1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua tập thơ anh đom đóm của nhà thơ võ quảng

71 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA GIÁO DỤC MẦM NON NGUYỄN THỊ THƯƠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ ANH ĐOM ĐÓM CỦA NHÀ THƠ VÕ QUẢNG TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGH

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU

GIÁO LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ ANH

ĐOM ĐÓM CỦA NHÀ THƠ VÕ QUẢNG

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU

GIÁO LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ ANH

ĐOM ĐÓM CỦA NHÀ THƠ VÕ QUẢNG

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học: ThS Vũ Thị Tuyết

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầygiáo, cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo KhoaGiáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học và đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơnsâu sắc tới cô Th.S Vũ Thị Tuyết - người trực tiếp chỉ bảo tận tình để tôi hoànthành khóa luận tốt nghiệp đại học này

Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ quản lí thư việnTrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôihoàn thành khóa luận của mình

Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2018

Sinh viênNguyễn Thị Thương

Trang 4

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC ỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Cấu trúc đề tài 6

NỘI DUNG 7

Chư ng : CƠ SỞ UẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn 7

1.1.1 Đặc điểm tâm lí 7

1.1.2 Đặc điểm sinh lí học 9

1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ học 11

1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 12

1.2.1 Các khái niệm cơ bản 12

1.2.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ 18

1.2.3 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Võ Quảng 22

1.2.4 Ý nghĩa tập thơ “Anh đom đóm” đối với việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn 24

Tiểu kết chư ng 38

Chư ng : IỆN PH P PH T TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GI O ỚN TH NG QUA TẬP THƠ ANH ĐOM Đ M CỦA VÕ QUẢNG39 2.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ “Anh đom đóm” của Võ Quảng 39

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 39

Trang 6

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của trẻ 42

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với vốn sống và kinh nghiệm của trẻ 43

2.2 Biện pháp phát triển phát triển vốn từ cho trẻ thông qua tập thơ “Anh đom đóm” của nhà thơ Võ Quảng 44

2.2.1 Thông qua hoạt động ngoài trời dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học

45 2.2.2 Thông qua hoạt động cho trẻ tham gia vào góc học tập và sách 48

2.2.3 Biện pháp giải nghĩa của từ 51

2.2.4 Biện pháp sử dụng đồ dung trực quan

53 2.2.5 Biện pháp sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học 55

Tiểu kết chư ng 57

KẾT LUẬN 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

“Trẻ em hôm nay - thế giới ngày mai”, trẻ em là niềm vui, niềm hạnhphúc của mỗi gia đình, là những mầm non tương lai của đất nước Vì vậy, đểmột đứa trẻ phát triển trong môi trường lành mạnh, phát triển đúng hướng vàtoàn diện thì việc chăm sóc bảo vệ và giáo dục trẻ không chỉ là trách nhiệmcủa gia đình mà còn là trách nhiệm của gia đình mà còn là trách nhiệm củatoàn xã hội

Chúng ta biết rằng, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệthống giáo dục quốc dân, nó có tầm quan trọng trong việc đặt nền móng đầutiên cho việc giáo dục hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Chính vìvậy mà bậc học Mầm non được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm với tinhthần “Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em” Cũng vì lẽ đó mà trongchương trình chăm sóc - giáo dục trẻ, mục tiêu chung đặt ra là giáo dục trẻ emphát triển toàn diện về mọi mặt: thể chất, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành nhữngyếu tố đầu tiên của nhân cách và đạt được những chuẩn mực hành vi vănhóa Để thực hiện được mục tiêu đó cần phải kể đến sự đóng góp rất lớn củangôn ngữ

Ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người, nó là đặctrưng chỉ có ở xã hội loài người để phân biệt với các loài động vật khác Sở dĩngôn ngữ có vai trò quan trọng như vậy bởi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếpquan trọng nhất giữa con người với con người và là phương tiện, là công cụ

để tư duy Cũng như những lĩnh vực khác, ngôn ngữ cũng có những giai đoạnphát triển với đặc trưng khác nhau Trong đó, lứa tuổi mầm non được coi làgiai đoạn vàng để phát triển ngôn ngữ Bởi vậy, phát triển ngôn ngữ là mộttrong những nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục mầm non Ngôn ngữ là

Trang 8

công cụ cơ bản nhất để giúp trẻ giao tiếp, học tập và vui chơi… Ngôn ngữ làphương tiện giúp trẻ lĩnh hội những kiến thức sơ đẳng nhất ở trường mầm nontrước khi trẻ bước vào tiểu học Và ngôn ngữ đầu tiên của trẻ chính là ngônngữ tiếng mẹ đẻ đúng như nhà giáo dục nổi tiếng người Nga E.I Tikheeva đãkhẳng định “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở để phát triển trí tuệ và là nguồn gốc đểchiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc”

Phát triển vốn từ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong lĩnhvực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Trong ngôn ngữ, từ là đơn vị trungtâm, là vật liệu để tạo ý, tạo lời và tạo câu Để tiếp nhận, giao tiếp bộc lộnhững suy nghĩ, thể hiện ý tưởng một cách hiệu quả nhất phải có vốn từuchuẩn mực, phong phú

Thơ ca đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển vốn từ của trẻ.Những bài thơ hay, những lời ru ngọt ngào, những điệu hò dân giã là môitrường nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Trẻ em lớn lên trong lời ru ầu ơ của bàcủa mẹ, chính những lời ru ấy đã chắp đôi cánh tâm hồn cho trẻ ngày càngbay xa Thơ là phương tiện đắc lực bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ mà không có gìthay thế được Với nội dung trong sáng lành mạnh, thơ là suối nguồn là dòngsữa mát lành góp phần bồi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, trítưởng tượng cũng như nhu cầu phát triển vốn từ của trẻ Tóm lại thơ ca có ýnghĩa rất lớn trong quá trình giáo dục ở mọi lứa tuổi

Đã có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng có nhiều tác phẩm hay dành cho thiếunhi như: Định Hải, Ngô Viết Dinh, Phạm Hổ, Nhưng người có công gópphần làm rạng rỡ bộ mặt nền thơ ca thiếu nhi nước nhà không thể không nóitới Võ Quảng - một trong số những cây bút xuất sắc trong lĩnh vực thơ thiếunhi, Võ Quảng đã tạo được một sự nghiệp văn chương phong phú bao gồm:thơ, truyện và văn xuôi Ở tất cả các thể loại Võ Quảng đều đạt được nhữngthành công quan trọng

Trang 9

Võ Quảng coi việc sáng tác cho trẻ thơ là công việc giản dị Một việc

bé nhỏ thôi nhưng cần thiết nó góp phần tạo nên tình yêu cái đẹp nơi con trẻ,phát triển vốn từ giúp các em lớn lên và hoàn thiện chính bản thân mình Ôngrất yêu trẻ em, nhân vật trong thơ ông là hình ảnh các em bé thơ ngây, hồnnhiên bước vào đời với bao xúc động, suy nghĩ một cách ngỡ ngàng và lí thú

Có lẽ vì thế mà các tác phẩm của ông đã đi sâu vào lòng bao thế hệ trẻ vàđược lựa chọn đưa vào chương trình giáo dục mầm non nhằm giúp các emphát triển về mọi mặt đặc biệt về mặt vốn từ

Từ những lí do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển vốn

từ cho trẻ thông qua tập thơ Anh đom đóm của nhà thơ Võ Quảng” Cũng

nhờ đó tôi tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm kiến thức trong việc chăm sóc,giáo dục trẻ sau này

2 Lịch sử vấn đề

Trẻ nhận được rất nhiều sự quan tâm từ gia đình, nhà trường và xã hội.Các vấn đề về trẻ em đã được các nhà nghiên cứu khoa học hết sức quan tâm.Riêng phát triển vốn từ trong chương trình giáo dục mầm non chiếm một vị trí

vô cùng quan trọng vì vậy mà đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu khoa họcvới những công trình nghiên cứu được xã hội ghi nhận

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa cũng đã cung cấp những tri thức cơ bản vàtiếng việt trong hai tập “Tiếng Việt”, NXB Đại học Sư phạm, 2003, từ đógiúp giáo viên mầm non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triểnngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ mầm non

Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” NXBĐHSP, năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nghiên cứu rất kĩ sự pháttriển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Trên cơ sở những đánh giá chung về đặcđiểm sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn khác, tácgiã đã đưa ra một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, bao

Trang 10

gồm cả vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ Ngoài ra ông còn đưa ra cách sửa lỗiphát âm và một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo.

Tiếp theo cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, của tác giả Hoàng Thị Oanh - PhạmThị Việt - Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trongviệc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp, biệnpháp để luyện âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đứng ngữ pháp

Trong cuốn “Tâm lí học lứa tuổi Mầm non”, 2005, tác giả Nguyễn ÁnhTuyết đã trình bày về sự phát triển vốn từ của trẻ

Tạp chí “Giáo dục Mầm non” có rất nhiều bài viết về cách tổ chức,quản lí, những sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và quản lí ngành MầmNon Trong tạp chí Giáo dục ngành mầm non số 1/2006, tác giả Đinh ThiUyên có bài dịch tìm hiểu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non Hàn Quốc.Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục Mầm non hiện nay

Tạp chí “Giáo dục Mầm non” số 5/2006, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã

có bài viết “Dạy trẻ học thơ như thế nào?” đã nói về vai trò của thơ ca với trẻmầm non đồng thời còn đưa ra một số cách dạy trẻ học thơ rất hiệu quả giúpcho giáo viên mầm non dạy trẻ thuộc thơ nhanh hơn và giúp trẻ có tình yêuvới thơ ca cũng như nắm được những ý nghĩa sâu sắc của thơ ca

Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầmnon”, NXB Đại học Sư Phạm, 2014, cũng chú trọng đến dạy nói cho trẻ, pháttriển ngôn ngữ tiếng Việt như: giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng việt, hìnhthành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát triển lời nóimạch lạc, phát triển vốn từ nghệ thuật thông qua tác phẩm văn học, để tạo tiền

đề tốt cho trẻ chuẩn bị vào lớp một

Bài “Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giữa giới từ và

sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em” của tác giả Nguyễn Thanh Bình đăng trong

Trang 11

tạp chí Ngôn ngữ số 1 cũng đề cập đến vốn từ của trẻ về mặt số lượng cũngnhư cơ cấu từ loại.

Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục “Phát triển vốn từ vựng tiếng việtcho trẻ 5-6 tuổi dân tộc H’Mông tỉnh Lào Cai thông qua tập thơ “Góc sân vàkhoảng trời của nhà thơ Trần Đăng Khoa, tác giả Đinh Thị Mận nêu ra một sốbiện pháp phát triển vốn từ thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời”

Khóa luận “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện cổtích”, 2013, sinh viên Trần Thị Anh đã đề cập đến một số biện pháp phát triểnvốn từ cho trẻ thông qua một loại hình văn học dân gian – truyện cổ tích

Khóa luận tốt nghiệp “Mở rộng vốn từ cho trẻ mẫu giáo thông quatruyện ngụ ngôn”, 2017, sinh viên Nguyễn Thị Hướng Dương cũng đã đề cậpmột số biện pháp mở rộng vốn từ cho trẻ thông qua truyện ngụ ngôn

Và khóa luận tốt nghiệp đại học “Một số biện pháp phát triển vốn từ chotrẻ 5-6 tuổi thông qua tập thơ “Chú bò tìm bạn” của nhà thơ Phạm Hổ”, 2017,sinh viên Trần Thị Hằng có nêu ra một số đặc điểm vốn từ của trẻ và các biệnpháp để phát triển vốn từ cho trẻ em thông qua tập thơ “Chú bò tìm bạn”

Như vậy, đã có rất nhiều tác giả, các luận văn tốt nghiệp nghiên cứu vềvốn từ vựng của trẻ mầm non, về những phương pháp để phát triển vốn từ chotrẻ Tuy nhiên cho tới thời điểm này vẫn chưa có công trình khoa học nào đisâu vào đề tài “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tâp thơ “Anhđom đóm” của nhà thơ Võ Quảng” Với đề tài này chúng tôi đã tìm đượchướng đi riêng, dựa trên sự hiểu biết của chính bản thân mình

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài để đưa ra biện pháp phát triển vốn từ chotrẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ “Anh đom đóm” của nhà thơ Võ Quảng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cùa đề tài,nghiên cứu chúng tôi đề ra các nhiệm vụ sau:

Trang 12

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài

- Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ của trẻ lứa tuổi mẫu giáolớn thông qua tập thơ “Anh đom đóm” của nhà thơ Võ Quảng

Trên cơ sở của hai nhiệm vụ trên, chúng tôi đưa ra kết luận và khuyến nghị

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Một số biện pháp phát triển vốn từcho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ “Anh đom đóm” của nhà thơ VõQuảng

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: những bài thơ Võ Quảng viết chothiếu nhi in trong tập “Anh đom đóm”

6 Phư ng pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp phát vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thôngqua tập thơ “Anh đom đóm” của nhà thơ Võ Quảng

Trang 13

NỘI DUNG Chư ng : CƠ SỞ UẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn

1.1 Đặc điểm tâm lí

Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầmnon Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã đượchình thành trước đây, đặc biệt trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ, vẫn tiếp tục pháttriển mạnh

Đứng ở góc độ tâm lý học, các nhà ngôn ngữ thấy rằng: việc tiếp thungôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác

Ngôn ngữ được hình thành từ rất sớm Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ

đã hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ Nhu cầu giao tiếp vớingười lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói năng của trẻ Trẻ không

có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước có tính chất bản năng, trẻ

sẽ học được cách nói của những người xung quanh mình

Sự phát triển mọi mặt của trẻ mẫu giáo chưa hoàn thiện, còn non nớt.Hoạt động học tập đòi hỏi sự căng thẳng về mặt trí tuệ và thể lực, đòi hỏi sựchú ý có chủ định kéo dài, đòi hỏi sự hoạt động nhiều mặt của trẻ Trẻ 5-6tuổi, chú ý không phát chủ định phát triển mạnh, chú ý có chủ định đã xuấthiện nhưng còn hạn chế Đăc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quanhình tượng, tính không chủ định nhờ tác động một các tự nhiên của những ấntượng hấp dẫn bên ngoài Trí nhớ trưc quan phát triển manh hơn trí nhớ từngữ - logic Ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật, trẻ ghi nhớ những sự vật,hiện tượng cụ thể dễ dàng hơn nhiều so với lời giải thích dài dòng Vào cuốituổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có một bước biến đổi về chất: trí nhớ chủ địnhxuất hiện và phát triển mạnh Đó là loại trí nhớ có mục đích và phải nhờ đến

Trang 14

công cụ tâm lý như sơ đồ, biểu đồ và chữ viết Biểu tượng của trí nhớ ở trẻmẫu giáo lớn mang tính khái quát hơn Trong quá trình tưởng tượng, trẻ sửdụng các biểu tượng của trí nhớ.

Ngôn ngữ giúp trẻ biết điều khiển chú ý của mình, biết tự giác hướngchú ý của mình vào những đối tượng nhất định, khối lượng chú ý tăng và sứctập chung chú ý trở lên bền vững Ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn ngày càng cóchủ đích hơn trẻ mẫu giáo bé Tuy vậy, cho đến cuối tuổi mẫu giáo, các quátrình tâm lý không chủ định vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong hoạt động tâm lýcủa trẻ, ngay cả hoạt động trí tuệ

Tư duy và tưởng tượng của con người không thể tách rời ngôn ngữ làphương tiện của tư duy, ngôn ngữ chính là “dòng tư duy’’ Tư duy của trẻ: tưduy trực quan - hành động và trực quan hình ảnh, chưa hình thành loại tư duy,chưa hình thành loại tư duy ngôn ngữ - locgi nên ngôn ngữ của trẻ mầm noncòn hạn chế so với lứa tuổi khác Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ em đều tích cựchoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, đặc biệt biệt là tư duy phát triển khámạnh, đó là tư duy trực quan - hành động Nhưng đó chỉ là những hành độngbên ngoài, làm tiền đề cho sự hình thành những hành động định hướng bêntrong Đến tuổi mẫu giáo lớn, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản,chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan - hìnhtượng Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu,nhưng do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới đước chuyển từ bình diệnbên ngoài vào bình diên bên trong nên trẻ mới chỉ giải quyết được một số bàitoán hết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan - hình tượng Ở tuổi mẫugiáo nhỡ, trẻ cần trải qua những bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng, đòihỏi phải tách biệt và đòi hỏi phải sử dụng mối liên hệ giữa các sự vật, hiệntượng và hành động Trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu đề ra những bài toán trí tuệ

mà không cần sử dụng trực tiếp bằng hành động và biểu tượng, cũng là lúc

Trang 15

mà trẻ lĩnh hội những khái niệm mà loài người xây dựng nên, tức là những trithức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiện tượng tronghiện thực đã được củng cố bằng các từ Trẻ biểu hiện năng lực trí tuệ qua hoạtđộng tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý và suy nghĩ bằng năng lực ghinhớ liên tưởng và khả năng giải quyết nhiệm vụ thông qua vui chơi sáng tạo.

Tư duy trực quan giải thích trẻ em mẫu giáo bé và đầu mẫu giáo nhỡ có vốn

từ biểu danh là chủ yếu Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở cuốituổi thứ năm cho phép trẻ em lĩnh hội những khái niệm đầu tiên - đó là nhữngkhái niệm về sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ

Việc cho trẻ tiếp xúc thơ, đặc biệt là tập thơ Anh đom đóm của nhà thơ

Võ Quảng sẽ giúp tâm hồn trẻ thơ được mở rộng cả về kiến thức lẫn cả vốn từcho trẻ mẫu giáo lớn

Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệthống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não Hệthống tín hiệu thứ hai có được nhờ những kích thích trừu tượng như ngôn ngữ,lời nói, chữ viết, …Việc phát triển ngôn ngữ phải liên quan mật thiết tới việcphát triển và hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung Trong 3năm đầu là kết thúc sự trưởng thành về mặt giải phẫu vùng não chỉ huy ngônngữ, vì thế phải phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc mới đạt kết quả tốt

Để có thể giao tiếp tốt, chúng ta không thể k kể đến bộ máy phát âm.Mỗi con người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản

Trang 16

sinh âm thanh ngôn ngữ Đó là một trong những điều kiện vật chất quan trọngnhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như cấu tạo của nó có mộtkhiếm khuyết nào đó (chẳng hạn như sứt môi, hở hàm ếch, ngắn lưỡi …) thìviệc hình thành lời nói cũng hết sức khó khăn Khi sinh ra, mỗi con ngườikhông phải có bộ máy phát âm hoàn chỉnh Chính lứa tuổi mầm non là giaiđoạn hoàn thiện dần dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện của hai hàmrăng, sự vận động của môi, lưỡi, của hàm dưới…Quá trình đó diễn ra tự nhiêntheo các qui luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng với sư lớn lên củatrẻ Trong thực tế có những em cùng sinh ra nhưng có em có ngôn ngữ pháttriển rất tốt, có em nói ngọng Có sự khác nhau như thế là do bộ máy phát âmkhác nhau và quá trình chăm sóc giáo dục cũng khác nhau Trẻ nói ngọng là

do bộ máy phát âm chưa hoàn thiện Tuy nhiên bộ máy phát âm hoàn chỉnhmới chỉ là tiền đề vật chất Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện,một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thựchiện chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ Cấu tạo bộ máy phát âm bao gồm: dâythanh và các hộp cộng hưởng phía trên thanh hầu Âm sắc và tiếng nói do tínhchất của âm xác định và phụ thuộc vào khoang cộng hưởng của phần trên các

bộ phận thanh quản, họng, khoang miệng, mũi Bộ máy phát âm của trẻ pháttriển chưa đầy đủ, các bộ phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nêntrẻ còn phát âm chưa chuẩn, không chính xác Do đó, việc nghiên cứu bộmáy phát âm để tìm hiểu vốn từ cho trẻ Ở tuổi mẫu giáo, do việc giao tiếpbằng ngôn ngữ được mở rộng trong những năm trước đây, tai nghe âm viđược rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói,mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành tới mức trẻ có thể phát âm tươngđối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng Trẻ mẫu giáo đãbiết sử dụng vốn từ một cách phù hơp với nội dung giao tiếp trọn vẹn nhất

Trang 17

1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ học

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, làphương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong mộtcộng đồng Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyềnđạt truyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Lênin từngkhẳng định: Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp

là một hoạt động đặc trưng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếpquan trọng nhất Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống con người, nhờngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền chonhau những kinh nghiệm, tâm sự cho nhau những nỗi niềm thầm kín Không

có ngôn ngữ, con người không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tạiđược, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt càn được chăm sóc và bảo vệ củangười lớn

Ngôn ngữ là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành mộtthành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vuichơi Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọngcủa mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáodục trẻ là một điều kiện rất quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động vàtrong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ Ngôn ngữ cần cho tất cả nhữnghoạt động của trẻ và ngược lại, mọi hoạt động tạo điều kiện thúc đẩy ngônngữ cho trẻ phát triển

Ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non chủ yếu là ngôn ngữ nói, vì thế

sự phát triển vốn từ của trẻ phụ thuộc rất lớn và việc áp dụng thơ ca vào trongdạy học cho trẻ Trong hoạt đông học tập khi mà trẻ được nghe những bài thơ

đó sẽ giúp trẻ mở rộng vốn từ một cách đơn giản và dễ dàng nhất Bởi lẽ trẻmầm non rất dễ bắt nhịp với những vần điệu nhẹ nhàng, dễ nhớ, dễ thuộc nhưnhững bài thơ trong tập thơ “Anh đom đóm” của nhà thơ Võ Quảng viết chothiếu nhi Cũng nhờ đó cần làm giàu vốn từ cho trẻ bằng những từ mới, giải

Trang 18

thích những từ khó cho trẻ dễ hiểu Đào sâu, cung cấp, chính sách hóa vốn từcho trẻ hiểu chính xác nghĩa của từ, tích cực hóa vốn từ cho trẻ hiểu chính xácnghĩa của từ, tích cực hóa vốn từ cho trẻ, trang bị cho trẻ vốn từ sống động.Bằng vốn ngôn ngữ của mình trẻ có thể biểu đạt sự hiểu biết của mình chongười lớn hiểu và hiểu được ý nghĩa câu nói của người lớn Trong công tácgiáo dục mầm non, người lớn cần có ý thức rèn luyện và phát triển vốn từ chotrẻ thông qua các hoạt động, học tập thường xuyên liên tục và mọi lúc mọi nơi.

1.2 C sở ng n ngữ học

1.2.1 Các khái niệm c bản

a, Khái niệm về từ

Một số quan điểm định nghĩa về từ:

- Từ là đơn vị có hai mặt âm thanh và ý nghĩa, là đơn vị có sẵn trong hệthống ngôn ngữ, được dùng để gọi tên và để cấu tạo

- Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa ngôn ngữ được vận dụng độc lập, táihiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu

- Từ là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ Từ là đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổnđịnh, mang ý nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để cấu tạo nên câu Từ đó có thểlàm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tínhchất (tính từ), … Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiệnthực Trong cuốn “Cơ sở tiếng Việt”, Hữu Đạt đã đưa ra định nghĩa về từ nhưsau: Từ chính là hệ thống vốn từ của một ngôn ngữ Nói cách khác, từ vựng làtập hợp tất cả các từ ngữ cố định trong một ngôn ngữ theo một hệ thống nhấtđịnh

- Cho đến nay trong ngôn ngữ học cách các định nghĩa về từ đã đượcđưa ra không ít, song đây là định nghĩa về từ được sử dụng rộng rãi nhất: “Từcủa tiếng Việt gồm một số âm tiết cố định bất biến mang theo những đặc điểmngữ pháp nhất định lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ và nhỏ nhất để cấu tạo

Trang 19

thành câu” của tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếngViệt”.

Trang 20

+ Đơn âm: từ đơn chỉ có một âm tiết như ngày, tháng, năm.

+ Đa âm: từ đơn có hai âm tiết trở lên như ra-đi-ô, pê-từđan, … (chủyếu là những từ phiên âm tiếng Pháp)

VD: ông nội, bà ngoại …

+ Từ ghép đẳng lập: có các tiếng bình đẳng với nhau về mặt ngữ pháp,không phân biệt ra tiếng chính, tiếng phụ

VD: bàn ghế, giày dép, chăn gối, …

Trang 21

VD: láy âm đầu: lung ling, long lanh, xào xạc, …

láy vần: lao xao, lịch kịch, …

láy hoàn toàn: ào ào, xanh xanh, …

+ Dựa vào số lượng âm tiết trong một từ có 3 loại từ láy: láy đôi, láy

ba, láy tư

VD: láy đôi: xinh xắn, xanh xao, …

láy ba: sạch sành sanh, sát sàn sạt, dửng dừng dưng…

láy tư: vớ va vớ vẩn, ngớ nga ngớ ngẩn, tí ta tí tửng, …

b.2 Phân loại theo đặc điểm ngữ pháp

Căn cứ vào tiêu chí phân định từ loại và ý nghĩa cửa từ loại, từ đượcchia thành ba nhóm:

b.2.1 Nhóm 1

Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thànhphần câu gọi là thực từ Nhóm từ này gồm: danh từ, động từ, tính từ

b.2.1.1 Danh từ

Là từ loại bao gồm những từ có ý nghĩa khái quát sự vật Đó là những

từ chỉ vật thể - người, động vật, thực vật, đồ vật, những hiện tượng tự nhiên,hiện tượng xã hội và những khái niệm trừu tượng… được con người nhậnthức và phản ánh như các vật thể tồn tại trong hiện thực Danh từ bao gồm:danh từ riêng và danh từ chung

- Danh từ riêng: Là danh từ gọi tên sự vật, hiện tượng cụ thể riêng biệt,thường đứng sau danh từ chung làm định ngữ cho danh từ chung

Danh từ riêng bao gồm: tên riêng chỉ người, tên địa danh, tên con vật,tên sự vật

VD: Thái Bình, Nguyễn Mai Linh …

- Danh từ chung: là những từ biểu thị tên gọi cho hang loạt các sự vật,hiện tượng không phải cho các sự vật, hiện tượng đơn lẻ

VD: ngôi nhà, cô giáo, học sinh, …

Trang 22

VD: đi, chạy, tặng, …

- Động từ không độc lập: là những động từ thường không đứng mộtmình, đảm nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu, mà phải cùng với một động từkhác hoặc cụm từ đi sau làm thành tố phụ

VD: trên, dưới, trái, phải, …

- Tính từ chỉ tính chất đặc trưng theo thang độ: chúng có khả năng kếthợp với các phụ từ chỉ mức độ bao gồm:

Trang 23

+ Tính từ chỉ đặc điểm sinh lí: khỏe, yếu, …

+ Tính từ chỉ trí tuệ: thông minh, khôn, tinh ranh, …

b.2.2 Nhóm 2

Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, mà chỉ có tácdụng làm công cụ ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của từ.Nhóm này gồm: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ, …

b.2.2.1 Phụ từ

Là những hư từ không dùng để gọi tên các sự vật hiện tượng trong thực

tế khách quan mà chỉ có chức năng dẫn xuất hoặc biểu niệm tình thái

- Phân loại: căn cứ vào bản chất ngữ pháp của các hư từ mà phụ từthường đi kèm có thể chia phụ từ thành hai nhóm:

+ Phụ từ chuyên phụ cho danh từ: là những hư từ mà ý nghĩa chỉ số Bổsung ý nghĩa về mặt số lượng cho danh từ, ví dụ: các, mọi, những, …

+ Phụ từ đi kèm với động từ và tính từ: các phụ từ này làm thành tố phụtrước hoặc thành tố phụ sau, bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ, tính từ, ví

dụ như: đang, hơi, lắm, thế giới khách quan mà chỉ để liên kết, để nối từ vớicác từ, cụm từ với cụm từ, câu với câu

- Quan hệ từ: là những hư từ không dùng để gọi tên các sự vật, hiệntượng trong thế giới khách quan mà chỉ để liên kết, để nối từ và các từ, cụm từvới cụm từ, câu với câu

Trang 24

+ Tình thái từ cầu khiến: nhé, nào, đi, …

+ Tình thái từ biểu thị sắc thái tình cảm: cơ, mà, nhé, …

+ Tình thái từ cảm than: sao, biết bao, …

b.2.3 Nhóm 3: lớp từ trung gian gồm: đại từ và số từ

Các tiểu loại đại từ:

- Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thể tách đại từ thành các tiểu loạinhư sau:

+ Các đại từ xưng hô: tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng mày, chúng nó, nó,hắn, họ, chúng nó, …

+ Các đại từ chỉ định: ấy, này, kia, đó, nọ, …

+ Các đại từ để hỏi: ai, cái gì, bao giờ, sao, bao nhiêu… Các đại từ đểhỏi còn được dùng theo nghĩa phiếm chỉ: chúng không nhằm để hỏi, mà chỉchung mọi người, mọi sự vật, mọi nơi chốn, thời gian, … nhưng không ámchỉ một đối tượng nào cụ thể

Trang 25

VD: Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành

+ Các đại từ thay thế: thế, vậy, …

- Đại từ có khả năng thay thế cho từ loại nào thì có thể giữ những chức

vụ giống như từ loại ấy, cụ thể:

+ Các đại từ xưng hô có khả năng thay thế cho danh từ do đó chúng cóthể giữ chức vụ như danh từ trong câu

+ Các đại từ xưng hô có khả năng thay thế cho động từ, tính từ do đóchúng có thể giữ chức vụ như tính từ, động từ trong câu

Ngoài ra, từ còn được phân loại theo một số cách khác:

- Phân loại theo nghĩa: từ đồng nghĩa và trái nghĩa

- Phân loại theo nguồn gốc: Từ thuần Việt, từ Hán -Việt, …

- Phân loại theo phạm vi sử dụng: Từ toàn dân, từ địa phương

1.2.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ

Ngôn ngữ là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành mộtthành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vuichơi Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọngcủa mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáodục trẻ là một điều kiện rất quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động vàtrong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ

Lúc đầu, ngôn ngữ của trẻ chỉ là những từ riêng lẻ xuất phát từ sự nhậnthức thế giới xung quanh Trẻ chưa thể nói thành câu hoàn chỉnh Qua quátrình tiếp xúc với mọi người xung quanh, vốn từ của trẻ tăng lên, trẻ học được

Trang 26

cách nói của người lớn, lúc đó trẻ mới nói được câu hoàn chỉnh Với mỗi cánhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra rất nhanh ở giai đoạn 0 - 6 tuổi (lứa tuổimầm non) Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi - trẻ đã có thể sửdụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hang ngày Ở giai đoạn này nếukhông có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau nàykhó có thể phát triển tốt được.

âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu tiên Ở 18 tháng tuổi, số từ bìnhquân là

11 từ, trẻ bắt chước người lớn học lại một số từ đơn giản như: mẹ, bà, ba,

Từ 19-21 tháng, môi trường tiếp xúc của trẻ được mở rộng, trẻ đượclàm quen với nhiều sự vật, hiện tượng, số lượng từ của trẻ được tăng lên rõrệt Đến 21 tháng, trẻ đạt tới 22o từ Giai đoạn 21-24 tháng, tốc độ chậm lại,chỉ đạt 234 từ Vào tháng 24, sau đó tăng tốc độ, 30 tháng đạt 434 từ, 36tháng đạt 486 từ

Theo tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phương pháp phát triển lờinói cho trẻ em” nghiên cứu:

Đến năm thứ 3, trẻ đã sử dụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ,động từ, tính từ và các loại khác rất ít, danh từ chỉ đồ chơi, đồ dung quen thuộc

Trang 27

Các con vật gần gũi như: mèo, chó, chim… động từ chỉ hoạt động vớitrẻ và những người xung quanh như: ăn, uống, ngủ, đi,…

Trang 28

Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ Ưu thế vẫn thuộc về danh từ

và động từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ

Từ 5 - 6 tuổi, vốn từ của trẻ tang bình quân đến 1.033 từ: tính từ và cácloại từ khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn

Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi:cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 10.7%, cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổivốn từ tăng 40.58%, cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi vốn từ chỉ tăng 10.40%,cuối 6 tuổi so với đầu 6 tuổi vốn từ tăng 10.01%

Như vậy, ta có thể nhận thấy quy luật tăng số lượng từ của trẻ như sau:

- Số lượng từ của trẻ tăng theo thời gian

- Sự tăng có tốc độ không đồng đều, có giai đoạn tăng nhanh, có giaiđoạn tăng chậm

- Trong năm thứ 3 tốc độ tăng nhanh nhất

- Từ 3 - 6 tuổi tốc độ tăng vốn từ giảm

b, Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại

Trẻ mẫu giáo nói nhiều nhưng chưa phải là nói hay, vì vậy cần mở rộngcác loại từ để trẻ biết sử dụng từ gợi cảm, từ văn học

Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí đánh giá chất lượngvốn từ Tiếng Việt có 8 loại từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phó từ,quan hệ từ, tình thái từ Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạođiều kiện cho trẻ diễn đạt thuật lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dần dầntrong vốn từ của trẻ Ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ và tính

từ, các loại từ khác xuất hiện muộn hơn

Đến 3 - 4 tuổi, về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ loại từ Tuynhiên, tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn rất nhiều so với các loại từ khác: danh

từ chiếm

38%, động từ chiếm 32%, còn lại tính từ chiếm 6.8%, đại từ chiếm 3.1%, phótừ

Trang 29

chiếm 7.8%, tình thái từ chiếm 74.7%, quan hệ từ và số từ ít xuấthiện.

Trang 30

Giai đoạn 5 - 6 tuổi là giai đoạn hoàn thiện cơ cấu từ loại trong vốn từcủa trẻ Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (chỉ còn khoảng 50%) nhường chỗ chotính từ và các loại từ khác tăng.

Từ đặc điểm này, chúng ta cần chú ý tới các tỉ lệ các loại từ khác nhaukhi dạy từ cho trẻ, dạy trẻ phải chú trọng vốn từ trẻ còn nghèo nàn: lúc đầu sốlượng danh từ chiếm phần lớn, sau đó động từ rồi đến tính từ

c, Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ mẫu giáo

Quá trình nắm ý nghĩa của từ đi từ hình ảnh cảm giác đến sự khái quát

ý nghĩa Vật thể xung quanh thu hút sự chú ý của trẻ và nhận được tên gọi chỉtrong trường hợp chúng ta cho trẻ giao tiếp với chúng như: đụng đến, sờ hoặcăn… Ngay khoảng 2 tuổi, trẻ nhớ tên gọi đối tượng khó khăn nếu như chỉnhìn qua nó Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từ ngữ có nghĩa

cụ thể như những từ là tên gọi của các đồ vật trong gia đình, tên gọi động vật,thực vật Đến tuổi mẫu giáo lớn, để nắm từ với ý nghĩa khái quát, trẻ khôngđòi hỏi cảm giác trực tiếp nữa

Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từnhư sau:

- Mức độ zero (mức độ không): mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó Trẻhiểu được ý nghĩa gọi tên này

Ví dụ: bố, mẹ, bà, … (nghĩa biểu danh)

- Mức độ 1: Ý nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp, tên gọi chung của các sựvật cùng loại

Ví dụ: búp bê, bóng, cốc, …

- Mức độ 2: Khái quát hơn: trẻ nắm được những từ ngữ thể hiện sự kháiquát về giống

Ví dụ: quả (nho, xoài, dứa), xe (đạp, ô tô), con (gà, mèo, chó) …

- Mức độ 3: Khái quát tối đa, gồm những khái niệm trìu tượng: sốlượng, chất lượng, hành động, … (học ở cấp phổ thông)

Trang 31

Ví dụ: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi như búp bê, ô tô,… “phương tiệngiao thông” có thể chỉ xe máy, tàu hỏa, xe đạp, …

Đối với trẻ em tuổi mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩabiểu danh (mức độ zero và 1) Mức độ 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo, đặcbiệt là mẫu giáo lớn Khả năng nắm được mức độ thứ 4 của sự khái quát xuấthiện vào tuổi thanh niên

d, Đặc trưng lĩnh hội vốn từ của trẻ mẫu giáo

Nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quan hình tượng của tưduy nên trước hết trẻ nắm được các tên gọi của sự vật, hiện tượng, thuộc tính,quan hệ mang tính chất biểu tưởng trực quan và phù hợp với hoạt động củachúng

Sự lĩnh hội nghĩa của từ diễn ra dần dần: thoạt đầu, trẻ chỉ đối chiếu từvới cụ thể (không có nghĩa khái quát); sự thâm nhập dần của trẻ hiện thực(khám phá ra những thuộc tính, dấu hiệu, bản chất, khái quát theo dấu hiệunào đó), … Dần dần cùng với sự phát triển tư duy, trẻ mới nắm được nội dungkhái niệm trong từ, việc nắm nghĩa từ còn biến đổi trong suốt tuổi mẫu giáo

Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với khốilượng vốn từ của người lớn Vì khối lượng tri thức của chúng ta còn quá hạnhẹp

1.2.3 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà th Võ Quảng

Nhà văn Võ Quảng sinh ngày 1-3-1920 tại tỉnh Quảng Nam, nước ViệtNam Ông sống và làm việc chủ yếu ở tỉnh Vĩnh Phúc, nước Việt Nam Ôngsinh thuộc cung Song Ngư, cầm tinh con (giáp) khỉ (Canh Thân 1920) VõQuảng xếp hạng nổi tiếng thứ 49775 trên thế giới và thứ 30 trong danh sáchNhà văn nổi tiếng

Nhà văn Võ Quảng quê ở xã Đại Hòa huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam,

là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam Sự nghiệp văn chương của ông chủyếu tập trung về đề tài thiếu nhi

Trang 32

Ông là Đảng viên Đảng CSVN; Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1965)

Trang 33

Năm 1959, ông dịch tác phẩm Đôn Ki- hô- tê sang tiếng Việt dưới bútdanh Hoàng Huy, cũng là người đầu tiên dịch tác phẩm này Ông qua đờingày 15 tháng 6 năm 2007 tại Hà Nội.

Năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Nhànước về Văn học nghệ thuật Các tác phẩm tiêu biểu: Tảng sáng (truyện 1976),Những chiếc áo ấm (truyện 1970), Gà mái hoa (thơ 1975), Chỗ cây đa làng(1964), Cái Mai (1967), Nắng sớm (thơ, 1965), Cái Thăng (truyện 1961),Vượn hú (truyện 1993), Anh Đom đóm (thơ, 1970), Quê nội (truyện 1974),Thấy cái hoa nở (thơ 1962), Kinh tuyến, vĩ tuyến (truyện 1995), Bài họctốt (truyện,

1975), Măng tre (thơ, 1972), Quả đỏ (thơ 1980), Ánh nắng sớm (thơ 1993)

Võ Quảng thời trẻ ông tham gia tổ chức Thanh niên Dân chủ ở Huếnăm 1935, khi đang theo học Tú tài ở Quốc học Huế.Năm 1939, ông làm tổtrưởng tổ Thanh niên Phản đế ở Huế Sau đó, ông bị chính quyền Pháp bắtgiam ở nhà lao Thừa Phủ vào tháng 9/1941, và bị đưa đi quản thúc vô thờihạn ở quê nhà

Sau 1945, ông được chính quyền Việt Minh cử làm ủy viên Tư phápthành phố Đà Nẵng Khi quân Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông được cử vào chức

vụ Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến thành phố Đà Nẵng Ônglàm Hội thẩm chính trị (tức là Phó Chánh án) tòa án quân sự miền Nam ViệtNam từ 1947 - 1954

Sau khi tập kết ra Bắc, ông giữ chức vụ Ủy viên Ban nhi đồng Trungương, phụ trách văn học cho thiếu nhi Ông là một trong những người thamgia sáng lập và từng giữ chức Giám đốc Nxb Kim Đồng Sau đó, ông được cửlàm Giám đốc Xưởng phim hoạt hình Việt Nam Ông được kết nạp làm Hộiviên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1965 Năm 1968, ông về công tác tại BộVăn hóa Đến năm 1971, chuyển về Hội nhà văn Việt Nam, được phân cônglàm chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi Hội Nhà văn Việt Nam và giữ chức

vụ này đến khi về hưu

Trang 34

Võ Quảng là một cây bút viết cho thiếu nhi rất thành công Thơ ônggiàu trí tưởng tượng, vui tươi, nghộ nghĩnh, dễ đọc, dễ nhớ hợp với tâm lí trẻthơ Viết cho các em, ngòi bút Võ Quảng khá linh hoạt với những cách chuyểnđổi từ góc nhìn đến giọng điệu… với bút pháp đó, thế giới trẻ thơ trong sángtác của nhà thơ Võ Quảng khá phong phú, vừa gần gũi với những sinh hoạthọc hành, lại vừa dẫn dắt suy tưởng làm tâm hồn các em bay bổng hơn.

Có thể nói, dù viết cho thiếu nhi hay người lớn, dù ở thể loại nào thơhay truyện, kịch, dù sáng tác hay phê bình, … người đọc cũng luôn thấy ở VõQuảng một tâm hồn thơ đa dạng

1.2.4 Ý nghĩa tập th Anh đom đóm đối với việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn

a Yếu tố ngôn ngữ

Qua khảo sát 23 bài thơ trong tập thơ Anh đom đóm của Võ Quảng

(1970), chúng tôi nhận thấy có tới 19 bài thơ trên tổng số 23 bài thơ có nộidung nói về thiên nhiên kì thú, cung cấp những vốn từ thiên nhiên gần gũi,xung quanh trẻ Thiên nhiên với sự đông đúc, nhộn nhịp của các loài chimchóc, muông thú, các hiện tượng tự nhiên, các đồ vật sinh hoạt, … Bằng tàinăng của mình Võ Quảng đã mang tới cho trẻ thơ những vần thơ trong sáng,ngọt ngào, tự nhiên và vô cùng gần gũi

Trang 35

Bảng 1.1 Bảng khảo sát các yếu tố ngôn ngữ trong tập th Anh đom

Ngày đăng: 25/09/2019, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w