Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài cao học Luật, tác giả tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về Thừa phát lại ở
Trang 1NINH KHÁNH LY
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THỪA PHÁT LẠI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Hồi
Hà Nội - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Ninh Khánh Ly
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI 8
1.1 Khái niệm Thừa phát lại 8
1.2 Pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam 14
1.2.1 Khái niệm pháp luật về Thừa phát lại 14
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về Thừa phát lại 16
1.2.3 Nội dung pháp luật về Thừa phát lại 17
1.3 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về TPL 18
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam 23
1.4.1 Sức ép của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế 23
1.4.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước 24
1.4.3 Nhận thức về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay 28
Kết luận Chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 31
2.1 Thực trạng pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay 31
2.1.1 Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến Thừa phát lại 31
2.1.2 Thực trạng các quy định của pháp luật về Thừa phát lại 33
Trang 42.2 Nguyên nhân của những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế của
pháp luật về Thừa phát lại 63
2.2.1 Nguyên nhân của những kết quả đạt được của pháp luật về Thừa phát lại 63
2.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của pháp luật về Thừa phát lại 64
2.3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại 66
2.3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại 66
2.3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại 68
Kết luận chương 2 79
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
VP TPL Văn phòng Thừa phát lại
XMĐKTHADS Xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xã hội hóa dịch vụ công trong đó có xã hội hóa một số hoạt động tư pháp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng được nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, Nhà nước không trực tiếp thực hiện hết mọi công việc mà giao cho xã hội thực hiện và Nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý chung Xã hội hóa một số hoạt động tư pháp nhằm mục đích phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu của nhân dân và đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp cho họ trong lĩnh vực này, do vậy, tại Nghị quyết Đại hội
lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Cải cách hệ thống Tư pháp Nâng cao việc giám
sát của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước Hỗ trợ và khuyến khích các
tổ chức hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của dân Những tổ chức này có thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ cung cấp một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng Thông qua đó Nhà nước có thể tập trung sức lực để có thể thực hiện những nhiệm vụ quan trọng hơn”
Thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng là một trong những hoạt động quan trọng nhằm khôi phục, bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại Việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án là yếu tố quan trọng nhất của hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật Nếu bản án, quyết định của Tòa án không được thi hành đồng nghĩa với việc pháp luật mà bản án, quyết định căn
cứ không có ý nghĩa trên thực tế
Do vậy, thi hành dứt điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bảo đảm tính pháp chế của các bản án, quyết định; bảo đảm trật tự,
Trang 7an toàn xã hội Chính vì vậy, Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bản
án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan,
tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự; các cơ quan quản lý thi hành án dân sự, Cơ quan Thi hành án dân sự và cán bộ, công chức ngành thi hành án đã nỗ lực phấn đấu để nâng cao kết quả và hiệu quả của công tác thi hành án dân sự Tuy nhiên, lượng án tồn đọng trong công tác THADS cũng như số lượng công việc của Tòa án cũng không ngừng tăng lên khiến cho việc tống đạt giấy tờ trở nên quá tải, làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, gây bức xúc trong xã hội, làm ảnh hưởng tới tính nghiêm minh của pháp luật; uy tín, hiệu lực quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước giảm sút, đồng thời dẫn tới tình trạng khiếu nại kéo dài Do đời sống xã hội ngày càng được nâng lên, dân trí tăng cao cùng với nền kinh tế thị trường, quá trình hội nhập kinh tế, quốc
tế, nhu cầu pháp lý từ phía các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, đặc biệt
là nhu cầu tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngăn ngừa vi phạm
hoặc thiệt hại có thể xảy ra cho mình hoặc cho cộng đồng cũng tăng lên
Ngày 19/02/2009 Thủ tướng chính phủ đã có Quyết định số
224/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành
phố Hồ Chí Minh” Theo Quyết định này, việc thực hiện đề án là nhằm xác
định sự cần thiết và tính hiệu quả của Thừa phát lại trong hoạt động tư pháp nói chung và THADS nói riêng, xác định khả năng áp dụng mô hình này trên toàn quốc, thực hiện chủ chương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa một số hoạt động hành chính, tư pháp Sau thời gian nghiên cứu nhu cầu xã hội như hoạt động của cơ quan Tòa án, Cơ quan Thi hành án dân sự, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt
Trang 8động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm từng bước đưa hoạt động Thừa phát lại vào đời sống xã hội, Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 và nhiều văn bản pháp luật trực tiếp hướng dẫn thực hiện chế định TPL Sự ra đời của Thừa phát lại có thể chính là giải pháp hữu hiệu giải quyết sự quá tải trong công tác THADS và hoạt động của Tòa án, làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà
nước, cũng như đáp ứng được nhu cầu khách quan của nhân dân
Pháp luật về TPL là một công cụ hữu hiệu để quản lý tổ chức, hoạt động TPL Trong thời gian qua, pháp luật về TPL ở nước ta đang từng bước được xây dựng và hoàn thiện góp phần quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp
ở Việt Nam Thực tiễn cho thấy, công cuộc cải cách tư pháp là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng đất nước phát triển bền vững thì việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại là hết
2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đếnđề tài
Tuy Thừa phát lại đã từng tồn tại ở Việt Nam từ trước năm 1975, nhưng
đã một thời gian dài mô hình này không được áp dụng nữa, vì vậy việc nghiên cứu pháp luật về Thừa phát lại là rất cần thiết và được sự quan tâm ủng hộ của Đảng, Nhà nước và xã hội Tuy nhiên, cho tới nay, có rất ít công trình nghiên cứu riêng biệt, có hệ thống pháp luật về Thừa phát lại Một số công trình nghiên cứu có liên quan tới nội dung của luận văn như:
Trang 9- Đề tài cấp Bộ: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở
Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh (1996), Những cơ sở lý luận và thực tiễn về
chế định Thừa phát lại, mã số 95-98-114/ĐT Đề tài đã đưa ra một số mô hình
thi hành án của một số nước trên thế giới và đề xuất một số mô hình Thừa phát lại ở Việt Nam để thảo luận
- Luận văn thạc sĩ, gồm có:
+ Xã hội hóa thi hành án dân sự, tác giả Lê Xuân Hồng (2001), luận văn
thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong luận văn tác giả đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng mang giá trị lý luận cao như: Khái niệm về xã hội hóa, xã hội hóa THADS; nội dung của xã hội hóa; đề xuất mô hình Thừa phát lại trong xã hội hóa THADS
+ Thừa phát lại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, tác giả Nguyễn Minh Thùy (2011), luận văn thạc sĩ, Trường Đại học
Luật Hà Nội Trong luận văn tác giả tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của của Thừa phát lại ở Việt Nam, đánh giá những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những mặt tồn tại và hạn chế trong pháp luật, tổ chức hoạt động của Thừa phát lại, từ đó để xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện về pháp luật và nâng cao hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay
+ Thừa phát lại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả Nguyễn
Anh Thư (2014), luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong luận văn tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động TPL, tức là công việc mà TPL thực hiện và các cơ chế để bảo đảm cho hoạt động có hiệu quả của TPL, luận văn phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về TPL và đưa ra những kết quả đạt được đồng thời chỉ ra những mặt tồn tại trong giai đoạn thí điểm, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 10+ Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, tác giả Tạ Quỳnh
Anh (2015), luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong luận văn tác giả tập trung nghiên cứu về khái niệm, nội dung và mục đích của xã hội hóa THADS; các quy định của pháp luật về thực hiện xã hội hóa THADS và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động này
- Khóa luận tốt nghiệp: Phạm Hùng Cường (2010), Mô hình Thừa phát
lại tại thành phố Hồ Chí Minh – Bước đột phá trong việc thực hiện xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam, khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà
Nội Trong khóa luận tác giả nghiên cứu mô hình Thừa phát lại được thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) trong tiến trình xã hội hóa THADS ở Việt Nam; khóa luận đưa ra khái niệm về xã hội hóa THADS; quan điểm đánh giá quy định của pháp luật về TPL được thực hiện thí điểm tại TP HCM; các vấn đề còn tồn tại cần phải khắc phục cũng như kiến nghị giải pháp hoàn thiện
Ngoài ra có sách tham khảo:
TS Nguyễn Đức Chính (Chủ biên, 2006), Tổ chức Thừa phát lại, Nxb
Tư Pháp Cuốn sách giới thiệu một cách tương đối toàn diện, có hệ thống về
sự xuất hiện, hình thành, phát triển của Thừa phát lại ở Việt Nam, vai trò của Thừa phát lại trong hoạt động tư pháp trước đây; lý giải vì sao hiện nay cần phải có Thừa phát lại; thành lập tổ chức Thừa phát lại sẽ có những lợi ích gì; mối quan hệ giữa Thừa phát lại với các chức danh tư pháp hiện tại; các nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể, mô hình tổ chức Thừa phát lại; các giải pháp, điều kiện, các bước nên thực hiện để TPL hình thành và hoạt động
Ths.Vũ Hoài Nam (2013), Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở
Việt Nam hiện nay, Nxb Tư Pháp Cuốn sách đề cập tới quá trình hình thành
và phát triển của Thừa phát lại ở Việt Nam; tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở một số quốc gia trên thế giới; Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại ở Việt Nam; các công việc mà Thừa phát lại được làm; một số vấn đề
Trang 11về khiếu nại, tố cáo, kiểm sát hoạt động của Thừa phát lại Từ đó, có cái nhìn tổng quát pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam cũng như vai trò của Thừa phát lại
Bên cạnh đó còn một số các bài viết trên tạp chí, các bài báo đề cập đến vấn đề xây dựng mô hình Thừa phát lại
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài cao học Luật, tác giả tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay, đánh giá những kết quả đạt được, những mặt tồn tại và hạn chế của pháp luật và trong tổ chức hoạt động của Thừa phát lại, từ đó để xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam từ năm 2005 đến nay
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá quy định pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam để tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về
Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Làm sáng tỏ lý luận về hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại
Đánh giá quy định pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam.Từ đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của pháp luật trong lĩnh vực này và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam trong thời gian tới
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong các văn kiện
Trang 12Đại hội Đảng và Nghị quyết các hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng đề cập đến vấn đề cải cách tư pháp, cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Bên cạnh đó, luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích…
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá quy định pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam, luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về quy định pháp luật
về tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại, những điểm tích cực, hạn chế của quy định pháp luật về TPL, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam trong thời gian tới
Kết quả nghiên cứu của luận văn mang ý nghĩa tham khảo; các kết luận
và kiến nghị được đưa ra trong luận văn có giá trị tham khảo trong quá trình hoàn thiện quy định pháp luật Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay; luận văn còn là tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy nghiên cứu liên quan, cho
các Thừa phát lại và những người quan tâm đến lĩnh vực này
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì luận văn được kết cấu làm
hai chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại
Chương 2 Thực trạng pháp luật, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỪA PHÁT LẠI
1.1 Khái niệm Thừa phát lại
Thừa phát lại là một nghề xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm nay, TPL được hình thành từ thời trung cổ tại các nước ở châu Âu: Anh, Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan và các nước châu Mỹ như Canada, Mỹ1
Ngày nay, trên thế giới
có nhiều cách hiểu khác nhau về TPL
Tại Hoa Kỳ, Thừa phát lại (Bailiffs) được hiểu đó là cán bộ thực thi pháp luật mà nhiệm vụ được giới hạn trong phạm vi Tòa án Họ chịu trách nhiệm chính cho việc duy trì an ninh trật tự trong phòng xử án và hỗ trợ thẩm phán trong việc tiến hành có trật tự của phiên tòa2
Tại Anh, Thừa phát lại là người thực hiện các hoạt động pháp lý hỗ trợ cho Cảnh sát, Thẩm phán tại Tòa án và các cơ quan hành chính địa phương Nhiệm vụ của TPL rất đa dạng và khác nhau trong các lĩnh vực như: Xét xử, cưỡng chế thi hành các bản án, thực hiện các nhiệm vụ tư pháp hoặc tống đạt các yêu cầu của các công ty thu hồi nợ, đánh thuế và được hiểu như là các công ty tư nhân thực hiện nhiệm vụ
Theo đánh giá nói chung, so với các nước trên thế giới, chế định Thừa phát lại (Huissier) ở Pháp được xây dựng hoàn thiện, hiệu quả hơn cả Điều 1 Pháp lệnh số 452592 ngày 02/11/1945 quy định thẩm quyền theo nội dung
của TPL và tổ chức nghề TPL có quy định như sau: “Thừa phát lại là người
tr.9-14
2
Nguyễn Anh Thư (2014), Thừa phát lại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại
học Luật Hà Nội, tr.5, trích tài liệu: “www.legalcaceers.about.com (Bailiffs are lawenforcement officers who play an important role in the courtroom Bailiffs areprimarilyresponsible for maintaining order and security
in the courtroom and assisting the judge in the orderly conduct of trail)”.
Trang 14sở hữu một tước vị, có độc quyền trong việc tống đạt văn bản và văn bản tố tụng, tiến hành các thủ tục thông báo được pháp luật quy định trong trường hợp không quy định rõ phương thức thông báo, và thi hành các bản án, quyết định của tòa án và các văn bản có hiệu lực thi hành khác …” 3
Nhắc tới danh từ “Thừa phát lại” hẳn rất xa lạ với đa số người dân Việt
Nam hiện nay Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các nhà khoa học và tài liệu lịch sử hiện có thì TPL xuất hiện ở Việt Nam từ thời phong kiến Một số học giả nghiên cứu về lịch sử nhà nước – pháp luật Việt Nam cho rằng ngay từ giai đoạn đầu khi Nhà nước phong kiến hình thành, việc xét xử chủ yếu vẫn
do các quan lại phụ trách và người giúp việc của quan lại phải thực hiện các công việc tương tự với công việc chức danh Thừa phát lại hiện này được làm, chẳng hạn như: Truyền đạt khẩu lệnh, công văn, giấy tờ, chuẩn bị phiên tòa, thông báo việc thi hành án… Có tài liệu cho rằng, Thừa phát lại xuất hiện ở Việt Nam song hành với việc Vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 05/6/1862 nhượng 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp, khi người Pháp đặt chế độ cai trị thực dân
và áp dụng quy chế về thuộc địa lãnh thổ và coi 6 tỉnh Nam kỳ như một Hạt của Pháp Chính vì vậy mà có thể nói chế định TPL mới ở giai đoạn manh nha, bước đầu hình thành ở Việt Nam
Thuật ngữ Thừa phát lại chỉ được chính thức ghi nhận trong các văn bản
đó là: Bộ Dân sự tố tụng Nam Việt năm 1910; Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1917
và Bộ Dân sự tố tụng Bắc Kỳ năm 1931; Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1942; Nghị định số 111 ngày 08/3/1949 của chính quyền Bảo Đại; Bộ luật Dân sự, Thương sự tố tụng năm 1972 của Việt Nam Cộng Hòa4 Trong các văn bản trên và ở các vùng khác nhau, Thừa phát lại được gọi với những tên khác
3
Nguyễn Anh Thư (2014), Thừa phát lại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.5, trích trong tài liệu: “www.puf.edu.vn (Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại
ở Cộng hòa Pháp”
Trang 15nhau như: Chưởng tòa (miền Bắc), Mõ tòa (miền Trung), Thừa phát lại (miền Nam) nhưng đều thể hiện chức năng của chức danh “Huissier” trong Bộ Dân luật Pháp năm 1804 và Bộ Dân sự tố tụng Pháp năm 1807 mà dịch sang tiếng Việt là “Chưởng tòa” hay là nhân viên chấp hành (ở Tòa án); (cũ) mõ tòa5 Theo đó, hoạt động của Thừa phát lại bao gồm: 1) Trước khi xét xử Thừa phát lại được lâp các vi bằng, biên bản, tống đạt các thư mời, giấy triệu tập 2) Trong khi xét xử Thừa phát lại có nhiệm vụ báo tin tòa đăng đường, tòa bế mạc, truyền đạt việc gọi tên, các đương sự, người làm chứng, chuyển chứng cứ; giữ gìn trật tự phiên tòa 3) Sau khi xét xử Thừa phát lại tống đạt các giấy
tờ đốc thúc thi hành án; lập các chứng thư thi hành các nội dung bản án đã tuyên về trục xuất, phát mại tài sản, trả nợ,…Thừa phát lại được bổ nhiệm và
là công lại, nhiệm lại, nhưng không phải công chức hưởng lương nhà nước Thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo quản hạt của Tòa án Nhiệm vụ của Thừa phát lại rất rộng, không chỉ thi hành các bản án có nghĩa là các công việc sau xét xử mà còn thực hiện các công việc trước và trong xét xử6
Đó là xuất xứ của danh từ Thừa phát lại, tuy nhiên để nói tới khái niệm Thừa phát lại thì có nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất, Thừa phát lại - Những nhân viên công lại có nhiệm
vụ tống đạt các văn bản tố tụng tư pháp và các văn bản khác, cưỡng chế thi hành các bản án, quyết địnhcủa Tòa án, các văn bản của công chứng viên và làm các công việc khác tại các tòa án7 Tuy nhiên với cách định nghĩa như
Trang 16quan điểm này thì dễ nhầm lẫn chức năng công chứng viên và chức năng của Thừa phát lại, định nghĩa chưa rõ ràng
Quan điểm thứ hai, Thừa phát lại là viên chức chuyên tống đạt giấy tờ và
thi hành phán quyết của Tòa án hay thu một sản vật Thừa – giúp, phụ giúp; theo, tuân theo lệnh của cấp trên Phát - gửi đi, giao cho ai vật gì Lại - người làm việc cấp dưới Thừa phát lại là những người được luật pháp giao cho các việc: truyền phiếu, các việc biên chép, chuyển đưa các giấy tờ thuộc về Thẩm phán hoặc ngoại Thẩm phán, các việc thi hành án, các công văn và các công việc nội bộ trong các tòa án
Với cách hiểu như trên thể hiện được hoạt động của Thừa phát lại mang tính quyền lực nhà nước, Thừa phát lại không hưởng lương ngân sách nhà nước Theo định nghĩa trên thì Thừa phát lại đang là một cơ quan được luật pháp giao việc và Thừa phát lại có thể từ chối không làm được không? Nếu không được từ chối mà buộc phải làm thì Thừa phát lại không khác gì một công chức, viên chức nhà nước
Quan điểm thứ ba, được thể hiện trong quy định tại khoản 1 Điều 2 Văn
bản hợp nhất số 7821/VBHN-BTP: “Thừa phát lại là người có các tiêu
chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan” Quan điểm mới nhất này
nhìn nhận Thừa phát lại dưới góc độ chủ thể và đã phần nào làm rõ được câu hỏi: “Thừa phát lại là ai? Thừa phát lại làm những công việc gì? ”
Tuy nhiên, khác với các quan điểm trên, nếu nhìn nhận Thừa phát lại dưới góc độ toàn diện về chủ thể và hoạt động của chức danh này thì có thể
đưa ra một khái niệm tổng quát về Thừa phát lại như sau: Thừa phát lại là
người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thực hiện các công việc về tống đạt các văn bản của Tòa án, Cơ quan Thi hành án dân sự; lập vi bằng; xác minh điều kiện thi hành án và thi hành án dân sự theo
Trang 17trình tự, thủ tục do pháp luật quy định về tố tụng, thi hành án và pháp luật có liên quan
Định nghĩa trên về TPL cho thấy chức danh này vừa có điểm tương đồng, vừa có điểm khác biệt với một số chức danh tư pháp khác Cụ thể:
- Thừa phát lại và Chấp hành viên
Chấp hành viên là người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm và giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định mà theo quy định của Luật thi hành
án dân sự phải được đưa ra thi hành Chấp hành viên là công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và phải thực hiện công việc theo quy định về chế độ công chức, công vụ
Thừa phát lại mặc dù cũng do Nhà nước bổ nhiệm và thực hiện một số công việc như Chấp hành viên như: Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, xác minh điều kiện thi hành án, tuy nhiên, Thừa phát lại không phải là công chức nhà nước, chức danh TPL làm việc được hưởng thù lao, phí tổn theo biểu giá
Nhà nước quy định và hợp đồng ký kết với khách hàng
- Thừa phát lại và Kiểm sát viên
Mối quan hệ giữa Thừa phát lại và Kiểm sát viên là mối quan hệ kiểm tra
- giám sát Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tống đạt các văn bản về thi hành và trong hoạt động thi hành án của TPL theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và pháp luật về thi hành án dân sự Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tống đạt các văn bản của Tòa án được thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
và pháp luật về tố tụng
- Thừa phát lại và Thư ký Tòa án
Cũng giống như Chấp hành viên và Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án là công chức nhà nước, họ được giao thực hiện một số công việc của Tòa án
Trang 18như: Phát hành các giấy tờ triệu tập đương sự và những người liên quan khác đến Tòa án để lấy lời khai; tham dự phiên tòa; giúp ghi lời khai đương sự, nhân chứng; tiến hành các thủ tục khai mạc phiên tòa, ghi biên bản phiên tòa,…
Như vậy, có thể nói mối quan hệ giữa TPL và Thư ký Tòa án nêu trên là mối quan hệ phối hợp – hỗ trợ, Thừa phát lại hỗ trợ Thư ký Tòa án thực hiện một số công việc Rõ ràng việc làm trên của TPL đã góp phần quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả xét xử đồng thời cũng góp phần bảo đảm các quyền lợi chính đáng của các đương sự, nhất là các quyền về tố tụng
- Thừa phát lại và Công chứng viên
Thoạt nhìn, hoạt động của Thừa phát lại có những nét giống với hoạt động của Công chứng viên, nhất là hành vi công chứng và hành vi lập vi bằng Tuy nhiên, hoạt động của hai chức danh này không hề chồng chéo nhau Nếu Công chứng viên là người thay mặt Nhà nước để chứng kiến và công nhận tính xác thực của các thỏa thuận, văn kiện, giấy tờ, hợp đồng dân sự theo yêu cầu của khách hàng; hoạt động của Thừa phát lại là lập các vi bằng về những sự kiện xảy ra mà ít bị khống chế về thời gian và không gian theo yêu cầu của khách hàng Mục đích của hoạt động công chứng và Thừa phát lại đều nhằm hỗ trợ ngăn chặn cũng như giải quyết các tranh chấp, giúp tổ chức và cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất
Ở một khía cạnh nào đó, hoạt động lập vi bằng nói chung và các vi bằng nói riêng cũng hỗ trợ cho hoạt động của các Công chứng viên Thực tế, rất nhiều giao dịch cần có sự chứng kiến của Thừa phát lại, khi đó các tài liệu này sẽ hỗ trợ quá trình tác nghiệp của Công chứng viên Hai chức danh này không bài trừ nhau, không chồng chéo về lập vi bằng và các văn bản khác được công chứng
Trang 191.2 Pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam
1.2.1 Khái niệm pháp luật về Thừa phát lại
Các quan điểm hiện đại đều cho rằng, pháp luật là công cụ quản lý xã hội
đã phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội trở nên phức tạp, đặc biệt là khi xã hội có sự phân hóa giai cấp có lợi ích đối lập nhau, các công cụ quản lý
xã hội khác như tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo… không còn đủ khả năng duy trì được trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Trong những điều kiện như vậy, Nhà nước đã ban hành ra pháp luật, một mặt, Nhà nước thừa nhận một số quy định đã có trong xã hội thành pháp luật và bảo đảm cho chúng được thực hiện, mặt khác, Nhà nước tiến hành đặt ra những quy định mới để tổ chức và quản lý xã hội, vừa để bảo vệ lợi ích chung của xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của lực lượng cầm quyền
Theo nghĩa hẹp, pháp luật gồm các quy định mà phần lớn là các quy tắc
xử sự chung do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích chung của xã hội và lợi ích của lực lượng cầm quyền
Theo nghĩa rộng, pháp luật không chỉ gồm các quy tắc xử sự chung mà còn bao hàm các nguyên tắc xử sự, các tư tưởng, học thuyết pháp lý, khung pháp luật, chính sách pháp luật… được thể hiện ở các loại nguồn pháp luật khác nhau8
Thông thường pháp luật được hiểu khái quát như sau:“Pháp luật là hệ
thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước” 9
Trang 20Pháp luật về Thừa phát lại là một trong những bộ phận cấu thành nên hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để điều chỉnh hoạt động của Thừa phát lại, hay các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của Thừa phát lại cần có pháp luật Pháp luật Thừa phát lại ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do các
cơ quan nhà nước có thầm quyền ban hành được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật
Hệ thống văn bản pháp luật về Thừa phát lại, cùng với pháp luật nói chung đã xây dựng được cơ chế quản lý thống nhất về tổ chức, hoạt động của Thừa Phát lại; pháp luật quy định Thừa phát lại có bốn chức năng chính là tống đạt văn bản, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp thi hành dân sự các bản án, quyết định của Tòa đã có hiệu lực pháp luật, được thực hiện bởi chức danh Thừa phát lại Văn phòng Thừa phát lại có sự độc lập với Cơ quan thi hành án dân sự
Trên cơ sở khái niệm về pháp luật và khái niệm Thừa phát lại có thể
hiểu: Pháp luật về Thừa phát lại là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà
nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; trình tự, thủ tục thực hiện các chức năngcủa Thừa phát lại và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động của Thừa phát lại
Pháp luật về Thừa phát lại được thể hiện chủ yếu trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-
CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại
Trang 21
thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Nghị định số 61/2009/NĐ-CP
và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP được Bộ Tư pháp hợp nhất thành Văn bản hợp nhất số 7821/VBHN-BTP ngày 25/11/2013); Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNN ngày 17/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng; Thông tư liên tịch 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội…
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về Thừa phát lại
Trên cơ sở khái niệm pháp luật về Thừa phát lại, có thể thấy pháp luậtvề Thừa phát lại có một số đặc điểm cơ bản sau:
Mặc dù tồn tại ở nước ta trong nhiều năm nhưng trong thời gian gần đây
mô hình TPL mới được thực hiện trở lại nên các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; trình tự, thủ tục thực hiện chức năng của Thừa phát lại là: Tống đạt văn bản, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp thi hành các bản án, quyết định của Tòa đã có hiệu lực pháp luật và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động của Thừa phát lại Do vậy, yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của TPL là điếu tất yếu Quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về TPL nhằm làm cho hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về Thừa phát lại nói riêng đảm bảo tính toàn diện, thống nhất, đồng bộ, phù hợp, khả thi, ngôn ngữ, kỹ thuật xây dựng văn bản đạt trình độ cao
Pháp luật về Thừa phát lại gồm các quy tắc xử sự chung được đặt ra dựa trên sự khái quát hóa những trường hợp phổ biến xảy ra trong xã hộicần có sự điều chỉnh của pháp luật Pháp luật về TPL mang tính bắt buộc chung, quy
Trang 22định pháp luật được dự liệu đối với tất cả cá nhân, tổ chức có liên quan, là sự
mô hình hóa những nhu cầu của xã hội dưới hình thức pháp lý
Pháp luật về Thừa phát lại được đặt ra từ đòi hỏi, yêu cầu của công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, từng bước thực hiện việc xã hội hóa thi hành án dân sự
Pháp luật về Thừa phát lại liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước đối vớihoạt động bổ trợ tư pháp, thi hành án; bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, góp phần ổn định các quan hệ xã hội, bảo đảm an ninh trật tự, từ đó góp phần xây dựng kinh tế - xã hội phát triển Mặc dù quy định về Thừa phát lại không nằm tập trung trong một văn bản nhưng pháp luật về Thừa phát lại đang từng bước phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng đòi hỏi của xã hội
1.2.3 Nội dung pháp luật về Thừa phát lại
Nội dung pháp luật về Thừa phát lại bao gồm ba nhóm quy định cơ bản tại Văn bản hợp nhất số 7821/VBHN-BTP, cụ thể như sau: Các quy định về
tổ chức Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại; các quy định về hoạt động của Thừa phát lại; các quy định về khiếu nại, tố cáo và kiểm sát hoạt động của Thừa phát lại
- Các quy định về tổ chức của Thừa phát lại bao gồm:
Một là, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và các hành vi bị cấm đối với
Thừa phát lại
Hai là, về bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa phát lại trong đó quy định về tiêu
chuẩn được bổ nhiệm làm TPL, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa phát lại
Ba là, quy định về tổ chức bộ máy và mô hình hoạt động của Văn phòng
Thừa phát lại
Trang 23Bốn là, quy định về thành lập, giải thể Văn phòng Thừa phát lại bao gồm
quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập, giải thể VP TPL
Năm là, quy định về chế độ thông tin, báo cáo của VP TPL
Sáu là, quy định về quản lý nhà nước đối với Thừa phát lại
Bảy là, quy định về xử lý vi phạm đối với Thừa phát lại, Văn phòng
Thừa phát lại
- Các quy định pháp luật về chức năng của Thừa phát lại
Theo quy định của pháp luật về Thừa phát lại, Thừa phát lại có một số chức năng cơ bản sau: Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc
Cơ quan Thi hành án dân sự; lập vi bằng theo yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện thi hành án; thi hành các bản án, quyết định của Tòa
án theo yêu cầu của đương sự
- Quy định về khiếu nại, tố cáo và kiểm sát hoạt động của TPL
1.3 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về TPL
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật về Thừa phát lại và trong thực tiễn tổ chức, thực hiện chế định Thừa phát lại đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế về Thừa phát lại, nhất là phải xây dựng hành lang pháp lý vững chắc để tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn, góp phần thiết thực trong thực hiện chủ trương xã hội hóa đối với một số hoạt động tư pháp Do vậy, hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại là hoạt động làm cho pháp luật về Thừa phát lại hoàn chỉnh, toàn diện, đồng bộ
và kịp thời nhằm xây dựng hành lang pháp lý vững chắc cho tổ chức và hoạt động Thừa phát lại đạt hiệu quả cao trong thực tế, đáp ứng nhu cầu, đỏi hỏi khách quan của xã hội
Để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về Thừa phát lại cần dựa vào những tiêu chí được xác định về mặt lý thuyết, từ đó liên hệ với điều kiện
và hoàn cảnh thực tế thực tế, xem xét một cách khách quan và rút ra những
Trang 24kết luận, đánh giá làm sáng tỏ những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật về Thừa phát lại Xác định tiêu chí hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Để có cơ sở đánh giá, xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về Thừa phát lại, cần phải dựa vào những tiêu chí nhất định Về mặt lý thuyết, những tiêu chí đó là những yếu tố làm nên giá trị của pháp luật về Thừa phát lại; về mặt thực tiễn, là những điều kiện đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật phải đáp ứng để bảo đảm và phát huy vai trò to lớn của pháp luật về Thừa phát lại
Có nhiều tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại, trong đó, có một số tiêu chí cơ bản là: Tính toàn diện, tính thống nhất, đồng
bộ, tính phù hợp, khả thi, ngôn ngữ, kỹ thuật xây dựng pháp luật, tính minh bạch và tính ổn định tương đối của pháp luật về Thừa phát lại
- Tính toàn diện của pháp luật về Thừa phát lại
Tính toàn diện của pháp luật về Thừa phát lại thể hiện ở cấu trúc hình thức của nó, nghĩa là pháp luật về Thừa phát lại phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực Thừa phát lại Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật về Thừa phát lại phải có khả năng bao quát đầy đủ nhu cầu, đòi hỏi của xã hội về Thừa phát lại, để những vấn đề về tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại cần có sự điều chỉnh của pháp luật thì đều
có pháp luật điều chỉnh kịp thời Tính toàn diện của pháp luật về TPL cần phải được đánh giá từ các quy định pháp luật có logic, chặt chẽ hay không, có đầy đủ các quy phạm cần thiết hay không Bên cạnh đó, không chỉ chú trọng
về luật nội dung mà cần phải chú trọng luật hình thức về trình tự, thủ tục Đồng thời, phải ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn chi
tiết các trường hợp cần có pháp luật điều chỉnh
Trang 25- Tính thống nhất và đồng bộ của pháp luật về Thừa phát lại
Giữa các bộ phận của pháp luật về TPL không chỉ có mối liên hệ gắn bó, chặt chẽ mà còn luôn có sự thống nhất nội tại với nhau Sự thống nhất và đồng bộ của pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật Tính thống nhất và đồng bộ thể hiện giữa các quy phạm pháp luật có thống nhất, đồng bộ hay không, có hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn nhau của các quy phạm pháp luật Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hòa về nội dung mà còn phải bảo đảm sự đồng bộ, tính thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng Bất kỳ một quy phạm pháp luật nào hoặc văn bản quy phạm pháp luật nào cũng được tạo ra và tác động không phải trong sự độc lập, riêng rẽ mà trong tổng thể những mối liên hệ và ràng buộc nhất định Do vậy, tính đồng
bộ của pháp luật về Thừa phát lại ảnh hưởng rất lớn đến tính khả thi, hiệu quả của pháp luật Tính đồng bộ của pháp luật về TPL còn thể hiện ở việc ban hành đầy đủ các văn bản quy phạm chi tiết; các văn bản, quy định pháp luật trong những trường hợp cần có sự quy định chi tiết, để khi văn bản pháp luật
có hiệu lực thì nó cũng đã có đủ các điều kiện để có thể tổ chức, thực hiện ngay trên thực tế
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TPL phải tuân thủ đúng thẩm quyền, quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nguyên tắc về tính thống nhất giữa các văn bản đòi hỏi phải có sự tuân thủ nguyên tắc pháp chế trong việc ban hành văn bản của các cơ quan nhà nước, chống chủ quan, duy ý chí, cục bộ địa phương, ngành; thường xuyên làm tốt công tác xử lý văn bản, hệ thống hoá pháp luật, công tác so sánh pháp luật, học tập kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước, song không dập khuôn, sao chép máy móc
Trang 26- Tính phù hợp và khả thi của pháp luật về Thừa phát lại
Tính phù hợp, khả thi của hệ thống pháp luật thể hiện ở nội dung của hệ thống pháp luật luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển kinh
tế - xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó
Có nội dung quy phạm pháp luật phù hợp với những nguyên tắc, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thể hiện ở những tiêu chí như tính công khai, minh bạch, dân chủ và xã hội hoá Có nội dung quy định pháp luật phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về cải cách hệ thống tư pháp, khuyến khích TPL hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân Thừa phát lại được Nhà nước ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ cung cấp một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng, quản lý của Nhà nước Trên cơ sở đó, tạo tiền
đề để giảm tải công việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Tòa án,
Cơ quan Thi hành án dân sự, góp phần tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức
Ngoài ra, pháp luật về TPL phải được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế, có phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp cho mỗi loại quan hệ xã hội
Tính khả thi của pháp luật về TPL còn thể hiện ở việc các quy định pháp luật được ban hành phải phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành, nghĩa là, khi ban hành các quy phạm pháp luật về TPL phải xem xét tới điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước có cho phép thực hiện được hiệu quả hay không, đồng thời phải xem xét đến các điều kiện về tổ chức bộ máy nhà nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, dư luận xã hội trong việc tiếp nhận các quy định hoặc văn bản pháp luật về TPL hay không, trình độ văn hóa, kiến thức pháp lý của nhân dân…
Trang 27- Ngôn ngữ và kỹ thuật xây dựng pháp luật về Thừa phát lại
Một hệ thống pháp luật hoàn thiện phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật lập pháp cao, yêu cầu này cũng đúng đối với pháp luật về TPL Điều này đòi hỏi quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TPL phải được tiến hành theo những nguyên tắc tối ưu, xác định chính xác cơ cấu nội tại của pháp luật về TPL, được biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, cô đọng, lôgíc, chính xác và một nghĩa, đồng thời mang tính phổ thông và ổn định cao Việc bảo đảm kỹ thuật lập pháp là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính chính xác về nội dung, bảo đảm văn bản quy phạm pháp luật về TPL dễ hiểu, hiểu thống nhất và dễ thực hiện
- Tính minh bạch và ổn định tương đối của pháp luật về Thừa phát lại
Nhu cầu xã hội và các quan hệ xã hội có tính ổn định tương đối, nên pháp luật về Thừa phát lại cũng cần có tính ổn định tương đối Tính ổn định của pháp luật là yêu cầu cần thiết, bởi không thể thường xuyên đảo lộn các quan hệ xã hội bằng việc thay đổi pháp luật Tính ổn định tương đối của pháp luật về Thừa phát lại chứng tỏ các quy phạm pháp luật được ban hành có nội dung phù hợp với quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, có tính dự báo tốt
Tính minh bạch của pháp luật về Thừa phát lại thể hiện ở nội dung các quy phạm pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu, đơn nghĩa, không mâu thuẫn; các văn bản pháp luật về Thừa phát lại phải được công bố công khai (từ khi bắt đầu quy trình xây dựng văn bản đến việc lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan liên quan, các chuyên gia và đông đảo người dân đến khi văn bản được ban hành) để cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan nắm rõ quyền và nghĩa vụ của mình; về tổ chức, chức năng, hoạt động của Thừa phát lại… Việc công khai văn bản pháp luật không chỉ ở việc đăng tải trên Công báo và các phương tiện thông tin đại chúng mà còn phải được thực hiện thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để người dân dễ dàng tiếp cận, hiểu rõ,
thực hiện theo và giám sát quá trình thực hiện hoạt động của Thừa phát lại
Trang 281.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam
Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam trong điều kiện hiện này chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Những yếu tố này có những tác động thuận lợi và cả những bất lợi đối với quá trình hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại, những yếu tố đó là:
1.4.1 Sức ép của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội đầy khó khăn và do đó, không tránh khỏi sự thăng trầm Ngay từ khi mới thành lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước đây, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay đã có rất nhiều đặc điểm của một Nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, mãi đến những năm thực hiện công cuộc đổi mới, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới trở thành một khái niệm chính trị - pháp lý chính thức trong xã hội ta và để từ đó được hiện thực hoá trong sự nghiệp đổi mới và trở thành một trong những nền tảng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay Tuy nhiên, do được xây dựng trên nền tảng của một hệ thống chính trị - pháp lý đặc thù của thời kỳ chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, nên nhiều cấu trúc, định chế, đặc biệt là hệ thống pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền
Sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế khiến cho các quan hệ xã hội càng trở nên phong phú, đa dạng hơn nên yêu cầu cần phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý phù hợp với mục tiêu, yêu cầu cải cách nền tư pháp ở Việt Nam Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng, giám định, …) nói chung và hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại nói riêng theo
Trang 29hướng hỗ trợ pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho nhân dân, doanh nghiệp; thực hiện
xã hội hóa mạnh mẽ các hoạt động bổ trợ tư pháp; kết hợp quản lý nhà nước với tự quản của các tổ chức xã hội nghề nghiệp là điều tất yếu Thực tiễn đất nước đã cho thấy, cần phải cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp
1.4.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
Hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại trên cơ sở thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng thể hiện tại Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2016 của Quốc hội và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Một trong những nội dung quan trọng đặt ra trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị là làm sao có cơ chế thích hợp để từng bước thực hiện việc xã hội
hóa hoạt động thi hành án dân sự: “Nghiên cứu thực hiện và phát triển các
loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình… từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án dân sự” và “Nghiên cứu chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”
Quốc hội ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi
hành án dân sự, trong đó quy định: “Để triển khai thực hiện chủ trương xã
hội hoá một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành
Trang 30viên) tại một số địa phương Việc thí điểm được thực hiện từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành (01/7/2009) đến ngày 01 tháng 7 năm 2012 Chính phủ tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định” Kể từ sau năm 1975, đây là văn bản chính thức đầu tiên của Đảng nhắc
tới chế định Thừa phát lại và chức danh Thừa hành viên (Thừa phát lại)
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã giao Bộ tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Uỷ
ban nhân dân TP.HCM và một số cơ quan liên quan xây dựng đề án “Thực
hiện chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh” Đề án được xây
dựng trên việc nghiên cứu, tiếp thu các yếu tố hợp lý của chế định Thừa phát lại đã từng tồn tại ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1950 và tiếp tục ở miền Nam cho đến năm 197510, đồng thời có sự điều chỉnh, bổ sung các nội dung mới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính hiện nay ở nước ta Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 19/02/2009, theo đó, Thừa phát lại là người có đủ các tiêu chuẩn do pháp luật quy định, được Nhà nước bổ nhiệm
để làm công việc THADS (bao gồm: XMĐKTHADS và trực tiếp thi hành án; tống đạt giấy tờ của Tòa án và của Cơ quan THADS cho đương sự; lập vi bằng và làm các công việc khác theo quy định của pháp luật)
Đề án cũng xác định việc thí điểm chế định Thừa phát lại được thực hiện trước tiên tại TP HCM (là địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội tương đối thuận lợi cho việc phát triển các loại hình dịch vụ, trong đó có dịch vụ pháp lý như Thừa phát lại Việc thí điểm này nhằm mục tiêu: Xác định sự cần thiết và tính hiệu quả của Thừa phát lại trong hoạt động tư pháp nói chung và THADS nói riêng, xác định khả năng áp dụng mô hình này trong toàn quốc, thực hiện
học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.13
Trang 31chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa một số hoạt động hành chính, tư pháp
Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội và Đề án đã được phê duyệt ngày 24/7/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP quy định về
tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại TP HCM, trên
cơ sở đó giao Bộ tư pháp phối hợp với UBND thành phố, các Bộ, Ngành có liên quan tổ chức thực hiện thí điểm và đã tổ chức tổng kết theo quy định Các
Bộ, ngành đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện như: Thông tư 03/2009/TT-BTP ngày 30/9/2009 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một
số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ
về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh; Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-BTC-TANDTC ngày 24/6/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 07/7/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Qua tổng kết cho thấy, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại TP HCM đạt kết quả tốt, hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được kết quả khả quan, được xã hội, người dân đón nhận tích cực
Để có cơ sở thực hiện nhằm đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về sự cần thiết, vai trò, tác động của chế định TPL đối với hoạt động Tư pháp và đời sống xã hội, Quốc hội đã xem xét, ban hành Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại Theo Nghị quyết số 36/2012/QH13, việc thí điểm chế định Thừa phát lại được tiếp tục thực hiện thí điểm tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến hết ngày 31/12/2015 Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 25/3/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
Trang 32510/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” Để triển khai thực hiện, Bộ tư pháp đã phối hợp với các Bộ, Ngành chọn
12 địa phương mở rộng thí điểm (gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long) Việc lựa chọn các địa phương mở rộng thí điểm đã đáp ứng yêu cầu của Đề án về số lượng địa phương tham gia, có tính đại diện cho các vùng, miền có điều kiện kinh tế -
xã hội khác nhau Các địa phương được lựa chọn đã xây dựng Đề án, trình Bộ
tư pháp phê duyệt làm cơ sở thực hiện Để quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-
CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh Các
Bộ, ngành đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện như: Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNN ngày 17/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng; Thông tư liên
Trang 33Thừa phát lại Việc thực hiện chế định TPL có ý nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện tốt chủ trương về xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp đã được đề ra tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Trên cơ sở đó, tạo tiền đề giảm tải công việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Tòa án, Cơ quan thi hành án dân
sự, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết số 39/NQ-TW ngày 17/4/2015 củaBan chấp hành Trung ương về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức Mặc khác, với chức năng lập vi bằng của TPL, việc thực hiện chế định này đã bổ sung nguồn chứng cứ, tạo thêm công cụ pháp lý
để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế và trong giải quyết tranh chấp; đồng thời, người dân cũng có thêm sự lựa chọn phù hợp trong yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu XMĐKTHADS
Hoàn thiện pháp luật về TPL trên cơ sở thể chế hóa các quan điểm của Đảng để xây dựng pháp luật về TPL đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân, vì dân, góp phần xây dựng nền tư pháp Việt Nam trong sạch, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước xã hội hóa dịch vụ công, nhân dân làm chủ, Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo chứ không làm thay Theo đó pháp luật
về TPL phải đáp ứng được các tiêu chí về tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp,
khoa học, thực tiễn, công khai, minh bạch
1.4.3 Nhận thức về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay
Nhận thức được những quan hệ xã hội nào phát sinh và cần có pháp luật điều chỉnh hay không là yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại
Từ nhận thức có thể xác định được những ưu điểm, đánh giá được mức
độ hoàn thiện của quy định pháp luật về Thừa phát lại, xác định được những
Trang 34quy định còn hạn chế, bất cập trong pháp luật để có những sửa đổi, bổ sung kịp thời, hoàn thiện hơn
Do vậy, điều quan trọng đầu tiên là thay đổi nhận thức của cán bộ thuộc
cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nhận thức không đầy đủ về tầm quan trọng của việc ban hành văn bản, tính nguy hại của việc đưa vào cuộc sống những văn bản quy phạm thiếu tính thống nhất, đồng bộ, hoàn chỉnh, khả thi và kỹ thuật xây dựng văn bản chưa cao không chỉ làm tốn kém thời gian, tiền bạc của Nhà nước mà còn gây ra khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, thực hiện pháp luật trong thực tiễn, giảm sút niềm tin của nhân dân
Bên cạnh đó, nhận thức của Thừa phát lại và người dân về Thừa phát lại chính là cơ sở để đánh giá khách quan, chính xác về tính hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật hiện hành, từ đó, đưa ra những ý kiến, giải pháp hoàn hiện pháp luật, nâng cao chất lượng hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay, phát huy vai trò của Thừa phát lại trong công tác bổ trợ tư pháp
Trang 35Kết luận Chương 1
Trước nhu cầu, đòi hỏi của xã hội đã đặt ra yêu cầu cải cách ngành tư pháp, trong đó, nhiệm vụ cấp bách là xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự Tại Nghị Quyết số 49/NQ-TW đã xác định nghiên cứu chế định Thừa phát lại
và tổ chức thí điểm ở một số địa phương, sau quá trình đánh giá nhận thấy tính khả thi, hiệu quả của chế định Thừa phát lại, Quốc hội ban hành Nghị quyết 107/2015/QH13 để thực hiện chính thức chế định Thừa phát lại trên phạm vi toàn quốc từ ngày 01/01/2016
Pháp luật về Thừa phát lại là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; trình tự, thủ tục thực hiện các chức năng của Thừa phát lại và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động của Thừa phát lại Pháp luật về Thừa phát lại bao gồm các quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại như: Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại; bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa phát lại; thành lập, giải thể Văn phòng Thừa phát lại; chức năng của Thừa phát lại; xử lý vi phạm đối với TPL, Văn phòng Thừa phát lại… Để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về Thừa phát lại phải dựa vào các tiêu chí như tính toàn diện, tính thống nhất và đồng bộ, tính phù hợp, ngôn ngữ và kỹ thuật xây dựng pháp luật, tính minh bạch và ổn định tương đối của pháp luật Việc hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản như: Sức
ép của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế; quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước; nhận thức của cá nhân, cơ quan, tổ chức về Thừa phát lại
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, PHƯƠNG HƯỚNG
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến Thừa phát lại
Tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; hướng dẫn, giải quyết khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, ngành xây dựng, ban hành các văn bản như: Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNN ngày 17/01/2014 của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng; Thông
tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/2/2014 hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại
Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật, trong quá trình thực hiện, Ban Chỉ đạo Trung ương, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành đã có nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý đối với Thừa phát lại nhằm chấn chỉnh sai sót, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các địa phương như: Công văn 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 về hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động Thừa phát lại, Công văn số 296/BTP-BCĐ
Trang 37ngày 28/01/2015, Công văn số 2104/BTP-BCĐ ngày 17/6/2015 của Ban chỉ đạo Trung ương hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động Thừa phát lại
Ở địa phương, Ban Chỉ đạo, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cũng
đã ban hành chỉ thị, văn bản chỉ đạo các Sở, ban, ngành nâng cao trách nhiệm,
có kế hoạch, giải pháp để thực hiện tốt việc thí điểm Định kỳ, Sở Tư pháp phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cục Thi hành án dân
sự và cơ quan liên quan tổ chức giao ban, họp liên ngành để trao đổi thông tin, hướng dẫn giải quyết khó khăn, vướng mắc, kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót, hỗ trợ hoạt động của Thừa phát lại Trong tổ chức và hoạt động, các Văn phòng Thừa phát lại đã luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp, các ngành
Bên cạnh những ưu điểm vẫn còn tồn tại, hạn chế về ban hành văn bản pháp luật về Thừa phát lại chưa kịp thời; chưa bảo đảm sự thống nhất, đồng
bộ trong các văn bản pháp luật về Thừa phát lại và các văn bản có liên quan khác như thi hành án, tố tụng dân sự, tài chính - ngân hàng , cụ thể:
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về Thừa phát lại còn hạn chế
về số lượng; việc hướng dẫn, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của TPL và VP TPL bằng Công văn là chủ yếu
- Việc ban hành các văn bản để thực hiện chủ trương của Đảng về thực hiện chế định TPL còn chậm như: Chậm ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại, chậm ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thống nhất tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại trong giai đoạn chế định Thừa phát lại được thực hiện trong phạm vi toàn quốc
- Văn bản có hiệu lực cao nhất quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại chỉ mới là Nghị định của Chính phủ, điều đó dẫn đến vướng mắc về áp dụng pháp luật khi có mâu thuẫn, xung đột nội dung giữa Nghị định với các Luật, Pháp lệnh có liên quan, làm hạn chế hoạt động của Thừa
Trang 38phát lại Nhiều quy định pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan, đặc biệt là pháp luật về tố tụng, tài chính - ngân hàng chưa đồng bộ, thậm chí còn là rào cản cho hoạt động của Thừa phát lại
2.1.2 Thực trạng các quy định của pháp luật về Thừa phát lại
2.1.2.1 Các quy định về tổ chức của Thừa phát lại
- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và các hành vi bị cấm đối với TPL
Theo quy định tại Điều 5 Văn bản hợp nhất số 7821/VBHN-BTP, Thừa phát lại có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Một là, Thừa phát lại được bổ nhiệm theo đúng quy định của pháp luật,
phải trung thực, khách quan khi thực hiện công việc
Hai là, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, quy chế tổ chức, hoạt động và
đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại
Ba là, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện công việc của mình
Bên cạnh các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, pháp luật cũng quy định cụ thể những hành vi bị cấm đối với Thừa phát lại, cụ thể:
Một là, không được tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của
mình, trừ trường hợp pháp luật cho phép
Hai là, Thừa phát lại không được đòi hỏi bất kỳ khoản lợi ích vật chất
nào khác ngoài chi phí đã được thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng
Ba là, trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, Thừa phát lại không được
nhận làm những việc liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người là người thân thích của mình, bao gồm: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Thừa phát lại, của vợ hoặc chồng của Thừa phát lại; cháu ruột mà Thừa phát lại là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì Khi thực hiện công việc về thi hành án dân sự, Thừa phát lại có quyền như Chấp hành viên quy định tại Điều 20 của Luật thi hành án dân sự năm
Trang 392008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014, trừ nội dung quy định tại khoản 9, khoản 10 và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Riêng việc cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng bảo vệ, áp dụng quy định tại Điều 40 của Văn bản hợp nhất 7821/VBHN-BTP
- Quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa phát lại
Về quy định bổ nhiệm TPL, Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm Thừa phát lại theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền Theo quy định tại Điều 10 Văn bản hợp nhất 7821/VBHN-BTP, người được xem xét bổ nhiệm phải bảo đảm các tiêu chuẩn sau:
Một là, Thừa phát lại là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất
đạo đức tốt Theo Luật quốc tịch năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014, công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam Đối với yêu cầu về sức khỏe thì người được bổ nhiệm được cho là có đủ sức khỏe khi có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền về việc họ có đủ sức khỏe để công tác và học tập Về phẩm chất, đạo đức được thể hiện qua đánh giá của cơ quan quản
lý, chính quyền nơi cư trú, sinh sống và làm việc
Hai là, không có tiền án, người đã được xóa án tích coi như chưa bị kết
án và họ có quyền trở thành TPL nếu có nhu cầu và đáp ứng các điều kiện khác theo quy định
Ba là, những người có bằng cử nhân luật hoặc tương đương cử nhân trở
lên theo quy định của pháp luật Việt Nam
Bốn là, đã công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc từng là
Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ trung cấp trở lên Theo các quy định hiện hành những trường hợp này thường được xem xét để miễn tập sự hoặc miễn tham gia các lớp tập huấn
về nghề đối với nhiều chức danh nghề như Luật sư, Công chứng viên …
Trang 40Năm là, có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề TPL do Bộ tư
pháp tổ chức Đây là yêu cầu bắt buộc khi bổ nhiệm
Sáu là, không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng, Luật sư và những
công việc khác theo quy định của pháp luật do tính đặc thù của nghề TPL Trình tự, thủ tục bổ nhiệm TPL hiện nay thực hiện theo quy định tại Điều 12 Văn bản hợp nhất 7821/VBHN-BTP Trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ, Giám đốc Sở tư pháp tỉnh, thành phố nơi tiếp nhận hồ sơ phải xem xét, nếu thấy có đủ điều kiện thì đề nghị Bộ trưởng Bộ
tư pháp bổ nhiệm Trong trường hợp, Sở tư pháp nơi nhận hồ sơ từ chối thì phải trả lời bằng văn bản cho người nộp đơn xin làm TPL Bộ trưởng Bộ tư pháp xem xét bổ nhiệm TPL trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị Người được bổ nhiệm làm TPL được Bộ tư pháp cấp thẻ TPL
Về quy định miễn nhiệm TPL, Thừa phát lại miễn nhiệm theo nguyện vọng của cá nhân TPL hoặc bị miễn nhiệm nếu vi phạm một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 13 Văn bản hợp nhất số 7821/VBHN-BTP Thừa phát lại bị miễn nhiệm nếu có một trong các trường hợp sau đây:
Một là, không đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 Văn bản hợp nhất
số 7821/VBHN-BTP
Hai là, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Ba là, không hành nghề TPL kể từ ngày được bổ nhiệm từ 6 tháng trở
lên, trừ trường hợp có lý do chính đáng
Bốn là, đã bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động
hành nghề TPL mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý vi phạm bằng hình thức cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm
Năm là, bị kết tội bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật