Luận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận và pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay như: khái niệm Thừa phát lại, Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay; Quá trình phát triển pháp luật về Thừa phát lại; đặc điểm, hình thức và nội dung thực hiện pháp luật về Thừa phát lại; Vai trò của việc thực hiện pháp luật về Thừa phát lại; Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về Thừa phát lại. Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích một số vấn đề trong thực tiễn, trên một số phương diện chính như: Quá trình triển khai thực hiện pháp luật về Thừa phát lại ở nước ta hiện nay; Những thành công và hạn chế trong thực hiện pháp luật Thừa phát lại và nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay. Luận văn đã đưa ra một số quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay, trong đó các giải pháp tập trung trên các phương diện chính như: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về Thừa phát lại; Tăng cường quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về Thừa phát lại; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng Thừa phát lại; Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Thừa phát lại; Tổ chức kiểm tra, giám sát, kiểm sát thực hiện pháp luật về Thừa phát lại; Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong thực hiện pháp luật về Thừa phát lại. Luận văn đã góp phần làm rõ thêm những khía cạnh lý luận, thực tiễn về thực hiện pháp luật về Thừa phát lại, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại trong thời gian tới.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÌN
THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ THõA PH¸T L¹I
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÌN
THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ THõA PH¸T L¹I
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HOÀNG ANH
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thìn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI Ở VIỆT NAM 6
1.1 T HỪA PHÁT LẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI 6
1.1.1 Khái niệm Thừa phát lại 6
1.1.2 Khái niệm pháp luật về Thừa phát lại 8
1.2 K HÁI NIỆM , ĐẶC ĐIỂM , HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI 10
1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về Thừa phát lại 10
1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về Thừa phát lại 11
1.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật về Thừa phát lại 14
1.2.4 Hình thức thực hiện pháp luật về Thừa phát lại 20
1.3 V AI TRÒ CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI 25
1.3.1 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại góp phần bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự, trong quan hệ với cơ quan nhà nước và trong các quá trình tố tụng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội 25
1.3.2 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại góp phần hỗ trợ Toà án, cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan nhà nước khác 26
1.3.3 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại thúc đẩy việc hình thành một nghề mới trong thị trường dịch vụ pháp lý, thực hiện đúng đắn chủ trương xã hội hóa hoạt động thi hành án, hoạt động bổ trợ tư pháp 27
1.4 C ÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI 29
Trang 51.4.1 Hệ thống pháp luật về Thừa phát lại 29
1.4.2 Hoạt động quản lý và phối hợp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 30
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 32
1.4.4 Ý THỨC PHÁP LUẬT 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 36
2.1 Q UÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI Ở V IỆT N AM HIỆN NAY 36
2.2 N HỮNG THÀNH CÔNG TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT T HỪA PHÁT LẠI 40
2.2.1 Kết quả thực hiện pháp luật trong thành lập các Văn phòng Thừa phát lại .40
2.2.2 KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI 43
2.2.3 Kết quả thực hiện pháp luật về hoạt động tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra, kiểm sát, giám sát hoạt động Thừa phát lại 51
2.3 N HỮNG HẠN CHẾ TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI 55
2.3.1 Những hạn chế trong công tác triển khai thi hành pháp luật về Thừa phát lại 55
2.3.2 Những hạn chế trong thực tiễn thực hiện các công việc nghề nghiệp của Thừa phát lại 56
2.4 N GUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI Ở VIỆT NAM 71 3.1 Q UAN ĐIỂM BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI
Trang 63.1.1 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại phải tiến hành đồng bộ trong
công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính và các nhiệm vụ
chính trị khác của Đảng và Nhà nước 72
3.1.2 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại góp phần xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự 73
3.1.3 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 74
3.2 G IẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ T HỪA PHÁT LẠI Ở V IỆT N AM 75
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về Thừa phát lại 75
3.2.2 Tăng cường quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về Thừa phát lại 83
3.2.3 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng Thừa phát lại, nâng cao năng lực thực hiện pháp luật cho các Thừa phát lại 86
3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Thừa phát lại 91
3.2.5 Tổ chức kiểm tra, kiểm sát, giám sát thực hiện pháp luật về Thừa phát lại .94
3.2.6 Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong thực hiện pháp luật Thừa phát lại 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TAND: Tòa án nhân dân
THADS: Thi hành án dân sự TPL: Thừa phát lại
UBND: Ủy ban nhân dân
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chế định TPL đã tồn tại từ rất lâu và ở nhiều nước trên thế giới như, Pháp,Đức, Úc Ở nước ta, chế định TPL bắt đầu xuất hiện ở Nam kỳ (miền Nam) thờiPháp thuộc Sau ngày giải phóng, nước ta tồn tại cơ chế kế hoạch hóa tập trung,Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thốngchỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới, thực hiện phân phối theo đầungười Bộ máy Nhà nước quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, các cơ quanhành chính Nhà nước can thiệp quá sâu vào các giao dịch dân sự, kinh tế, hoạt độngsản xuất, kinh doanh trong xã hội Hiện nay, Nhà nước ta thực hiện nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập quốc tế, do đó các quan hệtrong xã hội phát triển mạnh mẽ, cùng với đó là những tranh chấp xảy ra ngày càngnhiều với tính chất ngày càng đa dạng, phức tạp, qua đó nhu cầu về các dịch vụpháp lý cũng được tăng cao
Từ những nhu cầu thực tiễn trong xã hội, nhận thức được tầm quan trọng củacông cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp, góp phần làm nền hành chính tưpháp đáp ứng tốt hơn sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong những năm gầnđây, cùng với việc phát triển các dịch vụ pháp lý như luật sư, công chứng… phápluật về TPL tiếp tục được nghiên cứu thực hiện, góp phần đáng kể trong việc hỗ trợgiảm thiểu các công việc và thủ tục hành chính cho hoạt động tố tụng và THADS
Kết quả thực hiện pháp luật TPL thời gian qua cho thấy việc triển khai thựchiện chế định TPL đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần bảo đảm tốt hơnquyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự, trong quan hệvới cơ quan nhà nước và trong các quá trình tố tụng, góp phần ổn định các quan hệ
xã hội, an ninh trật tự Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, do TPL nhìnchung vẫn là một chế định mới đối với người dân, doanh nghiệp và cả các cơ quannhà nước, vì vậy hiểu biết của các đối tượng liên quan đến hoạt động của TPL và việcthực hiện TPL tại các địa phương tuy đã hình thành nhưng còn khá hạn chế; các quy
Trang 9định pháp luật còn chưa đầy đủ, hiệu lực chưa cao, chưa đồng bộ, có những điểmthiếu và thậm chí là chồng chéo, mâu thuẫn nên việc thực hiện pháp luật về TPLcòn nhiều lúng túng; việc thực hiện các hoạt động của TPL như tống đạt các văn bảntheo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan THADS, lập vi bằng, xác minh điều kiện thihành án, tổ chức thi hành án của TPL còn xảy ra một số sai phạm; kết quả hoạt độngcủa một số Văn phòng TPL còn chưa cao, chưa đồng đều ở các địa phương và ở cácmảng công việc, trong đó việc xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thihành án còn hạn chế, chiếm tỷ lệ thấp trong kết quả hoạt động
Với mong muốn góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận thựchiện pháp luật về TPL, đồng thời góp phần tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật
về TPL trong thời gian tới, tạo điều kiện ổn định các quan hệ xã hội, phát triển kinh
tế, tác giả chọn chủ đề “Thực hiện pháp luật TPL ở Việt Nam hiện nay” làm đề tàinghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề thực hiện pháp luật TPL, tác giả nhậnthấy vấn đề này đã được một số cơ quan, nhà luật học ở trong nước quan tâm, dànhthời gian nghiên cứu, như:
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định TPL” (đề tài nghiên cứu cấp Bộ
năm 1998) của tác giả Nguyễn Đức Chính
- “Hoạt động của tổ chức TPL” Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật năm 2013
của tác giả Trần Khắc Qui
- “TPL trong THADS” Luận văn thạc sỹ luật học năm 2014 của tác giả Phạm
Phúc Thịnh
- “Pháp luật về hoạt động của TPL từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”
Luận văn thạc sỹ luật học năm 2017 của tác giả Huỳnh Hữu Nam
- “TPL - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” Luận văn
thạc sỹ luật học năm 2011 của tác giả Nguyễn Minh Thùy
- “Chế định TPL: Lịch sử ra đời và đổi mới theo tinh thần cải cách tư pháp”
(Tạp chí dân chủ và pháp luật - Bộ Tư pháp năm 2006) của tác giải Nguyễn Văn Nghĩa
- “Từ nhu cầu xã hội đến chủ trương và kết quả bước đầu của việc thực hiện
Trang 10thí điểm TPL” (Tạp chí dân chủ và pháp luật - Bộ Tư pháp năm 2011) của tác giả
Lê Xuân Hồng
- “Xu hướng xã hội hóa THADS từ việc thí điểm hoạt động TPL tại thành
phố Hồ Chí Minh” (Tạp chí dân chủ và pháp luật - Bộ Tư pháp năm 2012) của tác
giả Nguyễn Công Bình
- “Tổ chức và hoạt động của TPL ở Việt Nam hiện nay” (Nhà xuất bản Tư
pháp) của tác giả Vũ Hoài Nam
“Mô hình tổ chức và hoạt động của TPL” (Tạp chí dân chủ và pháp luật
-Bộ Tư pháp năm 2014) của tác giả Lê Xuân Hồng
- “TPL - chặng đường thí điểm 4 năm nhìn lại” (Tạp chí dân chủ và pháp
luật - Bộ Tư pháp năm 2014) của tác giả Trần Thị Hồng Việt
- “Đào tạo, bồi dưỡng TPL - Hiện tại và tương lai” (Tạp chí dân chủ và
pháp luật - Bộ Tư pháp năm 2014) của tác giả Nguyễn Thị Phíp và Bùi NguyễnPhương Lê
- “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TPL” (Tạp chí dân chủ và pháp luật
- Bộ Tư pháp năm 2014) của tác giả Nguyễn Tiến Pháp
- “Những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện thí điểm chế định TPL và hướng giải quyết” (Tạp chí dân chủ và pháp luật - Bộ Tư pháp năm 2015) của tác
giả Lê Xuân Hồng
- “Thực hiện thí điểm chế định TPL theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 tại khu vực phía Nam” (Tạp chí dân chủ và pháp luật - Bộ Tư pháp năm 2015) của tác
giả Mai Thị Thùy Dung
- “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động TPL”
(Tạp chí dân chủ và pháp luật - Bộ Tư pháp năm 2016) của tác giả Chu Văn Khanh
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác được công bố trên sách,báo, tạp chí như: Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạpchí luật học
Những công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu ở những góc độ, khíacạnh và mức độ khác nhau về TPL Nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào
đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về thực hiện pháp luật về TPL ở
Trang 11Việt Nam từ góc độ nghiên cứu, tiếp cận của chuyên ngành lý luận và lịch sử nhànước và pháp luật.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích, tổng kết một số vấn đề có tính lý luận về thực hiện pháp luật vềTPL; khảo sát, đánh giá thực tiễn và đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm thựchiện pháp luật về TPL trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về thực hiện phápluật TPL ở Việt Nam
- Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về TPL ở ViệtNam hiện nay
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật vềTPL ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận về TPL và thựchiện pháp luật về TPL; thực trạng thực hiện pháp luật về TPL ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu dưới góc độ lý luận phápluật về thực hiện pháp luật TPL; phân tích, đánh giá kết quả đạt được và những hạnchế, nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp trong thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về xây dựng và thựchiện pháp luật, cũng như các phương pháp, các cách tiếp cận về pháp luật kháchquan, khoa học khác
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp,thống kê, logic, so sánh và tổng kết thực tiễn để phân tích làm sáng tỏ vấn đề cầnnghiên cứu Đề tài kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu của
Trang 12các tác giả khác có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu như: luận án, luận văn, đềtài nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí, báo
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam tậptrung nghiên cứu về thực hiện pháp luật về TPL, qua đó Luận văn đã phân tích vàchỉ ra những tồn tại, hạn chế qua quá trình thực hiện pháp luật về TPL, trên cơ sở đóđưa ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn trong thời gian tới
Về mặt thực tiễn: Những phân tích, đánh giá và đề xuất cụ thể mà tác giả đưa
ra nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TPL có giá trị tham khảo hữu ích chocác nhà lập pháp vận dụng vào công tác xây dựng pháp luật, công tác nghiên cứukhoa học, giảng dạy và là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý nhànước trong tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhândân, ổn định trật tự xã hội
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của đề tài bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về thực hiện pháp luật về TPL ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về TPL ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về TPL ở
Việt Nam
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỪA PHÁT LẠI Ở VIỆT NAM
1.1 Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại
1.1.1 Khái niệm Thừa phát lại
TPL được phát triển từ rất sớm, được hình thành từ thời trung cổ tại các nước
ở Châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan và các nước Châu Mỹ như Canada,
Mỹ Đến nay, có khoảng 78 nước là thành viên của Liên minh TPL quốc tế (UIHJ).Tại Việt Nam, TPL tồn tại từ thời kỳ phong kiến và thực sự được phát triển, ápdụng khi Thực dân Pháp áp dụng nguyên mô hình TPL của Cộng hòa Pháp ở nước
ta và mô hình này đã tồn tại trong suốt thời kỳ Pháp thuộc và dưới chế độ Ngụyquyền Sài Gòn đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975 Ở miền Bắcgọi là Chưởng tòa, miền Trung gọi là Mõ tòa, miền Nam là TPL Thời kỳ này TPLchỉ một người công lại, một người không phải nhân viên nhà nước nhưng lại mangtrong mình quyền lực nhà nước vì người đó được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm
Vì nhiều lý do nên sau năm 1975, chế định TPL không duy trì nữa Theo nghĩa Hán
- Việt, Thừa có nghĩa là thừa ủy quyền, thừa hành; phát nghĩa là phát ra, đưa đến;lại là làm việc của thư lại, một viên chức thực hiện lệnh của quan
Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày24/7/2009 của Chính phủ quy định: “TPL là người được Nhà nước bổ nhiệm để làmcác công việc về THADS, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theoquy định của Nghị định và pháp luật có liên quan” Đến Nghị định số135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều củaNghị định số 61/2009/NĐ-CP về TPL đã xác định: “TPL là người có các tiêu chuẩn,được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định củaNghị định này và pháp luật có liên quan”
Từ quy định trên, TPL là người được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền đểtham gia thực hiện những công việc hỗ trợ Tòa án, cơ quan THADS trong tống đạt
Trang 14các văn bản giấy tờ; hoạt động xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành án
và lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức TPL hành nghề tự do và chịu sựgiám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
So với TPL ở một số nước trên thế giới thì phạm vi hoạt động của TPL ởViệt Nam bó hẹp hơn Công việc của TPL của các nước trên thế giới là công việcđộc quyền Bên cạnh đó, TPL còn được thực hiện một số công việc khác như: bánđấu giá tài sản; đại diện khách hàng; hòa giải; tham gia hỗ trợ phiên tòa… Ví dụ: ỞPháp, Điều 1 Pháp lệnh số 452592 ngày 02/11/1945, quy định thẩm quyền theo nộidung của TPL và tổ chức nghề TPL quy định:
TPL là người sở hữu một tước vị, có độc quyền trong việc tốngđạt văn bản và văn bản tố tụng, tiến hành các thủ tục thông báo đượcpháp luật quy định trong trường hợp không quy định rõ phương thứcthông báo, và thi hành các bản án, quyết định của tòa án và các văn bản
có hiệu lực thi hành khác
TPL có thể tiến hành thu hồi mọi khoản nợ theo thỏa thuận của cácbên hoặc theo quyết định của tòa án, và ở những nơi không có nhân viênbán đấu giá, có thể tiến hành bán đấu giá, theo quyết định của tòa án hoặctheo yêu cầu của các cá nhân, các tài sản là động sản và tài sản hữu hình
TPL có thể được tòa án yêu cầu tiến hành xác nhận thuần túy vềmặt sự việc và không được cho ý kiến về các hệ quả thực tế hoặc pháp lý
có thể phát sinh từ việc xác nhận đó
TPL có thể tiến hành xác nhận với cùng tính chất như trên theoyêu cầu của các cá nhân; trong cả hai trường hợp, việc xác nhận này chỉ
có giá trị thông tin đơn thuần
TPL tham gia hỗ trợ phiên tòa
TPL có thể tiến hành một số hoạt động bổ trợ
Danh sách các hoạt động và chức năng này của TPL và các điềukiện thực hiện các hoạt động và chức năng này do Chính phủ quy địnhbằng nghị định thông qua tại Tham chính viện với điều kiện các quy địnhnày không được trái với các luật chuyên ngành
Trang 15Như vậy, có thể thấy rằng điều 1 của Pháp lệnh quy định rất cụ thể các chứcnăng, nhiệm vụ của TPL Một số hoạt động thuộc thẩm quyền chuyên biệt của TPL,một số hoạt động thuộc thẩm quyền đồng thời của TPL và các nghề khác Bên cạnhcác hoạt động được coi là hoạt động truyền thống của TPL, gắn trực tiếp với lịch sửphát triển của nghề, TPL có thể tiến hành một số hoạt động bổ trợ không có mốiliên hệ trực tiếp nào với hoạt động tư pháp.
Ở châu Âu và trên thế giới từ lâu đã tồn tại các TPL hành nghề tự do và độclập Ở các nước như Anh, xứ Galles, Bỉ, Hy Lạp, Luých-xăm-bua, Hà Lan TPL luôn
có quy chế nghề độc lập
Từ khi Liên bang Xô viết tan rã, nhiều nước Trung Âu đã đi theo mô hình tự
do Các nước Estonia, Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia, Slovenia đã thừanhận nghề TPL là nghề tự do, độc lập với quyền lực nhà nước TPL có thể sử dụngphương thức tống đạt kết hợp với phương thức thông báo bằng đường bưu điệnnhưng về nguyên tắc, phải sử dụng phương thức tống đạt trong đại đa số các trườnghợp để thông báo cho đương sự và thi hành bản án, quyết định của tòa án Ngoài ra,nhiều nước trong số các nước này đã quy định thẩm quyền vi bằng của TPL và chophép sử dụng văn bản vi bằng của TPL như một loại chứng cứ như Estonia,Hungary và Ba Lan
Ở các nước khác như Áo, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Phần Lan, Ai-len, Italia
và Bồ Đào Nha, Chấp hành viên là công chức nhưng dường như cũng hoạt độngtheo phương thức nghề tự do, cụ thể: Chấp hành viên độc lập với các tòa án; Chấphành viên chịu trách nhiệm về tài chính, nghề nghiệp và kỷ luật; Nhà nước khôngtrả lương dưới bất kỳ hình thức nào cho những người hành nghề độc lập này
Ở nhiều nước châu Phi, TPL có quy chế nghề tự do và độc lập, có cơ cấu
tổ chức giống như ở Pháp và các nước khác ở châu Âu, gồm: các hội đồng kỷluật và một hội đồng quốc gia; bảo hiểm trách nhiệm dân sự; trách nhiệm kỷ luật
và dân sự của TPL
1.1.2 Khái niệm pháp luật về Thừa phát lại
Khái niệm pháp luật về TPL bắt nguồn từ khái niệm pháp luật nói chung
Trang 16Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, donhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân,được nhà nước đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
vì mục tiêu bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và sự pháttriển bền vững của xã hội [50, tr.295]
Pháp luật là những quy tắc xử sự do nhà nước ban hành, nó luôn phản ánhnhững quan điểm, đường lối chính sách của lực lượng nắm quyền lực trong Nhànước đó và bảo đảm cho các quan điểm, đường lối đó được triển khai thực hiện hiệuquả, sâu rộng trong toàn xã hội
Nhà nước ta hiện nay là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.Pháp luật trong nhà nước pháp quyền nước ta hiện nay thể hiện ý chí của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động, pháp luật phải tôn trọng, thừa nhận, bảo vệ, bảođảm quyền con người, quyền công dân, mọi mặt trong đời sống xã hội phải dân chủ,công khai, minh bạch và tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong mọihoạt động của nhà nước và trong đời sống xã hội được đề cao
Có thể nói, pháp luật về TPL ở nước ta xuất hiện từ rất sớm, thời kỳ phongkiến, tuy nhiên việc áp dụng còn chưa được thống nhất trong cả nước, trong mộtthời gian dài pháp luật TPL không được nhắc đến và triển khai thực hiện Ngày nay,thực hiện chủ trương cải cách tư pháp cùng với xu hướng hội nhập quốc tế, phápluật về TPL ở nước ta được tập trung khôi phục trở lại và nhu cầu hình thành một hệthống pháp luật về Thừa phát được Đảng, Nhà nước ta quan tâm đẩy mạnh
Trong khoa học pháp lý, pháp luật về TPL là lĩnh vực pháp luật chuyênngành bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnhcác quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong tổ chức và thực hiện các công việc củaTPL trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo đảm tốthơn quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân trong đời sống dân sự, gópphần ổn định các quan hệ trong xã hội
Với cách hiểu như trên, pháp luật về TPL bao gồm các quy định pháp lý điều
Trang 17chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong tổ chức và thực hiện các côngviệc của TPL trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảođảm tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân trong xã hội Đồngthời, Nhà nước cũng ban hành các quy định điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm cácTPL, thành lập các Văn phòng TPL; nhiệm vụ, quyền hạn của TPL; phạm vi, thẩmquyền, trình tự, thủ tục thực hiện các công việc của TPL; những việc TPL khôngđược làm; trách nhiệm quản lý nhà nước về TPL.
1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức và nội dung thực hiện pháp luật về Thừa phát lại
1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về Thừa phát lại
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, Nhà nước ban hành pháp luật nhằmđiều chỉnh các quan hệ trong xã hội, bảo đảm xã hội vận hành theo một trật tự nhấtđịnh Xuất phát từ tầm quan trọng hàng đầu của pháp luật trong quản lý xã hội, Điều
12 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, khôngngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Kế thừa và bổ sung quan điểm trên,Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiếnpháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyêntắc tập trung dân chủ”
Với tư cách là chủ thể quản lý, Nhà nước đã sử dụng pháp luật làm phươngtiện quan trọng nhất để tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Khi ban hành cácvăn bản quy phạm pháp luật Nhà nước mong muốn các văn bản đó phải được tôntrọng và thực thi có hiệu quả trong thực tế Nếu pháp luật được ban hành nhiều nhưng
ít đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh các quy phạm pháp luật không cao, chứng tỏquản lý Nhà nước kém hiệu quả Do đó, thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh các quyđịnh của pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước bằng pháp luật
Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật - Khoa Luật Đạihọc Quốc gia Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiệnthực hóa các quy định pháp luật vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế,hợp pháp của các chủ thể pháp luật”
Trang 18Thực hiện pháp luật là một vấn đề rộng lớn, phức tạp, do nhiều chủ thể khácnhau tiến hành với nhiều cách thức khác nhau Đó có thể là hành vi của mỗi cá nhân,nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, Thựchiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của các chủ thể phápluật phù hợp với những quy định của pháp luật Dưới góc độ pháp lý thì thực hiệnpháp luật là hành vi hợp pháp, hành vi đó không trái, không vượt ra ngoài các quyđịnh của pháp luật Hành vi hợp pháp này có thể được các chủ thể tự giác thực hiệntrên cơ sở nhận thức là cần thiết phải xử sự theo đúng quy định của pháp luật, có thể
do bị ảnh hưởng của những người xung quanh, do sợ bị áp dụng các biện pháp cưỡngchế hoặc là kết quả của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế Nhà nước
Trong xã hội hiện nay, cùng với sự phát triển năng động của nền kinh tế thịtrường, hội nhập quốc tế, các mối quan hệ phát sinh cũng ngày càng đa dạng, phứctạp, các tranh chấp vi phạm cũng xảy ra nhiều, gây áp lực không nhỏ đối với cơquan tư pháp, đặc biệt là Tòa án, cơ quan THADS Trong những năm gần đâyĐảng, Nhà nước ta đã chủ trương xã hội hóa một số hoạt động tư pháp Thực hiệnchủ chương xã hội hóa một số hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020, hệ thống pháp luật về TPL đã được ban hành cơ bản đầy đủ, tạo hành langpháp lý bảo đảm cho việc thực hiện các công việc của TPL, qua đó bảo đảm tốt hơnquyền và lợi ích hợp pháp của người dân Tuy nhiên, để những quy định pháp luật
về TPL đi vào cuộc sống và trở thành những hành vi xử sự, hợp pháp của các chủthể pháp luật phụ thuộc vào hiệu quả thực hiện pháp luật của các chủ thể
Từ khái niệm chung về thực hiện pháp luật, có thể đưa ra khái niệm thựchiện pháp luật về TPL như sau: “Thực hiện pháp luật về TPL là hoạt động có mụcđích của các cơ quan Nhà nước, tổ chức và các cá nhân làm cho các quy phạm phápluật về TPL trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp”
1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về Thừa phát lại
Để hiểu rõ hơn bản chất của thực hiện pháp luật về TPL, tác giả đi phân tíchmột số đặc điểm chủ yếu của thực hiện pháp luật về TPL như sau:
Trang 19- Thực hiện pháp luật về TPL là một quá trình hoạt động có mục đích Thực
hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật về TPL nói riêng luôn là hoạt động
có mục đích của các chủ thể Khi thực hiện các hành vi trên thực tế, trong nhận thứccác chủ thể pháp luật luôn mong muốn, xác định đạt được một kết quả cụ thể Kếtquả này có trong nhận thức của các chủ thể pháp luật trước khi thực hiện hành vi.Trong thực hiện pháp luật về TPL, trong nhận thức các chủ thể mong muốn đạtđược kết quả nhất định khi thực hiện pháp luật TPL Để thực hiện được mục đích
đó, các chủ thể thực hiện pháp luật TPL có thể phải thực hiện trong một thời gianngắn, hoặc phải thực hiện trong một quá trình lâu dài được xác định theo từng nộidung cụ thể Chẳng hạn, đối với chủ thể thực hiện pháp luật về TPL là nhân viênTPL, phải trung thực, khách quan khi thực hiện các công việc nghề nghiệp củamình; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; quy chế tổ chức, hoạt động và đạo đứcnghề nghiệp của TPL; chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện công việccủa mình (khoản 1, Điều 5 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009) Hoạtđộng tuân thủ pháp luật này của nhân viên TPL nhằm mục đích kiểm soát, bảo đảm
sự khách quan, bình đẳng trong thực hiện công việc của TPL, góp phần bảo đảmquyền lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội
- Chủ thể thực hiện pháp luật TPL là các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và
cá nhân trong xã hội, trong đó nhân viên TPL là chủ thể đặc biệt quan trọng Cũng
như các lĩnh vực pháp luật khác, thực hiện pháp luật về TPL phải thông qua hành vicủa một chủ thể nhất định Tùy thuộc vào quan hệ pháp luật cụ thể về TPL mà chủthể đó có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân nào đó trong xã hội Ví dụtrong quan hệ quản lý nhà nước về TPL thì chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩmquyền (Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về TPL; Sở Tư pháp giúpUBND quản lý nhà nước về TPL tại địa phương), trong quan hệ tổ chức, cá nhân sửdụng dịch vụ của TPL với Văn phòng TPL cung cấp dịch vụ Do tính chất đặc thùnên chủ thể thực hiện công việc TPL là nhân viên TPL Theo quy định của phápluật hiện hành thì TPL là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc vềtống đạt văn bản của Tòa án và cơ quan THADS, lập vi bằng, xác minh điều kiệnTHADS và tổ chức THADS
Trang 20- Thực hiện pháp luật về TPL là thực hiện các quy phạm cụ thể quy định trong những văn bản pháp luật trong lĩnh vực TPL - do nhà nước ban hành Hệ thống các
văn bản pháp luật liên quan đến TPL tập trung trong một số văn bản cụ thể: LuậtTHADS (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS; Nghị định số61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của TPL thực hiện thí điểmtại thành phố Hồ Chí Minh; Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi,
bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/ 2009 củaChính phủ về tổ chức và hoạt động của TPL thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ ChíMinh; Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày28/2/2014 hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định TPL theo Nghị quyết số36/2012/QH13; Thông tư số 12/2014/TT-BTP ngày 26/4/2014 quy định về mẫu;nguyên tắc sử dụng trang phục; nguyên tắc cấp phát, sử dụng thẻ TPL; Thông tư liêntịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN ngày 17/01/2014 hướng dẫn việc xác minhđiều kiện thi hành án của TPL tại các tổ chức tín dụng Ngoài những văn bản này,cũng có nhiều văn bản khác là nguồn quy phạm cho thực hiện pháp luật về TPL, như:
Bộ luật dân sự, Luật công chứng, Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Luật tố tụng hànhchính 2015; Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 về chứng thực; Luật các tổchức tín dụng; Nghị quyết số 107/2015/QH13; Luật tố cáo năm 2011; Nghị định số76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật tố cáo; Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh traChính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo Có thể nói nguồn pháp luật về TPLkhá phong phú, sở dĩ có sự phong phú đó là do các văn bản thực hiện về TPLthường dẫn chiếu sang các văn bản khác trong một lĩnh vực liên quan Pháp luậtTPL muốn phát huy hiệu lực, hiệu quả trên thực tế đòi hỏi các chủ thể pháp luậtTPL phải thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật Thông qua các hành vi củamình (hành động hoặc không hành động), các chủ thể đã hiện thực hóa các quy địnhcủa pháp luật về TPL vào trong đời sống Ví dụ: pháp luật TPL quy định trong khithực hiện nhiệm vụ của mình TPL không được nhận làm những việc liên quan đến
Trang 21quyền, lợi ích của bản thân và những người là người thân thích của mình, nhằm bảođảm sự khách quan trong khi thực hiện công việc của TPL.
- Thực hiện pháp luật về TPL bao gồm các hình thức thực hiện pháp luật truyền thống: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng
pháp luật Các hình thức thực hiện pháp luật này đan xen, logic, gắn bó chặt chẽ vàtác động lẫn nhau Giữa các quy định pháp luật luôn có sự gắn bó, liên hệ, ràngbuộc lẫn nhau nên không thực hiện quy định này sẽ không thực hiện được các quyđịnh pháp luật khác Do đó, các chủ thể thông thường phải đồng thời tiến hành thựchiện các quy định pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau Qua nghiên cứu cácvăn bản cũng như xuất phát từ thực tiễn, tác giả cho rằng đối với việc thực hiệnpháp luật trong lĩnh vực TPL, các hình thức thực hiện pháp luật được thực hiện chủyếu ở hình thức áp dụng pháp luật (đối với chủ thể là nhân viên TPL) và sử dụngpháp luật (đối với chủ thể là cá nhân, tổ chức)
1.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật về Thừa phát lại
Các quy phạm pháp luật về TPL được quy định trong nhiều văn bản pháp luật củacác cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với nội dung khá rộng, liên quan đến tất cảcác mặt của TPL Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung đi sâu vào các vấn
đề sau: thực hiện quy định của pháp luật về bổ nhiệm TPL; thực hiện các quy địnhcủa pháp luật về thành lập các Văn phòng TPL; thực hiện các quy định của phápluật về thủ tục thực hiện các công việc của TPL; thực hiện các quy định pháp luật về
về hoạt động tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra, kiểm sát, giám sát hoạt động TPL
- Thực hiện các quy định của pháp luật về bổ nhiệm TPL: Hiện nay Nghị định
số 61/2009/NĐ-CP quy định Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền bổ nhiệm TPL trên
cơ sở đề nghị của Sở Tư pháp Người muốn được bổ nhiệm TPL phải đáp ứng các tiêuchuẩn theo quy định và phải có hồ sơ gửi Sở Tư pháp bao gồm: đơn xin bổ nhiệm làmTPL; giấy chứng nhận sức khỏe; lý lịch cá nhân và phiếu lý lịch tư pháp; bản sao cácvăn bằng, chứng chỉ và các giấy tờ cần thiết Giám đốc Sở Tư pháp xem xét hồ sơtrong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu thấy đủ điều kiện thì đềnghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét bổ nhiệm TPL
Trang 22- Thực hiện các quy định của pháp luật về thành lập các Văn phòng TPL:
Văn phòng TPL là tổ chức hành nghề của TPL Tên gọi của Văn phòng TPL phảibao gồm cụm từ “Văn phòng TPL” và phần tên riêng liền sau Văn phòng TPL cótrụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.Ngoài ra, các Văn phòng TPL có quyền tự chủ về nhân sự, điều hành, duy trì hoạtđộng của Văn phòng, xây dựng chiến lược, kế hoạch hoạt động
Tổ chức của Văn phòng TPL gồm: Trưởng Văn phòng TPL là người đứng đầu,phải là TPL và là người đại diện theo pháp luật của Văn phòng TPL, chịu trách nhiệm
về toàn bộ hoạt động của Văn phòng TPL; có thể có các TPL là thành viên sáng lập vàlàm việc theo hợp đồng tại Văn phòng TPL; thư ký nghiệp vụ TPL là nhân viên Vănphòng TPL giúp TPL thực hiện các công việc nghiệp vụ pháp lý; nhân viên kế toán;nhân viên hành chính khác (nếu có) Theo quy định tại khoản 5, Điều 2 Nghị định số135/2013/NĐ-CP, để được bổ nhiệm làm Thư ký TPL phải đáp ứng các tiêu chuẩnnhư: là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; không có tiền án;không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng, Luật sư và những công việc khác theo quyđịnh của pháp luật; phải có trình độ từ trung cấp luật trở lên
Để thành lập Văn phòng TPL phải có trụ sở bảo đảm diện tích cho hoạt động và
cơ sở vật chất cần thiết; có tổ chức bộ máy theo quy định Hồ sơ thành lập Văn phòngTPL gửi Sở Tư pháp để trình UBND gồm: đơn đề nghị thành lập Văn phòng TPL; đề
án thành lập Văn phòng TPL; bản sao quyết định bổ nhiệm TPL Trong thời hạn 15ngày Sở Tư pháp phải thẩm định trình UBND xem xét, quyết định thành lập Vănphòng TPL Sau khi được thành lập, Văn phòng TPL đăng ký hoạt động tại Sở Tưpháp tỉnh, thành phố nơi đặt Văn phòng; làm thủ tục cấp Thẻ hành nghề TPL cho cácTPL làm việc tại Văn phòng; đăng báo nội dung hoạt động của Văn phòng TPL
- Thực hiện các quy định của pháp luật về công việc của TPL: Các công việc
của TPL gồm: thực hiện tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan THADS;Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện thihành án theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết đinhcủa Tòa án theo yêu cầu của đương sự
Trang 23+ Thực hiện tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan THADS: Việctống đạt của các Văn phòng TPL được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận bằng hợpđồng dịch vụ ký kết giữa Văn phòng TPL với Cơ quan THADS hoặc Tòa án Hợpđồng dịch vụ tống đạt được lập theo mẫu và gồm các nội dung chính như: văn bảncần tống đạt; thời gian thực hiện hợp đồng; thủ tục việc tống đạt; quyền, nghĩa vụcủa các bên; phí thực hiện tống đạt Về thủ tục tống đạt, theo quy định tại Điều 23,Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì Trưởng Văn phòng TPL có thể giao thư ký nghiệp
vụ TPL thực hiện việc tống đạt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận việc tống đạtphải do chính TPL thực hiện Thủ tục thực hiện thông báo về THADS thực hiệntheo quy định của pháp luật về THADS Thủ tục thực hiện việc tống đạt văn bảncủa Tòa án thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng Văn phòng TPL phảichịu trách nhiệm trước Tòa án, Cơ quan THADS về việc tống đạt thiếu chính xác,không đúng thủ tục, đúng thời hạn của mình; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thườngtheo quy định
+ Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức: TPL có quyền lập
vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợptheo quy định pháp luật TPL không được làm Về trình tự, thủ tục, vi bằng được lậpsau khi cá nhân, tổ chức muốn lập vi bằng thỏa thuận được với Trưởng Văn phòngTPL về việc lập vi bằng về: nội dung cần lập vi bằng; địa điểm, thời gian lập vibằng; chi phí lập vi bằng; các thỏa thuận khác (nếu có) Vi bằng phải do chính TPLthực hiện Thư ký nghiệp vụ TPL có thể giúp TPL thực hiện việc lập vi bằng, nhưngTPL phải chịu trách nhiệm về vi bằng do mình thực hiện Vi bằng chỉ ghi nhậnnhững sự kiện, hành vi mà TPL trực tiếp chứng kiến, việc ghi nhận phải kháchquan, trung thực Nếu thấy cần thiết, khi lập vi bằng TPL có quyền mời người làmchứng chứng kiến việc lập vi bằng Vi bằng lập thành 03 bản chính, trong đó mộtbản giao cho người yêu cầu, một bản lưu trữ tại Văn phòng TPL theo quy định vàmột bản phải gửi Sở Tư pháp để đăng ký
Về hình thức, nội dung chủ yếu của vi bằng, theo quy định tại Điều 27, Nghịđịnh số 61/2009/NĐ-CP, thì vi bằng được lập thành văn bản, viết bằng tiếng việt và
Trang 24phải có các nội dung: tên, địa chỉ Văn phòng TPL; họ, tên TPL lập vi bằng; địađiểm, giờ, ngày, tháng, năm lập vi bằng; người tham gia khác (nếu có); họ, tên, địachỉ người yêu cầu lập vi bằng và nội dung yêu cầu lập vi bằng; nội dung cụ thể của
sự kiện, hành vi được ghi nhận; lời cam đoan của TPL về tính trung thực và kháchquan trong việc lập vi bằng; chữ ký của TPL lập vi bằng và đóng dấu Văn phòngTPL, chữ ký của những người tham gia, chứng kiến (nếu có) và có thể có chữ kýcủa những người có hành vi bị lập vi bằng Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh,băng hình và các tài liệu chứng minh khác
+ Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự: Theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành, TPL được quyền xác minh điều kiện trên cơ sở yêu cầu củađương sự (theo hợp đồng dịch vụ về xác minh điều kiện thi hành án) hoặc xác minhkhi trực tiếp tổ chức thi hành án Trước khi tiến hành xác minh thì người được thihành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thihành án trong các vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của các Cơ quan THADStrên địa bàn cấp tỉnh nơi đặt Văn phòng TPL có quyền thỏa thuận với Văn phòngTPL về việc xác minh điều kiện thi hành án Thỏa thuận về xác minh điều kiện thihành án giữa người yêu cầu và Văn phòng TPL được ký kết dưới hình thức hợpđồng dịch vụ có các nội dung chính: nội dung cần xác minh, trong đó nêu cụ thể yêucầu xác minh về điều kiện tài sản hay các điều kiện khác của đương sự; thời gianthực hiện việc xác minh; quyền, nghĩa vụ của các bên; chi phí xác minh; các thỏathuận khác (nếu có) Hợp đồng xác minh điều kiện thi hành án lập theo mẫu số B06/HĐDV.THA.TPL ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/2/2014 của Bộ Tư pháp, TAND tối cao,VKSND tối cao và Bộ Tài chính
Sau khi thỏa thuận xác minh điều kiện thi hành án, Trưởng Văn phòng TPL
ra quyết định xác minh Việc xác minh được tiến hành bằng văn bản yêu cầu hoặctrực tiếp Khi trực tiếp xác minh, TPL xuất trình Thẻ TPL, công bố quyết định vàphải lập biên bản về việc xác minh Trong trường hợp cần thiết, TPL có quyền mời
cơ quan chuyên môn hoặc chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh Các
Trang 25quy định khác của pháp luật về THADS cũng được áp dụng trong việc xác minhđiều kiện thi hành án Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêucầu của TPL về xác minh điều kiện thi hành án và chịu trách nhiệm về nội dungthông tin đã cung cấp.
Xác minh điều kiện THADS là một trong những hoạt động nghiệp vụ chínhcủa TPL được pháp luật quy định, do đó khi thực hiện xác minh, TPL cũng có thẩmquyền như Chấp hành viên của cơ quan THADS được quy định tại khoản 4, Điều
20 Luật THADS năm 2008
Người được thi hành án có quyền dùng kết quả xác minh điều kiện thi hành
án của TPL để yêu cầu thi hành án Cơ quan THADS, Văn phòng TPL có thẩmquyền thi hành án vụ việc căn cứ kết quả xác minh để tổ chức thi hành án Trongtrường hợp có căn cứ xác định kết quả xác minh không khách quan, chính xác thì
Cơ quan THADS, Văn phòng TPL khác có quyền không sử dụng kết quả đó nhưngphải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do (Điều 32, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP)
+ Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu củađương sự: Theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (được sửa đổi, bổsung tại khoản 12, Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP) TPL được quyền tổ chức thihành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệulực của Tòa án cấp huyện nơi TPL đặt văn phòng; bản án, quyết định phúc thẩm củaTòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi TPL đặtvăn phòng; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện nơi TPL đặt văn phòng
TPL thực hiện các thủ tục về thi hành án theo quy định của Nghị định số61/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 135/2013/NĐ-CP Trong trườnghợp Nghị định không quy định thì áp dụng theo quy định của pháp luật về THADS
Việc thi hành án của Văn phòng TPL được thực hiện sau khi người yêu cầu
và Văn phòng TPL thỏa thuận được việc thi hành án dưới hình thức một hợp đồng.Sau khi đã ký kết thỏa thuận tổ chức thi hành án, trừ trường hợp có thỏa thuận khác,trong thời hạn 05 ngày làm việc, Trưởng Văn phòng TPL phải ra quyết định thi
Trang 26hành án Quyết định thi hành án phải được gửi cho Cơ quan THADS cấp huyện tạinơi có Văn phòng TPL để phối hợp thi hành.
Trong quá trình tổ chức thi hành án, các Văn phòng TPL có quyền áp dụngcác biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại khoản 3, Điều 66 của Luật THADSgồm: phong tỏa tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm dừng việc đăng ký, chuyểndịch, thay đổi hiện trạng về tài sản Khi áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án,TPL có quyền và nghĩa vụ như Chấp hành viên, thực hiện các thủ tục quy định tạiĐiều 66, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 của Luật THADS
Bên cạnh đó, Theo quy định tại Điều 39, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thìTPL được áp dụng biện pháp cưỡng chế trong trường hợp sau khi hết thời hạn tựnguyện đã được ấn định trong quyết định thi hành án, TPL có quyền ra quyết định
áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quy định tại Điều 71 của Luật THADS.Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, TPL có quyền, nghĩa vụ như Chấp hành viên vàthực hiện theo quy định của pháp luật về THADS
Đối với trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế trong trường hợp huy độnglực lượng bảo vệ, Văn phòng TPL phải báo cáo, xin ý kiến của Trưởng Ban Chỉ đạoTHADS cấp huyện nơi đặt Văn phòng TPL Trên cơ sở ý kiến của Ban Chỉ đạoTHADS, Văn phòng TPL lập kế hoạch cưỡng chế, báo cáo Cục trưởng Cục THADS,kèm theo hồ sơ thi hành án để Cục trưởng Cục THADS xem xét, phê duyệt kế hoạchcưỡng chế và ra quyết định cưỡng chế thi hành án
Việc thi hành án của TPL chấm dứt trong các trường hợp: người phải thihành án đã thực hiện xong các nghĩa vụ thi hành án theo văn bản yêu cầu thi hành
án hoặc người phải thi hành án, người được thi hành án là cá nhân chết, tổ chức,doanh nghiệp bị phá sản, giải thể mà không có ai kế thừa quyền, nghĩa vụ theo quyđịnh của pháp luật; vụ việc bị đình chỉ theo quy định của pháp luật; theo thỏa thuậngiữa TPL và đương sự (Điều 43 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP)
Việc chấm dứt thi hành án của TPL dẫn đến hậu quả: Văn phòng TPL vàngười yêu cầu thi hành án phải thanh lý văn bản yêu cầu thi hành án; đối với số tiền,tài sản còn tồn đọng không có người nhận, thì Văn phòng TPL xử lý theo quy địnhcủa Luật THADS và pháp luật về tài sản vắng chủ
Trang 27- Thực hiện các quy định pháp luật về về hoạt động tuyên truyền, phổ biến
và kiểm tra, kiểm sát, giám sát hoạt động TPL
+ Thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TPL: Căn cứ Luật phổbiến giáo dục pháp luật năm 2012, nội dung thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật vềTPL là tập trung phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các vănbản quy phạm pháp luật về TPL thông qua các hình thức đa dạng, phong phú khácnhau như họp báo, thông cáo báo chí; phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiệnthông tin đại chúng; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; tư vấn,hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật về TPL
+ Thực hiện công tác quản lý, kiểm tra, kiểm sát, giám sát hoạt động TPL: ỞTrung ương, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về TPL thông qua cácnhiệm vụ: ban hành theo thẩm quyền và đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hànhcác văn bản quy phạm pháp luật về TPL; hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, thanh trahoạt động TPL; bồi dưỡng, đào tạo TPL; bổ nhiệm, miễn nhiệm TPL; cấp, thu hồithẻ TPL; giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động của TPL theo quy định của phápluật Tại địa phương, Sở Tư pháp giúp UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương quản lý nhà nước về TPL tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn: tiếp nhận
hồ sơ, thực hiện các thủ tục trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệmTPL; tiếp nhận hồ sơ, thực hiện thủ tục trình UBND tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương cho phép thành lập, giải thể Văn phòng TPL; Cấp, thu hồi giấy đăng kýhoạt động của Văn phòng TPL; kiểm tra, thanh tra hoạt động của TPL; giải quyếtkhiếu nại, tố cáo đối với hoạt động của TPL theo quy định của pháp luật VKSNDcấp trên và cùng cấp có thẩm quyền kiểm sát hoạt động của TPL theo quy định củaLuật Tổ chức VKSND và quy định có liên quan
1.2.4 Hình thức thực hiện pháp luật về Thừa phát lại
Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức mà các chủ thể pháp luật thựchiện để hiện thực hóa các quy định của pháp luật vào cuộc sống Các quy phạmpháp luật rất phong phú nên hình thức thực hiện chúng cũng rất phong phú và khácnhau Trong các nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay thường chia thành bốn hình
Trang 28thức thực hiện pháp luật là tuân thủ pháp luật (hay tuân theo pháp luật), thi hànhpháp luật (hay chấp hành pháp luật), sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thểkiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm Thi hành phápluật là hình thức thực hiện pháp, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụpháp lý của mình bằng hành động tích cực Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiệnpháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thựchiện những hành vi mà pháp luật cho phép) Áp dụng pháp luật là hình thức thựchiện pháp luật đặc biệt, bởi chủ thể thường là cơ quan nhà nước có thẩm quyền vànội dung là việc các cơ quan này đứng ra tổ chức cho các chủ thể pháp luật thựchiện các quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luậtban hành các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt nhữngquan hệ pháp luật cụ thể [50, tr 493, 494] Nếu xem xét ở góc độ này, thực hiệnpháp luật về TPL cũng được thể hiện qua tất cả các hình thức đó
Tuân thủ pháp luật về TPL là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó cácchủ thể pháp luật tự kiềm chế mình để không thực hiện những hành vi mà pháp luậtTPL ngăn cấm Những quy phạm cấm đoán sẽ được thực hiện ở hình thức này vàđược thực hiện dưới dạng là không hành động Ví dụ các quy định về những việcTPL không được làm tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP như sau:
1 Không được tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc củamình, trừ trường hợp pháp luật cho phép;
2 TPL không được đòi hỏi bất kỳ khoản lợi ích vật chất nào khácngoài chi phí đã được ghi nhận trong hợp đồng
3 Trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, TPL không được nhậnlàm những việc liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người
là người thân thích của mình, bao gồm: vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha
đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác,chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của TPL, của vợ hoặc chồng của TPL;cháu ruột mà TPL là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì
4 Các công việc bị cấm khác theo quy định của pháp luật [12, Điều 6]
Trang 29- Thi hành pháp luật (chấp hành pháp luật) về TPL là một hình thức thựchiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý bằng những hành vitích cực mà pháp luật về TPL đã quy định Các quy phạm pháp luật sẽ được thựchiện ở hình thức này và được thực hiện bằng hành động tích cực Ví dụ, khi thựchiện hoạt động Lập vi bằng thì các TPL phải tuân thủ các quy định về thủ tục lập vibằng quy định tại Điều 26 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tên gọi
và một số điều của Nghị định 61/2009/NĐ-CP Cụ thể:
1 Việc lập vi bằng phải do chính TPL thực hiện Thư ký nghiệp
vụ TPL có thể giúp TPL thực hiện việc lập vi bằng, nhưng TPL phải chịutrách nhiệm về vi bằng do mình thực hiện
2 Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà TPL trực tiếpchứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực
3 Trong trường hợp cần thiết TPL có quyền mời người làm chứngchứng kiến việc lập vi bằng
4 Vi bằng lập thành 03 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 01bản gửi Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiệnthí điểm chế định TPL để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từngày lập vi bằng; 01 bản lưu trữ tại Văn phòng TPL theo quy định củapháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng
5 Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhậnđược vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng TPL Sở Tư pháp
có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúngthẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25của Nghị định này; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng kýtheo quy định tại khoản 4, Điều 26 của Nghị định này Việc từ chối phảiđược thông báo ngay bằng văn bản cho Văn phòng TPL và người yêucầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký
Vi bằng được coi là hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp
- Sử dụng pháp luật trong lĩnh vực thực hiện pháp luật TPL là hình thức thực
Trang 30hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện các quyền mà pháp luật vềTPL quy định Ở hình thức này, chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thựchiện quyền được pháp luật trao tùy thuộc vào mong muốn, ý thức của mình Tuynhiên, khi lựa chọn thực hiện quyền chủ thể của mình thì các chủ thể pháp luật phảithực hiện các quyền pháp lý một cách đúng đắn, trong phạm vi, giới hạn pháp luậtcho phép Ví dụ, một Văn phòng TPL có quyền ký hợp đồng tống đạt với nhiều cơquan THADS hoặc nhiều Tòa án trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngnơi đặt Văn phòng TPL (khoản 2, Điều 24 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP); Vănphòng TPL được quyền thỏa thuận để tống đạt văn bản của Tòa án, cơ quanTHADS các cấp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Vănphòng TPL (khoản 1, Điều 21 Nghị định 61/2009/NĐ-CP); TPL có quyền lập vibằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợppháp luật quy định cấm (khoản 1, Điều 25 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP); Xácminh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự (khoản 1, Điều 30 Nghị định
số 61/2009/NĐ-CP); TPL được quyền trực tiếp tổ chức thi hành theo đơn yêu cầucủa đương sự (khoản 1, Điều 34 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP) Bên cạnh đó, cácvăn bản pháp luật về TPL hàm chứa các quy định cho phép cá nhân, cơ quan tổchức có quyền yêu cầu TPL lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi; đương sự cóquyền yêu cầu TPL xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án
- Áp dụng pháp luật trong lĩnh vực thực hiện pháp luật về TPL là hình thứcthực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩmquyền nhằm vận dụng các quy phạm pháp luật về TPL trong từng trường hợp cụ thểđối với những chủ thể cụ thể Trong trường hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiệnpháp luật có sự can thiệp của Nhà nước Hoạt động áp dụng pháp luật là hoạt độngsáng tạo Hoạt động áp dụng pháp luật đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải áp dụngtheo đúng trình tự, thủ tục, nội dung mà pháp luật đã quy định nhằm bảo đảm tínhchính xác, hợp lý Có thể nói đây là hình thức thực hiện pháp luật mang tính tổnghợp, trong đó có cả ba hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụngpháp luật Áp dụng pháp luật TPL gồm các chủ thể: cơ quan thực hiện quản lý nhà
Trang 31nước về TPL (Bộ Tư pháp; Sở Tư pháp giúp UBND các tỉnh các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về TPL tại địa phương); TPL làm việc tạicác Văn phòng TPL, trong đó các TPL là chủ thể quan trọng Ví dụ các quy định tạiĐiều 10 về tiêu chuẩn bổ nhiệm TPL, Điều 11 về thẩm quyền bổ nhiệm TPL; Điều
12 thủ tục bổ nhiệm TPL thì người muốn được bổ nhiệm TPL phải có hồ sơ gửi Sở
Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện thí điểm chế địnhTPL, trên cơ sở đó Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, đủ điều kiện thì đề nghị Bộtrưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Các quy định về thành lập, đăng ký hoạt động củaVăn phòng TPL tại Điều 17, 18 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, thì TPL thành lậpVăn phòng TPL phải có hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng TPL gửi Sở Tư pháptỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện chế định TPL để thẩm địnhtrình UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét, quyết định cho phépthành lập Văn phòng TPL Các quy định về thủ tục thực hiện các công việc của TPL
về tống đạt văn bản của Tòa án và cơ quan THADS, lập vi bằng, xác minh điều kiệnthi hành án và trực tiếp thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự đượcquy định tại Chương III Nghị định số 61/2009/NĐ-CP
Có thể nói, giữa các hình thức thực hiện pháp luật luôn luôn có sự đan xen,gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, không tách rời nhau Pháp luật là một hệthống các quy phạm pháp luật, các quy phạm pháp luật luôn có mối liên hệ, ràngbuộc lẫn nhau, vì vậy các chủ thể pháp luật thông thường phải thực hiện pháp luậtdưới các hình thức khác nhau, bởi không thực hiện các quy định pháp luật này sẽkhông thực hiện được các quy định pháp luật khác Bên cạnh đó, trong nhiều trườnghợp việc sử dụng pháp luật của chủ thể này sẽ kéo theo việc áp dụng pháp luật củachủ thể khác Ví dụ, nếu cá nhân, tổ chức không tự giác tuân thủ pháp luật (khôngkiềm chế làm những việc pháp luật cấm), thi hành pháp luật (không tự giác thựchiện nghĩa vụ) thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ phải áp dụng các biện phápnhư xử lý vi phạm buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đúng các quy định củapháp luật hoặc phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do những vi phạm đó
Bên cạnh đó việc phân chia bốn hình thức thực hiện pháp luật trên cũng chỉ
Trang 32mang tính chất tương đối phục vụ cho mục đích nghiên cứu nên chủ yếu có ý nghĩa
về mặt lý luận Trong thực tế, các thuật ngữ tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật,
sử dụng pháp luật hay áp dụng pháp luật nhiều khi được hiểu đồng nghĩa với nhau,đều mang một mục đích là pháp luật phải được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnhbởi các chủ thể pháp luật
Qua nghiên cứu các văn bản cũng như từ thực tiễn, tác giả cho rằng thực hiệnpháp luật về TPL, các hình thức thực hiện pháp luật được thực hiện chủ yếu ở đây làhình thức áp dụng pháp luật (chủ thể là nhân viên TPL; cơ quan nhà nước có thẩmquyền); sử dụng pháp luật (chủ thể là cá nhân, tổ chức, đương sự, người có quyềnlợi nghĩa vụ liên quan)
1.3 Vai trò của việc thực hiện pháp luật về Thừa phát lại
1.3.1 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại góp phần bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự, trong quan hệ với cơ quan nhà nước và trong các quá trình tố tụng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội
Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp
và pháp luật” Để thực hiện các quyền con người, quyền công dân của mình, ngườidân cần có những cơ chế hữu hiệu để có thể hỗ trợ họ bảo vệ các quyền và lợi íchhợp pháp trước nguy cơ bị xâm hại TPL với nghiệp vụ lập vi bằng để ghi nhận các
sự kiện hành vi một cách khách quan đang diễn ra là một cơ chế tin cậy giúp cánhân, tổ chức tạo lập các nguồn chứng cứ để giải quyết các tranh chấp tại Toà áncũng như thực hiện các giao dịch dân sự, kinh tế, thông qua đó, bảo vệ tốt hơn cácquyền và lợi ích hợp pháp của người dân Với số lượng, chất lượng và tính chất đadạng của vi bằng đã được lập trong thời gian qua, có thể thấy TPL đã cung cấp loạidịch vụ đáp ứng một nhu cầu lớn của xã hội mà trước đó chưa có tổ chức, cơ quannào cung cấp Hoạt động lập vi bằng có tác dụng phòng ngừa tranh chấp, hòa giảitranh chấp, qua đó góp phần củng cố trật tự xã hội Thực tế cho thấy, một số trườnghợp chỉ ngay khi TPL được yêu cầu lập vi bằng hoặc vi bằng vừa được lập, các bên
Trang 33đã chủ động, tự nguyện hòa giải ổn thỏa mâu thuẫn, không phải khiếu nại, khởi kiệntại các cơ quan tài phán (tòa án, trọng tài, cơ quan hành chính nhà nước …).
Tổ chức và hoạt động của TPL mở ra cho cá nhân, tổ chức cơ hội, khả nănglựa chọn các dịch vụ pháp luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp củamình Sự xuất hiện của các Văn phòng TPL bên cạnh các cơ quan THADS của Nhànước đã tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điềukiện của cá nhân khi yêu cầu THADS hoặc yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án.Việc tiếp tục thực hiện chế định TPL đã góp phần nâng cao nhận thức không nhữngđối với cơ quan nhà nước mà còn đối với người dân về một chủ trương mới củaĐảng, Nhà nước
1.3.2 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại góp phần hỗ trợ Toà án, cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan nhà nước khác
Thực tiễn thực hiện pháp luật TPL thời gian qua cho thấy, nhu cầu sử dụngcác dịch vụ do TPL cung cấp của người dân đã hình thành và ngày càng lớn, nhất làtrong lĩnh vực lập vi bằng Đối với các cơ quan tư pháp, hoạt động tống đạt văn bảncủa TPL đã góp phần hỗ trợ tích cực cho Tòa án và cơ quan THADS thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ chính của mình, giảm tải gánh nặng trong điều kiện khối lượngcông việc của ngành ngày càng lớn như hiện nay Trong đó, chỉ riêng việc tống đạt,hàng năm với số lượng khoảng 400 ngàn vụ việc thụ lý, Tòa án các cấp phải tốngđạt trên dưới 4 triệu văn bản với trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ về tố tụng; cơquan THADS thụ lý gần 800 ngàn vụ việc, phải tống đạt trên 4 triệu văn bản Tạicác thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội số lượng vụ việc mỗiChấp hành viên tổ chức thi hành lên tới trên 300 vụ việc Đây là một khối lượng vănbản, giấy tờ cần phải sử dụng nguồn nhân lực, chi phí đi kèm để thực hiện công táctống đạt là rất lớn Nếu toàn bộ văn bản, giấy tờ cần tống đạt trong quá trình giảiquyết vụ việc của Tòa án và cơ quan THADS được giao TPL thực hiện thì sẽ giảmđáng kể nhân lực phục vụ cho công tác này Bên cạnh đó, hiện nay, số lượng án dân
sự tồn đọng tương đối lớn, ngân sách nhà nước dành cho công tác tổ chức THADSngày càng tăng Sự ra đời của TPL với chức năng tống đạt văn bản của cơ quan
Trang 34THADS và tổ chức thi hành án sẽ chia sẻ gánh nặng, góp phần giảm tải công việc,giảm án tồn đọng và giảm chi phí cho nhà nước trong công tác này.
Hoạt động của TPL góp phần thúc đẩy và bảo đảm các nguyên tắc cơ bảncủa tố tụng tư pháp Việc chuyển giao cho TPL thực hiện tống đạt các văn bản, giấy
tờ làm hạn chế việc gặp gỡ giữa Thẩm phán, cán bộ Tòa án với đương sự ở ngoàitrụ sở Tòa án, ngoài giờ làm việc, qua đó giữ gìn hình ảnh, uy tín của Tòa án, trướctiên là Thẩm phán - những người thay mặt nhà nước thực hiện quyền tư pháp vàthực thi công lý; làm giảm thiểu những đồn đoán, những tiềm ẩn tiêu cực hoặc nguyhiểm mà cán bộ tòa án có nguy cơ gặp phải Việc các đương sự sử dụng vi bằng doTPL lập trong quá trình Tòa án xét xử với tính chất là nguồn chứng cứ hoặc nếuđược xác định là chứng cứ tạo điều kiện để thực thi đúng đắn nguyên tắc về quyềnbào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự, nguyên tắc quyền bảo vệ của đương sựtrong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử đãđược Hiến pháp năm 2013 quy định, góp phần giúp Tòa án giải quyết các vụ ánđược nhanh chóng kịp thời, chính xác, khách quan và đúng pháp luật
1.3.3 Thực hiện pháp luật về Thừa phát lại thúc đẩy việc hình thành một nghề mới trong thị trường dịch vụ pháp lý, thực hiện đúng đắn chủ trương xã hội hóa hoạt động thi hành án, hoạt động bổ trợ tư pháp
TPL là một chức danh tư pháp, một nghề đã tồn tại ở nước ta từ trước năm
1945 và ở miền Nam cho đến năm 1975 Việc thực hiện chế định TPL thời gian qua
thực chất là tạo tiền đề để tái lập lại nghề TPL trong điều kiện kinh tế - xã hội, chínhtrị - pháp lý mới
Việc hình thành (tái lập) nghề TPL là thực hiện đúng đắn chủ trương đẩymạnh xã hội hóa hoạt động THADS, hoạt động hành chính tư pháp (tống đạt giấy tờ
tố tụng, hành chính) và hoạt động bổ trợ tư pháp (lập vi bằng) trong tiến trình cảicách tư pháp, cải cách hành chính Một nhà nước quản trị hiệu quả là nhà nước tạolập được môi trường pháp lý thích hợp, minh bạch, công bằng cho xã hội, mọi cánhân, mọi tổ chức có thể phát huy tối đa các nguồn lực để làm ra của cải vật chất,tinh thần đóng góp cho sự phát triển của đất nước Chế định TPL được thực hiện là
Trang 35bước đi ban đầu để thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước về xã hộihóa THADS, bổ trợ tư pháp Trong bối cảnh sự phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta đang cần có một động lực mới mạnh mẽ thì quá trình xã hội hóa này cần phảihiểu và thực hiện theo đúng tinh thần mà Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định trong
Thông điệp đầu năm 2014: “Xã hội hóa không chỉ để huy động các nguồn lực mà
còn tạo điều kiện cho xã hội thực hiện những chức năng, những công việc mà xã hội có thể làm tốt hơn Và chỉ như vậy mới có thể xây dựng được một bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả” [64].
Các kết quả của hoạt động TPL trong thời gian qua cho thấy khả năng củacác nguồn lực xã hội có thể huy động để đảm nhiệm những chức năng vốn “độcquyền” của Nhà nước (tống đạt văn bản, giấy tờ tư pháp; thi hành án) hoặc chưa có
tổ chức, cơ quan nào thực hiện (lập vi bằng), giảm tải công việc của bộ máy cơ quannhà nước liên quan (Tòa án, thi hành án), giảm tải ngân sách nhà nước đối Thựchiện mô hình TPL là bước đi quan trọng cho một hướng cải cách lâu dài, xây dựng
bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả như mục tiêu của cải cách
tư pháp đã đặt ra cũng như kỳ vọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Bên cạnh đó, việc tái lập nghề TPL thu hút lao động có trình độ đào tạo cao,
có nghề, thu nhập ổn định trong kinh tế thị trường, góp phần thúc đẩy xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Hoạt động TPL bước đầu đã tạo lập một nghềmới trong thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý và là bước đầu tiên xã hội hóa hoạtđộng thi hành án, tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội, đặc biệt thu hút các laođộng có trình độ cao trong cung ứng các dịch vụ pháp lý Việc thực hiện chế địnhnày sẽ tạo môi trường pháp lý lành mạnh, đảm bảo các giao dịch dân sự, kinh tếđúng pháp luật; bảo vệ quyền, lợi ích của các bên khi tham gia các quan hệ này, từ
đó thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Việc tham gia của các Văn phòng TPL vàothị trường cung cấp dịch vụ pháp lý góp phần thúc đẩy sự hợp tác, liên kết cùngphát triển của các loại hình dịch vụ nghề nghiệp như luật sư, công chứng, bán đấugiá đáp ứng ngày một đầy đủ hơn các yêu cầu hỗ trợ pháp lý của người dân trongđời sống dân sự cũng như trong các quan hệ hành chính, tố tụng tư pháp, góp phần
Trang 36thúc đẩy thực thi hiệu quả các nguyên tắc cơ bản của nền tư pháp đã được Hiếnpháp năm 2013 khẳng định như nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bịcáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự,nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử.
1.4 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về Thừa phát lại
1.4.1 Hệ thống pháp luật về Thừa phát lại
Xây dựng và thực thi pháp luật là hai mặt hoạt động cơ bản của nền quản trịquốc gia Chúng ta chỉ có thể xây dựng và thiết lập nền quản trị quốc gia hữu hiệukhi cả hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động thực thi pháp luật đều hiệu quả
Để thực hiện và áp dụng pháp luật có hiệu quả thì phải có một hệ thống pháp luậthoàn chỉnh, đồng bộ, ổn định, sát với thực tế, phù hợp với quy luật khách quan của
sự phát triển kinh tế - xã hội; phù hợp với truyền thống văn hóa pháp lý, điều kiệnkinh tế, chính trị, tâm lý… đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước ở mỗithời kỳ phát triển
Pháp luật TPL được Đảng, Nhà nước tập trung khôi phục trong những nămgần đây, tuy nhiên Nhà nước ta cũng đã kịp thời ban hành Nghị định, các Thông tưhướng dẫn, quy định về TPL, Văn phòng TPL; phạm vi, thủ tục thực hiện các côngviệc của TPL; giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát đối với hoạt động của TPL…qua đó tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các hoạt động của TPL
Hiện nay, các quy định pháp luật về TPL không chỉ được quy định trongNghị định quy định tổ chức và hoạt động của TPL, các Thông tư hướng dẫn mà cònđược dẫn chiếu sang các văn bản khác trong lĩnh vực liên quan như: Nghị định số62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật THADS; Bộ luật dân sự; Luật công chứng; Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Luật
tố tụng hành chính 2015; Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 về chứng thực;Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 107/2015/QH13; Luật tố cáo năm 2011; Nghịđịnh số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật tố cáo; Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra
Trang 37Chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo Do đó, có thể nói hệ thống văn bảnphap luật về TPL ở nước ta hiện nay khá phong phú.
Bênh cạnh đó, triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiệnchế định TPL, hiện nay Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định về tổ chức
và hoạt động của TPL thay thế Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số135/2013/NĐ-CP theo Tờ trình số 26/TTr- BTP ngày 26/6/2017
1.4.2 Hoạt động quản lý và phối hợp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh công cuộc xây dựngNhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân với mục tiêu đề cao giá trị củapháp luật “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật”, công tác quản lý và phối hợpcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền có vai trò quan trọng trong bảo đảm pháp luậtđược thực thi hiệu quả trong thực tế, nhất là trong bối cảnh chế định TPL là một chếđịnh mới được Đảng, Nhà nước ta chủ trương khôi phục trong những năm gần đây.Hầu hết các công việc của TPL thực hiện đều cần sự hỗ trợ, phối hợp rất lớn từ các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
Quản lý nhà nước về TPL là hoạt động mang tính chất quyền lực hành chínhcủa Nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định thựchiện Quản lý nhà nước về TPL là việc Nhà nước dùng các biện pháp, công cụ cóđược nhằm tác động lên quá trình tổ chức và hoạt động TPL làm cho quá trình nàydiễn ra trong khuôn khổ của pháp luật và đạt mục tiêu mà Nhà nước mong muốn
Cụ thể quản lý nhà nước về TPL gắn với việc quy định thẩm quyền của các cơ quanliên quan, các điều kiện, tiêu chuẩn thành lập Văn phòng TPL, cấp phép hoạt độngcủa Văn phòng TPL; bổ nhiệm, miễn nhiệm TPL; giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm bảo đảm cho hoạt động của các Văn phòng TPL đúng quy định của pháp luật, khôngtrái đạo đức xã hội
Hiện nay, theo quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Bộ Tư pháp là cơquan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về TPL; Sở Tư pháp giúp UBND cấp tỉnhquản lý nhà nước về TPL tại địa phương Ngoài ra, các Bộ, ngành khác có liênquan cũng tham gia quản lý nhà nước với trách nhiệm nhất định Việc thực hiện
Trang 38đúng quy định, đầy đủ, kịp thời nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quản lý nhànước sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả của hoạt động TPL, ngược lại, nếuviệc thực hiện không đúng quy định, chậm hoặc không đầy đủ sẽ ảnh hưởng tiêucực đến hoạt động TPL.
Thời gian qua, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về TPL đã được cơquan có thẩm quyền ban hành; thường xuyên tuyên truyền, phổ biến pháp luật vềTPL đến người dân, doanh nghiệp, tổ chức; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng TPL; hướngdẫn nghiệp vụ, kiểm tra, thanh tra hoạt động TPL được thực hiện nghiêm túc, hiệuquả, do đó trong thực hiện công việc, về cơ bản các TPL đã thực hiện đúng trình tự,thủ tục theo quy định pháp luật
Tuy nhiên, triển khai thực hiện pháp luật TPL, việc ban hành các văn bảnquy phạm pháp luật về TPL của cơ quan có thẩm quyền còn chậm, chưa ban hànhquy hoạch tổng thể phát triển Văn phòng TPL Đây là cơ sở pháp lý quan trọng,bước đi đầu tiên trong thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong chiếnlược cải cách tư pháp
Công tác phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được thực hiệnthường xuyên, qua đó bảo đảm sự thông suốt trong quản lý nhà nước và triển khaithực hiện pháp luật TPL Tuy nhiên, có lúc công tác phối hợp giữa các ngành, địaphương, cơ quan, đơn vị có lúc còn chưa thực sự nhịp nhàng; việc phối hợp triểnkhai thực hiện TPL trên cả nước còn chậm; nhiều trường hợp Tòa án, cơ quanTHADS chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình trong việc phối hợp, hỗ trợ cácVăn phòng TPL Trong thực hiện công việc, TPL chưa nhận được sự phối hợp tíchcực từ một số cơ quan, tổ chức, cá nhân như: ở một số xã, phường, khối trưởngkhông hợp tác xác nhận vào biên bản khi TPL thực hiện việc tống đạt cho đươngsự; công tác xác minh điều kiện thi hành án chưa được sự phối hợp từ các cơ quan,đơn vị liên quan do lối nghĩ Văn phòng TPL là dịch vụ tư nhân, năng lực và thẩmquyền hạn chế nên chưa thực sự hợp tác, hỗ trợ; việc thi hành án gặp nhiều khókhăn chủ yếu là từ nhận thức của người dân về TPL chưa đầy đủ nên chưa chủ độngtìm đến các văn phòng TPL do đó số lượng vụ việc thi hành án còn ít Trong thời
Trang 39gian tới, các cơ quan cần xác định TPL là một hướng đi đúng đắn về cải cách tưpháp, từ đó nhận thức đúng về vai trò, tác động của TPL với tư cách là dịch vụcông, hỗ trợ cơ quan tư pháp Tránh tình trạng phân biệt, cho rằng TPL là hoạt độngdịch vụ tư nhân nên các cơ quan công quyền không có trách nhiệm phối hợp hoặcthực hiện không đầy đủ các yêu cầu của TPL.
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Yếu tố kinh tế - xã hội gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế xãhội, hệ thống chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, ápdụng chúng trong lĩnh vực xã hội Nền kinh tế - xã hội phát triển năng động, bềnvững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, tác đồng tích cựctới việc hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của tầng lớp xã hội Ngược lại, nềnkinh tế - xã hội chậm phát triển, kém năng động và kém hiệu quả sẽ có thể ảnhhưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật Yếu tố kinh tế
- xã hội là nền tảng của sự nhận thức hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên
có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật
Trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định qua các năm, nềnkinh tế đất nước không ngừng phát triển, hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vựcđược diễn ra rầm rộ, cùng với thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin, đời sống vậtchất tinh thần, sự hiểu biết của người dân cũng được nâng lên đáng kể, nhu cầu sửdụng các dịch vụ pháp lý như lập vi bằng, tổ chức thi hành án, xác minh điều kiệnthi hành án… nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể pháp luậtcũng được tăng lên hàng năm Thực tế cho thấy, nhu cầu sử dụng các dịch vụ pháp
lý ở các khu vực thành thị cao hơn nông thôn Cùng với đó, các yêu cầu đòi hỏi đốivới các nhân viên TPL phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm cũngnhư kỹ năng nghề nghiệp cao để kịp thời xử lý hiệu quả, chất lượng, đúng quy địnhpháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức Ngoài ra, số lượng cácVăn phòng TPL cũng ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, tổ chứctrong xã hội Đồng thời, trách nhiệm quản lý nhà nước cũng nặng nề hơn, thườngxuyên phải hoàn thiện, ban hành các văn bản phù hợp, đồng bộ với thực tiễn và hệ
Trang 40thống văn bản các lĩnh vực có liên quan; phổ biến, giáo dục pháp luật; đào tạo, bỗidưỡng, đặc biệt tăng cường thanh tra, kiểm tra… để bảo đảm các quy định pháp luậtTPL được thực hiện đúng trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, mặt trái của nền kinh tế - xã hội phát triển, dưới sự tác độngcủa nền kinh tế thị trường, trong bối cảnh hoạt động TPL còn mới, đội ngũ nhânviên TPL chưa nhiều, kinh nghiệm còn hạn chế, số lượng Văn phòng TPL cònmỏng, dẫn đến việc thực hiện một số công việc còn sai sót, chưa hiệu quả, làm giảmniềm tin của người dân đối với hoạt động TPL
1.4.4 Ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện pháp luật của cácchủ thể pháp luật Để đạt được hiệu quả thực hiện pháp luật thì ý thức pháp luật củacác chủ thể đóng vai trò then chốt bởi những ảnh hưởng cả về mặt tích cực lẫn tiêucực tới việc thực hiện pháp luật Khi ý thức của các chủ thể càng cao thì việc thựchiện pháp luật sẽ càng đúng đắn, hiệu quả
Đối với đội ngũ nhân viên TPL, cơ quan quản lý nhà nước là những người cótrình độ, học vấn, hiểu biết nhất định về pháp luật đã giúp cho việc lựa chọn các quyphạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, ra các quyết định và tổ chức thực hiệnđúng đắn, chính xác các quy định của pháp luật Khi thực hiện công việc của mình,yêu cầu chung đặt ra đối với các nhân viên TPL phải trung thực, khách quan;nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật; tuân thủ quy chế tổ chức, hoạtđộng và đạo đức nghề nghiệp; không được làm những việc TPL không được làm…Đối với cơ quan quản lý nhà nước, bảo đảm xây dựng, hoàn thiện hệ thống phápluật phù hợp với thực tiễn, ổn định, đồng bộ, tạo điều kiện để các Văn phòng TPLhoạt động hiệu quả; bổ nhiệm, miễn nhiệm TPL; cấp phép hoạt động cho các Vănphòng TPL; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đúng quy định của pháp luật
Hiện nay, cùng với chính sách tăng cường vai trò của người dân và tổ chức
xã hội trong công tác giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nước, xây dựng cácchính sách pháp luật, phản biện các chính sách pháp luật thì ý thức pháp luật vàhiểu biết pháp luật của người dân ngày càng được nâng lên, qua đó hiệu quả thực