Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước, đầu tư tài chính được coi là mặt trận hàng đầu, là khâu then chốt trong hoạt động kinh doanh của các ngân
Trang 1-
TRẦN KIM HOÀN
QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Những quan điểm được trình bày trong luận văn là quan điểm cá nhân tác giả, không nhất thiết thể hiện quan điểm của cơ quan tác giả đang công tác Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Trần Kim Hoàn
Trang 4Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Kim Hoàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu 5
1.2 Những vấn đề cơ bản về đầu tư 9
1.2.1.Tổng quan về đầu tư 9
1.2.2 Danh mục đầu tư 13
1.3 Quản trị danh mục đầu tư 13
1.3.1 Khái niệm về quản trị danh mục đầu tư 13
1.3.2 Quy trình quản trị danh mục đầu tư 14
1.3.3 Chiến lược quản trị danh mục đầu tư 15
1.3.4 Rủi ro trong đầu tư 16
1.4 Các mô hình xác định danh mục đầu tư 20
1.4.1 Mô hình Markowitz 20
1.4.2 Mô hình định giá tài sản vốn ( CAPM) 23
1.4.3 Mô hình chỉ số đơn (mô hình chỉ số thị trường) – SIM 29
1.5 Đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư 31
1.5.1 Hiệu quả danh mục đầu tư 31
1.5.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư 33
Trang 61.5.3 Sử dụng hệ số của danh mục 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Quy trình nghiên cứu 43
2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
2.2.1 Nghiên cứu định tính 44
2.2.2 Nghiên cứu định lượng 45
2.3 Mẫu nghiên cứu 45
2.4 Phương pháp thu thập – tổng hợp tài liệu 45
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 46
2.6 Phương pháp phân tích dữ liệu 46
2.6.1 Dữ liệu 46
2.6.2 Phương pháp thống kê mô tả 48
2.7 Phương pháp tổng hợp, viết báo cáo 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG TMCP BIDV VIỆT NAM 51
3.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP BIDV 51
3.1.1 Bộ máy tổ chức 51
3.1.2 Dịch vụ kinh doanh 53
3.1.3 Nhân lực 53
3.1.4 Mạng lưới 53
3.1.5 Tầm nhìn và sứ mệnh 54
3.1.6 Đối tượng khách hàng mục tiêu 55
3.2 Các chỉ tiêu tài chính cơ bản 55
3.2.1 Kết quả kinh doanh 55
3.2.2 Các nhóm chỉ tiêu tài chính 59
Trang 73.3 Thực trạng quản trị danh mục đầu tư 60
3.3.1 Quy trình thực hiện quản trị danh mục đầu tư chứng khoán 60
3.3.2 Đánh giá hoạt động quản trị danh mục đầu tư 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG TMCP BIDV VIỆT NAM 94
4.1 Định hướng phát triển đến năm 2020 94
4.1.1 Định hướng phát triển TTCK đến năm 2020 94
4.1.2 Định hướng phát triển của ngân hàng TMCP BIDV đến năm 202095 4.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả QTDMĐT 96
4.2.1 Mở rộng nguồn vốn cho hoạt động đầu tư 96
4.2.2 Nâng cao số lượng và chất lượng cán bộ nghiên cứu, phân tích đầu tư 97
4.2.3 Hoàn thiện nghiên cứu, phân tích, xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán 98
4.2.4 Hoàn thiện quy trình quản trị danh mục đầu tư 99
4.2.5.Tăng cườngkiểm tra, kiểm soát của Ban kiểm soát 101
4.2.6 Hoàn thiện quản trị và tổ chức bộ máy hoạt động 102
4.2.7 Tăng cường quản trị rủi ro đầu tư 102
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
TÀI LIỆU TRONG NƯỚC 107
TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI 108
Trang 8i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 NHTMCP BIDV NH Thương mại cổ phẩn Đầu tư và phát triển Việt nam
3 QTDMĐT Quản trị danh mục đầu tư
4 TTCK Thị trường chứng khoán
7 BSC Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
Trang 9ii
DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Tóm tắt các chỉ số lợi nhuận của ngân hàng TMCP BIDV 48
3 Bảng 3.3 Tín hiệu mua và bán của ngân hàng TMCP BIDV 59
Trang 10iii
DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Mối quan hệ giữa số lượng chứng khoán và mức độ
5 Hình 1.5 Đường biên hiệu quả của danh mục chứng khoán 33
9 Hình 3.3 Vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ từ năm 2014-2017 49
11 Hình 3.5 So sánh tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của BIDV, VCB,
15 Hình 3.9 Diễn biến tăng giá của VN-INDEX trong năm 2017 59
Trang 111
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Để phát huy được nội lực, khuyến khích tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, các quốc gia rất cần xây dựng một hệ thống ngân hàng hoạt động
có hiệu quả cao, đặc biệt đối với một nền kinh tế như Việt Nam Ổn định để phát triển bền vững là mục tiêu mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hướng tới Một hệ thống ngân hàng được xem là phát triển không chỉ thể hiện ở quy
mô, doanh số huy động và cho vay tăng lên, thị phần mở rộng; mà còn phải thể hiện ở năng lực quản trị rủi ro hoạt động đầu tư, quản trị doanh nghiệp và tính chịu trách nhiệm cao của Ban lãnh đạo ngân hàng Việc đẩy mạnh các biện pháp xử lý hậu tái cấu trúc nhằm nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị rủi ro, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận được vốn và các dịch vụ ngân hàng với giá/phí hợp lý… là những vấn đề trọng yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước, đầu tư tài chính được coi là mặt trận hàng đầu, là khâu then chốt trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam Vấn đề
về quản trị danh mục đầu tư là yếu tố quyết định sự an toàn trong hoạt động của toàn bộ các ngân hàng thương mại Song song với điều đó, cơ hội đầu tư
và rủi ro trong đầu tư của các ngân hàng thương mại cũng gia tăng theo tỷ lệ thuận
Trước những đòi hỏi của thị trường cũng như trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động quản trị danh mục đầu tư của các ngân hàng thương mại tồn tại rất nhiều hạn chế, yếu kém Hiệu quả hoạt động đầu tư thấp, điều
đó được thể hiện lợi nhuận và khả năng sinh lợi thấp Quản trị danh mục đầu
Trang 122
tư chưa an toàn và kém hiệu quả đang là mối quan tâm không chỉ đối với các cấp lãnh đạo, với giới quản lý và điều hành của hệ thống ngân hàng mà còn là mối quan tâm của xã hội Vậy, làm thế nào để hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại Việt Nam an toàn, đạt hiệu quả và phục vụ tốt nhất cho nhu cầu phát triển thực tiễn hiện nay?
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những NHTMNN có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đã tạo dựng được nền tảng vững chắc trong quá trình phát triển Tuy nhiên, xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng cùng với những gì đã diễn ra trên thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy vấn đề quản trị danh mục đầu tư tại ngân hàng này cũng có rất nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết
Để đi tìm hiểu nguyên nhân sâu xa về những khó khăn trong vấn đề quản trị danh mục đầu tư và từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể để nâng cao chất
lượng quản trị danh mục đầu tư, đề tài “Quản trị danh mục đầu tư của ngân
hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá những vấn đề liên quan đến hoạt động quản trị danh mục đầu tư chứng khoán của Ngân hàng TMCP BIDV để đưa ra các khuyến nghị, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị danh mục đầu tư chứng khoán tại Ngân hàng TMCP BIDV trong giai đoạn tiếp theo
Các nhiệm vụ nghiên cứu:
(i) Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị danh mục đầu tư của ngân hàng thương mại;
(ii) Nghiên cứu một số lý thuyết về quản trị danh mục đầu tư;
(iii) Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP BIDV, các hoạt động kinh doanh cơ bản, xu hướng phát triển kinh doanh của Ngân hàng TMCP BIDV;
Trang 133 Câu hỏi nghiên cứu
Kết quả của đề tài nhằm đi đến trả lời các câu hỏi:
Câu hỏi 1: Quản trị danh mục đầu tư chứng khoán của ngân hàng TMCP BIDV đang diễn ra như thế nào?
Câu hỏi 2: Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị danh mục đầu
tư chứng khoán tại ngân hàng TMCP BIDV trong giai đoạn tiếp theo là gì? Bằng việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu, đề tài trình bày rõ cách thức quản trị danh mục đầu tư chứng khoán tại ngân hàng TMCP BIDV trong những năm gần đây, trong đó nhấn mạnh các điểm mạnh, điểm yếu, những tồn tại, hạn chế trong hoạt động quản trị danh mục đầu tư Thông qua những kết quả nghiên cứu này, tác giả sẽ đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong quản trị danh mục đầu tư, phòng ngừa các rủi ro tiềm tàng phục vụ hoạt động tìm kiếm lợi nhuận của ngân hàng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là hoạt động quản trị danh mục đầu tư đang được áp dụng tại ngân hàng TMCP BIDV
- Phạm vi nghiên cứu: Từ năm 2014 đến năm 2017 Khoảng thời gian này
bao gồm cả thời gian thị trường tài chính Việt Nam nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam có những biến động nhất định do sự phát triển quá nóng của nền kinh tế Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ giới hạn
Trang 144
trong hoạt động quản trị danh mục đầu tư chứng khoán của ngân hàng TMCP BIDV để phân tích cụ thể, rõ ràng mọi mặt của vấn đề
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chương cụ thể như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị danh mục đầu tư của Ngân hàng thương mại
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng quản trị danh mục đầu tư của Ngân hàng TMCP BIDV Chương 4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị danh mục đầu tư của Ngân hàng TMCP BIDV Việt Nam
Trang 155
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Hoạt động đầu tư của ngân hàng chỉ mang lại hiệu quả khi ngân hàng làm tốt được vấn đề quản trị danh mục đầu tư Nghiên cứu quản trị danh mục đầu tư của các ngân hàng thương mại góp phần quan trọng trong quản lý rủi
ro, giúp ngân hàng nhận biết rủi ro từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư
Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể kể đến như:
- Tác giả Trần Thị Thùy Linh (2016) với nghiên cứu “Đánh giá hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam”– Luận văn Thạc sỹ Tài chính Ngân hàng, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu đưa ra những lý luận cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của Qũy đầu tư Chứng khoán; các hình thức tồn tại và cơ chế hoạt động, phương thức vận hành của các Qũy đầu tư Chứng khoán; thực tiễn phát triển của mô hình Qũy đầu tư trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng tình hình phát triển của TTCK Việt Nam
và Qũy đầu tư trong thời gian qua thông qua phân tích những điều kiện thuận lợi và hạn chế của các hoạt động đầu tư diễn ra trên thị trường Từ đó, tác giả gợi ý xu hướng đầu tư của các QĐT và định hướng của thị trường quỹ trong giai đoạn sắp tới
- Tác giả Trần Văn Trí (2015) với nghiên cứu “Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán ở Việt Nam” – Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Ngân hàng Luận án đã trình bày về ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại trong việc xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả cho rằng việc nghiên cứu và ứng dụng
Trang 16- Tác giả Nguyễn Văn Hướng (2015) với nghiên cứu “Phát triển hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại công ty chứng khoán Ngân hàng Đông Nam Á” - Luận văn Thạc sỹ Tài chính Ngân hàng, Đại học Kinh tế Quốc dân Tác giả nêu lên những vấn đề cơ bản về hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán của công ty chứng khoán Tiếp đến, tác giả đi sâu phân tích thực trạng hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại một công ty chứng khoán Cụ thể là công
ty chứng khoán ngân hàng Đông Nam Á Từ những thực trạng về hoạt động
tư vấn đầu tư chứng khoán đó mà tác giả đưa ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán giúp các công ty chứng khoán tháo bỏ những khó khăn trong quá trình triển khai hoạt động
- Tác giả Hà Thị Đoan Trang (2015) với nghiên cứu: “Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam”- Luận ánTiến sỹ kinh
tế, Học viện Tài chính Nghiên cứu đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, những quyền lợi nào cần được bảo vệ cũng như các phương thức bảo vệ hiệu quả Luận án đã lập ra các tiêu chí đánh giá mức độ bảo về quyền lợi nhà đầu tư, từ đó tiến hành chấm điểm và đánh giá được mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu trên TTCK Việt Nam Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn thì nghiên cứu đưa ra
Trang 17- Tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh Châm (2013) với nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động quản trị đầu tư trong hệ thống ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn từ năm 2009-2012” – Luận văn Thạc sỹ Tài chính Ngân hàng, Đại học Đà Nẵng Tác giả đưa ra các lý thuyết về đầu tư cơ bản,
lý thuyết về xây dựng và lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu, xây dựng đường biên hiệu quả và lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán tối ưu tại thị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó, tác giả phân tích, đánh giá các hoạt động đầu
tư của một số ngân hàng TMCP ở Việt Nam giai đoạn 2009-2012
- Tác giả Võ Thị Thúy Anh (2011) với nghiên cứu: “Vận dụng mô hình Markowitz trong việc xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán tại thị trường chứng khoán Việt Nam”- Luận văn Thạc sỹ Tài chính Ngân hàng, Đại học Đà Nẵng Nghiên cứu đưa ra một số nội dung cơ bản về danh mục đầu tư chứng khoán, mô hình Markowitz và xây dựng DMĐT CK theo mô hình Markowitz Thêm vào đó, tác giả đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư theo danh mục thị trường chứng khoán Việt Nam và khả năng vận dụng mô hình Markowitz trên thị trường chứng khoán Việt Nam để xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán
- Tác giả Phạm Thị Hải Ly (2008) với nghiên cứu: “Lập danh mục đầu tư các cổ phiếu ngành bất động sản trên thị trường Việt Nam”- Luận văn Thạc sỹ Tài chính Ngân hàng, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Luận văn
Trang 188
dựa trên các thông tin, số liệu thu thập được và kết hợp các lý thuyết về TTCK Việt Nam để đưa ra một danh mục đầu tư tối ưu ngành bất động sản với hai mục tiêu khác nhau trên cơ sở thuật toán EGP, mô hình chỉ số đơn và
mô hình CAPM danh mục tối ưu tại thời điểm 30/12/2007 Danh mục tối ưu chỉ tồn tại trong một thời điểm nhất định do các cổ phiếu luôn luôn biến đổi nên nhà quản lý danh mục cần phải theo dõi và điều chỉnh thường xuyên trên
cơ sở phương pháp đã được xây dựng
- Tác giả Lê Thị Hoàng Anh (2007) với nghiên cứu “Phát triển hoạt động quản lý danh mục đầu tư tại công ty chứng khoánNgân hàng Công thương Việt Nam”– Luận văn Thạc sỹ Tài chính và Đầu tư, Học viện Tài chính liên kết với Trường Đại học Greenwich Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ của CTCK với hoạt động nhận vốn ủy thác của khách hàng, trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý thuyết đầu tư theo danh mục, QLDM ĐT Tuy nhiên luận văn không trình bày cụ thể chi tiết về mặt kỹ thuật toán được áp dụng trong hoạt động QLDMĐT Về thực tiễn nghiên cứu: vấn đề được nghiên cứu là hoạt động QLDMĐT tại CTCK NH Công Thương hiện nay trong gần hai năm từ tháng 9 năm 2004 đến tháng 3 năm 2006
Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quản trị danh mục đầu tư tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt nam BIDV là một trong những NHTMNN có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đã tạo dựng được nền tảng vững chắc trong quá trình phát triển Tuy nhiên, vấn đề quản trị danh mục đầu tư tại ngân hàng này vẫn chưa thực sự hiệu quả và đem lại lợi nhuận cao như các hoạt động kinh doanh khác Bởi vậy, đề tài này có ý nghĩa thiết thực đối với ngân hàng TMCP BIDV nói riêng và hệ thống các ngân hàng TMCPNN nói chung Nghiên cứu đề tài không hoàn toàn trùng lắp với các công trình đã công bố
Trang 199
1.2 Những vấn đề cơ bản về đầu tƣ
1.2.1.Tổng quan về đầu tư
1.2.1.1 Khái niệm đầu tư
Tác giả Frank K.Reilly (2011) định nghĩa: “Đầu tư là sự trao đổi một số
tiền hiện tại trong một khoảng thời gian để thu về một khoản tiền lớn hơn trong tương lai mà có thể bù đắp cho nhà đầu tư về: (1) Thời gian mà số tiền được đem trao đổi, (2) Tỷ lệ lạm phát dự tính, (3) Rủi ro thanh toán”
Tác giả Smt.Greeshma (2011)định nghĩa:“Đầu tư là việc chấp nhận bỏ
đi việc tiêu dùng một số tiền trong hiện tại để có được một số tiền trong tương lai (bao gồm số tiền gốc và số tiền lãi thu về như lãi suất, cổ tức, chênh lệch giá…)”
Tác giả Bùi Xuân Phong (2006) định nghĩa: “Đầu tư là hoạt động sử
dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội”
Qua nghiên cứu,tác giả xin đưa ra khái niệm đầu tư được hiểu xuyên suốt luận văn như sau:
“Đầu tư là việc chủ thể bỏ tiền ra trong một khoảng thời gian nhất định
với hy vọng thu về với lượng tiền lớn hơn ban đầu (chấp nhận bỏ đi tiêu dùng trong hiện tại để có được một số tiền lớn hơn trong tương lai) với mức độ rủi
ro thấp nhất có thể”
1.2.1.2 Các loại hình đầu tư cơ bản
- Đầu tư tài sản thực và đầu tư tài sản tài chính:
+ Đầu tư tài sản thực là việc các nhà đầu tư thực hiện việc bỏ vốn vào các tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị…sau đó tiến hành sản xuất thu được giá trị thặng dư
+ Đầu tư tài sản tài chính (đầu tư tài chính) là việc các nhà đầu tư cá
Trang 2010
nhân hoặc có tổ chức thực hiện việc bỏ vốn để sở hữu các loại giấy tờ có giá hoặc bút toán ghi sổ như là trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, góp vốn liên doanh, với mục đích thu được các khoản lợi từ những hàng hoá đầu tư đó
- Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:
+ Đầu tư trực tiếp là việc các nhà đầu tư trực tiếp bỏ vốn vào tài sản thực đồng thời thực hiện điều hành giám sát quản lý hoạt động đầu tư
+ Đầu tư gián tiếp là việc các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư thông qua một tổ chức trung gian như Ngân hàng, Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính, Quỹ đầu tư…để hưởng lợi tức, không trực tiếp tham gia vào quá trình điều hành quản lý hoạt động đầu tư
Đối với các ngân hàng thương mại,hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính sau khi huy động được một cách có hiệu quả, an toàn đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng.Việc đưa ra quyết định đầu tư phụ thuộc vào mong muốn tìm kiếm lợi nhuận và khả năng chấp nhận rủi ro của từng ngân hàng Một số ngân hàng chấp nhận rủi ro cao bởi họ mong muốn có được lợi nhuận cao Thông thường những ngân hàng kiểu này thích đầu tư vào cổ phiếu, chứng khoán phái sinh, đầu tư các dự án bất động sản… Bên cạnh đó cũng có những ngân hàng thích sự an toàn, tức là chỉ chấp nhận một mức rủi ro thấp với một mức sinh lời thấp Thông thường những ngân hàng này sẽ đầu tư vào trái phiếu, bảo hiểm… Nhưng nếu chỉ tập trung vào đầu tư trên một kênh nào đó, ngân hàng rất có thể sẽ rơi vào tình trạng “được ăn cả, ngã về không” Ngân hàng có thể thu được một món lời đáng kể nếu việc đầu
tư thuận lợi, thị trường phát triển theo đúng hướng đầu tư tính toán Ngược lại, cũng có thể ngân hàng sẽ bị mất toàn bộ lợi nhuận dự tính thậm chí thua
lỗ trầm trọng nếu việc đầu tư gặp phải khó khăn, thị trường phát triển không theo đúng hướng mà đã dự đoán Qua đây cho thấy, nếu ngân hàng đầu tư riêng lẻ thì lợi ích mang lại sẽ không cao và đây không phải là một phương án
Trang 21Chứng khoán là một loại giấy tờ được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một Công ty cổ phần (Bạch Đức Hiển, 2006)
Phân loại chứng khoán:
- Phân loại chứng khoán theo người phát hành
+ Chứng khoán do chính phủ và chính quyền địa phương cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phát hành Chính phủ phát hành CK này để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngân sách trong khi chính quyền địa phương phát hành
CK nhằm huy động vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương
+ Chứng khoán do doanh nghiệp phát hành để tăng thêm vốn vào hoạt động kinh doanh
+ Chứng khoán do ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành nhằm tăng thêm vốn hoạt động
- Phân loại chứng khoán theo lợi tức
+ Chứng khoán có lãi suất cố định: là loại chứng khoán mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ % cố định theo mệnh giá
+ Chứng khoán có lãi suất biến đổi: là loại chứng khoán mà lợi tức được trả trong các kỳ là khác nhau
+ Chứng khoán có lãi suất bằng 0: là loại chứng khoán người mua không
Trang 2212
nhận được lãi nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá và được hoàn trả số tiền bằng mệnh giá khi đáo hạn
- Phân loại chứng khoán theo mức đảm bảo thanh khoản
+ Chứng khoán đảm bảo: là loại chứng khoán mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành Khi người phát hành mất khả năng thanh toán tiền lãi hoặc trả tiền gốc thì người nắm giữ loại chứng khoán này có quyền bán tài sản đó để thu hồi số tiền người phát hành nợ
+ Chứng khoán có tài sản cầm cố: là loại chứng khoán bảo đảm bằng việc người phát hành cầm cố một bất động sản để đảm bảo việc thanh toán cho người nắm giữ chứng khoán
Đặc điểm của chứng khoán
+ Tính thanh khoản là khả năng chuyển chứng khoán nắm giữ thành tiền
mặt Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảm sút giá trị tài sản do chuyển đổi Chứng khoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản như hàng tồn kho, nhà xưởng, trang thiết bị máy móc….Tính thanh khoản thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên thị trường
+ Tính rủi ro: giá trị của chứng khoán chịu tác động lớn của rủi ro, bao
gồm rủi ro hệ thống và rủi ro không có hệ thống Tính rủi ro là một trong những đặc trưng căn bản nhất của tài sản tài chính do vậy thu thập kỳ vọng khi đầu tư vào tài sản này có mối quan hệ mật thiết với rủi ro
+ Tính sinh lợi: chứng khoán là một tài sản tài chính Nhà đầu tư sở hữu
CK với mong muốn nhận được thu nhập lớn hơn trong tương lai, thu nhập này được bảo đảm bằng lợi tức được chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường Khả năng sinh lời bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài sản, thể hiện mức chấp nhận rủi ro cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn
Trang 2313
1.2.2 Danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư chứng khoán là các khoản đầu tư của một cá nhân hoặc tổ chức vào việc nắm giữ một hoặc nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, đầu tư bất động sản, tài sản tương đương tiền hoặc các tài sản khác.(Trần Quốc Tuấn, 2014)
Thị trường tài chính thường xuyên biến động và chịu tác động bởi “hiệu ứng tâm lý đám đông” hay “tâm lý bầy đàn” Do các ngân hàng thương mại khó có thể tính toán chính xác hướng phát triển của thị trường nên việc lựa chọn đầu tư theo danh mục là rất cần thiết Bên cạnh đó, thị trường tài chính phát triển tạo ra nhiều loại tài sản tài chính, đây chính là cơ hội để các ngân hàng thương mại đa dạng hóa đầu tư, lựa chọn những danh mục phù hợp với điều kiện của ngân hàng mình Ví dụ: Ngân hàng có thể chia nhỏ đầu tư vào
cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ phái sinh hoặc có thể cùng một lúc đầu tư vào 3,4 mã cổ phiếu khác nhauv.v
Mục đích của việc đầu tư theo danh mục là giảm thiểu rủi ro bằng việc
đa dạng hóa danh mục đầu tư Dựa trên cơ sở các tài sản đầu tư, ngân hàng sẽ lập một danh mục đầu tư bao gồm các tài sản khác nhau Trên nguyên tắc là
“không bỏ trứng vào một giỏ”, ngân hàng sẽ tạo ra một danh mục có rủi ro thấp nhất bằng với rủi ro của thị trường (rủi ro hệ thống) Khi đó, ngân hàng vẫn đạt được ở tại mức lợi nhuận kỳ vọng
1.3 Quản trị danh mục đầu tƣ
1.3.1 Khái niệm về quản trị danh mục đầu tư
Quản trị danh mục đầu tư được hiểu là cách phân bổ tài sản đầu tư nhằm đạt được mức lợi nhuận dài hạn cao nhất với một mức rủi ro thấp nhất
có thể Tuy nhiên trong quá trình đầu tư, người quản lý có thể thay đổi các tỷ
lệ đã định này nhằm tận dụng cơ hội xuất hiện tại thời điểm đó nhằm đạt được mức lợi tức cao hơn nữa Ví dụ, nếu người quản lý nhận định rằng triển vọng
Trang 24Tác giả Phạm Nhật Kiều và Nguyễn Anh Vũ (2016) đã có định nghĩa rất
chính xác về QTDMĐT như sau: “Quản trị danh mục đầu tư của ngân hàng
là việc xây dựng một danh mục các loại chứng khoán, tài sản đầu tư đáp ứng tốt nhất nhu cầu của ngân hàng và sau đó thực hiện theo dõi điều chỉnh các danh mục này nhằm đạt được những mục tiêu đầu tư đề ra” Như vậy, trong
từng quyết định đầu tư, yếu tố quan trọng mà ngân hàng đặc biệt quan tâm đến là mức độ rủi ro mà ngân hàng chấp nhận được Đây cũng chính là cơ sở
để thực hiện quản trị danh mục đầu tư, quản lý quỹ xác định danh mục đầu tư sao cho lợi tức thu được là tối ưu với rủi ro không vượt quá mức chấp nhận đã định trước
1.3.2 Quy trình quản trị danh mục đầu tư
Quản trị danh mục đầu tư là quá trình liên tục và có hệ thống gồm 4 bước:
- Thứ nhất, xác định mục tiêu đầu tư Trọng tâm của việc xác định mục tiêu là xác định rõ mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của chủ đầu tư và mức độ lợi nhuận mong đợi tương thích với mức độ rủi ro đó
- Thứ hai, xây dựng các chiến lược phù hợp với mục tiêu bao gồm việc lập các tiêu chuẩn và phân bổ đầu tư
- Thứ ba, giám sát theo dõi những diễn biến giá cả tương đối của chứng khoán trên thị trường, cả mức độ rủi ro và lợi nhuận mong đợi
- Thứ tư, điều chỉnh danh mục đầu tư phù hợp với diễn biến của thị trường và mục tiêu của người đầu tư
Trang 2515
1.3.3 Chiến lược quản trị danh mục đầu tư
Lựa chọn chiến lược đầu tư là một khâu quan trọng trong quy trình quản trị danh mục đầu tư Chiến lược đầu tư là cầu nối truyền dẫn mục tiêu đầu tư và chính sách phân bổ tài sản đến công đoạn thực hiện cụ thể là lựa chọn chứng khoán Việc lựa chọn một chiến lược quản trị danh mục đầu tư có hiệu quả sẽ là bước đi quan trọng để tiến hành xây dựng danh mục đầu tư và toàn bộ quá trình điều chỉnh danh mục đầu tư sau đó Hai chiến lược được nhắc tới phổ biến nhất là chiến lược QTDMĐT chủ động và chiến lược QTDMĐT thụ động hay sự phối hợp giữa hai chiến lược này
- Chiến lược QTDMĐT thụ động: được hiểu một cách đơn giản nhất là
chiến lược mua và nắm giữ CK Nhà đầu tư sẽ mua và nắm giữ chứng khoán trong một thời gian dài, trong suốt thời gian đó họ hầu như không điều chỉnh hoặc chỉ điều chỉnh một cách tối thiểu danh mục đầu tư Chiến lược thụ động
có cơ sở là lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis) Lý thuyết này cho rằng thị trường là hiệu quả, giá cả thị trường của các cổ phiếu luôn hợp lý vàphản ánh một cách nhanh chóng tất cả thông tin liên quan đến
cổ phiếu đó, thị trường là một cơ chế định giá hiệu quả và do đó không tồn tại các chứng khoán bị định giá sai Do vậy, không cần phải bỏ công tìm kiếm các chứng khoán bị định giá sai và mua bán chứng khoán một cách chủ động Giả thuyết về thị trường hiệu quả bao gồm ba cấp độ:
+ EMH cấp thấp Khi giá chứng khoán phản ánh toàn bộ các thông tin
trong quá khứ
+EMH cấp trung Khi giá chứng khoán không những phản ánh toàn bộ
thông tin trong quá khứ mà còn phản ánh các thông tin ở hiện tại như: tình hình sản xuất của công ty, cơ cấu tài sản của công ty…
+ EMH cấp cao Giá chứng khoán phản ánh mọi thông tin của công ty
không những ở trong quá khứ mà cả thông tin nội bộ không được công bố
Trang 2616
Chiến lược QTDMĐT thụ động tiêu biểu nhất chính là chiến lược khớp chỉ số (Match - Index - Strategy) Một nhà quản lý danh mục đầu tư theo chiến lược bị động thì sẽ có xu hướng lựa chọn đầu tư theo những thống kê của thị trường Chiến lược QTDMĐT bị động dựa vào việc đa dạng hóa danh mục để giảm thiểu rủi ro
Tuy nhiên, thị trường hiệu quả như thế nào nữa thì việc đầu tư vào cổ phiếu vẫn chứa đựng những rủi ro Vì vậy, chỉ còn cách là nhà đầu tư phải giảm thiểu rủi ro Đó chính là đa dạng hóa, rủi ro đầu tư chỉ bằng rủi ro của toàn thị trường – là rủi ro mà nhà đầu tư kỳ vọng
- Chiến lược QTDMĐT chủ động: Ngược lại với chiến lược thụ động,
chiến lược chủ động luôn chú trọng sử dụng các chỉ số kinh tế, tài chính, cùng các công cụ khác nhau để đưa ra các dự báo về thị trường và định giá chứng khoán từ đó mua bán chứng khoán một cách chủ động để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn so với việc chỉ mua và nắm giữ chứng khoán Chiến lược đầu tư chủ động bao gồm việc dự đoán xu hướng thay đổi về hiệu quả của các loại tài sản đầu tư khác nhau trong tương lại để lựa chọn được các tài sản mang lại hiệu quả cao Ví dụ như nếu nhà quản lý danh mục đầu tư dự đoán lãi suất trái phiếu trên thị trường trong thời gian tới sẽ tăng, do đó giá trái phiếu giảm thì
họ sẽ bán những trái phiếu họ đang nắm giữ Một nhà quản lý danh mục đầu
tư theo chiến lược chủ động còn xác định liệu việc đầu tư sẽ tập trung chủ yếu vào những công ty có vốn lớn hay đầu tư vào cổ phiếu của các công ty mà được kỳ vọng có khả năng tăng trưởng cao.Trên thực tế nhiều quỹ đầu tư được quản lý theo hướng kết hợp cả hai chiến lược chủ động và bị động
1.3.4 Rủi ro trong đầu tư
Trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư luôn mong muốn đạt được mức lợi suất mà mình kỳ vọng trong giới hạn rủi ro mà nhà đầu tư chấp nhận được Do đó, mỗi nhà đầu tư khác nhau sẽ có một mức e ngại rủi ro khác nhau, tương ứng với các mức lợi nhuận kỳ vọng
Trang 2717
- Mức e ngại rủi ro và hàm hữu dụng của nhà đầu tư
Trên thực tế, mỗi nhà đầu tư đều có mức độ e ngại rủi ro khác nhau Các nhà kinh tế học hiện đại đã chứng minh được các mức độ e ngại của từng nhà đầu tư có thể lượng hóa được Đó là hàm hữu dụng của từng nhà đầu tư Để xác định được các dạng hàm hữu dụng này, các nhà phân tích phải tiến hành khảo sát, nghiên cứu đối với từng nhà đầu tư Với các số liệu thống kê được, các nhà phân tích ước lượng được các hàm hữu dụng của từng nhà đầu tư Các nhà phân tích tài chính đưa ra công thức thể hiện mối tương quan giữa mức độ rủi ro, lợi suất kỳ vọng và hàm hữu dụng của nhà đầu tư Giá trị của hàm hữu dụng tăng lên khi lợi suất kỳ vọng của nhà đầu tư tăng lên, đồng thời mức độ rủi ro tăng làm cho giá trị của hàm hữu dụng giảm Khi nhà đầu
tư tiến hành lựa chọn đầu tư, sẽ lựa chọn phương án đầu tư nào có cặp lợi nhuận và rủi ro đem lại giá trị của hàm hữu dùng lớn nhất
Để ý rằng, trong phương trình hàm hữu dụng trên, đối với các danh mục đầu tư không có rủi ro thì khi đó, giá trị của hàm hữu dụng chính là giá trị của lợi suất kỳ vọng (hay ước tính) của nhà đầu tư: U = E ( r )
Trong phân tích để tiến hành đầu tư, giá trị của hàm hữu dụng của danh mục đầu tư còn gọi là tỷ lệ tương đương chắc chắn (kí hiệu là CE) của danh mục đầu tư
Tỷ lệ tương đương chắc chắn của danh mục đầu tư là mức tỷ suất lợi nhuận đạt được chắc chắn của một danh mục đầu tư không rủi ro được nhà đầu tư chấp nhận và được xem xét là có mức độ hấp dẫn tương đương với danh mục đầu tư có rủi ro
Trên thực tế, đối với các nhà đầu tư thờ ơ với rủi ro thì họ lựa chọn quyết định đầu tư dựa trên cơ sở là mức độ lợi nhuận, lợi nhuận càng cao càng tốt bất cứ mức độ rủi ro như thế nào Nhưng đa số các nhà đầu tư trên thị trường
là e ngại rủi ro Do đó, việc xác định danh mục đầu tư đối với các nhà phân
Trang 2818
tích là dựa theo quy luật số đông, tức là lập danh mục đầu tư đối với các nhà đầu tư e ngại rủi ro
- Lợi suất và rủi ro của danh mục đầu tư
Lợi suất kỳ vọng của một danh mục đầu tư là bình quân gia quyền (theo
tỷ trọng của từng loại tài sản) của lợi suất thu được từ mỗi chứng khoán trong danh mục đầu tư Hay nói cách khác, lợi suất kỳ vọng của một danh mục đầu
tư là bình quân có trọng số của các tài sản có trong danh mục đó
E(rp) = W1 E(r1) + W2 E(r2) +…….+ Wn E(rn) với danh mục có n tài sản Trong đó: W là tỷ trọng từng loại tài sản
E(r) là lợi suất thu được từ CK
Rủi ro của danh mục đầu tư là khả năng biến động trong tương lai của lợi nhuận thu được từ danh mục đầu tư
- Nguyên lý đa dạng hóa danh mục đầu tư
Quá trình phân tán và tối thiểu hóa rủi ro là một hình thức đa dạng hóa Theo đó, các nhà đầu tư nên đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau để tạo thành một danh mục đầu tư sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục
sẽ được giới hạn ở mức nhỏ nhất Nghĩa là “không nên bỏ trứng vào một giỏ” Mỗi một loại chứng khoán đều tiểm ẩn hai loại rủi ro là rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Rủi ro hệ thống là rủi ro do thị trường gây ra và ảnh hưởng đến tất cả các chứng khoán trên thị trường Do vậy, rủi ro hệ thống là rủi ro không thể tránh được bằng hình thức đa dạng hóa Ngược lại, rủi ro phi
hệ thống là loại rủi ro bắt nguồn từ chính tổ chức phát hành Do đó, có thể hạn chế được bằng cách đa dạng hóa đầu tư Điều này là do nguyên lý khi hai hay nhiều chứng khoán tham gia tạo thành một danh mục đầu tư, các chứng khoán này sẽ tương tác với nhau tạo thành một kết quả chung cho cả danh mục Mức
độ rủi ro là cao hay thấp là phụ thuộc vào mối tương tác của các chứng khoán trong danh mục
Trang 2919
Như vậy, rủi ro có hệ thống là một trong những yếu tố quyết định mức doanh lợi dự kiến của một tài sản, vì thế chúng ta cần biết cách thức đo mức
độ rủi ro có hệ thống cho các khoản đầu tư khác nhau Thước đo thường được
sử dụng là hệ số Bêta (β) Đây là lý do vì sao khi phân tích rủi ro của từng cổ phiếu riêng lẻ để đưa vào danh mục đầu tư, nhà đầu tư cần phải quan tâm nhiều tới rủi ro hệ thống
Hệ số β cho ta biết mức độ rủi ro có hệ thống của một loại tài sản là bao nhiêu Theo định nghĩa này, một tài sản nào đó có β = 0,5 nghĩa là: mức độ rủi
ro có hệ thống của tài sản này bằng một nửa so với mức rủi ro trung bình của
một tài sản Cách xác định rủi ro hệ thống được xác định dựa vào mô hình
CAPM
(Nguồn: Võ Thị Thúy Anh, 2015.)
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa số lượng chứng khoán và mức độ rủi ro
Đồ thị trên thể hiện mối quan hệ giữa số lượng chứng khoán trong danh mục và rủi ro của danh mục tổng rủi ro của danh mục bằng tổng của rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Mối quan hệ này là ngược chiều nhau Khi số lượng chứng khoán càng nhiều thì rủi ro phi hệ thống của danh mục càng nhỏ, kéo theo rủi ro của danh mục càng nhỏ Rủi ro này sẽ có rủi ro bằng với rủi ro
Trang 3020
của thị trường Vì vậy, đa dạng hóa giúp giảm thiểu rủi ro, tuy nhiên các danh
mục vẫn phải chịu một mức rủi ro tiềm ẩn đó là rủi ro hệ thống
1.4 Các mô hình xác định danh mục đầu tƣ
1.4.1 Mô hình Markowitz
Thực tế, các nhà đầu tư luôn quan tâm là nên đầu tư như thế nào để danh mục đầu tư được đa dạng hóa Để làm được những điều đó, các nhà đầu tư cần phải xác định được mối quan hệ giữa giá và lợi suất của tài sản có trong danh mục đầu tư cũng như bản chất của từng tài sản
Trên nguyên tắc cân bằng cung cầu trên thị trường để phân tích và định giá tài sản, Harry Markowitz mới đưa ra một mô hình chính thức trong việc lựa chọn danh mục đầu tư, trong đó phản ánh nguyên tắc về đa dạng hóa rủi
ro, từ đó mở đường để ông nhận giải Nobel về kinh tế vào năm 1990 Mô hình của ông chính là bước đi đầu tiên của quản lý danh mục đầu tư: xác định một
hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả, tập hợp các danh mục này sẽ có một đường cong biên hiệu quả các danh mục chứng khoán rủi ro, thường được gọi
là đường cong biên hiệu quả
Xác định biên hiệu quả
Khi nhà đầu tư mong muốn đạt được mức lợi nhuận mong đợi ở mức rủi
ro thấp nhất Khi đó nhà đầu tư quyết định đầu tư tại danh mục MVP
(Nguồn: Võ Thị Thúy Anh, 2015.)
Hình 1.2 Xác định biên hiệu quả
MVP
P B/A
E(rp)
S
Trang 31- Biên hiệu quả
Có thể thấy rằng không người đầu tư nào muốn đầu tư vào danh mục nằm trong đoạn S đến MVP vì rõ ràng các danh mục từ MVP trở lên chiếm ưu thế hơn Ta gọi đoạn cong từ MVP trở lên là đường cong hiệu quả (efficient set) hay còn gọi là biên hiệu quả hay biên hiệu dụng của danh mục đầu tư gồm tài sản rủi ro
Hiệu quả của đa dạng hóa danh mục thể hiện qua độ cong của đường hiệu quả Độ cong càng tăng khi hệ số tương quan càng giảm Đường hiệu quả cong nhất khi hệ số tương quan bằng -1
Trên thực tế, hầu hết các cặp chứng khoán có hệ số tương quan dương, nghĩa là chúng dao động cùng chiều với nhau Các danh mục đầu tư được chọn do chủ quan của từng người đầu tư, mỗi người có cách suy nghĩ khác nhau, cách lựa chọn khác nhau và có độ e ngại rủi ro khác nhau
Chú ý rằng tất cả các chứng khoán đơn lẻ đều nằm ở phía bên phải đường cong biên Điều này có nghĩa là các danh mục đầu tư chỉ có một chứng khoán riêng lẻ đều không hiệu quả Việc đa dạng hóa đầu tư sẽ tạo đựơc các danh mục có lợi tức cao hơn và rủi ro thấp hơn
Trang 3222
Tất cả các danh mục nằm ở phần trên của đường cong biên (kể từ đỉnh của đường cong) là các danh mục được kết hợp rủi ro – lợi tức tốt nhất, là các danh mục đầu tư tối ưu Phần đường cong biên này được gọi là đường cong biên hiệu quả Với bất kỳ danh mục nằm trên phần dưới của đường cong biên,
sẽ có danh mục khác có cùng mức rủi ro mà lại có lợi tức lớn hơn nhiều Do vậy phần dưới của đường cong biên không có hiệu quả, sẽ bị loại bỏ qua khi nghiên cứu
Lựa chọn giữa các danh mục đầu tư khả thi thì các danh mục đầu tư tốt nhất luôn nằm trên đường cong biên hiệu quả Phương pháp lựa chọn trên do Markowitz khởi xướng, do vậy được gọi là mô hình lựa chọn Markowitz Các danh mục nằm trên đường cong biên hiệu quả này còn được gọi là danh mục tối ưu Markowitz
Ý nghĩa của đường biên này là với bất cứ mức độ rủi ro nào, chúng ta luôn chọn những danh mục đầu tư trên đường biên mang đến lợi nhuận ước tính (hay lợi nhuận kỳ vọng) cao nhất tương ứng Nói cách khác, đường biên hiệu quả chứa các danh mục có các phương sai thấp nhất với bất kỳ mức lợi nhuận ước tính nào
Như vậy, một nhà đầu tư muốn lựa chọn một danh mục cổ phiếu để đầu
tư thì tùy vào khả năng chấp nhận rủi ro (hay mức ngại rủi ro) của người đó để xác định danh mục cổ phiếu tối ưu nhất cho người đầu tư đó Mỗi nhà đầu tư đều có một mức ngại rủi ro riêng và thể hiện trong mối tương quan với lợi suất ước tính đạt được, diễn tả bằng đường bàng quan Điểm tiếp xúc giữa đường bàng quan với đường biên hiệu quả chính là điểm xác định của danh mục tối ưu của người đầu tư đó
Hạn chế việc bán khống ảnh hưởng nhiều đến đường cong biên hiệu quả, làm đường cong này dịch chuyển vào phía trong và trở nên “ lồi hơn” đường cong biên ban đầu, có nghĩa là với mức rủi ro như trước thì nay chúng ta lại
Trang 3323
chỉ có được mức lợi tức thấp hơn Các cơ quan quản lý chứng khoán, đơn vị thực hiện nghiệp vụ tự doanh, quản lý danh mục đầu tư và các nhà đầu tư cần được biết rõ ảnh hưởng của những hạn chế này, trên cơ sở đó cân nhắc để đưa
ra quyết định
Một lưu ý quan trọng về mặt toán học khi nhà đầu tư lựa chọn danh mục đầu tư sử dụng phương pháp Markowitz, đó là giả thiết lợi suất của tài sản phân phối chuẩn Tuy nhiên, có thể thấy giả thiết này trên thực tế là giả thiết chặt Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy phần lớn các tài sản có lợi suất không phân phối chuẩn Ngoài ra, ta có thể mở rộng bằng cách kết hợp hai hay nhiều danh mục đầu tư chứng khóan vào một danh mục lớn thay vì chỉ kết hợp những chứng khoán riêng lẻ với nhau Ví dụ, kết hợp danh mục đầu tư các chứng khoán trong nước với danh mục đầu tư các chứng khoán nước ngoài Các quy luật của mô hình quản lý danh mục đầu tư đơn vẫn được áp dụng trong trường hợp danh mục đầu tư kép
1.4.2 Mô hình định giá tài sản vốn ( CAPM)
Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là cốt lõi của lý thuyết kinh tế tài chính hiện đại Harry Markowitz là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết đầu tư hiện đại vào năm 1952 Mười năm sau, Wiliam Sharpe, John Lintner và Jan Mossin đã phát triển mô hình CAPM Mô hình CAPM cho phép dự đoán mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất kỳ vọng Mô hình CAPM cung cấp một lãi suất chuẩn dùng để đánh giá và lựa chọn các phương án đầu tư, giúp phán đoán lợi suất kỳ vọng đối với những tài sản chưa được giao dịch trên thị trường
Trong mô hình CAPM, các giả thuyết được chia thành 2 loại: các giả thuyết về tâm lý của nhà đầu tư và các giả thuyết của thị trường vốn
+ Những giả thuyết về tâm lý của các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định của mình đều dựa trên việc phân tích hai yếu tố: lợi suất ước tính và rủi ro của chứng khoán
Trang 3424
Giả thuyết này cho biết những nhân tố dẫn tới quyết định đầu tư Một nguyên tắc trong việc lựa chọn các phương án đầu tư là mức độ rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng phải lớn để bù đắp cho các rủi ro phải gánh chịu
Nhà đầu tư sẽ tìm cách giảm thiểu rủi ro bằng cách kết hợp nhiều chứng khoán khác nhau trong tập hợp danh mục đầu tư của mình
Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc trong khoảng thời gian nhất định
Các nhà đầu tư có chung các kỳ vọng về các thông số đầu vào sử dụng
để tạo lập danh mục đầu tư hữu hiệu Markowitz Đó là các thông số như: mức lợi suất, độ rủi ro hay các quan hệ tương hỗ
+ Những giả thuyết về thị trường vốn:
Thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo Điều này có nghĩa là trên thị trường có rất nhiều người bán và người mua Năng lực của một nhà đầu tư riêng lẻ thì rất nhỏ so với cả thị trường và vì vậy hoạt động của họ không làm ảnh hưởng đến thị trường Giá cả trên thị trường chỉ chịu sự quyết định bởi mối quan hệ cung cầu
Không tồn tại các loại phí giao dịch trên thị trường hay bất kỳ một sự cản trở nào trong cung và cầu của một loại chứng khoán
Trên thị trường có loại chứng khoán không rủi ro Đồng thời nhà đầu tư
có thể vay với lãi suất đúng bằng lãi suất không rủi ro đó Nói một cách khác, lãi suất vay mà lãi suất cho vay bằng nhau và bằng lãi suất không rủi ro
+ Mô hình CAPM
Đường thị trường vốn (The Capital Market Line- CML)
Nếu thị trường tồn tại loại chứng khoán phi rủi ro (với lãi suất r f ) và giả thiết rằng cá nhân nhà đầu tư có thể vay và mượn không hạn chế trên cơ sở lãi suất này (giả thiết 3 của thị trường vốn) thì kết quả về lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư sẽ được mô tả như hình vẽ sau đây:
Trang 3525
(Nguồn: Võ Thị Thúy Anh, 2015.)
Hình 1.3: Danh mục đầu tư theo CAPM
Trên hình vẽ, đường thẳng xuất phát từ điểm R f tiếp tuyến với đường cong hiệu quả Markowitz thể hiện mọi danh mục khả thi có thể tạo ra được từ sự kết hợp giữa chứng khoán phi rủi ro (tín phiếu kho bạc) với danh mục đầu tư có rủi ro (danh mục tối ưu Markowitz) Tiếp điểm của chúng được ký hiệu M là danh mục thị trường, được coi là tối ưu nhất trong số các danh mục tối ưu
rf: Lãi suất phi rủi ro
rM: Lãi suất theo thị trường
: giá của rủi ro thị trường (được tính theo thị giá) Đây cũng
Biên hiệu quả
Trang 3626
chính là độ dốc của đường CML Hệ số này được dùng để thể hiện đánh giá của thị trường về rủi ro
Đường thị trường chứng khoán
Trong mô hình CAPM, khi các chứng khoán tham gia vào danh mục đầu
tư thì triệt tiêu bớt phần rủi ro phi hệ thống, danh mục thị trường được coi là
đa dạng hóa hoàn hảo Vì vậy, rủi ro phi hệ thống của từng chứng khoán được triệt tiêu hết, chỉ còn lại phần rủi ro hệ thống
(Nguồn: Võ Thị Thúy Anh, 2015.)
Hình 1.4: Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất (Đường SML)
Mô hình giá tài sản vốn (CAPM) như sau:
R : lợi suất của danh mục thị trường
Đây chính là mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất ước tính của từng chứng khoán riêng lẻ được thể hiện dưới dạng phương trình
Trang 3727
Phương trình này cho thấy: với những giả thiết về thị trường vốn nêu trên, lợi suất kỳ vọng của mỗi chứng khoán có quan hệ tỷ lệ thuận với hệ số rủi ro hệ thống () Chứng khoán có hệ số beta càng cao thì yêu cầu lợi suất phải càng cao
Trong phương trình trên, iE R( M)R f chính là phần bù rủi ro(risk
premium )
Từ điều kiện cân bằng thị trường, nếu một danh mục P là danh mục khả thi thì danh mục đó phải được định giá sao cho P phải nằm trên đường CML Tuy nhiên trong thực tế, nếu có danh mục Q, tài sản i nào đó phi hiệu quả, có giá trên thị trường Trong trường hợp này giá danh mục Q và tài sản i được xác định :
* Ý nghĩa của CAPM
- SML được coi là một tiêu chí chuẩn mực để đánh giá một phương án đầu tư Với việc chấp nhận một độ rủi ro nhất định đối với một phương án đầu
tư (được đo bằng hệ số bêta), SML cho chúng ta biết lợi nhuận thu được của phương án đầu tư đó phải là bao nhiêu mới có thể bù đắp được rủi ro mà các nhà đầu tư phải gánh chịu
- Xuất phát từ ý nghĩa của đường SML, tất cả các chứng khoán nếu được định giá chính xác nhất thiết phải nằm trên đường SML Với những điểm nằm
Trang 3828
phía trên hoặc dưới đường SML đều biểu hiện tình trạng giá không phản ánh đúng với giá trị cân bằng trên thị trường Nếu là điểm nằm phía trên đường SML, chứng khoán đó được định giá thấp hơn giá trị thực sự của chúng Trong trường hợp này, các nhà đầu tư nên mua loại chứng khoán đó Ngược lại, nếu điểm đó nằm dưới đường SML, không nên mua loại chứng khoán này
vì giá của chúng cao hơn giá trị thực sự của chúng
Hệ số của tài sản hay của danh mục biểu thị sự chênh lệch giữa lợi suất thực hiện và lợi suất kỳ vọng (lợi suất mong đợi) của tài sản hay của danh mục
Từ mô hình CAPM suy ra:
Nếu tài sản i định giá đúng thì i 0
Nếu: i 0: tài sản i đang được định giá thấp
0
i
: tài sản i đang được định giá cao
Nếu hệ số P càng lớn thì việc thực thi danh mục càng có hiệu quả
- Một ý nghĩa khác của CAPM là vai trò của nó trong việc ra quyết định đầu tư vốn Đối với các công ty đang chuẩn bị cho một dự án đầu tư mới, CAPM đưa ra một mức lợi suất yêu cầu phải đạt đựơc cho dự án đầu tư trên
cơ sở những thông số của hệ số bêta được các nhà đầu tư chấp thuận Như
Trang 3929
vậy, đối với các phương án đầu tư khác nhau, CAPM sẽ quyết định phương án nào tối ưu nhất để lựa chọn
1.4.3 Mô hình chỉ số đơn (mô hình chỉ số thị trường) – SIM
Như chúng ta đã biết, lý thuyết CAPM xây dựng trên cơ sở các giả thiết
và rất nhiều các giả thiết này không thực tế, đó là chưa nói đến khối lượng tính toán các yếu tố đầu vào rất phức tạp Đó chính là khuyết điểm của lý thuyết này, làm ảnh hưởng lớn đến tính áp dụng của CAPM
Để khắc phục những khuyết điểm này trong khi vẫn tận dụng được các giá trị cơ bản của lý thuyết CAPM trong đầu tư trên thị trường chứng khoán, các nhà nghiên cứu đã xây dựng thêm rất nhiều lý thuyết mới gắn với thực tiễn hơn
Mô hình chỉ số đơn (Single Index Model) của một thị trường phân loại các nguồn gốc rủi ro thành các nhân tố hệ thống (vĩ mô) và các nhân tố riêng (vi mô) Mô hình này giảm được công việc tính toán đầu vào trong quy trình lựa chọn chứng khoán vào danh mục đầu tư theo mô hình Markowitz, góp phần chuyên môn hóa lao động trong phân tích chứng khoán Mô hình chỉ số đơn được tính toán bằng cách áp dụng phân tích hồi quy đối với chênh lệch lợi tức của một chứng khoán với lợi tức của thị trường Hệ số hồi quy đối với chênh lệch lợi tức của một chứng khoán với lợi tức của thị trường Hệ số hồi quy của phép hồi quy này chính là hệ số của một tài sản trong khi số hạng tự
do là chỉ số của danh mục chứng khoán Đường hồi quy tính được còn được gọi là Đường đặc trưng chứng khoán (Security Characteristic Line) Hệ
số của hồi quy tương ứng với hệ số của mô hình CAPM sử dụng lợi tức kỳ vọng Mô hình CAPM cũng coi tổng thể hệ số α của các chứng khoán tính được qua mô hình chỉ số đơn sẽ bằng không
SIM là một mô hình đơn giản hóa và chỉ định nghĩa một nhân tố duy nhất là căn nguyên của giá trị hiệp phương sai giữa các mức lợi suất của một
Trang 40+ Các giả định cơ sở của mô hình:
Lợi suất của chứng khoán có dạng hàm tuyến tính như trên định nghĩa
Các tham số của SIM như i và i được tính toán thông qua các bước hồi quy tuyến tính, sao cho mức rủi ro phụ trội chỉ là hàm số của chỉ số thị trường, chứ không bao hàm rủi ro đặc thù của chứng khoán i đang xét Nói cách khác, E it 0
Phần rủi ro đặc thù (it) của chứng khoán i không có quan hệ hàm số với giá trị của chỉ số I t, tức là Eit.I t 0
Cov (it.I t) =0; cov ( i, j)=0 với mọi i khác j
Chỉ số đại diện cho một tác nhân duy nhất ảnh hưởng đến hiệp phương sai giữa các mức lợi suất, nghĩa là E it. it 0
it
:Lợi suất đặc thù của chứng khoán i đang xét, không có tương quan với