1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội

86 634 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON ĐINH THỊ HÀ PHƯƠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

ĐINH THỊ HÀ PHƯƠNG

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU

VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn

ThS.GVC Phan Thị Thạch

HÀ NỘI 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong

tổ bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong thời gian học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - Th.S Phan

Thị Thạch – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập,

nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, toàn thể các cô giáo trường Mầm non Đại Thịnh đã giúp em có những tư liệu tốt

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện khóa luận

Do hạn chế về thời gian, do bước đầu tập làm quen với công tác nghiên cứu, khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy,

em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn

để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Bên cạnh đó, tôi được sự quan tâm của các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

CBĐ : Cái biểu đạt CĐBĐ : Cái được biểu đạt ĐVTCĐ : Đóng vai theo chủ đề

GV : Giáo viên MGB : Mẫu giáo bé MGN : Mẫu giáo nhỡ NXB : Nhà xuất bản

SL : Số lượng Th.S : Thạc sĩ

Tr : Trang

VD : Ví dụ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Mục đích nghiên cứu 5

6 Phạm vi nghiên cứu 6

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Cấu trúc khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 7

1.1.1 Những hiểu biết chung về từ trong Tiếng Việt 7

1.1.2 Vốn từ và đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non 13

1.1.3 Năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp 17

1.2 Cơ sở tâm lí học 18

1.3 Cơ sở giáo dục học 21

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MGN TÌM HIỂU VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 24

2.1 Khảo sát thực trạng vốn từ của trẻ MGN ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 24

2.2 Khảo sát nội dung chương trình giáo dục dành cho trẻ MGN 27

2.2.1 Khảo sát nội dung chương trình giáo dục cho trẻ MGN do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành 27

2.2.2 Khảo sát việc thực hiện nội dung chương trình cho trẻ MGN ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 36

Trang 6

2.3 Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xã hội theo định

hướng phát triển vốn từ cho trẻ 42

2.3.1 Sử dụng biện pháp đàm thoại giúp trẻ MGN khám phá về Gia đình của bé theo định hướng phát triển vốn từ 42

2.3.2 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ khi tìm hiểu về Nhu cầu của gia đình thông qua việc tổ chức cho trẻ hoạt động cho trẻ hoạt động ở các góc 45

2.3.3 Sử dụng biện pháp hướng dẫn trẻ quan sát giúp trẻ MGN khám phá về Ngôi nhà gia đình ở theo định hướng phát triển vốn từ 47

2.3.4 Sử dụng trò chơi học tập giúp trẻ khám phá Một số nghề phổ biến, quen thuộc trong xã hội và một số nghề phổ biến ở địa phương theo định hướng vốn từ 50

2.3.5 Sử dụng đồ chơi để giúp trẻ MGN khám phá về Phương tiện giao thông theo định hướng phát triển vốn từ 56

2.3.6 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ thông qua hoạt động dạy trẻ đọc những bài thơ tìm hiểu về một số Luật giao thông 57

2.3.7 Sử dụng tranh ảnh để giúp trẻ khám phá về Đất nước Việt Nam diệu kì theo định hướng phát triển vốn từ 60

2.3.8 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ khi tìm hiểu về Bác Hồ kính yêu thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe 63

2.3.9 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ khi tìm hiểu về Quê hương thông qua hoạt động ngoài trời – dạo chơi tham quan 66

2.4 Giáo án thể nghiệm 67

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Các nhà khoa học giáo dục đều xác định phát triển vốn từ là một trong những nhiệm vụ trọng yếu để thực hiện mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Việc đề cao nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ của các nhà khoa học xuất phát từ nhận thức của họ về vai trò, chức năng của từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp, tư duy của con người nói chung, của trẻ mầm non nói riêng

Với trẻ mầm non đặc biệt là trẻ MGN, việc phát triển vốn từ giúp các bé: tăng số lượng từ, hiểu nghĩa của chúng và biết cách sử dụng loại đơn vị này trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Nhờ vậy trẻ được bồi dưỡng về năng lực ngôn ngữ, trong đó có năng lực sử dụng từ, năng lực tư duy và giao tiếp

Hòa chung với không khí đổi mới của toàn ngành Giáo dục – Đào tạo, trước những đòi hỏi của công cuộc Công nghiệp hóa – hiện đại hóa và xu thế hội nhập toàn cầu, trong những năm gần đây nội dung chương trình giáo dục

ở bậc mầm non đã có những thay đổi Biểu hiện rõ nhất về sự thay đổi đó là việc tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mầm non theo những đề tài, những chủ đề thuộc cấp độ khác nhau Những thay đổi đó góp phần giúp trẻ hình thành và phát triển các năng lực cơ bản trong đó có năng lực sử dụng từ

Trong ngôn ngữ, từ là một thể thống nhất giữa âm thanh và nội dung ý nghĩa, là đơn vị trung tâm, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu Để

có thể giao tiếp tốt, để có thể tự bộc lộ những nhu cầu, momg muốn, tâm tư, tình cảm của bản thân trẻ em cần được trang bị cho mình một vốn từ ngữ phong phú Việc có được một vốn từ ngữ phong phú sẽ giúp ích cho trẻ rất nhiều, nhờ đó trẻ có thể tự nắm bắt được những gì mà trẻ nghe được từ mọi người xung quanh Trẻ có thể tự do bày tỏ cảm xúc và nói lên suy nghĩ của bản thân với nhiều người khác, qua đó nâng cao khả năng giao tiếp xã hội của trẻ Trẻ mầm non nói chung và trẻ MGN nói riêng cần phải được trang bị cho mình một vốn từ nhất định để giao tiếp, tiếp thu những tri thức ban đầu trong trường mầm non, là nền tảng để trẻ lĩnh hội các kiến thức ở các bậc học tiếp theo

Trang 8

Có thể thấy rằng, Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Nếu ví rằng quá trình học tập của con người giống như

quá trình xây dựng một ngôi nhà thì bậc học mầm non chính là những “viên

gạch” đầu tiên đặt nền móng cho ngôi nhà ấy, nền móng có chắc thì ngôi nhà

mới trở nên vững chãi Như vậy, bậc học mầm non được coi là bước đệm, là tiền đề vô cùng quan trọng cho trẻ trước khi đến trường phổ thông Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:

“Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”

Điều đó cho thấy rằng trẻ em ở lứa tuổi mầm non cần được nâng niu, chăm sóc và dạy dỗ một cách đặc biệt Trường mầm non là nơi nuôi dưỡng, khơi dậy và phát huy tối đa các năng lực và trí tuệ của trẻ ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc sống Ở đó, trẻ phải được hoạt động để bộc lộ mình

và phát triển tối đa các năng lực, phẩm chất, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ, lao động Nội dung tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường mầm non gắn

với chín chủ đề và khi nói về chủ đề “Gia đình và xã hội” là nói tới chủ đề mà

GV có thể tích hợp nhiều tri thức để phát triển vốn từ cho trẻ MGN Có thể

nói rằng, Gia đình và xã hội là một trong những chủ đề quan trọng và hấp

dẫn, một trong những chủ đề khơi nguồn cho sự tìm tòi, khám phá đối với trẻ mầm non đặc biệt là trẻ MGN Thông qua các hoạt động tìm hiểu về gia đình

và xã hội, ngôn ngữ của trẻ ngày càng được mở rộng và hoàn thiện dần, giúp trẻ tích lũy được nhiều vốn từ vựng cần thiết và lĩnh hội ý nghĩa của từ Để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi người giáo viên khi tổ chức cho trẻ hoạt động phải có sự kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp, hình thức dạy học để trẻ có thể phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển hoàn thiện bản thân

Là một sinh viên khoa Giáo dục Mầm non, tương lai sẽ chăm lo đến từng bữa ăn, từng giấc ngủ, chăm sóc những mầm xanh của cuộc đời, chúng tôi thực sự rất chú ý đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, đặc biệt là phát triển vốn từ cho trẻ MGN

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non và mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc cụ thệ hóa nội dung, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua một nội dung cụ thể,

Trang 9

chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ

thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội”

2 Lịch sử vấn đề

Tìm hiểu về từ, vốn từ và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo không phải

là vấn đề mới mẻ vì đã có nhiều nhà khoa học, nhiều sinh viên khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nghiên cứu Chúng ta có thể tổng thuật tình hình nghiên cứu về vấn đề này từ các nhóm tác giả sau:

2.1 Việc tìm hiểu về vốn từ nói chung và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non nói riêng từ góc nhìn của các nhà khoa học:

- Đỗ Hữu Châu,“Giáo trình Việt ngữ tập hai”, NXB Giáo dục, 1962

Trong cuốn giáo trình này, Đỗ Hữu Châu đã nghiên cứu các đơn vị từ vựng trong tiếng Việt Vốn từ là một trong những nội dung được ông đề cập đến khi tìm hiểu về loại đơn vị ngôn ngữ được xem là đơn vị trung tâm, đơn vị cơ bản của tiếng Việt

- Nguyễn Xuân Khoa là nhà khoa học giáo dục đầu tiên ở Việt Nam đã

đề cập đến và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Trong cuốn giáo trình

“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB Đại học Sư

phạm, 2004 tác giả đã dành chương V- một trong mười hai chương sách để trình bày khái quát những nội dung liên quan đến việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo

- Trong cuốn “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ dưới 6 tuổi”,

nhóm tác giả Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 cũng đã dành một chương (chương IV) trong tám chương của giáo trình để trình bày phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ thuộc đối tượng nghiên cứu

- Đinh Hồng Thái - tác giả giáo trình: “Phương pháp phát triển lời nói

cho trẻ em” đã trình bày ba vấn đề chính Ở phần thứ ba của giáo trình tác giả

đã dành chương VI để trình bày khái quát về nội dung, biện pháp hình thành

và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo

2.2 Việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non từ góc nhìn của sinh viên khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Trang 10

Trong những năm gần đây, phát triển ngôn ngữ nói chung và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non nói riêng là một vấn đề được rất nhiều sinh viên khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đi vào nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau

Năm 2009 với đề tài: “Phương pháp trực quan trong việc phát triển

vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé”, Nguyễn Thị Hoa, Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã

trình bày cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu Đồng thời, ở khóa luận này Nguyễn Thị Hoa cũng đã đưa ra những hướng dẫn sử dụng một số đồ dùng trực quan trong việc phát triển vốn từ cho trẻ MGB

Trẻ 5-6 tuổi là lứa tuổi phát triển nhất về nhận thức trong giai đoạn mẫu giáo, trẻ chuẩn bị bước vào một môi trường hoàn toàn mới mẻ nên việc trang

bị cho các em một vốn từ ngữ phong phú là rất cần thiết Xuất phát từ góc nhìn này, năm 2012 khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Quyên, Đại học Sư

phạm Hà Nội 2 đã bàn về: “Một số biện pháp dùng lời nói nhằm phát triển

vốn từ ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các tác phẩm văn học” Vũ Thị Quyên

đã trình bày những cơ sở lí luận sắc bén về đề tài nghiên cứu, đưa ra những kết luận khoa học trên cơ sở phân tích và miêu tả kết quả một số biện pháp dùng lời để phát triển vốn từ ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các tác phẩm văn học

Cũng nghiên cứu về vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ, Trần Ngọc Anh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 lại nhìn nhận vấn đề ở góc nhìn khác Với

đề tài: “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện cổ

tích”,2013 Trần Ngọc Anh đã hệ thống hóa được cơ sở lí luận của việc phát

triển vốn từ, đồng thời đề ra các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGL thông qua truyện cổ tích rất sáng tạo và sinh động

Với đề tài: “Nội dung, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông

qua các hoạt động giáo dục tìm hiểu về thế giới thực vật” (2016), Nguyễn Thị

Huệ, sinh viên khoa Giáo dục Mầm non – Trường Đại học sư Phạm Hà Nội 2 lựa chọn được một số lí thuyết tiêu biểu của ngôn ngữ học, tâm lí học và giáo dục học làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu Cũng ở đề tài này, tác giả khóa luận đã bước đầu đề xuất một số nội dung, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua các hoạt động giáo dục tìm hiểu về thế giới thực vật

Trang 11

Tựu chung, các nhà khoa học, các bạn sinh viên đều muốn tìm ra các hình thức, biện pháp để phát triển vốn từ cho trẻ một cách hiệu quả nhất, nâng cao chất lượng dạy và học của ngành Giáo dục Mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước ta nói chung Chúng ta có thể thấy rằng, tìm hiểu về vốn từ và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non không phải là một vấn đề mới

mẻ Tuy nhiên, cho tới thời điểm này chưa có một tác giả, một công trình khoa học nào đi sâu, tìm hiểu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của

vấn đề này, chúng tôi lựa chọn và tìm hiểu đề tài: “Phát triển vốn từ cho trẻ

mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội”

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những biện pháp phát triển vốn

từ cho trẻ thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Lựa chọn những lí thuyết chuyên ngành sát thực làm cơ sở lí luận cho khóa luận

4.2 Khảo sát thống kê

a Thực trạng vốn từ của trẻ MGN trong hoạt động tìm hiểu về gia đình và

xã hội ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

b Nội dung chương trình hướng dẫn trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xã hội trong chương trình giáo dục ở bậc mầm non

5 Mục đích nghiên cứu

Việc thực hiện đề tài trước hết giúp tác giả khóa luận nắm chắc cơ sở lí luận của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Đồng thời, nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn tìm ra được các biệm pháp tốt nhất để phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội

Đề tài nghiên cứu góp phần cung cấp thêm một tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên cuối khóa khoa Giáo dục Mầm non và những người quan

Trang 12

tâm đến vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua các hoạt động giáo dục của trẻ

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thu thập tài liệu và xử lí những

số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu

7.2 Phương pháp phân tích

Đây là một trong những phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng

để phân tích hiệu quả tác động của các hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội đến việc phát triển vốn từ cho trẻ MGN

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận được chia thành hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xã hội

theo định hướng phát triển vốn từ cho trẻ

Trang 13

Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn

Như Ý (chủ biên), NXB Giáo dục, 1996, khái niệm về từ được Đỗ Hữu Châu

quan niệm như sau: “Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng là

một hình thức ngữ pháp được các thành viên của một tập thể hiểu như nhau trong quá trình trao đổi Từ có âm thanh và hình thức Tuy vậy âm thanh và hình thức chỉ là những phương tiện cấu tạo nên từ, bản thân chúng chưa phải

là từ Chỉ khi nào gắn liền với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng biểu đạt tư tưởng” [1, tr.330-331]

1.1.1.2 Đặc điểm của từ trong tiếng Việt

a Về mặt cấu tạo

Từ là đơn vị được cấu tạo bởi hai mặt: hình thức (CBĐ) và nội dung (CĐBĐ) Hình thức của từ có thể là ngữ âm (ở dạng nói) hoặc chữ viết (ở dạng viết) Nội dung của từ là các thành phần ý nghĩa được biểu đạt trong hình thức của nó

Trang 14

Dựa vào phương thức được vận dụng để cấu tạo từ, các nhà khoa học

phân chia thành hai kiểu chính, đó là từ đơn và từ phức

a.Từ đơn

a1 Khái niệm

Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra rằng: “Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt

ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của chúng từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” [1,

tr.354]

a2 Phân loại

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong “Tiếng Việt” (tập hai) đã chia từ đơn

thành hai loại:

- Từ đơn đơn âm: là những từ có một âm tiết

VD: ăn, mặc, đi, đứng, chạy, nhảy,…

- Từ đơn đa âm: là những từ có nhiều âm tiết, đó là những từ thuần Việt và

từ vay mượn từ tiếng nước ngoài

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về từ ghép Ở đây, chúng tôi lựa chọn

khái niệm: “Khác với các từ láy trong đó một hình vị (hình vị láy) được sản

sinh từ hình vị kia (hình vị cơ sở), từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo), taxhs biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau”

(Đỗ Hữu Châu [1, tr.361])

VD: xăng dầu, điện nước, buôn bán, phố phường, đường sá,…

Trang 15

Về mặt ngữ pháp, Từ ghép được chia thành hai nhóm lớn dựa vào quan

hệ ngữ pháp giữa các thành tố tham gia cấu tạo từ, đó là: từ ghép đẳng lập và

từ ghép chính phụ

b1.1 Từ ghép đẳng lập (từ ghép hợp nghĩa, từ ghép tổng hợp)

Từ ghép đẳng lập được Đỗ Hữu Châu định nghĩa như sau: “Hai hình vị

kết hợp với nhau để tạo nên một từ ghép hợp nghĩa phải cùng một phạm trù ngữ nghĩa (nghĩa là hoặc cùng chỉ sự vật, hoặc cùng chỉ hoạt động, hoặc cùng chỉ tính chất, hoặc cùng chỉ số lượng…) và phải hoặc đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa với nhau cùng chỉ những sự vật, hiện tượng…có quan hệ cùng cấp…(tức thuộc cùng một loại) gần gũi nhau” [1, tr.367]

VD: sách vở, quần áo, bàn ghế, ăn uống, yêu thương, già trẻ, gái trai,…

b1.2 Từ ghép chính phụ (từ ghép phân nghĩa, từ ghép phân loại)

“Từ ghép phân nghĩa là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay

đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong dod cơ một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập với nhau, và độc lập với loại lớn Các từ ghép phân nghĩa lập thành những hệ thống lớn gồm một số từ thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn”

Phân loại từ láy:

Trang 16

b2.1 Dựa vào số lượng tiếng tham gia cấu tạo, người ta phân chia thành: từ láy đôi, từ láy ba, từ láy tư

VD1: nhỏ nhắn, xinh xắn, xấu xa, đùng đùng, khéo léo, rì rào,…

VD2: sạch sành sanh, sát sàn sạt, dửng dừng dưng, tẻo tèo teo,…

VD3: nhí nha nhí nhảnh, khấp kha khấp khểnh, dung dăng dung dẻ, vội

vội vàng vàng,…

b2.2 Dựa vào yếu tố ngữ âm của tiếng gốc được láy lại trong cấu tạo từ, người

ta phân chia từ láy thành:

- Từ láy toàn phần

VD: xanh xanh, ào ào, ầm ầm, oang oang,…

- Từ láy bộ phận: Ở kiểu từ này, người ta lại phân chia thành từ láy phụ âm đầu và từ láy vần

VD1: nhỏ nhoi, đẹp đẽ, phảng phất, đo đỏ, lấp lánh,…

VD2: lúng túng, lỏng chỏng, bối rối, bồi hồi, linh tinh,…

1.1.1.4 Sự phân loại từ theo đặc điểm ngữ nghĩa

a Từ một nghĩa và từ nhiều nghĩa

a2 Từ nhiều nghĩa

Từ nhiều nghĩa hay còn gọi là từ đa nghĩa được Đỗ Hữu Châu định

nghĩa: “Từ đa nghĩa là một từ, có sự thống nhất về nội dung và hình thức

Trong một giai đoạn lịch sử nhất định các ý nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa vẫn có liên hệ chặt chẽ với nhau và không thoát li nghĩa chính” [1,

tr.3387]

Trang 17

Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xảy ra với cả ý nghĩa biểu vật, cả với ý nghĩa biểu niệm, cả với ý nghĩa biểu thái

VD: Từ “MŨI” trong tiếng Việt, với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ có những nghĩa khác nhau

1 Bộ phận của cơ quan hô hấp

2 Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi súng

3 Phần trước của tàu thuyền: mũi tàu, mũi thuyền

4 Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi Cà Mau

5 Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có cái mũi rất thính

6 Đơn vị quân đội: Mũi quân bên trái

[2, tr.131-132]

b Từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa

b1 Từ đồng nghĩa

Khái niệm từ đồng nghĩa được Đỗ Hữu Châu định nghĩa một cách ngắn

gọn như sau: Từ đồng nghĩa “là những từ căn bản tương đồng về nội dung, là

những đồng nghĩa tự nhiên không bị lệ thuộc vào hoàn cảnh ngôn ngữ”

Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm về từ trái nghĩa như sau: “Từ trái

nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập nhau, biểu thị những khái nệm tương phản, chống đối nhau Sự tương phản bao giờ cũng thuộc một sự thống nhất nào đó: nếu không có sự thống nhất thì các sự vật không thể là tương phản được.” [1, tr.401]

VD: tốt > < xấu, thiện > < ác, chăm chỉ > < lười biếng, dũng cảm > < hèn

nhát,…

1.1.1.5 Sự phân loại từ theo đặc điểm ngữ pháp

Trang 18

Dựa vào đặc điểm ngữ pháp (tức là dựa vào khả năng kết hợp của từ trong cụm từ và chức năng của nó trong cụm từ và câu), các nhà khoa học phân chia từ tiếng Việt thành 9 từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, phụ từ, quan hệ từ, thán từ, tình thái từ

- Danh từ: là những thực từ dùng để biểu đạt các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

VD1: Thùy Linh, Hà Nội, sách vở, cái bàn, cái ghế,…

- Động từ: là những thực từ dùng để chỉ hoạt động, trạng thái của các sự vật hiện tượng

VD2: đi, đứng, chạy, nhảy, ao ước, biến mất, sinh ra,…

- Tính từ: là những thực từ biểu thị tính chất, đặc điểm, màu sắc của sự vật

VD3: xanh lơ, nóng, lạnh, nặng, nhẹ, nhiều ít, cao, thấp, đầy, vơi,…

- Đại từ: là những từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Đại từ không trực tiếp biểu thị thực thể, quá trình hoặc đặc trưng như danh từ, động từ và tính từ Đại

từ chỉ biểu thị các ý nghĩa đó một cách gián tiếp, chúng mang nội dung phản ánh vốn có của các thực từ được chúng thay thế

VD4: chúng tôi, mình, tớ, sếp, bác sĩ, vì sao, bao giờ, bao lâu,…

- Số từ: gồm những từ biểu thị ý nghĩa số Xét theo đối tượng phản ánh trong nhận thức và tư duy, ý nghĩa số vừa có tính chất thực, vừa có tính chất hư

VD5: một, hai, ba, một phần hai, một phần tư, chừng, khoảng,…

Trang 19

- Quan hệ từ: là từ loại biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm

và đối tượng được phản ánh Quan hệ từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các

từ, các cụm từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa các câu mà nó liên kết Quan hệ từ không có ý nghĩa từ vựng chỉ thuần túy mang ý nghĩa ngữ pháp

VD8: và, với, cùng, hay, hoặc, do, vì, bởi, tại,…

- Thán từ: là từ loại dùng để biểu hiện cảm xúc, biểu lộ trực tiếp thái

độ, tình cảm chủ quan của chủ thể phát ngôn

VD9: ôi, chao ôi, trời ơi, ủa, chà, ái chà,…

- Tình thái từ: là những tiểu từ chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh, hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn

VD10: à, ạ, ư, nhỉ, nhé, chứ, chăng, hử, hả,…

1.1.2 Vốn từ và đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non

1.1.2.1 Khái niệm về vốn từ

Các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau về vốn từ

Trong “777 khái niệm ngôn ngữ học”, NXB Đại học Quốc gia, 2010, Nguyễn

Thiện Giáp đã trình bày khái niệm về vốn từ một cách ngắn gọn như sau:

“Vốn từ là một bộ phận trong tập hợp từ vựng của ngôn ngữ Từ vựng của

một ngôn ngữ là cái khách quan, là bộ phận cấu thành một ngôn ngữ Vốn từ chỉ là bộ phận từ vựng của một cá nhân, một văn bản nào đó hay của một lĩnh vực nào đó mà thôi”

1.1.1.2 Sự phân loại vốn từ từ góc nhìn của các nhà khoa học

Các nhà ngôn ngữ học đã phân chia vốn từ thành hai loại: Vốn từ tích cực và vốn từ tiêu cực

- Nguyễn Thiện Giáp đã cho rằng: “Từ vựng tích cực là những từ ngữ

quen thuộc, được sử dụng thường xuyên trong phạm vi nào đó của việc giao tiếp bằng ngôn ngữ” [1, tr.429]

- “Từ vựng tiêu cực là những từ ngữ ít dùng hoặc không được dùng Nó

bao gồm các từ ngữ đã lỗi thời và các từ ngữ còn mang sắc thái mới, chưa được dùng rộng rãi” (Nguyễn Thiện Giáp, [1, tr.430]

Trang 20

Đinh Hồng Thái trong “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” đã đưa

ra khái niệm về vốn từ tích cực và vốn từ tiêu cực (vốn từ thụ động) như sau:

- Vốn từ tích cực: là vốn từ bao gồm những từ người ta hiểu và sử dụng được trong giao tiếp

- Vốn từ tiêu cực: là vốn từ con người hiểu mà không sử dụng được Khi nghe người khác nói, ta hiểu, nhiều khi đoán hết nghĩa của từ nào đó (nhất là nghe tiếng nước ngoài) nhưng lại không sử dụng vào giao tiếp được Trẻ mẫu giáo có giai đoạn chỉ nghe hiểu mà không nói được Tích cực hóa vốn từ (chuyển từ thụ động sang tích cực) là một nội dung quan trọng của giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo

1.1.2.3 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo

a Vốn từ xét về mặt số lượng

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non là một quá tình từ thấp đến cao với các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi của trẻ

Trẻ sơ sinh chưa hiểu được ngôn ngữ của người lớn Ở giai đoạn này, trẻ bắt đầu cảm nhận ngữ điệu và giọng nói của người mẹ

Khi trẻ được 7 – 8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên của mình

Đến 10 – 11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ các sự vật, người mà trẻ thường xuyên được tiếp xúc

Từ 12 tháng trở đi, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện từ ngữ chủ động đầu tiên Ở 18 tháng tuổi, số từ bình quân là 11 từ, trẻ bắt chước người lớn lặp

lại một số từ đơn gần gũi: bà, mẹ, bố,…

Từ 19 – 21 tháng, số lượng từ tăng nhanh Đến 21 tháng trẻ đạt tới 220

từ Giai đoạn 21 – 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt 234 từ vào tháng 24, sau

đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ

Theo thống kê của tác giả Đinh Hồng Thái, đến năm thứ ba, trẻ đã sử dụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các loại khác rất ít Trẻ nắm được một số danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con

Trang 21

vật gần gũi như: gà, chó, mèo,…Động từ chỉ hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh như: ăn, uống, đi, đứng, chạy, nhảy,…

Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ Ưu thế vẫn thuộc về danh từ

và động từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ

Từ 5 – 6 tuổi, vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1.033 từ, tính từ và các loại khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn

Tốc độ tăng vốn từ của trẻ em ở các độ tuổi là khác nhau, chậm dần theo

độ tuổi: cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng 40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi vốn từ của trẻ tăng 10,04%; cuối 6 tuổi so với đầu 6 tuổi chỉ tăng 10,01%

Chúng ta có thể nhận thấy rằng quy luật tăng số lượng từ của trẻ diễn ra như sau:

- Số lượng từ của trẻ tăng theo thời gian

- Sự gia tăng tốc độ không đồng đều, có giai đoạn tăng nhanh, có giai đoạn tăng chậm

- Trong năm thứ 3 tốc độ số lượng từ của trẻ tăng nhanh nhất

- Trẻ từ 4 – 6 tuổi tốc độ tăng vốn từ giảm dần

b Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại

Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất lượng từ Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn từ của trẻ, ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ và tính từ, các loại từ khác xuất hiện muộn hơn

Theo Xtecnơ, trong ngôn ngữ trẻ em xuất hiện trước hết là danh từ rồi

đến động từ và sau đó mới đến các từ loại khác

Theo nghiên cứu của Đinh Hồng Thái, đến 3 – 4 tuổi, về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ Tuy nhiên, tỉ lệ danh từ và động từ cao hơn rất nhiều so với các loại khác Danh từ chiếm: 38%, động từ: 32%, tính từ: 6,8%, đại từ: 3,1%, phó từ: 7,8%, tình thái từ: 4,7%, số từ 2,5%, quan hệ từ 1,7%

Trang 22

Giai đoạn 5 – 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (chỉ khoảng 50%), các

từ loại khác tăng lên: tính từ đạt tới 15%, quan hệ từ tăng lên đến 5,7%, còn lại là các loại từ khác [6, tr.78]

Trẻ mẫu giáo nói nhiều nhưng chưa phải là nói hay, vì vậy cần bồi dưỡng cho trẻ các từ loại khác nhau để trẻ nói hay, diễn đạt chính xác nội dung thông báo và biểu cảm

c Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ mẫu giáo

Theo Fedorenko (Nga), trẻ em nói chung có 5 mức độ hiểu nghĩa khái

quát nghĩa của từ, tương ứng với các mức độ: mức độ zero (mức độ 0), mức

độ 1, mức độ 2, mức độ 3, mức độ 4

- Mức độ zero (mức độ 0): Mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó Cuối một tuổi, đầu hai tuổi, trẻ hiểu được những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn lẻ, cụ thể, tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh)

- Mức độ 2: Mức độ hiểu nghĩa từ của trẻ mang tính khái quát hơn

VD: Trẻ hiểu được rằng “xe” có thể chỉ bất cứ một loại xe nào đó: xe

đạp, xe máy, xích lô, ô tô,…

“con vật” có thể là: chó, mèo, gà, vịt, cá, tôm,…

- Mức độ 3: Đây là mức độ hiểu nghĩa của từ cao hơn mà trẻ 5 – 6 tuổi có thể nắm được

VD: “đồ vật” có thể chỉ “đồ chơi” như: búp bê, siêu nhân,…; “đồ dùng

gia đình” như: giường, tủ, bàn ghế,…; “đồ dùng học tập” như: bút chì, thước

kẻ, vở, tẩy,…

“bút chì” chính là mức độ 1 của sự khái quát, “đồ dùng học tập”: mức

độ 2 của sự khái quát; “đồ vật”: mức độ 3 của sự khái quát

Trang 23

- Mức độ 4: Khái quát tối đa, gồm những khái niệm trừu tượng

VD: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng,…

1.1.3 Năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp

1.1.3.1 Khái niệm về năng lực

Phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau và mỗi

cách hiểu lại có những thuật ngữ tương ứng:

- Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện

khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định Chẳng hạn,

khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh,…thường được đánh giá bằng các

trắc nghiệm trí tuệ

- Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ / một hành

động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ

năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động [11, tr.7]

1.1.3.2 Năng lực ngôn ngữ

Năng lực ngôn ngữ được hiểu là: “Khả năng sáng tạo cuả người nói

không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp nhằm tạo ra hàng loạt các phát

ngôn và hiểu được chúng một cách tự nhiên, còn gọi là “ngữ năng” Nhờ

năng lực này mà con người tạo ra những câu có tính ngữ pháp, có thể nói

năng một cách tự nhiên, nhận thức và hiểu một cách tự nhiên số câu mà phần

lớn trước đó họ chưa hề nói Năng lực này được hình thành rất sớm, ngay từ

khi còn rất nhỏ” [1, tr.142]

Các nhà ngữ pháp tạo sinh cho rằng: “Con người sinh ra đã có hiểu biết

về tiếng mẹ đẻ” Mức độ hiểu biết đó ở mỗi cá nhân có sự khác biệt nhau do:

đặc điểm lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, khả năng nhận thức, đặc điểm

cá tính của mỗi người Khả năng đó phản ánh năng lực ngôn ngữ của mỗi cá

nhân

Giải thích về hiện tượng trẻ em trước khi được tiếp thu giáo dục chính

quy đã có thể nói được những câu hoàn chỉnh, các nhà ngữ pháp tạo sinh cho

rằng: vì đứa trẻ sinh ra trong môi trường tiếng mẹ đẻ thì trong “tâm linh” của

chúng đã dần hình thành một số quy tắc cơ bản Vì thế DellHymess đề nghị

nên gọi năng lực ngôn ngữ là năng lực ngữ pháp [3, tr.180]

Trang 24

Theo chúng tôi, năng lực ngôn ngữ của trẻ biểu hiện ở việc trẻ có vốn từ phong phú, hình thành nên những câu nói hay, có ý nghĩa và phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp

1.1.3.3 Năng lực giao tiếp

Nguyễn Văn Khang cho rằng, năng lực giao tiếp có thể được hiểu là năng lực vận dụng ngôn ngữ để giao tiếp xã hội

Cũng theo tác giả, nội dung của khái niệm này là sự kết hợp linh hoạt giữa ba thành tố gồm: Cấu trúc ngôn ngữ, sự vận dụng ngôn ngữ và đời sống

xã hội

Đối với trẻ nhỏ, nói cách khác con người ở tuổi ấu thơ cùng một lúc cần học để có năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo cần chú ý bồi dưỡng cả hai nhiệm vụ này [3, tr.183]

1.2 Cơ sở tâm lí học

Vui chơi là một dạng hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo Ở tuổi MGB, hoạt động vui chơi đã phát triển mạnh, đặc biệt là sự phát triển của trò chơi ĐVTCĐ Tuy nhiên phải đến tuổi MGN thì hoạt động vui chơi mới đạt tới dạng chính thức và mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất Có thể nói rằng, hoạt động vui chơi ở lứa tuổi MGN đang phát triển tới mức hoàn thiện, điều đó được thể hiện ở các đặc điểm sau đây:

Trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN thể hiện rõ tính tự lực, tự do và chủ động Trẻ MGB tuy đã biết chơi nhưng tính tự lực còn yếu, khi chơi đặc biệt

là trò chơi ĐVTCĐ, trẻ còn bị phụ thuộc vào người lớn Đối với trẻ MGN, trong quá trình vui chơi, trẻ bộc lộ toàn bộ tân trí của mình, nhận thức, tình cảm, ý chí, nói năng đều tỏ ra tích cực và chủ động Trong khi vui chơi, trẻ mẫu giáo thể hiện tính tích cực, tính tự do rất rõ, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn toàn phụ thuộc vào ý thích của mình Tính tự lực, tự do của trẻ được biểu hiện thông qua việc trẻ có thể tự do lựa chọn chủ đề chơi và nội dung chơi, lựa chọn bạn cùng chơi và tự do tham gia vào trò chơi nào mà mình muốn, đồng thời tự do rút khỏi trò chơi khi mà mình không còn thích thú Trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN đã biết thiết lập những quan hệ rộng

rãi và phong phú với các bạn cùng chơi, một “xã hội trẻ em” được hình thành

Ở tuổi MGN, việc chơi của trẻ đã tương đối thành thạo và việc chơi với nhau

Trang 25

trong nhóm bạn bè đã trở thành một nhu cầu bức bách, vì trò chơi phải có nhiều vai thì trò chơi ấy mới trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết

VD: Trò chơi theo chủ đề “bệnh viện” trẻ đặt ra rất nhiều nhân vật

khác nhau và mỗi trẻ sẽ hóa thân vào một nhân vật: một người con bị ốm, người mẹ đưa con đi bệnh viện để khám, bác tài xế chở hai mẹ con đến bệnh viện Khi ở bệnh viện, có thể có bác sĩ, y tá và các bệnh nhân khác,…

Cứ như thế, quan hệ của trẻ ngày càng trở nên đa dạng hơn, một xã hội của con người được thu nhỏ lại, sự nhập vai của trẻ cũng trở nên thành thạo hơn

Ở lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là trẻ MGN, nhu cầu giao tiếp với bạn bè

đang ở thời kì phát triển rất mạnh Từ đó, những “xã hội trẻ em” được hình

thành (A.P Uxôva)

Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ

em, do đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫu giáo cũng như ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư, để tạo ra một môi trường lành mạnh có tác dụng giáo dục tích cực đối với trẻ

Lứa tuổi mẫu giáo là giai đoạn phát triển mạnh tư duy trực quan hình tượng Trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, nhưng do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải quyết vấn đề theo kiểu tư duy trực quan – hình tượng Cùng với sự hoàn thiện của hoạt động vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác như vẽ, nặn, kể chuyện, dạo chơi,…vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu thêm, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, long ham hiểu biết và hứng thú nhận thức của trẻ tăng lên rõ rệt Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng

Trong khi giúp trẻ phát triển tư duy hình tượng, cần cung cấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết Trước hết cần cung cấp các biểu tượng cho trẻ một cách phong phú, hệ thống hóa các biểu tượng thông qua những những buổi đi chơi, đi dạo, qua những câu chuyện kể, qua các bức tranh, bài hát,…Đặc biệt,

thông qua các trò chơi, “tiết học”, GV giúp trẻ hệ thống hóa và chính xác hóa

dần các biểu tượng về thế giới xung quanh

Trang 26

Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh, là điều kiện thuận lợi giúp cho trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật được xây dựng nên trong các tác phẩm văn học nghệ thuật Đồng thời cần giúp trẻ tạo ra những tiền đề cần thiết để làm nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng

Sự phát triển tình cảm xã hội: Trong lứa tuổi ấu nhi cũng như lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị, chi phối tất cả các mặt trong hoạt động tâm lí của đứa trẻ Đặc biệt, ở độ tuổi MGN thì đời sống tình cảm của trẻ có một bước chuyển biến mạnh mẽ, phong phú hơn, sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước

đó Cũng ở lứa tuổi này, quan hệ của trẻ với những người xung quanh được

mở rộng ra một cách đáng kể, do đó tình cảm của trẻ cũng được phát triển về nhiều phía đối với những người trong xã hội Có thể coi đây là nguồn xúc cảm mạnh mẽ nhất và quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của trẻ MGN Trẻ MGN khao khát có được sự yêu thương, trìu mến, đồng thời rất lo

sợ trước thái độ thờ ơ lạnh nhạt của mọi người xung quanh Các bé thực sự vui mừng khi được bố mẹ, cô giáo hay bạn bè yêu thương, khen ngợi và cũng thực sự buồn khi bị người khác ghét bỏ hay tẩy chay

Nhu cầu được yêu thương của trẻ MGN cũng rất lớn, nhưng điều đáng chú ý hơn là sự bộc lộ tình cảm của chúng rất mạnh mẽ đối với những người xung quanh, trước hết là với bố mẹ, anh chị, cô giáo,…Trẻ thường thể hiện

sự quan tâm, thông cảm đối với họ

Ở tuổi MGN động cơ hành vi và sự hình thành hệ thống thứ bậc các động cơ phát triển mạnh Các động cơ như muốn tự khẳng định, muốn được sống và làm việc như người lớn, muốn nhận thức sự vật hiện tượng xung quanh,… đều phát triển mạnh Đặc biệt những động cơ đạo đức, sự thể hiện thái độ của trẻ đối với những người khác có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển các động cơ hành vi Những động cơ này gắn liền với việc lĩnh hội có ý thức những chuẩn mực về quy tắc đạo đức hành vi trong xã hội Theo thời gian, chúng ta nhận thấy rằng động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo đã trở nên nhiều màu, nhiều vẻ Sự biến đổi động cơ hành vi trong tuổi MGN không chỉ thể hiện ở mặt nội dung của động cơ và sự xuất hiện nhiều loại động cơ mới, mà điều cần lưu ý là trong lứa tuổi này đã bắt đầu hình

thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động cơ, được gọi là hệ thống

Trang 27

thứ bậc các động cơ Đó là một cấu tạo tâm lí mới trong sự phát triển nhân

cách của trẻ mẫu giáo nói chung

Tuổi MGN là chặng giữa của tuổi mẫu giáo Nó đã vượt qua thời kì chuyển tiếp từ tuổi ấu nhi lên để tiến tới một chặng đường phát triển tương đối ổn định Có thể coi đây là một thời kì phát triển rực rỡ nhất của những nét tâm lí đặc trưng cho tuổi mẫu giáo, mà bao trùm lên tất cả là tư duy hình tượng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm trong hoạt động tâm lí Điều này khiến cho nhân cách của trẻ ở giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành mang những nét độc đáo nhất

Những phẩm chất tâm lí cũng như phẩm chất nhân cách đang phát triển

ở độ tuổi này là điều kiện hết sức quan trọng để tạo ra một sự chuyển tiếp mạnh mẽ ở độ tuổi sau, tiến dần đến thời kì chuẩn bị cho trẻ tới trường phổ thông Do đó, giáo dục cần tập trung hết mức để giúp trẻ phát triển tốt những đặc điểm này

1.3 Cơ sở giáo dục học

Quá trình giáo dục mầm non là một quá trình giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho trẻ em lứa tuổi mầm non Quá trình giáo dục đó được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua các hoạt động Đối với trẻ mẫu giáo, các dạng hoạt động của trẻ được phân ra làm hai loại chính đó là:

hoạt động học và hoạt động ngoài giờ học Trong đó, hoạt động học lại có các

giờ học khác nhau như: giờ nhận biết và tập nói (đối với trẻ nhà trẻ), giờ làm

quen với môi trường xung quanh, giờ làm quen với tác phẩm văn học, giờ làm quen với chữ cái, giờ hình thành biểu tượng toán cho trẻ, giờ tạo hình, giờ âm nhạc, giờ phát triển thể chất, giờ hoạt động góc Hoạt động ngoài giờ học lại

được phân ra thành: hoạt động lao động, hoạt động vui chơi, dạo chơi, tham

quan, sinh hoạt hàng ngày,… Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục đích

mở rộng hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh và bên cạnh đó còn có một nhiệm vụ vô cùng quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ Vì vậy trong khi

tổ chức các hoạt động, chúng ta phải chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻ đặc biệt mở rộng vốn từ cho trẻ mầm non nói chung và trẻ MGN nói riêng

Tác giả Đinh Hồng Thái [6, tr.80-81] đã quan niệm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo là một trong bảy nhiệm vụ của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm

Trang 28

non Theo tác giả, việc phát triển vốn từ cho trẻ phải tập trung vào những nội dung sau:

Làm tăng số lượng từ, vốn từ cần thiết cho giao tiếp ngôn ngữ của trẻ

Mặc dù chức năng cơ bản của từ không phải là giao tiếp nhưng từ là đơn vị trung tâm, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu Thiếu từ, việc giao tiếp của trẻ sẽ trở nên khó khăn Vì vậy cần phải cung cấp cho trẻ một vốn từ cần thiết, đó là từ ngữ về những gì có ở xung quanh trẻ (ở gia đình, ở trường mầm non), những từ có liên quan đến cuộc sống cá nhân và quan hệ của trẻ; những từ cần cho cuộc sống sinh hoạt, học tập, vui chơi của trẻ

Giúp trẻ lĩnh hội ý nghĩa của từ: Hiểu nghĩa của từ là một trong những

nội dung quan trọng của phát triển lời nói Nhiệm vụ này bao gồm:

- Giúp trẻ nắm được ý nghĩa của từ trên cơ sở đối chiếu chính xác chúng với các đồ vật ở xung quanh

- Giúp trẻ lĩnh hội được ý nghĩa khái quát của từ trên cơ sở phân biệt được những dấu hiệu đặc trưng của sự vật hiện tượng

- Thâm nhập vào thế giới hình tượng của lời nói và biết cách sử dụng chúng

- Tích cực hóa vốn từ, có nghĩa là giúp trẻ không những hiểu biết mà còn

sử dụng được chúng trong giao tiếp Đây là quá trình biến những từ ngữ thụ động thành từ ngữ chủ động Trẻ phải phát âm đúng mỗi từ và sử dụng chính xác trong các ngữ cảnh khác nhau

Cần phải có sự cân đối về cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ sao cho có

đủ các từ loại tiếng Việt với tỉ lệ thích hợp Số lượng từ lớn nhưng cơ cấu từ loại không hợp lí hoặc thiếu đi một hoặc một số từ loại nào đó sẽ khiến trẻ gặp phải những khó khăn trong khi diễn đạt Thường trong vốn từ của trẻ danh từ chiếm số lượng nhiều nhất, sau đó là động từ và tính từ Các từ loại khác xuất hiện muộn hơn với một tỉ lệ thấp Đến khoảng 4 tuổi thì cần có đủ

từ loại trong vốn từ của trẻ

Việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non cần gắn liền với những nội dung

tổ chức hoạt động giáo dục theo những biện pháp tích cực (có nội dung, có biện pháp) và tất cả phải nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục cho đối tượng này ở trường mầm non

Trang 29

Đinh Hồng Thái cũng đã đề ra các nguyên tắc xây dựng nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo Theo tác giả, sự hình thành vốn từ cần kết hợp chặt chẽ với hoạt động nhận thức tích cực của trẻ Đứa trẻ phải được hoạt động và phát triển ngôn ngữ như một chủ thể nói năng Các nội dung phát triển vốn từ phải được đưa vào tất cả các hoạt động của trẻ như học tập, vui chơi, sinh hoạt,…

Nội dung phát triển vốn từ cần được phức tạp hóa dần cùng với sự tăng

độ tuổi của trẻ Điều này có thể thực hiện theo ba bước sau:

- Mở rộng vốn từ của trẻ trên cơ sở cho trẻ làm quen với thế giới các sự vật, hiện tượng đang dần dần mở rộng

- Đưa vào những từ chỉ rõ những thuộc tính, phẩm chất, quan hệ trên cơ

sở cho trẻ hiểu sâu thêm về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh

- Đưa ra những từ chỉ rõ những khái niệm sơ đẳng trên cơ sở phân biệt

và khái quát các sự vật theo những dấu hiệu căn bản

Tiểu kết chương 1: Trên đây chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận của đề

tài “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tìm hiểu

về gia đình và xã hội” Trong đó bao gồm cơ sở ngôn ngữ học, cơ sở tâm lí

học và cơ sở giáo dục học Những cơ sở lí luận trên đây sẽ làm căn cứ cho khoa học giúp chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của

đề tài khóa luận

Trang 30

CHƯƠNG 2:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MGN TÌM HIỂU VỀ GIA ĐÌNH VÀ

XÃ HỘI THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ

Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày những vấn đề lí thuyết mang tính nền tảng cho đề tài nghiên cứu Ở chương này, chúng tôi tiến hành điều tra và đánh giá thực trạng của việc phát triển vốn từ cho trẻ MGN từ phía GV thuộc trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố

Hà Nội Căn cứ vào kết quả điều tra thu thập được, chúng tôi bước đầu đề xuất những nội dung, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua các hoạt động giáo dục tìm hiểu về gia đình và xã hội

2.1 Khảo sát thực trạng vốn từ của trẻ MGN lớp 4TB9 Trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Để tìm hiểu thực trạng phát triển vốn từ của trẻ MGN, Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng vốn từ của một số trẻ MGN lớp 4TB9 ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội với số lượng

là 25 trẻ Trong quá trình khảo sát, biện pháp đàm thoại đã được chúng tôi vận dụng một cách tối ưu

Kết quả điều tra mà chúng tôi thu được đó là:

Câu 1: Hãy kể tên các thành viên trong gia đình của con?

- Thu Hoài: Kể được 3 thành viên (bố, mẹ và con)

- Anh Tuấn: Kể được 6 thành viên (ông, bà, bố, mẹ, chị Mai Anh và con)

- Lê Dương: Kể được 5 thành viên (bố, mẹ, chị Ngọc, anh Mít, con)

- Thảo Phương: Kể được 3 thành viên (bố, mẹ, con)

- Kim Ánh: kể được 4 thành viên (bố, mẹ, bác, con)

- Ánh Nguyệt: Kể được 6 thành viên (bà, bố, mẹ, em Thảo, em Lan, con)

- Gia Khánh: kể được 4 thành viên (bà, bố, mẹ, con)

- Anh Đức: Kể được 3 thành viên (bố, mẹ, con)

Câu 2: Con hãy kể tên các đồ dùng trong gia đình của con?

Trang 31

- Thu Hoài: Cốc, chén, bát

- Anh Tuấn: ti vi, giường

- Lê Dương: tủ, ấm chén, tủ lạnh

- Thảo Phương: ti vi, điều hòa, nồi cơm điện, tủ bát

- Kim Ánh: giường ngủ, chậu, ti vi

- Ánh Nguyệt: xe máy, ti vi

- Gia Khánh: nồi, bát, cốc

- Anh Đức: ti vi, tủ lạnh, máy giặt, quạt điện

Câu 3: Con hãy kể tên những nghề nghiệp trong xã hội mà con biết?

- Anh Tuấn: bác sĩ, cô giáo

- Thu Hoài: công an, cảnh sát

- Lê Dương: bác sĩ, công an, nông dân

- Ánh Nguyệt: công nhân, bác sĩ

- Thảo Phương: công nhân, cô giáo, bộ đội

- Kim Ánh: thợ mộc, nông dân

- Gia Khánh: công nhân

- Anh Đức: lái xe, cô giáo, phi công, cắt tóc

Câu 4: Kể tên một số phương tiện giao thông?

- Anh Tuấn: ô tô, xe máy

- Thu Hoài: xe máy, xe đạp, ô tô

- Lê Dương: xe máy, ô tô, tàu hỏa

- Ánh Nguyệt: tàu hỏa, thuyền buồm

- Kim Ánh: thuyền, xe máy

- Gia Khánh: xe đạp, tàu hỏa

Trang 32

- Anh Đức: tàu hỏa, máy bay, xe máy, ô tô, xe bus

Câu 5: Khi tham gia giao thông các con phải đi như thế nào?

- Anh Tuấn: đi bên phải

- Thu Hoài: đèn đỏ dừng lại

- Lê Dương: không đùa nghịch

- Ánh Nguyệt: đi bên phải

- Kim Ánh: đội mũ bảo hiểm

- Thảo Phương: đèn đỏ dừng lại

- Gia Khánh: đợi bà con dắt tay

- Anh Đức: bám vào mẹ

Câu 6: Các con đã được bố mẹ đưa đi thăm Lăng Bác bao giờ chưa? Các con có biết Bác Hồ là ai không?

- Anh Tuấn: chưa được đi xem

- Thu Hoài: nhìn thấy Lăng Bác Hồ trên tivi

- Lê Dương: con được đi Lăng Bác, Lăng Bác Hồ to

- Ánh Nguyệt: chưa được đi xem

- Kim Ánh: con được đi Lăng Bác

- Thảo Phương: con được nhìn thấy Lăng Bác ở trong tranh

- Gia Khánh: con chưa được đi xem

- Anh Đức: con chưa được đi xem

Câu 7: Ở quê hương nơi các con ở có những phong cảnh, đền chùa gì đẹp không?

- Anh Tuấn: Đền Hai Bà Trưng

- Thu Hoài: có nhiều hoa cúc

Trang 33

- Ánh Nguyệt: có vườn hoa hồng

- Lê Dương: có chợ hoa

- Kim Ánh: có quảng trường Mê Linh

- Thảo Phương: có đồi 79 mùa xuân

- Gia Khánh: có đền Hai Bà trưng

- Anh Đức: có nhiều hoa

Từ việc đặt ra những câu hỏi đàm thoại và quan sát trẻ trong quá trình tìm hiểu các chủ đề, nhánh chủ đề khi tìm hiểu về gia đình và xã hội, căn cứ vào kết quả điều tra chúng tôi có những nhận xét như sau:

* Ưu điểm: Hầu hết các trẻ đều trả lời được các câu hỏi của cô, biết sử dụng từ ngữ để kể tên các thành viên, các đồ dùng trong gia đình, một số phương tiện giao thông, một số luật lệ giao thông cơ bản,…

* Nhược điểm: Một số trẻ còn chưa chủ động, rụt rè, e ngại trong giao tiếp Khi quan sát trong giờ học và tiến hành khảo sát trẻ, thông thường các câu hỏi mà chúng tôi đưa ra đều phải có sự gợi ý cho các em và chúng tôi thấy rằng trẻ còn khá lúng túng trong việc nói lên những từ ngữ của nội dung khảo sát Vốn từ của trẻ còn nghèo, đặc biệt khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ còn tương đối yếu Một số trẻ thường phát âm không chuẩn do nói ngọng giữa

l-n, nhầm thanh hỏi thành thanh nặng, dẫn đến việc dùng từ không chính xác

2.2 Khảo sát nội dung chương trình giáo dục dành cho trẻ MGN

2.2.1 Khảo sát nội dung chương trình giáo dục cho trẻ MGN do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Trên cơ sở nội dung chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và

đào tạo ban hành, tác giả Lê Thu Hương (chủ biên) trong cuốn “Hướng dẫn tổ

chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề”

(Theo Chương trình Giáo dục Mầm non, trẻ 4-5 tuổi), NXB Giáo dục Việt Nam, 2015 đã đưa ra hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục cho đối tượng MGN theo những đề tài có liên quan đến chủ đề gia đình và xã hội với các chủ đề nhánh cụ thể

Trang 34

- Vẽ/tô màu chân dung người thân trong gia đình

- Nghe bài

hát “Ba ngọn

nến lung linh”

Làm quen với Toán

- Gia đình tôi

và gia đình bạn có bao nhiêu thành viên? (xếp

tương ứng

1-1, đếm, so sánh 2 nhóm thành viên trong gia đình, mỗi nhóm có số lượng trong phạm vi 3, nhận dạng chữ số 3)

- Trò chơi

vận động: “Ô

số mấy” (kết

hợp vận động với nhận biết chữ só trong phạm vi 3)

Âm nhạc

- Tập hát và vận động theo bài hát

từ 1-3)

Vận động

- Tập vận động:

Bò thấp, chui qua cổng, bật liên tục về phía trước

- Trò chơi: “Về

đúng nhà” (kết

hợp nói địa chỉ nhà ở của gia đình, hay nói cách giải quyết nếu bị lạc…)

-Thảo luân

về các kiểu nhà khác nhau, vị trí các phòng trong nhà;

Nhà là nơi

Làm quen với Toán

- So sánh sự giống nhau

và khác nhau của các hình

và đặc điểm của chúng (Hình tam

Tạo hình

- Xé dán

“Ngôi

nhà của tôi”

+ Trò chuyện về ngôi nhà của gia đình

Vận động

- Tập vận động:

Đi khuyu gối; tung, bắt bóng với người đối diện

- Trò chơi vận

động: “Thi đội

nào xây nhà

Trang 35

gia đình chung sống, sum họp, vui vẻ…

- Hát và vận động theo bài

- Trò chơi vận động

“Tìm đúng số

nhà” (Trò

chuyện về địa chỉ gia đình)

+ Xé, dán

“Ngôi nhà và

sân vườn của gia đình tôi”

-Hát “Nhà

của tôi”

cao hơn” (xếp

chồng các khối bằng các ngón tay và so sánh cao nhất - thấp hơn - thấp nhất)

Chủ đề nhánh: Nhu cầu gia đình

- Hát và vận động theo bài hát “Cháu

- So sánh 2 nhóm đồ dùng gia đình (có số lượng trong phạm vi 3), xếp tương ứng 1-1, đếm và nhận biết số lượng, chữ

số trong phạm vi 3

-Trò chơi:

“Gia đình bạn mua đồ

(phân loại đồ dùng, đếm

và nói kết quả)

Vận động

- Tập vận động: Ném

xa bằng một tay; đi bằng gót chân/ bò chui

- Trò chơi vận động

phòng”

-Tô màu t ranh đồ dùng gia đình (tô các màu theo nhóm đồ dùng trong gia đình)

Âm nhạc

- Tập hát và vận động theo bài

Trang 36

b Tuần 2

Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5 Thứ 6 Thơ

- Đàm thoại:

Gia đình là nơi vui vẻ, thương yêu, quan tâm lẫn nhau, những hoạt động cùng nhau của các ành viên trong gia đình

Làm quen với Toán

- Đo chiều cao đồ dùng trong gia đình bằng một đơn vị

- Dán theo trình tự chiều cao của 3 đồ dùng và so sánh

Bật xa, chui qua cống

- Trò chơi vận động

nhà”

Âm nhạc

Hát và vận động theo bài

lễ phép với người thân trong gia đình

Làm quen với Toán

- “Hãy xem 2

nhóm có bao nhiêu”

- Hát và vận động theo

bài hát: “Tập

làm chú bộ đội”

bò chui qua ống

+ Trò chơi

vận động “Về

Âm nhạc

- Hát và vạn động theo

bài hát “Chú

bộ đội”

+ Xem tranh về những cuộc hành quân, luyện tập của các chú bộ đội Trò chuyện về công việc của

Trang 37

bé thích làm nghề gì?

+ Tập hát “Chú

bộ đội”

+ Vận động theo tiết tấu bài hát “Cô giáo” -Trò chơi

“Nghe bài hát

tìm đúng thứ tự

(trong phạm vi 3)

+ Nghe và đọc theo cô

bài thơ “Ước

mơ của bé”

- Hát và vận động theo tiết tấu bài

hát “Cháu

Làm quen với Toán

- Trò chơi

“Đoán

mua được bao nhiêu

đậu”

+ luyện tập đong, đo bằng một đơn vị nào

đó, so sánh, nói kết quả đong giữa 2 loại, mỗi loại

có số lượng trong phạm

vi 3; nói kết quả so sánh

và chọn chữ

Vận động

- Tập vận động: Bật xa 35-40cm, chạy 15m/

tung và bắt bóng

- Trò chơi

“Về đúng số

hợp nhận biết cá hình qua tên gọi)

-Trả lời câu

đố về nghề

Tạo hình

- Vẽ và dán: lọ hoa / trang trí khăn thêu (thổ cẩm) + Quan sát và trò chuyện về các sản phẩm đặc trưng, nổi tiếng ở địa phương, ích lợi

và lòng tự hào

về các nghề truyền thống + Tập vẽ và dán: lọ hoa/ trang trí khăn

- Nghe hát

“Hạt gạo làng ta”

Trang 38

lái máy cày” yêu cô

thợ dệt”

số tương ứng với số lượng

đường của bé” (kết hợp

trò chuyện

về an toàn khi tham gia giao thông)

Làm quen với Toán

- Nhận biết

số lượng (phương tiện giao thông), chữ số trong phạm vi 5:

xếp tương ứng 1-1, đếm, so sánh

2 nhóm phương tiện giao thông (có số lượng

kề nhau trong phạm

vi 5); nhận dạng chữ số

5

-Hát và vận động theo

bài hát “Nhớ

lời cô dặn”

Vận động

- Tập vận động:

Chuyền bóng qua đầu, qua chân; Bật khép chân, tách chân

- Trò chơi vận động

môi trường hoạt động và đếm số lượng)

- So sánh hình chữ nhật và hình

Vận động

- Tập vận động + Chạy đổi hướng theo

Âm nhạc

- Tập hát và vận động theo bài

hát: “Đi trên vỉa

hè bên phải”

Trang 39

vi của người tham gia giao thông)

và khác nhau của 2 hình, phân loại hình theo tên gọi, tìm dấu hiệu chung

- Tô màu và dán biển báo giao thông đường bộ

vật chuẩn;

chuyền bóng qua đầu, qua chân

+ Trò chơi vận động

“Về đúng nơi

hoạt động”

(kết hợp nhận biết số trong phạm

vi 5)

Trả lời câu

đố về các phương tiện giao thông

- Vận động theo tiết tấu bài hát

Chủ đề nhánh: Đất nước Việt Nam diệu kỳ

“Về đúng địa

danh”: Nói

tên và kể về những đặc trung của địa danh đó

Làm quen với Toán

- “Đoán

những hình nào”

+ Trò chơi

“Cái túi bí

biệt đặc điểm các hình bằng các giác quan, nói tên hình, đặc điểm đường bao,

Tạo hình

- Vẽ “Tháp

Rùa, hồ Gươm”

+ Quan sát tranh “Hồ

Gươm”, trò

chuyện về cảnh đẹp của

- Trò chơi dân

gian “Ném còn”

(kết hợp với đếm, nói số lượng và so sánh đội nào nhều hơn, ít hơn)

Trang 40

- Trò chơi vận động

“Đua xe

thăm lăng Bác”

- Nhận biết chữ số, số thứ tự trong phạm vi 5:

+ Trò chơi

“Tìm địa

đúng địa danh có gắn chữ số bằng

số lượng các

Thơ

- Nghe và đọc thơ

“Hoa quanh

lăng Bác”

- Làm dây hoa trang trí ảnh Bác

đi trong đường hẹp

- Trò chơi vận động

bài hát “Nhớ ơn

Bác Hồ”

- Tập vận động theo tiết tấu bài

hát “Em yêu

Thủ đô”

- Dán trang trí khung ảnh Bác theo trình tự sắp xếp của 3 hình học theo kích thước to

Ngày đăng: 11/09/2017, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như Ý (chủ biên), 1996, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Đỗ Hữu Châu, 1999, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Nguyễn Văn Khang, 1999, Ngôn ngữ học xã hội, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
4. Nguyễn Xuân Khoa, 2003, Tiếng Việt (tập hai), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt (tập hai)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
5. Nguyễn Xuân Khoa, 2004, Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
6. Đinh Hồng Thái, 2005, Phương pháp phát triển lời nói trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển lời nói trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
7. Hoàng Thị Oanh – Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức, 2005, Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
8. Nguyễn Ánh Tuyết, 2005, Giáo trình tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
9. Nguyễn Thiện Giáp, 2010, 777 khái niệm ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 777 khái niệm ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
10. Nguyễn Thị Hòa, 2013, Giáo dục học mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
11. Lê Thu Hương (chủ biên), 2015, Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w