1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển vốn từ tiếng anh cho trẻ 3 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe

87 254 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đã hướng nội dung vào việc thảo luận nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy,phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non trong đó không thể thiếu được chính làviệc phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

HOÀNG THU HUYỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH

CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA

HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

HOÀNG THU HUYỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH

CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA

HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS Nguyễn Thu Hương

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em rất nhiều trongquá trình em học tập tại trường và tạo điều kiện cho em để em thực hiện tốtkhóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo – PGS.TS NguyễnThu Hương người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trìnhhọc tập, nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này

Qua đây, em xin gửi tới Ban giám hiệu và các cô giáo trường Mầm nonKhai Quang – thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc cùng các bạn sinh viênkhoa Giáo dục Mầm non lời cảm ơn chân thành nhất

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạnchế Kính mong nhận được sự đóng góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để

đề tài được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thu Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đề tài “ Phát triển vốn từ tiếng anh cho trẻ 3 – 4 tuổithông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe” là kết quả nghiên cứu của tôi.Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu,một số tác giả khác Tuy nhiên đó là cơ sở để tôi rút ra vấn đề cần tìm hiểucho đề tài của mình Những kết quả trong khóa luận chưa được công bố dướibất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thu Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN và CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 7

1.1.2 Cơ sở tâm, sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi 16

1.1.3 Kể chuyện và vai trò của kệ chuyện cho trẻ nghe trong việc phát triển ngôn ngữ 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Mục đích điều tra 25

1.2.2 Đối tượng và địa bàn điều tra 25

1.2.3 Nội dung điều tra 26

1.2.4 Phương pháp điều tra 26

1.2.5 Thời gian điều tra 26

1.2.6 Phân tích và đánh giá kết quả điều tra 26

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU CHUYỆN CÓ CHỨA TỪ TIẾNG ANH ĐƠN GIẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 31

2.1 Mục đích, nội dung, nguyên tắc xây dựng câu chuyện 31

Trang 6

2.1.1 Mục đích 31

2.1.2 Nội dung 31

2.1.3 Nguyên tắc 31

2.2 Cách thức xây dựng câu chuyện 31

2.3 Hệ thống các câu chuyện nhằm phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 32 CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH CHO TRẺ VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 38

3.1 Biện pháp 38

3.1.1 Kể chuyện cho trẻ nghe bằng lời 38

3.1.2 Kể chuyện cho trẻ nghe theo tranh 40

3.1.3 Kể chuyện theo mô hình rối 42

3.1.4 Kể chuyện theo video 44

3.2 Thực nghiệm 47

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 47

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 47

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 48

3.2.4.Quy trình thực nghiệm 48

3.2.5 Tiêu chí đánh giá thực nghiệm 49

3.2.6 Giáo án thực nghiệm 49

3.2.7 Kết quả thực nghiệm 60

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC

Trang 7

1

Trang 8

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Giáo dục mầm non hiện nay là một bậc học được đảng và nhà nước taquan tâm sau sắc Bởi lẽ giáo dục mầm non là một khâu quan trọng, là nềnmóng đầu tiên cho việc hình thành nhân cách của trẻ em sau này

Bảo vệ và chăm sóc trẻ không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà nó làtrách nhiệm của toàn xã hội Chính vì vậy hiện nay Đảng và nhà nước ta córất nhiều biện pháp tích cực để bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhằm tạo ra nhữngcon người đáp ứng được yêu cầu của xã hội mới, những con người phát triển

về đức, trí, thể, mỹ nhằm đưa đất nước ngày càng phát triển Đây là vấn đềmang tính thời đại và cấp bách với ngành giáo dục đặc biệt là Giáo dục Mầmnon

Thực tế hiện nay tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong xã hội Vìvậy việc dạy tiếng Anh cho các cấp bậc nói chung và đặc biệt là giáo dụcMầm non nói riêng mang tính cấp bách và cần thiết, góp phần xây dựng nênnhững con người hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội Giáo dục Mầmnon là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân vì vậy việc dạyngoại ngữ cho trẻ là cần thiết, tạo tiền đề cho trẻ có thể học tốt ở các cấp bậctiếp theo

Xuất phát từ nhu cầu của trẻ rất thích nghe kể chuyện và được kểchuyện vì vậy việc lồng ghép tiếng Anh vào những câu chuyện để dạy cho trẻ

sẽ gây hứng thú cho trẻ trong việc học tiếng Anh Thay vì dạy tiếng Anh chotrẻ theo những cách truyền thống hiện nay là cho trẻ đọc từng từ, từng từ rồinói nghĩa, phương pháp dạy tiếng Anh khô cứng, thiếu linh hoạt và gò bó thìviệc đưa những từ đó vào những câu chuyện sau đó kể cho trẻ nghe sẽ kíchthích sự tưởng tượng, hứng thú cho trẻ và trẻ sẽ nhớ dễ dàng hơn

Trang 9

Mặt khác việc học tiếng Anh của trẻ ở những vùng nông thôn hiện naycòn gặp nhiều khó khăn do nhiều lý do khác nhau đặc biệt là do kinh tế cònnghèo vì vậy gần như không có khả năng để thuê giáo viên tiếng Anh về dạycho trẻ Đó là một sự thiệt thòi cho trẻ ở những vùng này không được tiếp xúcvới ngoại ngữ Vì vậy việc đưa những từ tiếng Anh đơn giản vào những câuchuyện sẽ giúp cho các cô giáo trong trường cũng có thể dạy tiếng Anh chotrẻ, ít nhiều cũng giúp cho các trẻ ở những vùng khó khăn được tiếp xúc vớingoại ngữ.

Ngoài ra việc lồng ghép những từ tiếng Anh đơn giản vào những câuchuyện để dạy cho trẻ có thể dễ dàng thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, các côgiáo sẽ là người dạy trực tiếp cho trẻ trong những giờ luyện tập hay thậm chícác mẹ cũng có thể dễ dàng dạy cho trẻ ở nhà mọi lúc, mọi nơi

Là một giáo viên Mầm non trong tương lai, chúng tôi ý thức được tầmquan trọng của việc dạy tiếng Anh cho trẻ Mầm non Vì vậy tôi lựa chọn đềtài: “Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động kểchuyện cho trẻ nghe” và quyết tâm đi sâu tìm hiểu Chúng tôi cũng hi vọng đềtài của chúng tôi sẽ góp một phần nào đó trong việc giúp trẻ học ngoại ngữmột cách dễ dàng và góp một phần nào đó cho việc nâng cao chất lượng giáodục và đào tạo tại các trường Mầm non

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trẻ em luôn nhận được sự quan tâm của gia đình và nhà trường và toàn

xã hội, đặc biệt là các nhà khoa học Hiện nay việc dậy tiếng Anh cho trẻ làhết sức cần thiết và cũng không còn nhiều mới mẻ nữa, có rất nhiều cách khácnhau để dậy tiếng Anh cho trẻ và cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu ởnhiều mức độ và phạm vi khác nhau

Ở Việt Nam trong những năm gần đây vấn đề này cũng được quan tâmnhiều hơn Một số hội nghị khoa học ở trung ương cũng như các địa phương

Trang 10

đã hướng nội dung vào việc thảo luận nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy,phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non trong đó không thể thiếu được chính làviệc phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo.

Trong cuốn giáo trình “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầmnon” của tác giả Đinh Hồng Thái (2006), Nxb Đại học Sư phạm chú trọng tớiviệc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, hình thành và phát triển vốn từ chotrẻ mẫu giáo, phát triển ngôn ngữ, vốn từ cho trẻ thông qua thơ và truyện đểtạo tiền đề tốt cho trẻ bước vào lớp 1

Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tácgiả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non”(2005) đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, từng lứatuổi

Có rất nhiều các tác giả nghiên cứu các biện pháp phát triển ngôn ngữcho trẻ tiêu biểu như EI Tikheeva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữcho trẻ một cách có hệ thống, trong đó cần tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giớithiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe, tácgiả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻmẫu giáo” đã đưa ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ của trẻ: Vốn từ, khảnăng hiểu từ, ngữ pháp ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứucủa Lưu Thị Lan (1996) “Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 1 – 6tuổi [19] đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ bắt đầu từ giai đoạntiền ngôn ngữ (0 – 1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ (1 – 6) tuổi và nhiều công trìnhkhác

Báo “Người Lao Động số ngày 25/10/2015” Có viết Hiện nay trên thếgiới có gần 60 quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính bên cạnh tiếng

mẹ đẻ, gần một trăm quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 Theo

Trang 11

thầy Đặng Lộc Thọ Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Sư phạm Trung ương chobiết các nghiên cứu trên thế giới đề chỉ ra rằng lĩnh hội ngôn ngữ là quá trình

tự nhiên ở lứa tuổi nhỏ Mẫu giáo là giai đoạn thuận lợi nhất để tiếp thu ngoạingữ do sự hình thành các quá trình nhận thức và ghi nhớ tài liệu ngôn ngữmột cách nhanh chóng, trẻ có động cơ giao tiếp ngôn ngữ một cách tự nhiên

và không có rào cản ngôn ngữ như sự sợ hãi, ức chế

Thầy Đặng Lộc Thọ Còn nói “Nghiên cứu mới đây từ các nhà khoa họcPháp và Canada cho biết trẻ từ 7 tháng tuổi có thể học, hiểu hai ngôn ngữ dùcấu trúc ngữ pháp của chúng rất khác nhau”

Một khảo sát tại Trường Cao Đẳng Sư phạm Trung ương cho thấy kếtquả thăm dò tại 50 trường Mầm non với 80 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và

330 giáo viên trực tiếp cho trẻ làm quen với tiếng Anh cho thấy hiện chỉ cókhoảng 10% đơn vị giáo dục mầm non tự tổ chức giáo dục tiếng Anh tạitrường, 90% thực hiện theo hình thức tổ chức liên kết với các trung tâm bênngoài

Theo Lê Thị Luận (Viện khoa học Giáo dục Việt Nam) thực tế khảo sáttrực tiếp tại các trường mầm non tại Hà Nội và TP HCM cho thấy đội ngũgiáo viên tham gia vào việc hướng dẫn trẻ mầm non làm quen với ngoại ngữtại các trường đều tự hợp đồng với các trung tâm ngoại ngữ nhưng chưa cóchứng chỉ về sư phạm mầm non

Và còn nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập đến vấn đề này

Như vậy có rất nhiều tác giả đã đưa ra các công trình nghiên cứu về cácphương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non, và có rất nhiều nghiêncứu và ý kiến khác nhau nói về phát triển ngôn ngữ tiếng Anh cho trẻ Tựuchung lại các nhà khoa học đều hướng tới mục tiêu phát triển ngôn ngữ chotrẻ mầm non nói chung và phát triển ngôn ngữ tiếng Anh cho trẻ Mầm nonnói riêng Đưa ra các biện pháp, các hình thức nhằm nâng cao chất lượng dạy

Trang 12

và học của ngành giáo dục Mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước

ta nói riêng Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu phát triểnvốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻnghe Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng tôi mạnh dạn

chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài: “Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe”.

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe nhằm phát triển vốn từtiếng Anh cho trẻ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Xây dựng một số câu chuyện có những từ tiếng Anh đơn giản nhằmphát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi

- Đề xuất biện pháp phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ

- Thực nghiệm sư phạm

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổithông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe

Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này chúng tôi giới hạn nghiên cứuviệc phát triển vốn danh từ tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

6.2 Phương pháp đàm thoại

Trảo đổi với cô giáo về đề tài nghiên cứu Trò chuyện với trẻ, hỏi trẻmột số câu hỏi để tìm hiểu về vốn từ tiếng Anh của trẻ và khả năng phát âmcủa trẻ, hứng thú của trẻ khi học tiếng Anh

6.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu của chương trình dạy vàhọc liên quan đến tiếng Anh để đánh giá các hoạt động học tiếng Anh của trẻ

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm trả tính đúng đắn của đề tài nghiêncứu đã đề ra

6.5 Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia là những giáo viên có thâm niên giảng dạy tạitrường về nội dung câu chuyện đã được xây dựng, hình thức tổ chức, hứngthú của trẻ và khả năng áp dụng của đề tài nghiên cứu trong dạy tiếng Anhcho trẻ

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luậngồm 3 chương chính

Chương 1: Cơ sở lý luận về ngôn ngữ và thực tiễn dạy học tiếng Anh ởtrường mầm non hiện nay

Chương 2: Xây dựng một số câu chuyện có chứa từ tiếng Anh đơn giảnthông qua hoạt động kể chuyện nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi

Chương 3: Biện pháp phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ thông quahoạt động kể chuyện và thực nghiệm sư phạm

Trang 14

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN và CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học

1.1.1.1 Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp quantrong nhất của con người

Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác vớimột mục đích nhất định nào đó Khi giao tiếp người ta trao đổi tư tưởng tìnhcảm với nhau, tác động đến nhau, những tư tưởng, trí tuệ của người này đượctruyền từ người này đến người khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác – đó là nhờngôn ngữ một trong những động lực đảm bảo sự tồn tại của xã hội loài người

Ngôn ngữ là một thứ sản phẩm độc quyền của con người Nó chỉ đượchình thành, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầucủa con người Bên ngoài xã hội loài người ngôn ngữ không thể phát sinh

Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người Ngôn ngữ

là một trong hai yếu tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành conngười (Ph Ăng-ghen) Nói cách khác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm chocác quá trình tâm lý của con người có chất lượng khác hẳn với con vật Ngônngữ đã cố định lại những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người, nhờ đóthế hệ sau có được các sức mạnh tinh thần của thế hệ trước Ngôn ngữ là hìnhthức tồn tại của ý thức, ngôn ngữ là “ý thức thực tại” của con người (C Mác)

Nó liên quan đến tất cả các quá trình tâm lý của con người, là thành tố quantrọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc tâm lý của con người, đặc biệt là cácquá trình nhận thức

Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với các quá trình nhận thức cảmtính nó làm cho các quá trình này ở người mang một chất lượng mới

Trang 15

Mặt khác ngôn ngữ ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng nhạy cảm của cámgiác, làm cho các cảm giác được thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn Đối với trigiác ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn vàlàm cho những cái tri giác trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn

Đối với trí nhớ ngôn ngữ tham gia tích cực vào các quá trình trí nhớ,gắn chặt với các quá trình đó Ví dụ như việc ghi nhớ sẽ dẽ dàng và có kết quảtốt hơn nếu ta nói lên thành lời điều ta cần ghi nhớ Không có ngôn ngữ thìkhông thể thực hiện sự ghi nhớ có chủ định, sự ghi nhớ có ý nghĩa và kể cả sựghi nhớ máy móc (học thuộc lòng) Ngôn ngữ là một phương tiện để ghi nhớ,

là một hình thức để lưu giữ những kết quả cần nhớ Nhờ ngôn ngữ con người

có thể chuyển hẳn những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc con người.Chính bằng cách này con người có thể lưu giữ và truyền đạt được những kinhnghiệm của loài người cho thế hệ sau

Đối với tư duy Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ song song Ngônngữ càng không phải là tư duy và ngược lại tư duy không phải là ngôn ngữ.Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ với tư duy được thể hiện ở chỗ tư duydùng ngôn ngữ làm công cụ, phương tiện cho mình, chính vì điều này mà tưduy của con người khác về chất so với tư duy của con vật, con người có tưduy trừu tượng, không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy trừu tượng

và khái quát được Mối quan hệ không tách rời giữa tư duy và ngôn ngữ đượcthể hiện trong ý nghĩa của các từ Mỗi từ đều có quan hệ với một lớp sự vật,hiện tượng nhất định và gọi tên lớp sự vật, hiện tượng đó Khi gọi tên các sựvật, từ tựa như thay thế chúng và nhờ đó tạo ra những điều kiện vật chất chonhững hành động hay thao tác đặc biệt đối với các vật ấy

Đối với tưởng tượng ngôn ngữ càng giữ vai trò to lớn trong tưởngtượng Nó là phương tiện để hình thành biểu đạt và duy trì các hình ảnh mớicủa tưởng tượng Ngôn ngữ giúp ta làm chính xác hóa các hình ảnh tưởng

Trang 16

tượng đang nảy sinh, tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gắn chúnglại với nhau, cố định chúng lại bằng từ và lưu giữ chúng trong trí nhớ Ngônngữ làm cho tưởng tượng trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tíchcực, có kết quả và chất lượng cao Độ tuổi 3 - 4 tuổi tưởng tượng của trẻ pháttriển cả về dạng loại và các mức độ của hình ảnh tượng tượng Hình ảnhtưởng tượng thường gắn với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởikinh nghiệm tích lũy được ở lứa tuổi này Ngôn ngữ có vai trò kích thíchtưởng tượng của trẻ phát triển.

Đối với việc giáo dục đạo đức.Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫugiáo, các cháu bắt đầu hiểu biết và lĩnh hội những khái niệm, những quy tắc,những chuẩn mực đạo đức của xã hội Tuy mới chỉ là những khái niệm banđầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định những nét tính cáchriệng biệt của mỗi con người trong tương lai Muốn cho các cháu hiểu, và lĩnhhội những khái niệm đạo đức này, chúng ta không thể thông qua những hoạtđộng cụ thể hoặc qua những sự vật hiện tượng trực quan đơn thuần, mà phải

có ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể thể hiện được đầy đủnhững nhu cầu và nguyện vọng đầy đủ của mình Cũng nhờ có ngôn ngữ màcác bậc cha mẹ, các nhà giáo dục có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ

đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu những tình cảm vànhững hình vi đạo đức trong sáng nhất

Vai trò của tiếng Anh trong đời sống trẻ thơ

Trẻ nhỏ học ngoại ngữ càng sớm càng tốt, điều này sẽ giúp trẻ hoànthiện một cách dễ dàng hơn cả 2 loại ngôn ngữ Hiện nay công nghệ ngàycàng phát triển trẻ được xem, được nghe các bài hát tiếng Anh, các câuchuyện tiếng Anh nhiều hơn, điều đó làm cho trẻ cảm thấy thú vị, hứng thúvới các bài hát tiếng Anh Trẻ lứa tuổi mầm non thích tìm tòi khám phá nhữngcái mới lạ vì vậy việc trẻ được học tiếng Anh giống như trẻ được thỏa sự

Trang 17

thích thú, đam mê của mình, trẻ được vui chơi, học hỏi trong cac bài hát,trong các câu chuyện.

Khi trẻ biết tiếng Anh sẽ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xungquanh nhiều hơn, mở rộng các mối quan hệ giao tiếp trong cuộc sống, trẻđược tiếp xúc với nhiều người nước ngoài mà đặc biệt trẻ nhỏ rất thích đượcnói chuyện với những người nước ngoài vì trẻ thấy tò mò, thấy lạ và muốnđược khám phá, đồng thời ngôn ngữ tiếng Anh giúp trẻ hoàn thiện nhân cáchmột cách tích cực hướng đến một con người hiện đại hóa, hướng đến nhữngngười công dân toàn cầu

Tiếng anh làm phong phú thêm cuộc sống của trẻ với một phạm vi mới

và mở rộng, mở mang tâm trí của trẻ bằng những ý tưởng mới, khái niệm mới

Trang 18

những âm tiết khác nhau (chuồn chuồn, xanh xanh…) Từ láy bao gồm láyđôi (tôn tốt, bối rối…), láy ba (khít khìn khịt, dửng dừng dưng…) và láy bốn(hớt hơ hớt hải, lơ thơ lẩn thẩn…)

Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với nhau,các thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập Từ ghép bao gồm từ ghépđẳng lập (đẹp tươi, to lớn, nhà cửa…) và từ ghép chính phụ (áo dài, sân bay,chia rẽ…)

đó để học tập, giao tiếp càng nhiều thì vốn từ đó càng phong phú Vì vậy, môitrường giao tiếp, học tập vô cùng quan trọng đối với việc hình thành vốn từvựng của con người

Việc phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ýnghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp

Trang 19

1.1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ học của trẻ 3 – 4 tuổi

Ngôn ngữ của trẻ mang tính hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn ngữcủa trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ratrước mắt trẻ

Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết kết nối giữa tình huốnghiện tại với quá khứ thành một văn cảnh Vốn từ của trẻ tăng lên không chỉ sốlượng mà điều quan trọng là lĩnh hội được các cấu trúc ngữ pháp đơn giản Đãhình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết… Tuynhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm nhầm

Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi:

Một nhà tâm lý học người Nga đã nghiên cứu đặc điểm phát triển vốn

từ của trẻ mẫu giáo và ông đã chỉ rỗ rằng: trong vốn từ của trẻ mẫu giáo đầutiên trẻ em được phản ánh những đặc trưng của sự vật, hiện tượng, càng lớntrẻ càng có nhiều vốn từ để thể hiện được đặc điểm của các sự vật hiện tượngxung quanh một cách chính xác bằng từ ngữ, tư duy trực quan hành động, giảithích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ chủ yếu có vốn từ biểu danh Tưduy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở lứa tuổi thứ 5, cho phép trẻ lĩnhhội ở nhiều khía cạnh khác nhau

Trẻ có ba loại vốn từ

Vốn từ chủ động là vốn từ mà chủ thể nói năng sử dụng một cách tíchcực trong giao tiếp, vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo nhỡo trong giao tiếpcủa trẻ ít hơn vốn từ thụ động

Vốn từ thụ động là vốn từ mà chủ thể nói năng có thể hiểu nhưngkhông biết cách sử dụng trong giao tiếp Vì vậy ở trẻ mẫu giáo thì giáo viênphải chuyển từ vốn từ thụ động sang vốn từ chủ động cho trẻ

Trang 20

Vốn từ cơ bản là vốn từ có tần số xuất hiện cao trong giao tiếp của trẻ.Chính vì vậy dạy trẻ phát triển ngôn ngữ là phát triển vốn từ cơ bản cho trẻ vìchỉ khi đó trẻ mới có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách tốt nhất.

Vốn từ của trẻ mẫu giáo phát triển rất nhanh theo từng độ tuổi cụ thểđược thể hiện ở các mặt như sau:

Về mặt số lượng:

Trẻ đã có sự phát triển về mặt số lượng từ các độ tuổi nhỏ Đến 3 - 4tuổi số lượng từ của trẻ cũng đạt số lượng tương đối lớn Trẻ 4 tuổi có thểnắm được gần 700 từ, phần lớn là danh từ, tính từ, động từ và các loại từ loạikhác Nhưng đa phần vẫn là danh từ, động từ và tính từ còn các loại từ loạikhác đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ Danh từ chỉ đồ dùng trong nhà, danh

từ chỉ các con vật nuôi gần gũi,…động từ chỉ hoạt động hằng ngày gần gủivới trẻ và những người xung quanh

Tốc độ tăng vốn từ của trẻ ở các độ tuổi khác nhau là khác nhau, tốc độtăng chậm dần theo độ tuổi tăng dần Cuối 2 tuổi so với đầu 3 tuổi khác nhau,đầu 4 tuổi so với cuối 4 tuổi là khác nhau tăng 40% - 58%, đến cuối 5 tuổi tốc

độ tăng vốn từ của trẻ giảm chỉ tăng từ 10% - 40%

Về mặt cơ cấu từ loại:

Trẻ 3 - 4 tuổi các từ loại bắt đầu xuất hiện dần dần, ban đầu các từ loạichủ yếu là danh từ sau đó là sự xuất hiện của động từ và tính từ, các loại từkhác thì xuất hiện muộn hơn

Về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã xuất hiện đầy đủ các loại từ Tuynhiên danh từ và tính từ xuất hiện nhiều hơn nhiều so với các loại từ loạikhác: cụ thể danh từ chiếm 38%, động từ chiếm 32%, tính từ chiếm 6,8%, đại

từ chiếm 3,1%, phó từ chiếm 7,8%, tình thái từ chiếm 4,8%, quan hệ từ chiếm1.7%, số từ chiếm 2,5%

Trang 21

Đến các lứa tuổi lớn hơn thì vốn từ của trẻ đang dần dần từng bướchình thành và hoàn thiện cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ,động từ sẽ giảm đi chỉ còn khoảng 50% và tỉ lệ tính từ và các loại từ khac sẽtăng lên Tính từ tăng đạt đến 15%, quan hệ từ tăng lên đến 5,7%, còn lại làcác loại từ khác.

Mức độ hiểu nghĩa của từ Trẻ càng lớn khả năng hiểu nghĩa của từcàng rõ ràng Đối với trẻ 4 tuổi trẻ hiểu được nghĩa biểu danh TheoFederenco (Nga) có 5 mưc độ hiểu nghĩa khái quát của từ như sau:

Mưc độ zero (mức độ không): Mọi sự vật có tên gắn với nó, trẻ hiểuđược ý nghĩa tên này: bố, mẹ, ấm, chén…

Mức độ 1: Ý nghĩa biểu niệm ở mức thấp, tên gọi chung của các sự vậtcùng loại: nhà, búp bê…

Mưc độ 2: Khái quát hơn: quả (quả chuối , quả mít, quả cam…); con(con chó, con mèo, con gà, con vịt…); xe (xe đạp, xe máy, xe ô tô…)

Mức độ 3: Ở mức độ cao hơn mà trẻ nắm được: phương tiện giao thông(ô tô, xe máy, xe đạp, máy bay, ô tô, tàu hỏa…); đồ vật (đồ chơi, đồ nấu ăn,

đồ dùng gia đình, đồ dùng học tập…)

Mức độ 4: Khái quát tối đa những khái niệm trừu tượng: chất lượng, sốlượng, hành động…những điều này học ở cấp phổ thông

Trẻ lứa tuổi nhà trẻ hiểu được ý nghĩa biểu danh (mức độ zero và mức

độ 1) Mức độ 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn

Đặc điểm ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ

Đặc điểm ngữ pháp trong lời nói của trẻ cũng thay đổi và phát triểntheo từng độ tuổi

Trẻ ở các độ tuổi nhỏ nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanhngày càng tăng, trẻ không dùng những âm bập bẹ mà đã bắt đầu nắm được

Trang 22

một số từ, câu nói của trẻ thường gắn liền với ngữ cảnh cùng với nét mặt, cửchỉ, điệu bộ của trẻ.

Cấu trúc C – V là mô hình câu chủ yếu trong lời nói của trẻ Chủ ngữthường là danh từ, ít khi là một loại từ khác Còn vị ngữ chủ yếu là động từ,danh từ ít xuất hiện, cũng đôi khi vị ngữ là tính từ

Lời nói của trẻ 3 - 4 tuổi đôi khi chưa đủ cấu trúc C - V nhưng đa phần

là trẻ đã nói được đầy đủ cấu trúc C - V, có khi câu của trẻ có nhiều chủ ngữ,

vị ngữ đẳng lập

Ví dụ: Hoa, Huyền đi học

Các loại câu mà trẻ thường nói:

Loại câu có chủ ngữ là danh từ: Thường là chỉ tên người, các sự vật,hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ

Ví dụ: Lan là bạn thân của con

Loại câu có vị ngữ là động từ (là loại câu phổ biến trong câu nói củatrẻ) chủ yếu là các hoạt động gần gũi

Ví dụ: Hoa đang chạy

Danh từ, động từ, tính từ có thể phát triển thành các nhóm danh từ,nhóm động từ, nhóm tính từ

Ví dụ: Con chim đang hót

Câu có thành phần trạng ngữ chiếm khoảng 20% trong tổng số lời nóicủa trẻ và chủ yếu là trạng ngữ chỉ thời gian, địa điểm

Ví dụ: Hôm nay con đi siêu thị

Trong lời nói của trẻ có nhiều câu đặc biệt và câu rút gọn

Ví dụ: Con – rút gọn vị ngữ

Có ạ - rút gọn chủ ngữDần dần trẻ càng lớn trẻ sử dụng các loại câu càng đa dạng, tuy nhiênvẫn còn một số hạn chế như: các hình thức câu ghép còn hạn chế, trẻ hay mắc

Trang 23

lỗi khi có câu ghép có cấu trúc phức tạp, trẻ hay mắc lỗi khi gặp các cuộc đốithoại có nội dung truyện không rõ ràng và tính biểu cảm không cao.

1.1.2 Cơ sở tâm, sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi

1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý học của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi

Tâm lý của trẻ 3 - 4 tuổi khá đặc biệt đây là giai đoạn trẻ phát triển khámạnh và rõ rệt về mọi mặt, tính tình trẻ thay đổi, có lúc rất ngoan, có lúc lạinghịch ngợm không sao bảo được, chung ta có thể hình dung tâm lý của trẻ 3

- 4 tuổi theo kiểu biến đổi không ngừng, nhiều đòi hỏi, lắm yêu sách và khóchiều Nhắc tới tuổi lên 3 các bậc cha mẹ thường nghĩ tới cụm từ “Khủnghoảng tuổi lên 3” hay “Nổi loạn tuổi lên 3”

- Ở giai đoạn này trẻ bắt đầu hình thành và thể hiện cái tôi:

Trẻ thích tự làm mọi việc, thích tự chơi theo ý mình Trẻ quan tâmnhiều hơn tới thế giới xung quanh, trẻ chú ý hơn tới các vật dụng gia đình,quan sát các hiện tượng ngoài cửa sổ, bắt trước động tác của các con vật,thích nghịch nước và chơi bóng…Trẻ biết thể hiện cảm xúc của mình như biếtbày tỏ tình cảm của mình với ông, bà, cha, mẹ, với những người xung quanh,biết thể hiện tinh thần đoàn kết với các bạn cùng chơi Trẻ thích được khen và

đã biết mình mắc lỗi khi làm sai Trẻ bắt đầu xuất hiện những khủng hoảngnhư: Đôi khi trẻ chống đối lại cha mẹ, không chịu làm theo một số yêu cầucủa người lớn Trẻ có thể la hét thậm chí đập phá nếu không được theo ýmình Trẻ bắt đầu có nhiều thắc mắc, nhiều câu hỏi hơn và không chịu thỏahiệp nếu cha mẹ trả lời qua loa Ví dụ khi bạn đang bận nấu cơm trẻ chạy vàogọi mẹ ơi con bảo, bạn trả lời con nói đi nhưng lại không quay sang nhìn trẻthì trẻ sẽ gọi tiếp và thậm chí kéo người bạn đến khi nào bạn quay lại nhìn nómới chịu nói tiếp Ở tuổi này trẻ đã biết lý luận thậm trí bắt bẻ người lớn vìvậy hãy coi trẻ như những người lớn vì trẻ muốn được như vậy

- Trẻ 3 - 4 tuổi ngôn ngữ của trẻ ở mức độ tiến bộ hơn cụ thể:

Trang 24

Vốn từ tăng nhanh, nói nhiều và nói câu dài hơn, câu phức tạp hơn,thích hát, hiểu được hầu hết các từ nói được, có thể nghe câu chuyện 15 - 20phút Nói được tên và tuổi của mình, nói được từ khoảng 250 - 500 từ Trẻ trảlời được một số câu hỏi đơn giản từ người lớn Nói được nhiều câu đơn giản

từ 5 - 6 từ và đến 4 tuổi trẻ có thể nói được những câu hoàn chỉnh, dài hơn.Trẻ thường xuyên thường xuyên nói mà ít bị mắc các lỗi như lặp từ hoặc âmtiết Bắt trước hầu hết tiếng nói của người lớn Trẻ có thể luyên thuyên suấtngày, nói đủ rõ để người lạ có thể hiểu được Kể được các câu chuyện tuântheo nhiều quy tắc ngữ pháp đơn giản, sử dụng các từ “Con”, “Của con”,

“Mình” và “Bạn” mặc dù chưa hoàn toàn chính xác Nhắc lại các từ hoặc cụm

từ mà mình được nghe thấy nhiều lần Sử dụng đại từ nhân sưng “Con”

“Mẹ”…Biết sử dụng các từ ở số nhiều “Các em nhỏ, Nhiều đồ chơi…”

Tính tự lực của trẻ bắt đầu xuất hiện, được thể hiện ở các mặt sau:

Trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi: Do trong quá trình tiếpxúc hằng ngày với các đồ vật xung quanh, giao tiếp rộng rãi với mọi người

mà trẻ cũng có ít nhiều vốn kinh nghiệm sống điều đó tạo điều kiện cho trẻ tự

do lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào vai chơi những mảnh hiện thực màmình quan tâm

Trẻ đã bắt đầu biết thiết lập các mối quan hệ rộng rãi và phong phú vớicác bạn chơi, biết chọn bạn chơi, việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầubức thiết Ở độ tuổi 3 - 4 tuổi, một “xã hội trẻ em bắt đầu được hình thànhnhưng những xã hội trẻ em này còn khác rất nhiều với xã hội người lớn Hợprồi tan, tan rồi hợp, thực và chơi, chơi và thực đó chính là nét độc đáo trong

xã hội ấy Nhưng chính từ những mối quan hệ xã hội đầu tiên trong nhóm bạn

bè này có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của trẻ về mọi mặt tâm lý,

tư duy, tình cảm, kỹ năng xã hội sau này và ảnh hưởng lớn lao đến cả cuộcđời của trẻ sau này Trong xã hội của mình trẻ vừa là sản phẩm đồng thời vừa

Trang 25

là người tạo ra những mối quan hệ đó Có thể nói mỗi đứa trẻ đều được tạo rabởi những đứa trẻ khác Trẻ 3 - 4 tuổi mong muốn được hòa mình vào nhómbạn bè để được vui chơi, được học hỏi và được nhận ra mình trong đó và điềunày có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nhân cách của trẻ sau này.

Sự phát triển đời sống tình cảm:

Trong lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạtđộng tâm lí của trẻ, đặc biệt ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thì đời sống tình cảm cómột bước chuyển biến mạnh mẽ vừa phong phú, vừa sâu sắc hơn so với lứatuổi trước đó

Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đặc biệt là mẫu giáo nhỡ, tình cảm của trẻ pháttriển mãnh liệt, đặc biệt là sự đồng cảm và tính dễ xúc cảm với con người vàvới cảnh vật xung quanh Đây cũng là thời điểm rất thuận lợi để giáo dục lòngnhân ái cho trẻ: Khi được mọi người yêu thương trẻ rất phấn khởi và ngượclại trẻ sẽ tỏ ra rất buồn khi mọi người thờ ơ trẻ, trẻ biết đồng cảm và dễ xúccảm với bạn bè xung quanh và với những người thân gần gũi với trẻ, trẻ thểhiện bằng sự quan tâm thông cảm với họ

Ví dụ: Khi cùng chơi với một nhóm bạn, có một bạn bị ngã chảy máuchân trẻ thể hiện sự lo lắng trên khuân mặt và hỏi han xem bạn có sao không

và chạy lại thưa ngay với cô giáo là bạn bị ngã

Trẻ 3 - 4 tuổi vốn từ của trẻ đang tăng rất nhanh vì vậy phát triển vốn từtiếng anh cho trẻ trong giai đoạn này là rất cần thiết, trẻ sẽ dàng tiếp thu hơn

và tiếp thu một cách hứng thú hơn vì trẻ lứa tuổi này thích khám phá và họchỏi, việc phát triển cho trẻ vốn từ tiếng anh còn giúp trẻ mở rộng các mốiquan hệ với những người nước ngoài và dần dần trẻ sẽ tiếp thu và học hỏiđược tri thức mới về văn hóa, xã hội…giúp trẻ phát triển toàn diện hơn hướngđến việc xây dựng con người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã hộitrong tương lai

Trang 26

Đặc điểm tâm lí của trẻ 3 – 4 tuổi đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ

cả về tư duy lẫn tình cảm Vì vậy giáo viên cần cung cấp các kiến thức và mởrộng hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh một cách tích cực và hiệu quảnhất để trẻ có thể khắc sâu những biểu tượng, phát huy những động cơ tíchcực và khơi dậy tình cảm mạnh mẽ của trẻ làm trẻ thêm yêu cuộc sống

1.1.2.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ 3 - 4 tuổi

Trẻ em là một thực thể đang phát triển Trẻ càng nhỏ thì tốc độ pháttriển ngày càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo và chứcnăng, chúng ta có thể quan sát thấy trẻ lớn lên từng ngày Tuy nhiên các cơquan và hệ cơ quan có các giai đoạn phát triển khác nhau chứ không giốngnhau và trùng nhau Quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan và hệ

cơ quan có tác dụng rất lớn tới các quá trình tâm lý của trẻ Vì vậy tính thíchnghi và khả năng hoạt động của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động thayđổi đó Không ngoại trừ những tác động đó trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi cũng cónhững thay đổi đáng kể về tâm lý và thay đổi của cơ quan và hệ cơ quan

Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bịđầy đủ để thực hiện một chức năng của mình Trẻ mẫu giáo nhỡ quá trình ứcchế dần phát triển, trẻ có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹxảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh

Hệ thần kinh điều khiển sự hoạt động cảu các cơ quan trong cơ thể,phối hợp điều hòa sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích nghiđược sự thay đổi thường xuyên của môi trường và có thể cải tạo nó Nhờ có

hệ thần kinh mà con người có tư duy và tâm lí Hệ thần kinh chính là cơ quanđiều khiển cơ thể như là một khối thống nhất

Sự phát triển các đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh và tăng lên theotừng độ tuổi Vì vậy trẻ mẫu giáo phát triển hệ thần kinh hơn là ở lứa tuổi nhàtrẻ Chức năng của tất cả các cơ quan trong vỏ đại não, hoạt động thần kinh

Trang 27

cao cấp được phát triển cao hơn Chức năng điều khiển của vỏ bán cầu đạinão tăng hơn so với trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy hành vi của trẻ có tính tổchức cao hơn trước Trong mối quan hệ chức năng thì hệ thần kinh mang tínhkhông ổn định nên các quá trình tâm lí diễn ra chưa đầy đủ Hệ thần kinh cómột tác động chi phối và điều tiết đối với hoạt động của cơ thể cải thiện tínhkhông cân bằng của các quá trình thần kinh Cần chú ý tới sự luôn phiên giữađộng và tĩnh trong quá trình vận động của trẻ.

Hệ vận động: Bao gồm hệ xương, cơ và khớp

Hệ xương: Trẻ chưa hình thành cốt hóa, thành phần hóa học xương củatrẻ có chứa nhiều nước và chất hữu có hơn chất vô cơ so với người lớn, nên

có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ cong gãy

Hệ cơ: Cơ của trẻ phát triển yếu Bao gồm trên 600 cơ, chiếm 42%trọng lượng cơ thể Chia thành 4 nhóm cơ chính: cơ đầu, cơ cổ, cơ mình và cơchi, hệ cơ yếu tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ mảnh, nhỏ, thành phần nướctrong cơ thể tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu cơ nhanh mệt mỏi

Vì vậy lứa tuổi này trẻ không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắpchính vì vậy giáo viên cần phải đan xen giữa các hoạt động vận động và hoạtđộng nghỉ ngơi hợp lý để trẻ không cảm thấy mệt mỏi và trẻ hoạt động mộtcách hiệu quả nhất

Khớp của trẻ còn nông, các cơ bắp xung quanh rất mềm và yếu, hệthống dây chằng còn lỏng lẻo, tính vững chắc còn yếu Vì vậy cần phải có cáchoạt động vận dộng phù hợp để giúp trẻ rèn luyện các khớp từ đó phát triểndần tính vững chắc của khớp

Hệ tuần hoàn: Là một hệ thống đường ống khép kín do tim và mạchcấu tạo thành Lồng ngực đang phát triển, tim ở tư thế thẳng giống như ngườilớn, các mạch máu rộng hơn so với người lớn Cần đa dạng các bài tập luyện

Trang 28

cho trẻ, nâng dần vận động cũng như cường độ vận động phối hợp động vàtĩnh một cách nhịp nhàng để tăng cường công năng của tim cho trẻ.

Hệ hô hấp: Phổi của trẻ lớn dần theo độ tuổi, ở trẻ 4 tuổi nhịp thở là 25– 30 lần/ phút Số nhịp thở này sẽ giảm dần theo dộ tuổi của trẻ

Trẻ sẽ không chịu được những vận động quá sức, kéo dài liên tục do bộmáy hô hấp của trẻ còn nhỏ, chưa hoàn thiện Khi cho trẻ vận động quá sức sẽlàm cho các cơ đang vận động bị thiếu ôxi Vì vậy trong quá trình vận độngcần tăng dẫn các vận động, tạo điều kiện cho cơ thể trẻ thích nghi với việctăng lượng ôxi cần thiết và ngăn ngừa được lượng ôxi quá lớn trong cơ thể

Từ những đặc điểm tâm lí trên mà người lớn cần có các nội dung vàphương pháp chăm sóc cho trẻ ăn, học và vui chơi hợp lí, khoa học, giúp cơthể trẻ được phát triển khỏe mạnh và hoạt động một cách hiệu quả nhất Đâychính là điều kiện tốt nhất để giúp trẻ có thể tham gia vào quá trình học tập,khám phá môi trường xung quanh một cách tích cực và hiệu quả

1.1.3 Kể chuyện và vai trò của kệ chuyện cho trẻ nghe trong việc phát triển ngôn ngữ

1.1.3.1 Khái niệm

Đọc và kể chuyện văn học là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, từtrước khi có chữ viết, ngôn ngữ sống được truyền qua truyền miệng từ nhữngngười kể chuyện nổi tiếng trong dân gian, nhiều thế hệ tiếp nhận được trongtuổi thơ ấu của mình những ấn tượng không bao giờ mờ phai, từ những tácphẩm nghệ thuật dân gian để lại qua cách trình bày của những người kểchuyện có tài Nhiều nhà văn qua kinh nghiệm bản thân đều nhận thấy sức tácđộng của ngôn ngữ được đọc lên theo lối nghệ thuật

Trong thời đại chúng ta nghệ thuật đọc, kể tác phẩm văn học đã ăn sâutrong cuộc sống nhờ có những phương tiện hòa nhạc, phát thanh, truyền hình,mạng internet

Trang 29

Nghệ thuật đọc và kể chuyện văn học được sử dụng rộng rãi trong côngtác giáo dục trẻ em Người lớn và các nhà giáo dục phải nhìn thấy đượcnhững tác động to lớn của ngôn ngữ nghệ thuật đối với sự phát triển toàn diệncủa trẻ và phải chú ý tớii những đặc trưng trong cách thụ cảm của các emtrước tuổi đến trường

Trẻ 3 - 4 tuổi chưa biết đọc Ngôn ngữ nghệ thuật được các em cảm thụthông qua nghe người lớn đọc và kể, vì vậy cách trình bày cảm xúc và diễncảm tác phẩm văn học có tầm quan trọng đặc biệt

1.1.3.2 Vai trò của việc kể chuyện cho trẻ nghe với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi

Những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học dành cho lứa tuổimẫu giáo:

Văn học thiếu nhi nằm trong nghệ thuật sáng tạo văn học nói chung, vìvậy nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ tuy nhiên

do đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ em nên có những đặc điểm được nhấnmạnh

Trước hết tính giáo dục được coi là một trong những đặc trưng cơ bảnnhất của văn học dành cho thiếu nhi Nó có vai trò vô cùng to lớn trong việcgiáo dục nhân cách trẻ em, về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ Tô Hoài một nhà văn

có kinh nghiệm trong các sáng tác dành cho trẻ em đã khẳng định tầm quantrọng của chức năng này: “Nội dung một tác phảm văn học viết cho thiếu nhibao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng các đức tính con người Nói thì thừacân nhắc lại giản dị, một tác phẩm chân chính có giá trị đối với tuổi thơ là mộttác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn đọc ấy”

Để có thể thực hiện tốt chức năng giáo dục, tác phẩm văn học phải thực

sự là người bạn đồng hành, đối thoại đối với trẻ Nhà văn không thể nói vớicác em bằng những lời thuyết giáo khô khan mà phải bằng hình tượng nghệ

Trang 30

thuật, bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ hiểu để khơi gợi, dẫn dắt các emtìm hiểu và khám phá thế giới Trẻ cần phải biết phân biệt được cái hay, cáiđẹp, cái dở, cái cao quý, cái thấp hèn trong cuộc sống Văn học phải mang lạicho trẻ cái đẹp, cao quý, chân thiện Tuy nhiên cũng không nên cực đoanchức năng giáo dục dành cho trẻ Không nên nghĩ rằng sau khi đọc xong làcác em có thể trở thành người tốt hay người xấu Những ảnh hưởng tới các

em là một quá trình lâu dài và bền bỉ Nó tác động một cách từ từ nhưng giátrị nhân văn của nó thì có thể tạo nên sức mạnh, ảnh hưởng sâu sắc đến sựhình thành và phát triển của con người

Nếu tính giáo dục là một đặc trưng có tính chất sống còn của văn họcthiếu nhi thì khẳ năng khơi gợi, kính thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ làmột đặc điểm không thể thiếu trong văn học viết cho các em Hơn bất cứ loạihình nghệ thuật nào, sáng tác văn học thiếu nhi phải đặc biệt quan tâm đếntâm lí của lứa tuổi chính điều này cũng làm nên sự khác biệt giữ văn họcthiếu nhi và văn học người lớn Tuổi thơ hồn nhiên, ngây thơ, tâm hồn trongsáng, dạt dào cảm xúc và trí tượng phong phú Các em cảm nhận bằng cáinhìn chân thật nhất, bầu bạn với hết thảy vạn vật thiếu nhi Chính vì vậytưởng tượng là một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm viết cho các

em Muốn vậy, nhà văn phải thực sự hòa nhập vào cuộc sống của trẻ thơ, hiểu

và sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng với trẻthơ trong các sáng tác

Văn học viết cho trẻ lứa tuổi mầm non chủ yếu là các bạn đọc còn chưabiết đọc, chưa biết viết nên ngoài những tiêu chí chung của văn học nó còn cónhững đặc điểm được nhấn mạnh, phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổinày như:

Hồn nhiên và ngây thơ

Ngắn gọn và rõ ràng

Trang 31

Giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu

Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trong sáng, rõ ràng, dễ hiểu

Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện

Ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu lắng

Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốtgóp phần quan trong vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ saunày Vì vậy việc phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi có ý nghĩa đặc biệt quantrọng

Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễdàng tiếp cận với các môn học khác như: Môn làm quen với môi trường xungquanh, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình…

Đặc biệt thông qua bộ môn làm quen với văn học như: Kể chuyện,đóng kịch sẽ giúp trẻ phát triển trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ và khả năng cảm thụcái hay, cái đẹp, cái tốt, cái xấu của mọi vật xung quanh

Vì vậy bộ môn “Cho trẻ làm quen với văn học” là bộ môn rất hay vàhấp dẫn nếu giáo viên có sự đầu tư vào bài giảng Tuy nhiên nó sẽ trở nên đơnđiệu và khô khan nếu giáo viên không có sự chuẩn bị chu đáo Trong giờ kểchuyện cho trẻ cô giáo có thể sử dụng các phương tiện khác nhau để hỗ trợcho bài giảng của mình: tranh ảnh, rối tay, các hình cắt trên bìa, loa… Để trẻtiếp thu bài học một cách tốt nhất

Thực tế cho thấy trẻ mầm non rất thích nghe kể chuyện đặc biệt lànhững câu chuyện kết thúc có hậu, những câu chuyện có các nhân vật sinhđộng, thân thiện, gần gũi với trẻ, nội dung câu chuyện phải mang tính chấtgiáo dục trẻ yêu cái thiện, cái đẹp, yêu quê hương đất nước

Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ luôn thích khám phá, tìm tòi những điềumới lạ, ngộ ngĩnh Do đó giáo viên phải luôn thay đổi hình thức dạy để trẻthực sự có hứng thú, trẻ được trực tiếp tham gia vào các hoạt động một cách

Trang 32

chủ động, tích cực, sáng tạo Trẻ phải được tự học là chính, học qua chơi, quakhám phá, qua tìm hiểu, qua trải nghiệm bằng cách sử dụng các giác quan đểkhám phá, để trẻ có thêm vốn hiểu biết cũng như phát triển vốn từ một cáchnhanh và chính xác nhất.

Khi trẻ thưởng thức một câu chuyện do cô kể, trẻ sẽ hình dung trongđầu viễn cảnh của câu chuyện đó và từng từ, từng câu của câu chuyện sẽ đượctrẻ liên tưởng một cách cụ thể Và khi trẻ được nghe cô kể chuyện kết hợp vớitranh minh họa thì trẻ càng hiểu rõ hơn về nội dung, hiểu rõ hơn ý nghĩa của

từ, câu từ đó trẻ biết thêm nhiều nghĩa của từ hơn, vốn từ của trẻ sẽ phong phúhơn và trẻ có thể sử dụng những từ ngữ đó trong hoàn cảnh cụ thể Trẻ biếtcách đặt câu hỏi và từ đó giao tiếp của trẻ cũng được mở rộng hơn, trẻ sẽ họctập được nhiều hơn

Ngoài ra đối với việc phát triển ngôn ngữ tiếng Anh cho trẻ thông qua

kể chuyện sẽ giúp trẻ hứng thú học tập, trẻ được hòa mình vào trong câuchuyện của cô trẻ sẽ hiểu nghĩa của từ tiếng anh một cách dễ dàng, và tất cảtrẻ kể cả những trẻ có mức độ tiếp thu chậm hơn cũng tập trung vào bài và cóthể tiếp thu được kiến thức mà cô muốn truyền đạt vì được nghe kể chuyện làmột phần không thể thiếu trong sở thích của trẻ

và phát triển ngôn ngữ cho trẻ

1.2.2 Đối tượng và địa bàn điều tra

Đối tượng điều tra: trẻ 3 – 4 tuổi

Trang 33

Địa bàn điều tra: Trường Mầm non Khai quang, phường Khai Quang –

xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc

1.2.3 Nội dung điều tra

Mức độ phát triển ngôn ngữ tiếng Anh của trẻ 3 – 4 tuổi tại trườngMầm non Khai Quang

1.2.4 Phương pháp điều tra

Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát hoạt động dạy của giáo viêntiếng Anh và hoạt động học của trẻ trong các tiết học tiếng Anh

Phương pháp đàm thoại và trò chuyện với trẻ để nắm được khả năngtiếng Anh của trẻ và trò chuyện với giáo viên tiếng Anh về các biện pháp,hình thức họ đã sử dụng để dạy tiếng Anh cho trẻ

1.2.5 Thời gian điều tra

Thời gian điều tra tại trường Mầm non Khai Quang từ tháng 2/2018đến giữa tháng 4/2018

1.2.6 Phân tích và đánh giá kết quả điều tra

1.2.6.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ

Trường Mầm non Khai Quang được xâu dựng, hình thành và phát triểntại thành phố Vĩnh Yên – nơi tập trung đông dân cư, có đầy đủ điều kiện kinh

tế, văn hóa, xã hội Hơn nữa Trường Mầm non Khai Quang là một trongnhững trường điểm của tỉnh Vĩnh Phúc, nên có rất nhiều phụ huynh muốn gửicon em mình đến học ở trường vì ở đây trẻ sẽ được học tập, vui chơi trongmột môi trường khá đầy đủ, thân thiện và được đảm bảo an toàn về mọi mặt

1.2.6.2 Khảo sát chung về việc thực hiện nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ tiếng anh cho trẻ 3 – 4 tuổi

Hiện nay ở trường Mầm non Khai Quang việc học tiếng Anh vẫn chưanằm trong nội dung chính của chương trình giáo dục Tuy nhiên trẻ vẫn được

Trang 34

học thêm ở các tiết buổi chiều và việc phát triển ngôn ngữ tiếng Anh vẫn đangđược các bậc phụ huynh quan tâm Ngoài ra nhà trường cũng đã liên kết vớicác trung tâm tiếng Anh để có được những giáo viên phù hợp về dạy cho cáctrẻ.

Tuy nhiên vấn đề trở ngại của các giáo viên tiếng Anh khi về dạy tạitrường đó là: Các cô giáo gặp khó khăn trong việc quản lớp, trong việc gâyhứng thú cho trẻ, đa phần các cô chỉ sử dụng cách cho trẻ xem tranh sau đóphát âm và trẻ phát âm lại nhiều lần, việc này lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ gây sựnhàm chán cho trẻ, làm khả năng tiếp thu bài học của trẻ giảm sút

Cách dạy này chỉ phù hợp với một số trẻ có khả năng tiếp thu tốt, cònnhững trẻ tiếp thu chậm hơn thì hầu hết trẻ không tập trung vào bài học màchỉ ngồi nhìn và không phát âm theo cô

Ngoài ra cô cũng sử dụng bài hát trong việc dạy tiếng Anh cho trẻnhưng khả năng hiểu nghĩa của trẻ dường như rất thấp Trẻ hát theo bài hát

mà không hiểu nghĩa của từ đó là gì và bài hát nói về điều gì

1.2.6.3 Mức độ phát triển ngôn ngữ tiếng Anh của trẻ 3 – 4 tuổi tại trường Mầm non Khai Quang

Tiêu chí đánh giá xếp loại

1 Phát âm: Phát âm rõ ràng, chính xác các từ tiếng Anh

2 Khả năng hiểu nghĩa: Trẻ hiểu nghĩa của những từ tiếng Anh mà trẻ

đã được học

3 Khả năng sử dụng: Biết sử dụng từ tiếng Anh đã học trong nhữngcâu đơn giản

Tiêu chí đánh giá mức độ tiếp thu của trẻ

Trẻ đạt được cả 3 tiêu chí trên: Tốt

Trẻ đạt được tiêu chí 1 và 2: Khá

Trẻ đạt được tiêu chí 1: Trung bình (TB)

Trang 35

Trẻ không đạt được tiêu chí nào: Yếu

Bảng 1.1 Bảng khảo sát mức độ tiếp thu vốn từ tiếng Anh của trẻ 3 – 4tuổi tại trường Mầm non Khai Quang

Trang 36

22 Đào Phương Thảo 05/03/2014 Yếu

Bảng 1.1 cho thấy: Phần lớn trẻ chỉ mới dừng lại ở mức TB có nghĩa làtrẻ mới chỉ phát âm được từ nhưng khả năng hiểu nghĩa của từ còn hạn chế vàchưa có trẻ nào có thể sử dụng được các từ đó trong những câu đơn giản vàcòn rất nhiều trẻ học tiếng Anh nhưng trẻ không tiếp thu được gì sau mỗi tiếthọc Cụ thể có 5 trên tổng số 26 trẻ chiếm 19% trẻ không tiếp thu được gì saukhi học tiếng Anh, có 14 trên tổng 26 trẻ chiếm 54% trẻ có khả năng phát âmđúng từ và có 7 trên tổng số 26 trẻ chiếm 27% trẻ có khả năng phát âm đúng

và hiểu nghĩa của từ

Nhà trường rất quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ của trẻ cũng nhưviệc học tiếng Anh của trẻ Tuy nhiên các giáo viên tiếng Anh còn gặp rấtnhiều khó khăn trong việc dạy cho trẻ trong công tác quản lý lớp vì tất cả cácgiáo viên tiếng Anh không tốt nghiệp từ mầm non Các biện pháp dạy trẻ cònchưa đa dạng, lặp đi lặp lại, dẫn đến việc trẻ khó tiếp thu kiến thức mới, mức

độ tiếp thu vẫ còn rất thấp

Trang 37

Từ những hạn chế trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu và áp dụngviệc kể chuyện cho trẻ nghe để giúp trẻ học tiếng Anh một cách đơn giản vàhiệu quả là hết sức cần thiết và có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của trẻ.Thực hiện phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyệnmột cách bài bản, có kế hoạch rõ ràng, cụ thể chắc chắn vốn từ tiếng Anh củatrẻ sẽ tốt hơn.

Trang 38

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU CHUYỆN CÓ CHỨA TỪ TIẾNG ANH ĐƠN GIẢN NHẰM PHÁT TRIỂN

Đảm bảo tính mục đích: Tăng vốn từ tiếng Anh cho trẻ

Đảm bảo phát huy tính tích cực, khả năng tư duy của trẻ

Đẩm bảo những yêu cầu của quá trình kể chuyện cho trẻ nghe

Đảm bảo phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 3-4 tuổi

Đảm bảo sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn

2.2 Cách thức xây dựng câu chuyện

Các câu chuyện được xây dựng dựa trên các tiêu chí:

Lứa tuổi: Trẻ 3 - 4 tuổi Các câu chuyện viết cho lứa tuổi 3 – 4 tuổi vìvậy nội dung câu chuyện phải phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, cácbài học giáo dục trong câu chuyện cũng cần phù hợp với độ tuổi

Chủ đề: Các câu chuyện được xây dựng dựa trên 9 chủ đề trong trườngMầm non Chủ đề động vật, chủ đề thực vật, chủ đề nước và các hiện tượng

tự nhiên, chủ đề giao thông, chủ đề bản thân, chủ đề gia đình, chủ đề nghềnghiệp, chủ đề quê hương đất nước bác Hồ, chủ đề trường Mầm non

Trang 39

Biên tập câu chuyện

Bước 1: Lựa chọn chủ đề để xây dựng câu chuyện

Bước 2: Lựa chọn những từ tiếng Anh (danh từ) thuộc chủ đề đó

Bước 3: Xác định các tuyến nhân vật dựa trên những danh từ mình lựa chọn

và xác định nội dung giáo dục cần có trong câu chuyện

Bước 4: Tiến hành xây dựng câu chuyện

Bước 5: Kiểm tra chỉnh sửa câu chuyện

2.3 Hệ thống các câu chuyện nhằm phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ Chủ đề động vật

Câu chuyện 1: Tiếng kêu của tôi

Ngày xửa ngày xưa trong một ngôi làng nọ có rất nhiều các loài độngvật cùng chung sống với nhau Tất cả đều tự hào rằng mình có một tiếng kêuhay nhất Một hôm tất cả các con vật đều tụ họp với nhau và thi nhau khoetiếng kêu của mình

Đầu tiên chú mèo hoa nhanh nhẩu nói tôi tên là Cat, khi tôi cất lên

tiếng kêu meo, meo, meo…thì cả dòng họ nhà chuột phải run sợ mà chạy

Sau đó chú Gà Trống vỗ cánh nhảy lên thật cao Tôi tên là Chicken,

khi tôi gáy ò ó o thì tất cả mọi người đều thức dậy và bắt đầu một ngày mới

Chó đốm đứng bên cạnh thấy vậy liền sủa lên gâu gâu gâu…tôi tên là

Dog, tiếng sủa của tôi làm cho những tên trộm phải sợ hãi mà chạy mất.

Chị lợn hồng lên tiếng tôi tên là Pig, tiếng kêu của tôi có thể giúp tôi

được ăn khi tôi đang đói bụng

Vịt con thì nói tôi tên là Duck, tiếng kêu của tôi có thể gọi mẹ về khi

mẹ đi xa

Tất cả thi nhau nói không ai chịu ai và thế là trời đã tối rồi mà khôngbiết là bạn nào có tiếng kêu hay nhất Cuối cùng bác gà mái xuất hiện và nói:tiếng kêu của tất cả các con đều hay và mỗi tiếng kêu lại mang một vai trò

Trang 40

nhất định và cực kỳ quan trọng Vì vậy các con phải biết sử dụng tiếng kêucủa mình thật đúng lúc và hiệu quả các con nhớ chưa nào Tất cả đề vui vẻnghe lời bác gà mái rồi quay trở về ngôi nhà của mình.

Chủ đề thực vật

Câu chuyện 2: Khu vườn của bác Gấu

Ở một ngôi làng nọ có một bác nông dân rất chăm chỉ và hiền lành Đó

chính là bác Gấu, người ta thường gọi bác với cái tên khác là Bear, bác Gấu

có một khu vườn rất rộng lớn trong đó bác trồng rất nhiều các loại cây ăn quảkhác nhau Hằng ngày bác chăm sóc các loại cây ăn quả rất chu đáo: Bác tướinước, bón phân, nhổ cỏ…vì làm việc rất chăm chỉ như vậy nên những cây ănquả trong khu vườn nhà bác đều ra quả rất sai Bác rất yêu quý các cây củamình, bác đã đặt cho mỗi loại quả của cây đó một cái tên khác rất dễ thương

Quả Táo bác đặt tên là Apple, quả Xoài bác gọi là Mango, quả Nho bác gọi là Grape, quả Chanh là Lime, quả Ổi bác đặt tên là Guava, còn quả Mận bác gọi là Plum, bác gọi quả Đào là Peach, quả Lê bác gọi là Pear…và

còn rất nhiều cái tên dễ thương nữa Nhưng điều quan trọng là bác Gấu luônluôn chắm sóc cho các cây của mình thật chu đáo để các cây ra thật nhiều quả,thơm ngon và thật tươi tốt

Chủ đề gia đình

Câu chuyện 3: Giỏ quà của Gấu con

Vào một ngày đẹp trời, bác Voi đến nhà Gấu con chơi nhưng bố mẹchú hôm nay không có nhà và chỉ có mình Gấu Con ở nhà thôi Bác Gấu đivào nhà trên tay bác có sách theo một giỏ quà rất to, giỏ quà được bọc rất cẩnthận và đẹp mắt bác đã tặng nó cho Gấu con Gấu con thích lắm nhưng chú lạikhông nỡ bóc giỏ quà ra Chú quyết định cất nó đi và để vào dịp đặc biệt thì

sẽ bóc Và hôm nay là chủ nhật là ngày đặc biệt trong tuần đối với chú, ngày

Ngày đăng: 25/09/2019, 12:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (2006), Giáo dục mần non, Tập 1, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mần non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
2. Đào Thanh Âm (2006), Giáo dục mầm non, Tập 2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
3. Đào Thanh Âm (2006), Giáo dục mầm non, Tập 3, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
4. Báo “Người Lao Động”, số ngày 25/10/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Lao Động
5. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
6. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
7. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục HàNội
Năm: 1981
8. E.I. Tikheeva (1997), Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đi học, tài liệu dịch, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đi học
Tác giả: E.I. Tikheeva
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1997
9. Nguyễn Xuân Khoa (1997), Phương phát phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương phát phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫugiáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
10. Lưu Thị Lan, Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi, Luận án tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi
11. Lã Thị Bắc Lý (2014), Văn học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trẻ em
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2014
12. Lã Thị Bắc Lý – Lê Thị Ánh Tuyết, Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ mầm non làmquen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Đinh Hồng Thái (2006), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầmnon
Tác giả: Đinh Hồng Thái
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
15. Nghuễn Ánh Tuyết, (2005), Tâm lí học lứa tuổi mầm non, NXB Giáo dục 16. Nguyễn Ánh Tuyết, (1987), Giáo dục mẫu giáo trong nhóm bạn bè, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi mầm non", NXB Giáo dục16. Nguyễn Ánh Tuyết, (1987"), Giáo dục mẫu giáo trong nhóm bạn bè
Tác giả: Nghuễn Ánh Tuyết, (2005), Tâm lí học lứa tuổi mầm non, NXB Giáo dục 16. Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục16. Nguyễn Ánh Tuyết
Năm: 1987
17. Nghuyễn Ánh Tuyết (1988), Tâm lý học trẻ em trước tuổi đi học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em trước tuổi đi học
Tác giả: Nghuyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 1988
18. Nguyễn Quang Uần (2003), Tâm lý học đại cương, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uần
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2003
19. Lê Thanh Vân (Chủ biên), Sinh lý học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
14. Nguyễn Thị Thảo (2017) Khóa luận Phát triển vốn từ tiếng việt cho trẻ 4 – 5 tuổi dân tộc Dao Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w