Còn theo ôngSheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng Giáo dục UNESCO khu vực châu Á -Thái Bình Dương, giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũngnhư các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM PHƯƠNG THÙY
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH VỚI CHỦ ĐỀ “GIA ĐÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM PHƯƠNG THÙY
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH VỚI CHỦ ĐỀ “GIA ĐÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non Người hướng dẫn khoa học: ThS Vũ Thị Tuyết
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục mầm non và các thầy cô giáo trong
tổ bộ môn Phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trìnhhọc tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - ThS Vũ ThịTuyết - người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong quá trình học tập,nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạnchế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đềtài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Phạm Phương Thùy
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
NXB Nhà xuất bản
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Bố cục của khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Cơ sở sinh lí học 7
1.1.1.1 Đặc điểm vùng bán cầu đại não 7
1.1.1.2 Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo lớn 8
1.1.2 Cơ sở tâm lí học 8
1.1.3 Cơ sở giáo dục học 9
1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học 10
1.1.4.1 Khái niệm từ và vốn từ 10
1.1.4.2 Đặc điểm của từ 11
1.1.4.3 Phân loại từ 12
1.1.5 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn 26
1.1.6 Khái quát về hoạt động làm quen môi trường xung quanh 28
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Nội dung hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh 29
1.2.2 Hình thức tổ chức cho trẻ hoạt động làm quen với môi trường xung quanh 35
1.2.3 Nội dung chương trình của hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình” 37
Trang 6Kết luận chương 1 39
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH VỚI CHỦ ĐỀ “GIA ĐÌNH” 40
2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 40
2.1.1 Các biện pháp phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non, tạo tiền đề phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ và chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông 40
2.1.2 Các biện pháp phải phù hợp đặc điểm tâm lý nhận thức, đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn 41
2.1.3 Các biện pháp phải góp phần phát huy tính tích cực, độc lập của trẻ trong quá trình dạy học 42
2.1.4 Các biện pháp phải xuất phát từ tình hình thực tế, phù hợp với điều kiện của trường và địa phương 43
2.2 Đề xuất các biện pháp 43
2.2.1 Sử dụng phương pháp trực quan 43
2.3.2 Hướng dẫn trẻ quan sát 46
2.2.3 Một số biện pháp dùng lời 49
2.2.4 Sử dụng trò chơi 52
2.2.5 Tổ chức hoạt động thực hành, trải nghiệm 55
2.2.6 Tích hợp trong các hoạt động ngoài tiết học 56
2.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 57
2.4 Những điều kiện thực hiện các biện pháp 58
Kết luận chương 2 60
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 71 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành vàphát triển nhân cách con người Việc thiếu quan tâm đến giáo dục mầm nonchính là sự bỏ lỡ cơ hội cải thiện triển vọng cho trẻ em Chính vì thế, hầu hếtcác quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo dục mầm non là mộtmục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người
Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời” Luật
Hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận giáo dục mầm non là giaiđoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản Luật Giáo dục Thái Lan nhấnmạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với giáo dụcmầm non nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em Còn theo ôngSheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng Giáo dục UNESCO khu vực châu Á -Thái Bình Dương, giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũngnhư các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của trẻ, chính những kỹnăng mà đứa trẻ tiếp thu được qua các chương trình chăm sóc giáo dục mầmnon sẽ là nền tảng cho hoạt động học tập sau này của trẻ, bởi đây là giai đoạnphát triển đặc biệt quan trọng của não bộ trẻ
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước và toàn xã hội luôn quan tâm coi trọngtầm quan trọng của giáo dục mầm non, coi giáo dục mầm non là một bậc họccần thiết và bắt buộc phải có trong hệ thống giáo dục Từ chỉ thị 53/CP củaHội Đồng Bộ Trưởng ngày 12/8/1966 đã xác định mục tiêu của giáo dục mầm
non: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”.
Điều 22, luật giáo dục 2005 quy định mục tiêu của giáo dục mầm non
là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thànhnhững yếu tố đầu tiên của nhân cách Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy
Trang 8nhiệm vụ của trường mầm non là phát triển toàn diện cho trẻ, tạo điều kiệncho trẻ có đầy đủ các năng lực, yếu tố để chuẩn bị cho hoạt động học tập ởtrường phổ thông Và một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phát triểntoàn diện cho trẻ đó là phát triển ngôn ngữ vì ngôn ngữ gắn liền với tư duy.
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”
(V.I Lê-nin) Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùngnhau hành động vì những mục đích chung: lao động, đấu tranh, xây dựng vàphát triển xã hội Không có ngôn ngữ thì không thể giao tiếp được, thậm chíkhông thể tồn tại được, nhất là một đứa trẻ, một sinh thể yếu ớt cần đến sựchăm sóc, bảo vệ của người lớn Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành mộtthành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ cóthể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn cóthể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ, là một điều kiện quan trọng để trẻtham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách
Công cụ để phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ Có ngôn ngữ, tưduy của trẻ mới được phát triển Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng
có tác động qua lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau (Galperin: ngôn ngữ giữ vaitrò quan trọng quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em) Ngôn ngữ làm cho
tư duy phát triển Ngược lại, tư duy phát triển càng đẩy nhanh sự phát triểncủa ngôn ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện Sự pháttriển toàn diện của đứa trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức, chuẩn mựchành vi văn hóa Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp Điềunày làm cho trẻ có điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh trẻ Ngônngữ phát triển còn giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong thơ ca,truyện kể - những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên của người lớn có thểđem đến cho trẻ từ ngày thơ ấu Đó là sự tác động của lời nói nghệ thuật nhưmột phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ
Trang 9Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non được tích hợp trong tất cảcác hoạt động chăm sóc, giáo dục Một trong những hoạt động có hiệu quảcao trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là hoạt động làm quen với môitrường xung quanh.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình”.
2 Lịch sử vấn đề
Trẻ em luôn dành được nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trường và
xã hội; những vấn đề về trẻ em được các nhà nghiên cứu khoa học hết sứcquan tâm Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớnkhông còn là một đề tài mới mẻ nữa, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ởnhiều khía cạnh khác nhau
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” nhà
xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nghiêncứu rất kĩ sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Trên cơ sở những đánh giáchung về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệcủa bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác, tác giả đã đưa ra một sốphương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn
đề phát triển vốn từ cho trẻ Cuốn sách là tài liệu bổ ích cho các giáo viên vàsinh viên ngành mầm non cũng như các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này
Trong “Tạp chí ngôn ngữ số 3-4/1984”, ông còn có bài viết: “Phát triển năng
lực hoạt động lời nói trong việc dạy Tiếng Việt ở nhà trường” Bài viết đã gây
được sự quan tâm của nhiều bạn đọc
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã cung cấp những tri thức cơ bản về tiếng
Việt trong 2 tập “Tiếng Việt”, nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2003; từ đó
giúp giáo viên mầm non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triểnngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ mầm non
Trang 10Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm
non”, nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2014, cũng chú trọng đến việc dạy trẻ
nhận biết - tập nói trong ba năm đầu, phát triển ngôn ngữ tuổi mẫu giáo nhưgiáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạytrẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, phát triển ngôn ngữnghệ thuật thông qua thơ và truyện, chuẩn bị khả năng tiền đọc - viết để tạotiền đề tốt cho trẻ vào lớp 1
Tiếp theo cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”,
nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh,Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữtrong việc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp,biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, pháttriển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”, 2005, tác giả
Nguyễn Ánh Tuyết đã trình bày sự phát triển vốn từ của trẻ mầm non ở từnggiai đoạn, lứa tuổi
Bài “Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giữa giới và sự
phát triển ngôn ngữ ở trẻ em” của tác giả Nguyễn Thanh Bình đăng trong tạp
chí Ngôn ngữ số 1 năm 2003 cũng đã đề cập đến vốn từ của trẻ về mặt số
lượng cũng như cơ cấu từ loại
Tạp chí Giáo dục mầm non có rất nhiều bài viết về cách tổ chức, quản
lý, tin hoạt động, những sáng kiến dạy học của giáo viên và các cán bộ quản
lý ngành mầm non Ở đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triển vốn
từ cho trẻ Trong tạp chí số 01/2006, Đinh Thị Uyên có bài dịch tìm hiểu vềchương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Hàn Quốc Đây là một gócnhìn mở cho nền giáo dục mầm non Việt Nam hiện nay
Như vậy, các tác giả đã nghiên cứu ở những mức độ khác nhau về vốn từvựng của trẻ mầm non và nêu lên những quan điểm của mình trong đó Tuy
Trang 11nhiên cho đến thời điểm này, chưa có một ai và chưa có một công trình khoa
học nào đi sâu vào khai thác đề tài: Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình”.
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm được cho mình một hướng điriêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá và thực nghiệm của chính bản thân mình
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra các biện pháp để phát triển vốn từcho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanhvới chủ đề “Gia đình” nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ngôn ngữ cho trẻmầm non
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6) tuổi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hoạt động làm quen môi trường xung
quanh với chủ đề “Gia đình”.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho đề tài
- Đề xuất các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình”.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và phân tích hệ thống hóa các tài liệu về sự phát triển ngôn ngữcủa trẻ (đặc biệt là vốn từ), về việc tổ chức hoạt động làm quen môi trườngxung quanh của trẻ mẫu giáo lớn
6.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra trực tiếp (đàm thoại với giáo viên)
- Điều tra gián tiếp (dùng phiếu câu hỏi để tìm hiểu)
Trang 126.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng các phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính đúngđắn của giả thuyết khoa học được đưa ra trong đề tài
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo Nội dung khóaluận gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông quahoạt động làm quen môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình”
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở sinh lí học
Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệthống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não Hệthống tín hiệu thứ hai có được nhờ những kích thích trừu tượng như ngônngữ, lời nói, chữ viết… Việc phát triển ngôn ngữ phải liên quan mật thiết tớiviệc phát triển và hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung
1.1.1.1 Đặc điểm vùng bán cầu đại não
- Đại não gồm hai bán cầu đại não phải và trái, ngăn cách nhau bởivách rãnh trung gian bán cầu Mỗi bán cầu đại não có một lớp chất xám dày 2
- 4mm bao xung quanh gọi là vỏ não Vỏ não được chia làm 4 thùy chính:Thùy trán, thùy chẩm, thùy đỉnh và thùy thái dương
Chức năng của vỏ não:
Vỏ não là trung tâm của nhiều chức năng thần kinh quan trọng: Chứcnăng vận động, chức năng cảm giác, chức năng giác quan, chức năng thực vật
và chức năng hoạt động thần kinh cao cấp Vỏ não còn là trung tâm của cáchoạt động thần kinh cao cấp: Tư duy, tình cảm,…
Để nghiên cứu các vùng chức năng của vỏ não, người ta phân chia vỏnão theo nhiều cách khác nhau Trong đó, cách phân chia vỏ não thành 50vùng đánh số từ 1 đến 50 của Brodmann là thông dụng hơn cả Bao gồm: Cácvùng giác quan: Vùng thị giác (thùy 17, 18, 19), vùng thính giác (vùng 22, 41,42), vùng thị giác (vùng 43), vùng khứu giác (vùng 34), vùng cảm giác (vùng
1, 2, 3), vùng vận động (thuộc hồi trán lên), vùng lời nói (vùng Broca, vùngWernicke)
Trang 141.1.1.2 Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo lớn
Bộ máy phát âm bao gồm: Phổi, hệ thống cơ hoành và khí quản; thanhquản và dây thanh; khoang miệng (với các bộ phận cấu âm quan trọng như:môi, răng, lưỡi, ngạc cứng, ngạc mềm); khoang mũi
Sự phát âm của trẻ phụ thuộc vào bộ máy phát âm Để dạy trẻ phát âmđúng cần thường xuyên luyện tập một số cơ quan phát âm như: môi, lưỡi,răng, sự phát triển linh hoạt của hàm Giáo viên cần giúp trẻ biết điều chỉnhnhịp nhàng các cử động của bộ máy phát âm
Rất nhiều trẻ mẫu giáo lớn nói không rõ, từ này cộng với từ kia tạothành một tập hợp âm khó hiểu Nguyên nhân là cử động chậm chạp của môi
và lưỡi, tính linh hoạt của hàm còn yếu, do đó miệng của trẻ há không to vàcác nguyên âm phát ra không đúng, sự phát âm không rõ ràng, các từ phụthuộc vào sự phát âm của các nguyên âm có đúng hay không và sau đó phụthuộc vào sự điều hòa các hoạt động bộ máy phát âm khi xác lập các phụ âm.Tập luyện cơ của bộ máy phát âm và trọng âm là quan trọng và cần thiết nhưtập thể dục hàng ngày đối với trẻ mẫu giáo
1.1.2 Cơ sở tâm lí học
* Thứ nhất: Trẻ xác định được ý thức bản ngã và tính chủ định tronghoạt động tâm lý
- Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi người khác, đãđược hình thành ở cuối tuổi ấu nhi Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới nắm được
kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá mộtcách đúng đắn hơn và là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt
- Sự tự ý thức còn biểu hiện trong sự phát triển giới tính của trẻ Trẻkhông những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết thể hiện những hành viphù hợp với giới tính của mình
- Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điềuchỉnh hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc
Trang 15xã hội, từ đó mà hành vi của trẻ mang tính xã hội, tính nhân cách đậm néthơn trước.
- Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện cáchành động chủ tâm hơn, nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt
* Thứ hai: Sự xuất hiện của tư duy trực quan hình tượng mới - tư duytrực quan sơ đồ và những yếu tố của tư duy logic
- Tư duy trực quan - sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệu lực để lĩnh hộinhững tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà hiểu được bản chất của sựviệc Tư duy trực quan - sơ đồ phát triển cao sẽ dẫn trẻ đến ngưỡng của tư duytrực quan trừu tượng, sẽ cho trẻ hiểu những biểu diễn sơ đồ khái quát giúphình thành các khái niệm
- Cả tư duy trực quan hành động lẫn tư duy trực quan hình tượng đềuliên hệ mật thiết với ngôn ngữ Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻnhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm ra cách giảiquyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn… Chính vì vậyngôn ngữ luôn gắn bó mật thiết, không thể tách rời cùng sự phát triển tư duycủa trẻ em
1.1.3 Cơ sở giáo dục học
* Quan điểm giáo dục học hiện đại: Lấy trẻ làm trung tâm
Phát huy tính chủ thể của trẻ em là một nguyên tắc cơ bản chủ yếuquyết định hiệu quả dạy học Không có sự vận động từ bản thân chủ thể thìmọi hoạt động từ phía cô giáo đều trở thành áp đặt Kết quả của việc học chỉthực sự có được khi trẻ em tích cực và chủ động tham gia vào quá trình dạy -học Như vậy việc học của các em cần dựa trên nền tảng của hoạt động nhậnthức tích cực của chính các em, và đòi hỏi các em phải có được thái độ và tinh
thần chủ động sáng tạo như I.F.Kharlamop đã định nghĩa: “Tính tích cực là
trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động Vậy tính tích
Trang 16cực nhận thức là trạng thái hoạt động của trẻ em, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình lắm vững kiến thức”.
* Vấn đề giáo dục tích hợp ở trường mầm non
Xuất phát từ cách nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội, con người là mộttổng thể thống nhất, lại do sự phát triển của trẻ dưới 6 tuổi chưa tách bạchthành các chức năng riêng biệt, nên trong quá trình dạy học không thể thựchiện các tác động riêng lẻ, tách rời các nội dung cũng như các mặt giáo dục
Do đó, tích hợp trở thành nguyên tắc cơ bản của giáo dục mầm non Tích hợptrong giáo dục mầm non được hiểu như một phương thức liên kết, xâm nhập,đan xen những quá trình sư phạm tạo thành một thể thống nhất, tác động đồng
bộ đến đứa trẻ như một chỉnh thể toàn vẹn Nhờ đó, hiệu quả sư phạm đượcnhân lên
1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.4.1 Khái niệm từ và vốn từ
* Khái niệm từ
Trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu, từ tiếng Việt gồm
một số âm tiết cố định bất biến mang theo những đặc điểm ngữ pháp nhấtđịnh, ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ vànhỏ nhất để tạo thành câu
* Khái niệm vốn từ
Từ vựng hay vốn từ, kho từ vựng của một người là tập hợp các từ trongmột ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới) Vốn từ vựng thường xuyêntăng lên theo tuổi tác, và là công cụ cơ bản và hữu dụng trong giao tiếp và thunhận kiến thức Người ta phân biệt hai loại kho từ vựng là chủ động và bịđộng Kho từ vựng chủ động bao gồm các từ được sử dụng trong văn nói vàvăn viết Kho từ vựng bị động bao gồm các từ mà một người có thể nhận ralúc đọc hoặc lúc nghe, nhưng không sử dụng chúng trong văn nói hoặc viết.Kho từ vựng bị động nhiều hơn kho từ vựng chủ động một vài lần
Trang 17Ta 2 là chủ ngữ, ta 1 là bổ ngữ nhưng hình thức chữ viết giống nhau.
b Đặc điểm ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp của tiếng Việt không biểu hiện trong nội bộ từ màbiểu hiện chủ yếu ở ngoài từ, trong tương quan của nó với các từ khác trongcâu Tương quan này được khái quát hóa dưới ba khả năng:
- Khả năng kết hợp giữa từ đang xét với từ chứng
Các từ chỉ tính chất, đặc điểm có thể kết hợp với những từ chứng rất,
hơi, khá, cực kì… (rất đẹp, rất hiền…) Những từ không có nghĩa tính chất,
đặc điểm thì không có khả năng này Các từ chỉ sự vật có thể kết hợp với
những từ chứng như những, các, mọi… và các từ chỉ số khác (những học
sinh, năm cái bàn…)
- Khả năng làm thành phần trong câu như chủ ngữ, vị ngữ…
Trong tiếng Việt, động từ có khả năng làm vị ngữ trong câu, còn danh
từ cũng làm vị ngữ nhưng làm vị ngữ gián tiếp thông qua từ nối là.
So sánh: Em bé chạy.
Tùng là sinh viên.
- Khả năng chi phối các thành phần phụ trong cụm từ, trong câu
Ví dụ: Động từ ngoại động: gặt (lúa), đánh (giặc), làm (nhà)…
Động từ nội động: sôi, chảy, tan, chìm…
Trang 181.1.4.3 Phân loại từ
a Phân loại từ theo đặc điểm ngữ pháp
a.1 Danh từ
* Đặc điểm của danh từ
- Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật (sự vật được hiểu theo nghĩakhái quát nhất: đồ vật, con vật, cây cối, người, khái niệm…)
- Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở trước và từ chỉđịnh ở sau để tạo nên cụm danh từ mà nó làm thành tố trung tâm
Ví dụ: Lan là học sinh ngoan (Lan là chủ ngữ)
Cô giáo khen Lan (Lan là bổ ngữ) Học sinh được tặng bằng khen là Lan (Lan là vị ngữ)
* Các tiểu loại danh từ
- Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một người, một địa danh hay một
vật Ví dụ: Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong, Hà Nội, Đồng Tháp Mười…
- Danh từ chung: là “tên gọi của một lớp sự vật đồng chất về một
phương diện nào đó” (Diệp Quang Ban) Ví dụ: bàn, ghế, giường, sách…
Danh từ chung gồm:
+ Danh từ tổng hợp là những danh từ chỉ gộp các sự vật khác nhaunhưng gần gũi với nhau, thường đi đôi với nhau hợp thành một loại sự vật Ví
dụ: sách vở, gà vịt, quần áo, vợ chồng, thuyền bè…
+ Danh từ trừu tượng là những danh từ chỉ các khái niệm trừu tượng
thuộc phạm vi tinh thần Ví dụ: tư tưởng, thái độ, ý nghĩ, nỗi buồn…
+ Danh từ cụ thể: là những danh từ chủ sự vật cụ thể, có thể tri nhậnbằng các giác quan Danh từ cụ thể có thể chia thành các nhóm sau đây:
Danh từ đơn vị: chỉ các đơn vị sự vật Bao gồm: Danh từ chỉ đơn
vị tự nhiên, danh từ chỉ đơn vị đo lường, danh từ chỉ đơn vị tập thể,danh từ chỉ đơn vị thời gian, danh từ chỉ đơn vị tổ chức hành chính,danh từ chỉ đơn vị hành động, sự việc
Trang 19Danh từ chỉ sự vật đơn thể: là những danh từ chỉ các sự vật có thể
tồn tại thành từng đơn vị đơn thể Ví dụ: sách, quần áo, chó, lợn,
cam…
Danh từ chỉ chất liệu: là những danh từ chỉ các chất, không phải các
vật Ví dụ: nước, đường, sữa, sắt…
a.2 Động từ
* Đặc điểm của động từ
- Động từ có ý nghĩa khái quát là chỉ hoạt động, trạng thái (trạng tháivật lí, sinh lí, tâm lí)
- Động từ có khả năng làm thành tố trung tâm trong cụm từ chính phụ,
mà các thành tố phụ tiêu biểu là các phụ từ Ví dụ: đang xem ti vi, hãy đứng
+ Nội động từ: là những động từ chỉ hoạt động, trạng thái tự thân,không tác động đến một đối tượng nào Nội động từ gồm các nhóm nhỏ sauđây: Nhóm chỉ tư thế, nhóm chỉ sự tự di chuyển, nhóm chỉ quá trình, nhómchỉ trạng thái tồn tại, nhóm chỉ trạng thái tâm lí, sinh lí
+ Ngoại động từ: là những động từ chỉ hoạt động có chuyển đến, tácđộng đến một đối tượng nào đó Ngoại động từ gồm các nhóm nhỏ sau đây:
Trang 20Động từ tác động, động từ chỉ hoạt động phát nhận, động từ chỉ hoạt động gâykhiến, động từ chỉ hoạt động đánh giá đối tượng, động từ chỉ cảm nghĩ, nói
tiêu biểu là các phụ từ chỉ mức độ Ví dụ: rất nổi tiếng, hơi nhanh, đẹp quá…
- Tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp trong câu Ngoài ra tính từ cũng cóthể làm chủ ngữ, định ngữ, bổ ngữ…
Ví dụ: Cô giáo em rất hiền (làm vị ngữ)
Nam chạy chậm (làm bổ ngữ) Dịu dàng là đức tính của phụ nữ Việt Nam (làm chủ ngữ)
* Các tiểu loại tính từ
- Tính từ có ý nghĩa tính chất tự thân có mức độ: xanh lè, đỏ au, trắng
toát, sâu hoắm…
- Tính từ có ý nghĩa tự thân không có mức độ: xanh, trắng, đỏ, gầy,
béo, nặng, nhẹ…
Ngoài ra, căn cứ vào ý nghĩa khái quát, có thể phân biệt hai loại tính từ:
- Các tính từ biểu hiện các đặc điểm về chất: chỉ màu sắc; chỉ kíchthước, hình dạng; chỉ mùi vị; chỉ tính chất vật lí; chỉ phẩm chất của sự vật; chỉđặc điểm tâm lí; chỉ đặc điểm trí tuệ; chỉ đặc điểm sinh lí; chỉ cách thức hoạtđộng
Trang 21- Có khả năng kết hợp với danh từ làm thành tố phụ chỉ số lượng sự vật(khi đó số từ đứng trước danh từ), hoặc chỉ thứ tự sự vật (số từ đi sau danh từ).
nghìn, tỉ…), và số từ chỉ số lượng không chính xác (dăm, mươi, dăm bảy…).
- Số từ chỉ thứ tự: cấu tạo y nguyên như số từ chỉ số hoặc có thêm yếu
tố thứ hay số Ví dụ: Vua Hùng thứ mười tám, nhà số năm
a.5 Đại từ
* Đặc điểm của đại từ
- Đại từ có chức năng để xưng hô, để trỏ, hoặc để thay thế (cho danh từ,động từ, tính từ)
- Tùy theo từng trường hợp cụ thể, đại từ thay thế cho từ thuộc từ loạinào thì mang đặc điểm ngữ pháp của từ loại đó
Ví dụ: Tôi ăn cơm Nó cũng thế.
* Các tiểu loại đại từ
Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thể tách các đại từ thành các tiểu loại sau:
- Các đại từ xưng hô; các đại từ chỉ định; các đại từ để thay thế; các đại
từ để hỏi, các đại từ để hỏi còn được dùng theo nghĩa phiếm chỉ: chúng khôngnhằm để hỏi, mà chỉ chung mọi người, mọi sự vật, mọi nơi chốn, thời gian…
nhưng không ám chỉ một đối tượng cụ thể nào Ví dụ: “Nhiệm vụ nào cũng
Trang 22- Về khả năng kết hợp, phụ từ chuyên đi kèm với một loại từ nào đó ởphía trước hoặc phía sau.
- Trong câu, phụ từ không thể một mình đảm nhiệm chức năng của cácthành phần câu
Ví dụ: Mẹ em đang tưới rau.
Trong ví dụ này từ đang là một phụ từ chỉ thời gian tiếp diễn cho hoạt động Nó đi kèm với từ tưới, làm thành tố phụ cho từ đó và tạo thành cụm động từ đang tưới rau (cả cụm này làm vị ngữ trong câu).
ý tương hỗ, chỉ sự phối hợp, chỉ cách thức thường đứng sau động từ
a.7 Quan hệ từ
* Đặc điểm của quan hệ từ
- Quan hệ từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, cáccụm từ, giữa các bộ phận câu hoặc giữa các câu với nhau
- Quan hệ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính cũng nhưthành tố phụ trong cụm từ Chúng cũng không đảm nhiệm được chức năngcủa các thành phần câu
* Các tiểu loại quan hệ từ
Căn cứ vào loại quan hệ ngữ pháp mà quan hệ từ biểu thị, có thể phânquan hệ từ thành hai nhóm: Các quan hệ từ biểu thị quan hệ đẳng lập, cácquan hệ từ biểu thị quan hệ chính phụ
Trang 23Trong thực tế sử dụng, các quan hệ từ có thể được dùng thành cặp để
liên kết các bộ phận của câu với nhau, nhất là trong câu ghép: nếu (hễ, giá)…
thì, vì (tại, bởi, do)… nên, tuy (dù, mặc dù)… nhưng, không những… mà còn a.8 Tình thái từ
* Đặc điểm của tình thái từ
- Các tình thái từ là những từ biểu lộ thái độ tình cảm của người nói(người viết) đối với nội dung câu nói hoặc đối với người nghe (người đọc)
- Các tình thái từ không thể đóng vai trò thành phần cấu tạo trong cụm
từ hay trong câu
* Các tiểu loại tình thái từ
- Các trợ từ nhấn mạnh: Đây là những từ được dùng ở trước từ hay cụm
Ví dụ: Chúng cháu chào cô ạ! (ạ biểu thị thái độ kính trọng).
Chúng mình đi xem nhé! (nhé biểu thị thái độ thân mật, hàm ý
hỏi)
- Các từ cảm thán: Đây là những từ dùng để bộc lộ trực tiếp cảm xúc
của người nói: có thể dùng để gọi đáp (ơi, vâng, dạ…), có thể dùng để bộc lộ cảm xúc vui mừng, ngạc nhiên, đau đớn, sợ hãi, tức giận (ôi, trời ơi, ô, ủa, ơ
kìa, hỡi ôi, eo ôi, ôi giời ôi, than ôi…).
b Phân loại từ theo cấu tạo
b.1 Từ đơn
* Khái niệm
Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên
Trang 24- Từ láy đôi: Từ láy đôi có hai loại:
+ Láy hoàn toàn: Ví dụ: xanh xanh, xa xa, oang oang Loại này có hai dạng biến thể là láy toàn bộ có biến thanh (ví dụ: đu đủ, nhè nhẹ…) và láy toàn bộ có biến thanh, vần (ví dụ: đèm đẹp, chan chát, rừng rực…).
+ Láy bộ phận: Ví dụ: dễ dãi, mập mạp, lò dò… Người ta chia từ láy bộ
phận thành láy âm và láy vần
- Láy ba: Loại này trong tiếng Việt không nhiều Ví dụ: sạch sành
sanh, tẻo tèo teo, cuống cuồng cuồng, khít khìn khịt, dửng dừng dưng…
- Láy tư: Là sản phẩm của lần láy thứ hai
Trang 25* Phân loại
Từ ghép trong tiếng Việt chia thành hai loại lớn là từ ghép thực và từghép hư
- Từ ghép thực là từ ghép do hai hoặc hơn hai hình vị thực (là hình vị
có nghĩa từ vựng hoặc vốn có nghĩa từ vựng) kết hợp với nhau theo phương
thức ghép mà có (ví dụ: nhà cửa, xe đạp…) Từ ghép hư là từ ghép do hai
hoặc nhiều hơn hai hình vị hư (hình vị không có nghĩa từ vựng) kết hợp lại
với nhau theo phương thức ghép mà có (ví dụ: vì thế, cho nên, để cho, nếu ).
Căn cứ vào tính chất của mối quan hệ giữa các hình vị, người ta lại chia
từ ghép thực thành hai loại: từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập
+ Từ ghép chính phụ là từ ghép trong đó giữa hai hình vị có mối quan
hệ chính phụ Hình vị chỉ loại lớn là hình vị chính, đứng trước, và hình vị phụ
bổ sung ý nghĩa cho hình vị chính đứng sau Từ ghép chính phụ có nhiều loại:
Loại có thành tố chính chỉ sự vật (mặt trời, tên lửa…), loại có thành tố chính
chỉ hoạt động ( ăn ý, ăn rộm…), loại có thành tố chính chỉ tính chất (tốt bụng,vui tính…)
+ Từ ghép đẳng lập là từ ghép trong đó hình vị có quan hệ đẳng lập,
ngang hàng Ví dụ: ông bà, mua sắm, tươi vui… Trong từ ghép đẳng lập, các
hình vị trong một từ phải cùng loại, phải đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái
nghĩa c Phân loại từ theo phạm vi sử dụng
Là những lớp từ chỉ được sử dụng trong phạm vi một vùng miền và một
bộ phận dân cư có quan hệ nguồn gốc ở vùng miền đó Từ địa phương có dự
Trang 26khác biệt với từ toàn dân (và với từ địa phương khác) về ngữ âm, ngữ pháp và
từ vựng Từ địa phương là một bộ phận của tiếng địa phương (phương ngữ)
* Các tiếng địa phương (phương ngữ) chính trong tiếng Việt
- Phương ngữ Bắc Bộ (BB)
- Phương ngữ Bắc Trung Bộ (BTB)
- Phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ (NTB và NB)
Từ địa phương trong các phương ngữ gồm một số nhóm sau:
- Nhóm từ địa phương không có từ toàn dân tương đương về nghĩa:
Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm… (NTB, NB)
- Nhóm từ địa phương giống với từ toàn dân về âm thanh, nhưng khác nghĩa:
Chén (NB - bát) - Chén (BB - đồ dùng để uống)
- Nhóm từ địa phương khác với từ toàn dân về âm thanh, nhưng cónghĩa giống nhau (từ địa phương đồng nghĩa với từ toàn dân):
Diêm - quẹt (NB) Thấy - chộ (BTB)
- Nhóm từ địa phương đồng nghĩa với từ toàn dân do khác biệt trong
phát âm: Trời - giời (BB), Vô (NB) - vào (BB)
d Phân loại từ theo nguồn gốc
d.1 Từ thuần Việt
Từ thuần Việt là cốt lõi, cái gốc của từ vựng tiếng Việt Lớp từ thuầnViệt làm chỗ dựa (nơi bắt đầu) và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt độngcủa mọi lớp từ khác liên quan đến tiếng Việt
d.2 Từ vay mượn
d.2.1 Từ Hán Việt
* Khái niệm từ Hán Việt
Không phải tất cả mọi từ gốc Hán đều là từ Hán Việt Chỉ những từgốc Hán được đọc theo ngữ âm thời nhà Đường (thế kỷ VII, VIII, IX, X),tức là đọc theo Đường âm (tất nhiên đã được Việt hóa theo âm vị, thanh điệu
và quy luật ngữ nghĩa, ngữ pháp của tiếng Việt tới mức xa lạ với tiếng Trung
Quốc hiện đại) mới được coi là từ Hán Việt (Ví dụ: chế độ, trận địa, nguyên
Trang 27cáo, học tập, giang sơn, hải phận, thí sinh, phong ba, hợp tác xã, chủ nghĩa
xã hội…).
* Một số đặc điểm của lớp từ vựng Hán Việt
- Từ Hán Việt thường có nghĩa biểu niệm nên có khả năng sử dụng thích
hợp trong các lĩnh vực chính trị (chủ tịch, thủ tướng, hoàng đế, Tổ quốc…), kinh tế (xuất khẩu, công nghiệp, công nghệ, ngoại hối…), quân sự (chỉ huy,
tham mưu, đặc công, đặc nhiệm…), văn hóa giáo dục (thủ khoa, tuyển sinh, tiến sĩ, trạng nguyên, phổ cập…), khoa học kỹ thuật (điện tử, tin học…).
- Từ Hán Việt thường biểu hiện sắc thái trang trọng hơn các từ thuần
Việt đồng nghĩa (phụ nữ - đàn bà; phu nhân - vợ; từ trần - chết; sinh - đẻ;…).
Trong những trường hợp sử dụng không phù hợp, từ Hán Việt biểu thị sắc
thái không trang trọng (Ví dụ một người gọi vợ hằng ngày: Phu nhân ơi!).
- Hiện tượng vay mượn tiếng Hán Việt biểu hiện sức sống ngoan cườngcủa tiếng Việt Trong quá khứ, vay mượn để tránh bị đồng hóa, bị tiêu diệt;còn đến ngày nay, tiếp tục vay mượn để làm giàu hơn, phát triển mạnh mẽhơn Tuy vậy, việc lạm dụng tiếng Hán Việt và dùng từ Hán Việt không đúngnghĩa, không phù hợp phong cách và hoàn cảnh nói năng, không theo chuẩnquy tắc ngữ pháp đang hạn chế khả năng diễn đạt chính xác, trong sáng, tinh
tế của tiếng Việt
d.2.2 Từ vay mượn từ ngôn ngữ Ẩn – Âu
Đặc điểm loại hình của tiếng Việt và một số tiếng Ẩn - Âu mà tiếngViệt tiếp xúc khác nhau Tiếng Việt thường vay mượn các từ Ẩn - Âu nguyênkhối cả về hình thức và nội dung, với một sự điều chỉnh ngữ âm cho phù hợpvới tiếng Việt (điều chỉnh về thanh điệu, về cấu tạo âm tiết, về các âm không
có trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt; điều chỉnh số lượng âm tiết theo hướngrút gọn thành đơn tiết…)
- Cà phê, ghi đông, căng tin, Mác, mác-xít… (mượn nguyên khối, Việt
hóa các âm tiết có thành phần âm vị không có trong tiếng Việt thành từ đơn đaâm)
Trang 28- Ga, săm, lốp, đui,… (mượn nguyên khối từ đơn âm có trong tiếng
nước ngoài hoặc rút gọn từ đa âm trong tiếng nước ngoài thành từ đơn âmtrong tiếng Việt)
e Phân loại từ theo ý nghĩa
e.1 Từ một nghĩa
Từ một nghĩa là những từ chỉ có một nghĩa duy nhất
Ví dụ: xe đạp: chỉ một loại phương tiện có hai bánh và dùng sức người
để đạp
e.2 Từ nhiều nghĩa
Trong quá trình phát triển của lịch sử, xã hội, cuộc sống ngày càng nảysinh thêm nhiều sự vật, hiện tượng Để gọi tên các sự vật, hiện tượng mới đóphục vụ cho giao tiếp và tư duy, từ vựng của một ngôn ngữ phải phát triểntheo hai con đường:
- Thứ nhất là sáng tạo ra những hình thức âm thanh mới để gọi tênnhững sự vật, hiện tượng mới trên
- Thứ hai là tạo thêm những nghĩa mới cho những từ có sẵn để chỉ các
sự vật, hiện tượng mới nảy sinh Con đường thứ hai này tạo nên các từ đanghĩa
Trang 29Ví dụ: Từ chân có các nghĩa phụ sau:
- Bộ phận dưới của một đồ vật: chân bàn, chân tủ…
- Vị trí dưới cùng của sự vật: chân núi, chân mây, chân tường…
* Nghĩa tu từ
Là nghĩa chỉ tồn tại trong một văn cảnh cụ thể, một cách nói cụ thể của một cá nhân nào đó, được hình thành, suy ra trên cơ sở nghĩa chính, nghĩa phụ
Ví dụ: Nghĩa chỉ em bé của từ mặt trời 2 trong câu thơ là nghĩa tu từ:
Mặt trời 1 của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời 2 của mẹ em nằm trên lưng
(Nguyễn Khoa Điềm)
e.3 Từ đồng nghĩa
Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về hình thức nhưng giống nhau
về ý nghĩa Ví dụ: xe hỏa xe lửa, tàu lửa, tàu hỏa,…
Có thể chia các từ đồng nghĩa thành hai loại:
- Từ đồng nghĩa tuyệt đối Đó là những từ đồng nhất hoàn toàn về ý
nghĩa Ví dụ: phi cơ, tàu bay, máy bay
- Từ đồng nghĩa tương đối Đó là những từ có những nét nghĩa trùngnhau nhưng cũng có những nét nghĩa khác nhau về sắc thái ý nghĩa
Ví dụ: hi sinh, từ trần, tạ thế, qua đời, chết, bỏ mạng, toi mạng, bỏ xác,
ngoẻo… là những từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái biểu cảm.
Trang 30lợn, heo… là những từ đồng nghĩa khác nhau về phạm vi sử
dụng (lợn là từ toàn dân, heo là từ địa phương).
Trang 31Giá trị của từ đồng nghĩa:
- Cung cấp cho người sử dụng ngôn từ các phương tiện để thể hiện sựphong phú, sinh động của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
Ví dụ: Cũng nói về rộng nhưng nhà thì rộng rãi, cánh đồng thì bát
ngát, còn biển thì mênh mông.
- Hiện tượng đồng nghĩa trong một ngôn ngữ thể hiện sự tinh tế trongsuy nghĩ, sự phát triển trong tư duy của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ và đồngthời thể hiện sự phát triển của chính ngôn ngữ đó
Ví dụ: Mèo đen gọi là mèo mun, ngựa đen gọi là ngựa ô, chó đen gọi là
chó mực, mắt đen gọi là mắt huyền… Các từ mun, ô, mực, huyền đều có
chung nét nghĩa là màu đen, nhưng các màu đen này có sự khác nhau về tính
chất (huyền là đen nhưng óng ánh, mun là đen bóng, mượt…).
e.4 Từ trái nghĩa
Khi phân hóa một nét nghĩa lớn (nét nghĩa phạm trù, nét nghĩa có tínhkhái quát cao) của một từ một cách cực đoan thành hai cực, ta được các từkhác nhau về ngữ âm, đối lập nhau về ý nghĩa Đó là các từ trái nghĩa
Ví dụ: Nét nghĩa “độ dài” phân hóa thành hai cực cho ta cặp từ trái
nghĩa ngắn - dài.
Hiện tượng trái nghĩa không chỉ xảy ra đối với hai từ mà là hiện tượngđồng loạt Hàng loạt từ ở cực này (đồng nghĩa với nhau) trái nghĩa với hàngloạt từ (đồng nghĩa với nhau) ở cực kia
Sơ đồ sau sẽ thể hiện điều đó:
Trang 32Với một từ nhiều nghĩa, hiện tượng trái nghĩa chỉ xảy ra với từng ýnghĩa của từ chứ không phải với toàn bộ ý nghĩa của từ.
Ví dụ: quả già >< non người già >< trẻ
quả chín >< xanh cơm chín >< sốngCác từ trái nghĩa có thể phân loại thành hai loại như: Trái nghĩa loại
trừ, phủ định nhau (sống - chết; tự do - nô lệ…) và trái nghĩa có điểm chung gian (chín => ương => xanh…).
Giá trị của từ trái nghĩa
- Từ trái nghĩa giúp cho sự diễn đạt rõ ràng, phản ánh được sự vật, hiệntượng, hoạt động, tính chất trong mối quan hệ nhiều chiều
Ví dụ: Dang tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài
(Hồ Xuân Hương)
- Từ trái nghĩa là cơ sở quan trọng tạo ra phép đối - một phép tu từ quantrọng hay sử dụng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, trong thơ ca, tục ngữ,
thành ngữ Ví dụ: Khôn ba năm, dại một giờ; vào sinh ra tử.
- Từ trái nghĩa còn được dùng để tạo nên các nghịch dụ làm cho cáchnói có ấn tượng mạnh, tăng sức thuyết phục như cách nói: bẩn sạch, ướt ráo…
Trang 331.1.5 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ mẫu giáo có nhu cầu rất lớn về mặt nhận thức, trẻ khát khao đượctìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh mình, trong đó, ngôn ngữ là công cụcủa tư duy Các nhà nghiên cứu giáo dục đều khẳng định là nền tảng quantrọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọng quyết định đến mọi mặtsau này của trẻ Lứa tuổi mẫu giáo lớn là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao đốivới các hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻđạt tốc độ khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều biết sửdụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hàng ngày
Trẻ 5 - 6 tuổi có thể sử thông thạo tiếng mẹ đẻ để giao tiếp Khả năngngôn ngữ liên quan chặt chẽ đến sự phát triển trí tuệ những trải nghiệm củatrẻ Ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ phát triển khá nhanh và đến cuối tuổi mẫugiáo, hầu hết trẻ em đã biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trongsinh hoạt hàng ngày Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tăng lên đáng kể, có khoảng
3000 - 4000 từ, trẻ thường xuyên sử dụng 1033 từ Trong đó, loại từ được tíchlũy khá phong phú, không những về danh từ, động từ, tính từ mà cả về đại từ,quan hệ từ… đủ để giao tiếp với những người xung quanh Danh từ và động
từ vẫn chiếm ưu thế nhưng tính từ và các loại từ khác cũng được trẻ sử dụngnhiều hơn Cụ thể:
- Về danh từ: nội dung, ý nghĩa của các từ được mở rộng, phong phúhơn ở những từ có ý nghĩa rộng; những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn
tăng Ở trẻ còn có những từ mang tính văn học như: áng mây, đóa hoa Trẻ
biết sử dụng một số từ chỉ khái niệm trừu tượng, mặc dù trẻ chưa thực sự hiểu
nghĩa của từ đó, thậm chí không hiểu như: kiến trúc, tài năng…
- Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển
thêm những nhóm từ mới như: nhảy nhót, leng keng, ngoe nguẩy…; những động từ chỉ sắc thái khác nhau như: chạy vèo vèo, chạy lung tung…; xuất hiện
Trang 34thêm những động từ có nghĩa trừu tượng như: giáo dục, khánh thành… Trẻ
mẫu giáo lớn đã phân biệt được nghĩa của các động từ gần nghĩa nhau, ví dụ:
động từ “băm” và “chặt” (khi băm thì phải nhẹ nhàng, khi chặt phải mạnh và
nhanh hơn) Trẻ cũng có thể hiểu được một số từ có thể có nhiều nghĩa khác
nhau như: đánh đổ, đánh má hồng, đánh bóng…
-Về tính từ: phát triển về số lượng cũng như chất lượng, trẻ sử dụng
nhiều từ có tính gợi cảm như: to đùng, tròn xoe, ngọt lịm, chua loét… Trẻ đã
sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian như: cao - thấp, dài - ngắn,
rộng - hẹp…, các từ chỉ tốc độ như: nhanh - chậm…, các từ chỉ màu sắc: đỏ, vàng, trắng, đen… Một số trẻ còn biết sử dụng các từ chỉ màu sắc như: xám, xanh lá cây, tím, da cam…
- Ngoài ra, các loại từ khác như đại từ, trạng từ, quan hệ từ, phụ từ…cũng được dùng nhiều hơn các lứa tuổi khác: trạng từ được mở rộng; trẻ cũng
đã biết sử dụng các quan hệ từ như: nếu, thì, thế mà, thế là, xong là, nhưng,
và, với, của, để, vì… Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết từ số 1 đến số 10 và sử dụng được
các từ không xác định: bao nhiêu, vài, những, các… Trẻ đã sử dụng chính xác hơn các phó từ: đã, đang, sẽ, vẫn, còn, rất, hơi, khá, chưa…, các tình thái từ:
à, nhỉ, nhé… Trẻ biết sử dụng nhiều từ đơn hơn từ ghép; trẻ hiểu nhiều từ láy
và biết sử dụng chúng Trẻ hiểu được một số từ có ý nghĩa khái quát, biết sử
dụng một số từ ghép có tính gợi cảm và những từ có nghĩa đối lập: bé xíu - to
đùng, béo mẫm - gầy nhom, chua chua - ngọt ngọt… Các từ chỉ tính chất
không gian (rộng lớn, mênh mông, bát ngát…), từ chỉ tốc độ (nhanh,
chậm…), từ chỉ màu sắc (xanh lơ, đỏ tươi…) được trẻ sử dụng chính xác Trẻ
đã hiểu và biết dùng các từ chỉ khái niệm thời gian (hôm qua, hôm nay, ngày
mai, ngày kia…), từ đồng nghĩa (tàu hỏa - xe lửa, to - lớn…), từ có tính chất
gợi cảm, có hình ảnh và mang sắc thái khác nhau (bé tí, bé xíu, be bé…) Trẻ
đã biết sử dụng các đại từ thích hợp với hoàn cảnh nói, ví dụ: nói với bạn thì
Trang 35xưng “tôi”, lúc tức giận thì xưng “tao”, khi rủ rê thì “chúng mình” Trẻ mẫu giáo lớn cũng biết xưng hô đúng với các đối tượng gần gũi: em, tôi, tớ, mình,
người ta…
Trong khi sử dụng ngôn ngữ, trẻ bắt đầu hiểu nghĩa của từ và nguồn
gốc của nó Ví dụ: trẻ giải thích “Con của con bò là con “bê” vì nó hay kêu
“bê bê…” Trẻ có thể dùng ngôn ngữ để thể hiện các mối quan hệ qua lại
nhiều mặt của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống mà trẻ nhận thức được,
bước đầu có sự khái quát và đưa ra kết luận như: “Chanh thì chua còn đường
thì ngọt”; “Bố là đàn ông còn mẹ là đàn bà” Có thể nói rằng trẻ đã nắm được
các loại từ có trong tiếng mẹ đẻ và đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàngngày Ý nghĩa của từ với trẻ cũng phong phú hơn và khả năng nắm bắt ýnghĩa của từ phát triển hơn
Tóm lại trong các độ tuổi của mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ được pháttriển dần về các mặt: Vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp và xuất hiện dầnkiểu ngôn ngữ mạch lạc Đến cuối tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trẻ đã có khảnăng nắm vững được ngữ nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng sựphát âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp vàđặc biệt là nắm được hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luậtngôn ngữ tinh vi nhất về phương tiện cú pháp và về phương tiện tu từ, trẻ nóinăng mạch lạc và thoải mái Trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ trongphong cách sinh hoạt và ở một mức độ nào đó là phong cách nghệ thuật (tức
là nói năng có văn hóa)
1.1.6 Khái quát về hoạt động làm quen môi trường xung quanh
Chúng ta biết rằng, Trái Đất được hình thành khoảng 4 - 5 năm trước
Sự sống trên Trái Đất xuất hiện gần 3 - 3,5 tỉ năm trước Phải đến 3 nghìnnăm sau khi có sự sống trên Trái Đất thì con người mới xuất hiện
Có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình cá nhân trở thành người