp gấp Đó là các dây thanh âm Giữa hai bên thanh âm có một rãnh lõm xuống gọi là buồng thanh quản Dây thanh âm ở dưới đó là dây nói, dây thanh âm giả ở trên đó là dây chủ yếu để thở
Trẻ 3-4 tuổi dây thanh quản ngắn nên trẻ có giọng nối cao hơn so với người lớn Các khoang cộng hưởng của phần trên thanh quản, họng, khoang miệng, mũi khá hoàn thiện, thể hiện ở liên kết giữa các âm sắc trẻ thể hiện
Dựa trên những đặc điểm nêu trên ta có thể thấy rõ được mức độ của trẻ mẫu giáo bé là rất mạnh nhưng còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện Do đó cần lựa chọn những hình thức và biện pháp cho phù hợp để giáo dục trẻ đạt hiệu quả tốt nhất
Trang 14- Chức năng chỉ nghĩa: Là quá trính dùng một từ, một câu để chỉ một nghĩa nào đó, tức là quá trình gắn từ đó, câu đó vào một sự vật hiện tượng cụ thể
- Chức năng thông báo: Mỗi quá trình ngôn ngữ đều chứa đựng một nội dung thông tin, dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, để biểu cảm và nhờ đó thúc đẩy, điều chỉnh hoạt động của con người
- Chức năng khái quát hóa: Nghĩa là từ không chỉ một sự vật hiện tượng riêng lẻ mà nó chỉ một loại sự vật hiện tượng có chung những thuộc tính bản chất
b Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
“Bản chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội” (Marx) “ Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một đặc trưng quan trọng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất” (Lênin) Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng
nhau hành động vì những mục đích chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội
Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại
được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn
có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ
Ngôn ngữ là một công cụ để trẻ phát triển tư duy, nhận thức
Quá trình trưởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ Công cụ để trẻ phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự hiện hữu) của tư duy Tư duy của con người có thể hoạt động được (nhất là
Trang 15tư duy trừu tượng) cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không diễn ra được Ngôn ngữ làm cho các kết quả của tư duy được cố định lại, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác
và cho bản thân chủ thể tư duy Ngược lại, nếu không có tư duy với các sản phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh vô nghĩa
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ có mục đích tự thân Có ngôn ngữ, tư duy của trẻ được phát triển Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có tác động qua lại ảnh hưởng mạn mẽ đến nhau Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy phát triển Ngược lại, tư duy phát triển càng đẩy nhanh sự phát triển của ngôn ngữ
Tư duy Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: những hoạt động chủ yếu của trường mầm non Giống như việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác, phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép” Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học tập Ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục,
ở mọi nơi, mọi lúc Như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển
Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức, chuẩn mực về hành vi văn hóa Điều gì tốt, điều gì xấu, cần phải ứng xử, giao tiếp như thế nào cho phù hợp… không chỉ là sự bắt chước máy móc Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp Điều này giúp trẻ có điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh Cô giáo bằng lời cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc giải thích nêu gương, thuyết phục trẻ, giáo dục những hành vi
đạo đức cho trẻ
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong thơ ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có
Trang 16thể đem đến cho trẻ từ những ngày thơ ấu Sự tác động của lời nói nghệ thuật như một phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ
c Hoạt động giao tiếp
+ Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lí giữa con người và con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách bản thân Giao tiếp là phương thức hoạt
động của con người, là phương tiện cơ bản để hình thành nhân cách trẻ
+ Khái niệm hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã h Xã hội tồn tại và phát triển thông qua quá trình giao tiếp của con người
+ Bản chất của hoạt động giao tiếp
Hội thoại vừa là hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vừa là hiện tượng xã hội
Nói hội thoại là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vì chính trong hội thoại (và độc thoại) thì ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng quan trọng - chức năng giao tiếp Chính trong hội thoại ngôn ngữ mới phát huy
được đầy đủ đặc điểm, vẻ đẹp, sức mạnh của nó
Hội thoại là một hiện tượng xã hội vì nó nảy sinh và tồn tại chỉ trong các cộng đồng người, trong xã hội loài người Con người sử dụng hội thoại như một công cụ đắc lực để trao đổi thông tin, giao lưu tình cảm, gắn kết từng cá thể với nhau tạo thành một cộng đồng, một xã hội Bàn đến bản chất của hội thoại là bàn đến chức năng, mục đích và nội dung hội thoại, là gắn hội thoại với các hoạt động xã hội
Hoạt động hội thoại là hoạt động giao tiếp gắn rất chặt với các quy tắc ứng xử trong xã hội, thể hiện trình độ văn minh của con người Hai bản chất này gắn liền đôi khi khó tách bạch đâu là bản chất ngôn ngữ đâu là bản chất xã hội
+ Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
Trang 17Nhân tố của hoạt động giao tiếp bao gồm nhân vật giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp
- Nhân vật giao tiếp: Là những người tham gia giao tiếp
Có hai yếu tố của nhân vật giao tiếp ảnh hưởng đến cuộc hội thoại là: Vai giao tiếp (người nói, người nghe) và quan hệ liên cá nhân (vị thế xã hội, vị thế giao tiếp, quan hệ thân cận)
Vai giao tiếp là vị trí của nhân vật trong cuộc giao tiếp
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật tham gia hội thoại biểu hiện ở các phạm vi:
+ Vị thế xã hội của những người tham giao tiếp phụ thuộc vào chức
quyền, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, địa vị gia đình Các yếu tố này thường tác động trực tiếp đến cuộc giao tiếp Ví dụ khi giao tiếp với người lớn
sẽ khác với khi giao tiếp với những người cùng trang lứa
+ Vị thế giao tiếp: Những người tha gia hội thoại còn bị chi phối bởi
vị thế giao tiếp Trong một cuộc giao tiếp bao giờ cũng có người ở vịt hé mạnh, có người ở vị thế yếu Người ở vị thế giao tiếp mạnh sẽ chi phối một cách tự giác hoặc ngẫu nhiên, có chủ đích hoặc không có chủ đích cuọoc giao tiếp Ngược lại, người ở vị thế giao tiếp sẽ bị chi phối, bị lôi theo các nội dung giao tiếp do người ở vị thế giao tiếp mạnh nêu ra
+ Quan hệ thân cận là quan hệ thiên về tình cảm giữa những người
tham gia giao tiếp thể hiện ở các mức độ thân hay sơ, nồng nàn, thắm thiết hay lạnh nhạt, quý mến hay xa lạ Mối quan hệ này có thể được biến đổi trong hoặc sau cuộc giao tiếp
- Hoàn cảnh giao tiếp: gồm nhiều yếu tố tác động lẫn nhau như môi
trường giao tiếp, tình huống giao tiếp
+ Môi trường giao tiếp
Bất kì cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một không gian và thời gian xác
định cụ thể Người ta gọi các không gian, thời gian ấy là môi trường giao tiếp Trong mỗi môi trường giao tiếp sẽ quy định một cách thức sử dụng ngôn ngữ
Trang 18phù hợp với nó Những người tham gia giao tiếp phải hiểu và tuân theo các quy định đặc thù đó mới có thể thành công trong giao tiếp
+ Tình huống giao tiếp là tình huống cụ thể, xác định được các nhân vật tham gia giao tiếp ý thức và làm nảy sinh cuộc giao tiếp
1.1.3.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo
a Số lượng từ của trẻ
Trẻ 3-4 tuổi tuy chưa nhiều nhưng số lượng từ tăng hơn hẳn so với tuổi nhà trẻ Cụ thể:
+ Trẻ từ một năm đến 17 tháng, trẻ có thể bắt chước được người lớn, lặp lại những từ nghe được như: Ông, bà, bố, mẹ… Số lượng từ có thể đạt 30-40
từ
Trẻ từ tháng thứ 6 của năm thứ 2 vốn từ tăng nhanh Cuối năm thứ 2 trẻ có khoảng 500- 600 từ
+ Trẻ năm thứ 3 đã sử dụng được 1300 từ, phần lớn là danh từ, động từ, thường là những từ chỉ tên gọi, đồ chơi, đồ dùng, con vật…
+ Trẻ 4 tuổi vốn từ có khoảng 1900-2000 từ, trong đó danh từ và động
từ vẫn chiếm ưu thế, còn tính từ và các từ loại khác ít sử dụng
+ Trẻ 5 tuổi vốn từ có khoảng 2500-2600 từ
+ Trẻ 6 tuổi vốn từ có khoảng 3000-4000 từ
+ Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từ mang ý nghĩa cụ thể như tên gọi các đồ vật trong gia đình, tên động vật, thực vật
Số lượng từ của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau, trong
đó quan trọng nhất là các tác động của môi trường như: Sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, trình độ giao tiếp và sự quan tâm của bố mẹ
b Về từ loại
Theo Xtecnơ, ngôn ngữ của trẻ em xuất hiện trước hết là danh từ, sau là
động từ rồi mới đến các từ loại khác:
Trang 19Theo Lưu Thị Lan, trẻ em mẫu giáo có tỉ lệ các từ loại như tính từ, trạng
từ, quan hệ từ được tăng lên, động từ giảm đi so với tuổi nhà trẻ:
- Về danh từ: Nội dung ý nghĩa từ của trẻ dần được mở rộng, phong phú hơn ở những từ có ý nghã rộng
Ví dụ: Từ “hoa” có nhiều loại hoa khác nhau, từ “cây” có rất nhiều loại cây
khác nhau, từ “bánh” có khoảng hơn 20 loại bánh khác nhau…
Những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng ở trẻ còn có những danh từ mang tính văn học
Ví dụ: Cây cối, đoá hoa, áng mây, mặt trời…
Trẻ cũng đã biết sử dụng một số từ chỉ những khái niệm trừu tượng nhưng
chưa được sử dụng nhiều (VD: kiến trúc, tài năng), mặc dù trẻ chưa hiểu hết
nghĩa của những từ đó
Trang 20- Về động từ: Phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm
những nhóm từ mới như: nhảy nhót, leng keng, ào ào, lộp bộp… những động
từ chỉ sắc thái khác nhau như: chạy vèo vèo, chạy lung tung, chạy lăng xăng…
- Về tính từ: Phát triển về số lượng cũng như chất lượng, trẻ sử dụng nhiều những từ có tính chất gợi cảm
Ví dụ: chua loét, ngọt lịm, tròn xoe, tròn vo…
Từ tượng thanh, tượng hình
Ví dụ: Rì rào, róc rách, lom khom, ung dung…
Trẻ cũng sử dụng được một số từ trái nghĩa
Ví dụ: dày – mỏng, cao – thấp, đẹp – xấu, ngoan – hư…
- Về trạng từ: Trẻ sử dụng nhưng chưa thật chính xác các trạng từ: Ngày xưa,
hôm qua, hôm kia, lúc nãy…
- Về quan hệ từ: Trẻ biết sử dụng các từ: nếu, thì, nhưng mà, xong là…
- Về các loại từ: Trẻ sử dụng nhiều từ đơn hơn từ ghép
Tóm lại, trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo bé nói riêng, cùng với thời gian, vốn từ của trẻ sẽ tăng lên cả về số lượng và chất lượng Việc nắm
được nghĩa của từ phụ thuộc vào sự phát triển khả năng nhận thức và tư duy của trẻ Tốc độ phát triển vốn từ của trẻ không đều nhau, càng ở lứa tuổi lớn,
sự chênh lệch về số lượng từ không rõ rệt như trẻ còn nhỏ
Trẻ tiếp thu được hết những từ biểu thị tên gọi của các sự vật, hiện tượng gần gũi với trẻ Còn những từ biểu thị khái niệm trừu tượng thì ở trẻ không có hoặc trẻ có sử dụng nhưng không hiểu hết ý nghĩa của chúng
Vốn từ của trẻ mang tính chất cá nhân rõ rệt, cùng một lứa tuổi, có trẻ vốn từ rất phong phú về thể loại, nhiều về số lượng, nhưng có trẻ vốn từ lại rất nghèo nàn Điều đó phụ thuộc vào sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, đặc biệt là trình độ và sự quan tâm, giáo dục của bố
mẹ và phụ thuộc vào những yếu tố khác
Trang 211.2 Nhiệm vụ và nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
1.2.1 Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
a Một số vấn đề cần lưu ý
ở tuổi mẫu giáo, trẻ phải nắm được một vốn từ cần thiết đủ để cho chúng giao tiếp với bạn bè, người lớn, tiếp thu tri thức ban đầu trong trường mầm non, chuẩn bị vào trường phổ thông, xem các chương trình truyền hình truyền thanh… Vì thế, giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ là
một nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ
Phát triển vốn từ được hiểu như một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã lĩnh hội được trong lịch sử Nó bao gồm hai mặt: tích luỹ số lượng (tăng dần số từ tích cực) và nâng cao chất lượng (lĩnh hội dần nội dung xã hội tích luỹ trong từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức)
Việc lĩnh hội vốn từ của trẻ mẫu giáo bao gồm các đặc trưng sau:
Thứ nhất, nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quan hình
tượng của tư duy nên trước hết trẻ nắm được các tên gọi của sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quan hệ mang tính chất biểu tượng trực quan và phù hợp với hoạt động của chúng
Thứ hai, sự lĩnh hội nghĩa của từ diễn ra dần dần Thoạt đầu trẻ chỉ đối
chiếu từ với sự vật cụ thể (không có phía khái quát), sự thâm nhập dần của trẻ vào hiện thực (khám phá ra những thuộc tính, dấu hiệu bản chất, khái quát theo dấu hiệu nào đó) Dần dần cùng với sự phát triển tư duy, trẻ mới nắm
được nội dung khái niệm trong từ vì việc nắm nghĩa từ còn biến đa,đổi trong suốt tuổi mẫu giáo
Thứ ba, vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với
số lượng vốn từ của người lớn Vì khối lượng tri thức của chúng còn quá chật hẹp Vì thế mở rộng vốn từ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ
b Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ
- Làm giàu vốn từ và tích luỹ số lượng từ cần thiết cho giao tiếp ngôn ngữ của trẻ Mặc dù chức năng cơ bản của từ không phải là giao tiếp nhưng thiếu từ thì
Trang 22giao tiếp trở nên khó khăn Vì vậy, phải cung cấp cho trẻ vốn từ cần thiết, đó
là những từ về những gì có ở xung quanh trẻ (gia đình, trường mầm non), những từ có liên quan đến cuộc sống cá nhân và quan hệ của trẻ, những từ cần cho cuộc sống sinh hoạt, học tập, vui chơi của trẻ
Mặt khác, dựa vào đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo, việc làm giàu vốn
từ cần tiến hành theo nguyên tắc mở rộng từ cụ thể đến khái quát Nghĩa là, ở giai đoạn đầu cần cung cấp cho trẻ những từ ngữ mang ý nghĩa cụ thể như các
đồ vật trong gia đình, các con vật, cây cối, hoa quả gần gũi, quen thuộc, tên gọi người thân trong gia đình
VD:
- Các động từ biểu thị hoạt động cơ bản của người: đi, đứng, bò, chạy, nhảy…
- Các tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật: to, nhỏ, dài, ngắn, rộng,
hẹp…
Giai đoạn sau, cung cấp cho trẻ những từ mang ý nghĩa khái quát hơn như các
từ láy âm (lúng túng, vội vã, náo nức…), từ tượng thanh (rì rào, róc rách, ào
ào, lộp độp…), tượng hình (lom khom, ung dung…), các từ ghép…
Để làm phong phú vốn từ, có thể cho trẻ tìm từ trái nghĩa như đẹp/xấu,
nhanh/chậm, buồn/vui, hiền/dữ…
Cần dạy trẻ mẫu giáo biết ghi nhớ và sử dụng các thành ngữ, tục ngữ
với nội dung phù hợp với trẻ như: dầm sương dãi nắng, một lòng một dạ…
Nhạc điệu của âm thanh, tính hình tượng của câu nói làm cho thành ngữ, tục ngữ thêm phần gợi cảm, dễ nhớ
- Cần phải chú ý đến cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ sao cho có đủ các từ
loại trong Tiếng Việt với tỉ lệ thích hợp Số lượng từ lớn mà cơ cấu từ loại
không hợp lí hoặc thiếu một số từ loại nào đó thì trẻ sẽ khó khăn khi diễn đạt Thường vốn từ của trẻ có số lượng danh từ lớn nhất, sau đó là động từ và tính
từ Các từ loại khác xuất hiện muộn hơn với một tỉ lệ thấp Đến 4 tuổi thì cần
có đủ các loại từ trong vốn từ của trẻ
Trang 23- Giúp trẻ lĩnh hội ý nghĩa của từ: Hiểu nghĩa của từ là một nội dung quan
trọng của phát triển lời nói ở trường mầm non, nhiệm vụ này bao gồm:
+ Giúp trẻ nắm được ý nghĩa của từ trên cơ sở đối chiếu chính xác chúng với các đồ vật ở xung quanh
+ Giúp trẻ nắm được ý nghĩa khái quát của từ trên cơ sở phân biệt được những dấu hiệu đặc trưng của sự vật và hiện tượng
+ Thâm nhập vào thế giới hình tượngcủa lời nói và biết cách sử dụng chúng (thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với thơ, truyện)
+ Tích cực hoá vốn từ có nghĩa là giúp trẻ không những hiểu biết mà còn sử dụng được chúng trong giao tiếp Đây là quá trình đúng mỗi từ và sử dụng chính xác trong các ngữ cảnh khác nhau Tích cực hoá vốn từ giúp trẻ vận dụng từ vào lời nói làm cho vốn từ ngữ thụ động chuyển sanh từ ngữ tích cực những biện pháp tu từ đặc biệt là so sánh và nhân cách hoá, trẻ có thể tiếp thu
và sử dụng một cách hồn nhiên
Ví dụ:
“Một đoàn máy bay Mỹ
Như một bầy quạ đen”
(Hoan hô chú bộ đội) Hay: “Trăng ơi từ đâu đến
Hay biển xanh diệu kì
Trăng tròn như mắt cá
Không bao giờ chớp mi”
(Trăng ơi từ đâu đến - Trần Đăng Khoa)
Tác giả đã ví hình ảnh “trăng tròn” với một hình ảnh rất gần gũi – “mắt cá”
Điều đó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và suy nghĩ của trẻ Nhờ việc sử dụng biện pháp so sánh đã làm cho ngôn ngữ của bài thơ trở nên sinh động và
có phần ngây thơ, ngộ nghĩnh, giúp trẻ tiếp thu và cảm nhận dễ dàng hơn
Trang 241.2.2 Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ được tác giả Đinh Hồng Thái biên soạn và phân chia theo đề tài như sau:
a Những từ ngữ nói về cuộc sống riêng
- Gọi đúng tên nơi ở (số nhà, phố, phường xã…), gọi đúng tên người thân
trong gia đình , gọi đúng tên trường mầm non, tên cô giáo, tên các bạn
- Gọi đúng tên vị trí các phần trong nhà, trường lớp: phòng ăn, phòng ngủ, sân
chơi, phòng khách…
- Làm quen với các đồ dùng trong gia đình: bàn, ghế, giường, tủ… gọi tên các
bộ phận: chân bàn, mặt ghế… gọi đúng tên nơi để đồ dùng: chạn (bát), quần
áo (trong tủ ), giầy dép ( trên giá)…
- Biết và gọi tên công việc của người lớn trong gia đình, trường mầm non: Bố
đi làm cơ quan, mẹ đi dạy học, chị đi học…
b Những từ ngữ về cuộc sống xã hội
- Cho trẻ làm quen với cuộc sống của đất nước: những ngày lễ hội: Tết Nguyên đán (được đi chơi, được nghỉ, chúc tết, mừng tuổi), Tết trung thu (múa sư tử, rước đèn phá cỗ…)
- Dạy trẻ nói được một số từ ngữ về chú bộ đội, công an(đồng phục, súng đạn,
mũ sao vàng, canh gác, bảo vệ Tổ Quốc….), về bác công nhân(làm đường, xây nhà, quét dọn…), bác nông dân(trồng lúa, trồng rau, chăn nuôi…)
- Dạy trẻ gọi đúng tên và lợi ích của một số phương tiện giao thông phổ biến ở
địa phương như xe đạp, xe máy, ô tô, thuyền tàu…
c Những từ ngữ nói về cuộc sống tự nhiên
- Cho trẻ nhận biết và gọi tên một số loại rau thông thường (rau muống, rau
cải…), một số loại quả (cam, táo, bưởi…), một số loại hoa (hoa hồng, hoa cúc, hoa đào…)
- Dạy trẻ nhận biết và gọi đúng tên một số con vật nuôi phổ biến trong gia
đình (chó, mèo, gà, vịt…)
Trang 25- Dạy trẻ nói đúng những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên: nắng, mây, mưa, sấm
đem lại hiệu quả rất to lớn góp phần củng cố vốn ngôn ngữ cho trẻ
Ví dụ: Cuộc hội thoại của phụ huynh bé Phương Linh với bé và cô giáo trong
giờ đến đón bé được ghi lại như sau:
- Mẹ: Mẹ chào con Hôm nay ở lớp con có ngoan không?
- Phương Linh: Hôm nay ở lớp con được học bài thơ “Bé làm bao nhiêu nghề” Con được biết thêm nhiều nghề lắm mẹ ạ Con kể cho cô và các bạn ở lớp nghe về nghề của bố và mẹ nữa đấy
- Mẹ: Con của mẹ giỏi quá
- Cô giáo: Phương Linh kể cho mẹ nghe ở lớp, con thấy có chuyện gì vui nhỉ?
- Phương Linh: Mẹ ơi, hôm nay bạn Minh Đức không khóc nhè nữa, bạn ấy còn cho con chơi đồ chơi cùng nữa mẹ ạ
- Mẹ: Phương Linh của mẹ rất ngoan Con chào cô rồi mẹ con mình về nhà nhé
Thông qua đoạn hội thoại nhỏ diễn ra ở trên chúng ta thấy nếu phụ huynh quan tâm chỉ cần bỏ ra một chút thời gian mỗi ngày để trao đổi và trò
Trang 26chuyện với trẻ chính là đã góp phần củng cố vốn ngôn ngữ của trẻ đã có và số
từ mới mà trẻ được học trong ngày Mỗi ngày như vậy số vốn từ của trẻ sẽ ngày càng phong phú và được tăng lên đáng kể Ngoài ra việc làm này còn mang lại ý nghĩa to lớn trong việc phối hợp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Vì vậy tận dụng tốt khoảng thời gian này sẽ đem lại hiệu quả tích cực trong quá trình tích luỹ ngôn ngữ của trẻ
Thông qua các hoạt động vui chơi, dạo chơi tham quan, hoạt động lao
động và sinh hoạt hàng ngày
Các hoạt động này ở trường mầm non không thể thiếu hình thức giao tiếp hội thoại ở đây giáo viên là người hướng dẫn, trao đổi, trò chuyện với trẻ trong quá trình diễn ra các hoạt động và sự giao lưu, trao đổi giữa trẻ với nhau
để thống nhất đi tới mục đích chơi chung trong mỗi hoạt động đó Trẻ được giao lưu và tự do nói lên những suy nghĩ, nguyện vọng của mình Sau đó giáo viên sẽ là người hướng trẻ dần vào mục tiêu mà hoạt động đó đề ra
ở trường mầm non ngoài hoạt động học chính ở trên lớp ra cần tổ chức linh hoạt và thường xuyên các hoạt động này để góp phần luyện tập củng cố vốn từ ngữ đã được học đồng thời trẻ tự khám phá và mở rộng vốn ngôn ngữ của chính bản thân mình
Ví dụ: Trong chủ đề “Thế giới thực vật” giáo viên có thể tổ chức cho trẻ đi
tham quan vườn trường
- Cho trẻ vừa đi vừa hát bài “Trời nắng, trời mưa” để ra vườn trường
- Cô giới thiệu nơi đưa trẻ đến tham quan trong ngày hôm nay và mục đích của buổi tham quan
- Để trẻ tự do tham quan, tìm hiểu theo sở thích của mình
- Sau đó cô giáo đưa ra hệ thống câu hỏi nhằm vào mục đích của buổi tham quan:
+ Các con thấy trong vườn trường có những loại cây gì?
+ Con thấy hoa hồng có đặc điểm gì? Thân cây có gì?
+ Còn cánh của hoa cúc thì sao?
Trang 27+ Lá của cây bàng thế nào nhỉ?
+ Chúng mình phải làm gì để vườn trường luôn xanh tươi?
Nghĩa là trong mỗi buổi tham quan, giáo viên cần đưa ra nhiều câu hỏi gợi ý để trẻ phát triển hiểu biết cũng như củng cố những từ ngữ mà trẻ đã học
được trong mỗi chủ đề Thông qua những câu hỏi của giáo viên trẻ biết sử dụng đúng từ để nói về những đặc điểm của một số loại cây trong vườn trường
như “hoa hồng cánh tròn, màu đỏ”, “thân hồng có gai”, “cánh hoa cúc dài,
nhỏ”… Cứ như vậy, trẻ sẽ tích luỹ được dần số lượng vốn từ của mình
Tóm lại, hình thức giao tiếp hội thoại ở trường mầm non có ý nghĩa rất quan trọng và không thể thiếu trong bất cứ hoạt động nào Mặt khác cần tăng cường hoặc giáo viên cũng có thể tạo ra các tình huống để trẻ được giao tiếp với nhau Tổ chức tốt hoạt động này cũng là một việc làm hết sức có ý nghĩa trong việc phát triển vốn từ cho trẻ cả về số lượng và chất lượng
b Hình thức giao tiếp độc thoại
Độc thoại là hệ thống có tổ chức của các tư tưởng có hình thức lời nói,
là những hành động có dự định trước đến những người xung quanh
Do khuôn khổ của khoá luận nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển ngôn ngữ qua hình thức hội thoại Hình thức độc thoại này sẽ
được tìm hiểu sâu hơn ở các đề tài sau
Tiểu kết chương 1
Trên đây chúng tôi đã trình bày những tiền đề phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé Trong đó bao gồm cơ sở tâm lí, cơ sở sinh lí và cơ sở ngôn ngữ học Ngoài ra chúng tôi còn trình bày một số nội dung và nhiệm vụ cơ bản để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé
Để làm sáng tỏ hơn những vấn đề của khoá luận chúng tôi sẽ trình bày trong chương tiếp theo
Trang 28Chương 2 Một số hình thức và biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt động giao tiếp
2.1 Các hình thức và biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ trong giờ học 2.1.1 Giao tiếp giữa cô và trẻ
2.1.1.1 Giao tiếp giữa cô và trẻ trong giờ học
Trẻ đến trường mầm non được giao lưu, vui chơi, học tập Sự giao tiếp giữa cô và trẻ chủ yếu thông qua các giờ học chính ở trên lớp Thông qua các tiết học, trẻ được cung cấp kiến thức và số lượng từ ngữ cần thiết đủ để cho trẻ giao tiếp với bạn bè, người lớn xung quanh Trong các hoạt động học, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn – trẻ thực hiện các yêu cầu của cô Tuy nhiên cũng tuỳ vào từng loại tiết học mà vai trò của giáo viên và trẻ có sự thay
- Giới thiệu tên loại quả được quan sát: Quả chuối
- Trẻ tự quan sát: màu sắc (xanh, vàng), hình dạng (cong dài), hương vị (ngọt),
Trang 29Tương tự trong các tiết học khác cũng vậy, giáo viên khuyến khích trẻ
tự nói lên những suy nghĩ, hiểu biết của mình, tức là tạo điều kiện phát huy tính tích cực chủ động của trẻ
Trong quá trình tổ chức tiết học, giáo viên cần lưu ý đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Trong tiết học phải thống nhất việc phát triển vốn từ với việc phát
triển các quá trình nhận thức, nghĩa là đảm bảo thực hiện nhiệm vụ phát
triển vốn từ cho trẻ là cung cấp về số lượng (làm giàu và tích luỹ vốn từ) và chất lượng (giúp trẻ lĩnh hội, hiểu nội dung, ý nghĩa của từ)
Ví dụ: Khi học chủ đề nghề nghiệp
Cô cần cung cấp cho trẻ phần lớn là các danh từ chỉ các nghề trong xã hội như
giáo viên, kĩ sư, bác sĩ, xây dựng, nông dân… Sau đó giải thích cho trẻ về đặc
trưng của mỗi nghề cho trẻ nắm được (về công việc, trang phục…) Khuyến khích trẻ kể tên một số nghề khác trong xã hội mà trẻ biết để mở rộng vốn hiểu biết cho trẻ
+ Phải hướng cho trẻ tích cực nhận thức và tích cực tích luỹ ngôn
ngữ Nghĩa là giáo viên để trẻ được hoạt động nhiều, từ đó trẻ sẽ tự tìm tòi,
khám phá, mở rộng hiểu biết cho mình, tích luỹ dần khối lượng kiến thức cần thiết Ngoài ra không những giúp trẻ hiểu biết những từ đó mà còn sử dụng
được chúng trong giao tiếp Tức là quá trình biến những từ thụ động thành những từ chủ động Trẻ phát âm được đúng từ và sử dụng chúng trong các ngữ cảnh khác nhau
Trẻ mẫu giáo bé đã biết đến “chuẩn ngôn ngữ” không phải ở dạng thuật ngữ mà lần đầu tiên trẻ có ý thức rằng không phải ai muốn nói thế nào cũng
được mà phải phân biệt cái gì là “có thể”, cái gì là “không thể” khi sử dụng
ngôn ngữ Trẻ cần biết rằng mọi người trong xã hội đều đã quy ước nói thế này mà không nói thế khác về một sự vật, hiện tượng
Chẳng hạn, khi học về chủ đề phương tiện giao thông thì dạy trẻ nói:
- Ô tô đi trên đường bộ chứ không nói ô tô đi trên đường không
Trang 30- Nói ngồi trên xe máy chứ không nói nằm trên xe máy
- Nói đội mũ bảo hiểm chứ không nói mặc mũ bảo hiểm…
+ Phải hướng cho trẻ tích cực nhận thức và tích cực tích luỹ ngôn
ngữ Nó góp phần quan trọng trong việc mang lại hiệu quả của giờ học Bởi
trẻ mầm non, suy nghĩ và sự hiểu biết còn hạn chế, không thể như người lớn, nếu không có sự hỗ trợ của các phương tiện trực quan sẽ khó đảm bảo cho việc truyền thụ cũng như tiếp thu kiến thức của trẻ Mặt khác do đặc điểm tâm
sinh lí của trẻ mầm non là hoạt động vui chơi là chủ đạo, trẻ “học mà chơi,
chơi mà học” Đặc biệt trong các giờ học làm quen với môi trường xung
quanh, làm quen với tác phẩm văn học và làm quen với toán, trẻ được làm quen với những kiến thức mới, trừu tượng, nếu không có phương tiện trực quan trẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp thu kiến thức
Dựa vào việc xác định nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các tiết học, giáo viên có thể đưa ra cách tổ chức các phương pháp dạy học một cách linh hoạt và phù hợp
Chẳng hạn như trong giờ học làm quen với Môi trường xung quanh, trẻ
được tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng, biết được những đặc điểm, cấu tạo, dấu hiệu đặc trưng… của từng sự vật Từ đó hình thành các biểu tượng đúng
đắn về các sự vật, hiện tượng xung quanh và trẻ được tự do nói lên những điều trẻ biết Như vậy ở giờ học này, trẻ được rèn luyện kĩ năng phát âm, rèn luyện câu theo cấu trúc ngữ pháp và vốn từ của trẻ tăng lên rất nhanh, đặc biệt trong giờ học này trẻ sẽ tiếp thu được nhiều danh từ và tính từ
Ví dụ: Khi học chủ đề Thế giới thực vật
Cho trẻ quan sát quả khế:
- Giáo viên giới thiệu loại quả mà trẻ sẽ được tìm hiểu
- Để thời gian cho trẻ tự quan sát: Màu sắc, hương vị, hình dạng…
- Giáo viên chính xác hoá lại các đặc điểm và kết luận
ở đây trẻ được cung cấp và ghi nhớ thêm từ “múi khế”- một dấu hiệu đặc
trưng để giúp trẻ dễ dàng khi nhận biết quả khế