Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tuy đóng vai trò rất quan trọng, song pháp luật về an toàn thực phẩm ở nước ta mớ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯƠNG THỊ UYÊN
Thực hiện pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm
qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯƠNG THỊ UYÊN
Thực hiện pháp luật về vệ sinh, an toàn thực
phẩm qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS MAI VĂN THẮNG
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lương Thị Uyên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 5
1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm 5
1.1.1 Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm 5
1.1.2 Khái niệm pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 8
1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 10
1.2 Các hình thức thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm 13
1.2.1 Tuân thủ pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 13
1.2.2 Thi hành pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 14
1.2.3 Sử dụng pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 15
1.2.4 Áp dụng pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 16
1.3 Đặc điểm thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 18
1.4 Các điều kiện đảm bảo việc thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 20
1.4.1 Yếu tố kinh tế 20
1.4.2 Yếu tố ý thức pháp luật và đạo đức của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm 22
1.4.3 Yếu tố pháp luật 23
1.4.4 Yếu tố hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM QUA THỰC
TIỄN TỈNH BẮC GIANG 26
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Bắc Giang 26
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 26
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27
2.1.3 Đặc điểm văn hóa – đời sống 29
2.2 Thực trạng các quy định pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam và tỉnh Bắc Giang 30
2.2.1 Những quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam 30
2.2.2 Những quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Bắc Giang 40
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Bắc Giang 44
2.3.1 Phân tích thực tiễn tuân thủ pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Bắc Giang 44
2.3.2 Phân tích thực tiễn thi hành pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Bắc Giang 49
2.3.3 Phân tích thực tiễn sử dụng pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Bắc Giang 59
2.3.4 Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Bắc Giang 63
2.3.5 Thực tiễn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong phòng, chống dịch Covid-19 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
Trang 6CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 72
3.1 Quan điểm về thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiên nay 72
3.2 Giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu trong công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 73
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật trong công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 73
3.2.2 Giải pháp thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm chung tại Việt Nam hiện nay 82
3.2.3 Giải pháp thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm cho tỉnh Bắc Giang nói riêng 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, thường xuyên chỉ đạo và đưa ra các giải pháp để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe nhân dân
Thời gian qua báo chí, truyền thông đưa tin hàng loạt vụ thực phẩm bẩn không rõ nguồn gốc xuất xứ, những vụ ngộ độc thực phẩm, thực phẩm chứa chất phụ gia cấm để chế biến, bảo quản thực phẩm; việc sử dụng hóa chất, bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không đúng theo quy định, gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các hóa chất này trong thực phẩm Các vụ vi phạm VSATTP phát hiện thời gian gần đây cho thấy mức độ vi phạm đáng báo động Đây là mối lo của toàn xã hội, không chỉ ở thời điểm hiện tại mà còn ở tương lai sắp tới
Mặc dù nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong đó có Luật
an toàn thực phẩm; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; … cùng các chương trình, công văn của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ trung ương đến địa phương Song việc thực hiện pháp luật về VSATTP còn nhiều hạn chế, hành vi vi phạm về VSATTP vẫn xảy ra, thậm chí ngày càng gia tăng ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Bắc Giang nói riêng
Thực trạng cho thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về
cơ sở lý luận và thực tiễn việc thực hiện pháp luật về VSATTP nhằm phân tích và chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong hệ thống pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm; việc thực hiện pháp luật về VSATTP, đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại đó, góp phần nâng cao hơn nữa ý thức
Trang 9thực hiện pháp luật về VSATTP của người dân, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe của người dân trong tình hình hiện nay Vì vậy, tác giả chọn
nghiên cứu đề tài: “Thực hiện pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm qua
thực tiễn tỉnh Bắc Giang” là đề tài luận văn tốt nghiệp lớp Cao học Luật,
chuyên ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật là cần thiết, khách quan trong giai đoạn hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tuy đóng vai trò rất quan trọng, song pháp luật về an toàn thực phẩm ở nước ta mới chỉ được quan tâm đúng mức và bắt đầu có một số nghiên cứu quy mô trong thời gian gần đây được thể hiện trong nhiều công trình khoa học công bố trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành và các luận văn thạc sỹ Có thể nêu ra một số bài viết, công trình như sau:
“Một số bệnh truyền qua thực phẩm”; “Điều tra vệ sinh An toàn thực
phẩm” – PGS.TS Đỗ Thị Hà – Giảng viên chính Viện đào tạo Y học Dự phòng
và Y tế công cộng Cục VSATTP; “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn
vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội” (Luận văn Thạc sĩ Lê Thị Linh năm
2016, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội)… Bên cạnh đó còn có nhiều sách
chuyên khảo và bài viết đăng trên tạp chí điện tử: Quang Minh, (2015), “Tìm
hiểu về An toàn thực phẩm - Quy định mới về kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm và hướng dẫn quản lý, sử dụng phụ gia trong vệ sinh thực phẩm”, Nhà
xuất bản Lao động; Chủ biên Phạm Hải Vũ, Đào Thế Anh, (2016), “An toàn
thực phẩm nông sản”, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội; Như Phong, (2018),
“An toàn thực phẩm và trách nhiệm của doanh nghiệp”, Tạp chí Sức khỏe và
đời sống; Nguyễn Hạnh, (2018), “Đảm bảo vệ sinh An toàn thực phẩm – Cần sự
phối hợp đồng bộ của nhiều ngành”, VFA - Tạp chí điện tử chính thức của Cục
VSATTP… Cùng với đó là các Hội nghị tổng kết, báo cáo được tổ chức thường xuyên, gần đây nhất là Diễn đàn An toàn thực phẩm quốc tế lần thứ 7 do IFC -
Trang 10một thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 28 và 29/11 năm 2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nhìn chung, những công trình trên đã tập trung nghiên cứu một số quy định của pháp luật về VSATTP, việc tổ chức thực hiện pháp luật về VSATTP, phân tích, làm rõ những hạn chế, bất cập trong thực thi pháp luật về VSATTP Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống việc thực hiện pháp luật về VSATTP qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang Do đó, dưới góc độ thực tiễn của việc thực hiện pháp luật
về VSATTP ở tỉnh Bắc Giang và dưới góc độ khoa học, công trình này có ý nghĩa góp phần hoàn thiện và triển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật về VSATTP, nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phương trong công tác bảo đảm VSATTP, phục vụ cho sự nghiệp phát triển của tỉnh Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Từ việc nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang, luận văn muốn đưa ra những giải pháp, khuyến nghị để khắc phục những hạn chế trong công tác thực hiện cũng như hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm của tỉnh Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về VSATTP
- Phân tích hệ thống quy định và cơ chế thực hiện pháp luật hiện hành về VSATTP ở Việt Nam nói chung và Bắc Giang nói riêng
- Làm rõ các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về VSATTP ở Bắc Giang
- Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật trong lĩnh vực VSATTP ở Bắc Giang và chỉ ra những nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế
Trang 11- Đưa ra các giải pháp, khuyến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về VASTTP ở Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm, cơ sở khoa học của thực hiện pháp luật về VSATTP
- Hệ thống nguồn pháp luật, chính sách, đường lối của Đảng và nhà nước về VSATTP
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về VSATTP
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Thực tiễn tại Tỉnh Bắc Giang, từ đó đưa ra quan điểm, nhận định, giải pháp về lĩnh vực thực hiện pháp luật VSATTP ở Việt Nam hiện nay
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về VSATTP qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016 – 2019
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các nội dung: Lời cam đoan, danh mục từ viết tắt, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về vệ sinh an
toàn thực phẩm qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao việc thực hiện pháp luật
về vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1.1 Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm
Thực phẩm là nguồn cung cấp dinh dưỡng hàng ngày cho cơ thể, giúp
cơ thể khoẻ mạnh, chống lại các nguy cơ của bệnh tật đang có mặt ở khắp nơi trong môi trường; giúp con người hoạt động và làm việc Ngay từ khi có sự xuất hiện của con người trên trái đất, con người đã biết lấy săn bắt động vật, hái lượm hoa quả để ăn và duy trì sự sống Khi con người phát triển hơn, biết trồng trọt, chăn nuôi thì nhiều loại thực phẩm đã được ra đời để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ thực phẩm của con người Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì những thực phẩm tiện lợi hơn như: thực phẩm ăn liền, thực phẩm đóng hộp, thực phẩm chức năng, được sử dụng rộng rãi bởi sự tiện ích, nhanh gọn và dễ sử dụng
Theo khái niệm mà các nhà khoa học đã đưa ra thì thực phẩm là những loại thức ăn mà con người có thể ăn và uống được để nuôi dưỡng cơ thể Thực phẩm gồm ba nhóm chính đó là nhóm cacbohydrat (tinh bột), lipit (chất béo), protein (chất đạm) Đây là những dưỡng chất không thể thiếu để duy trì các hoạt động sống của cơ thể [4] Cách phân loại thực phẩm cũng như khái niệm của nó hết sức đa dạng và không có tiêu chuẩn nào để đánh giá Nhiều nơi phân loại thực phẩm theo nguồn gốc của chúng như thực phẩm có nguồn gốc động vật, thực phẩm có nguồn gốc thực vật Đối với thực phẩm có nguồn gốc động vật lại được chia thành trên cạn, dưới nước và trên trời Thực phẩm có nguồn gốc thực vật thì được chia thành rau, củ, quả, hạt, gia vị
Theo định nghĩa của Luật an toàn thực phẩm năm 2010 được sửa đổi
Trang 13bổ sung năm 2018 thì “Thực phẩm là các thức ăn, đồ uống của con người bên
dưới dạng tươi sống hay đã qua sơ chế, chế biến; gồm cả đồ uống, nhai ngậm
và những chất được dùng trong sản xuất, chế biến thực phẩm, không bao gồm
mỹ phẩm, thuốc lá và các chất được sử dụng như dược phẩm” [16, Điều 2]
Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, các loại thực phẩm cũng rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, vì những mục đích khác nhau, các nhà sản xuất và kinh doanh thực phẩm sử dụng những biện pháp bảo quản, kích thích tăng trưởng không hợp lý làm thực phẩm trở nên không an toàn Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trở thành một đề tài nóng trong xã hội
Khái niệm “An toàn thực phẩm” không còn là xa lạ đối với mỗi người dân nhưng không phải ai cũng hiểu rõ, chính xác và đầy đủ khái niệm này và tầm quan trọng của nó đối với sức khỏe con người và sự phát triển kinh tế –
xã hội của một quốc gia Mỗi loại thực phẩm đều có quy định riêng về ngưỡng an toàn và khi thực phẩm chứa những yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe con người thì gọi là thực phẩm không an toàn Sử dụng các loại thực phẩm vượt ngưỡng an toàn, sức khỏe người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng, ngộ độc thực phẩm và mầm mống gây ra căn bệnh ung thư quái ác
Theo định nghĩa của Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp thế giới (FAO), VSATTP được định nghĩa “an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chế biến hoặc/và dùng theo mục đích
sử dụng của nó” Theo định nghĩa này, VSATTP là hoạt động bảo đảm cho thực phẩm không tác động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng cả khi chế biến và
sử dụng Định nghĩa tuy đã thể hiện tính khái quát hóa nhưng chưa chỉ rõ được tác động của thực phẩm không an toàn đối với người tiêu dùng, đó là gây hại gì cho người tiêu dùng: sức khỏe, hay tính mạng, tinh thần, …?
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực – Nông
Trang 14nghiệp thế giới (FAO) thì “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng” [7] Đây là khái niệm khá đầy đủ, tuy nhiên tính khái quát hóa chưa cao
Theo cách hiểu trực tiếp và cơ bản nhất, VSATTP là việc không để thực phẩm có ảnh hưởng, gậy hại lên sức khỏe con người Theo giải thích tại Luật an toàn thực phẩm năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2018, “an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người” [3, Điều 2] Đây là khái niệm khá khái quát khi nó chứa đựng đầy đủ những nội dung cốt lõi của vấn đề về VSATTP Theo khái niệm này, VSATTP được hiểu là việc thực hiện những cách thức, biện pháp để bảo đảm thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người Trong luận văn, “an toàn thực phẩm” được định nghĩa là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người, định nghĩa này đồng nhất với khái niệm về an toàn thực phẩm trong Luật ATTP năm 2010
An toàn thực phẩm hay còn gọi là vệ sinh an toàn thực phẩm hiểu theo
nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản
và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra VSATTP cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe Hiểu theo nghĩa rộng, VSATTP là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Vì vậy, VSATTP là công việc đòi hỏi
sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú ý, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng
Trang 15Bảo đảm VSATTP có nghĩa là những hành động của con người nhằm ngăn chặn các mối nguy, hạn chế và xử lý hậu quả do thực phẩm không an toàn gây ra đối với con người, động thực vật Cụ thể là: phòng ngừa các mối nguy về an toàn và vệ sinh thực phẩm; kiểm tra, kiểm soát, xử lý các trường hợp vi phạm về VSATTP; và can thiệp để loại trừ hậu quả do thực phẩm gây nên đối với con người, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, mục đích trực tiếp của việc bảo đảm VSATTP là bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Tuy nhiên, vấn đề VSATTP còn có ý nghĩa to lớn hơn
đó là vấn đề phát triển con người, vấn đề chất lượng cuộc sống, vấn đề công bằng xã hội, vấn đề hội nhập quốc tế và văn hoá
Trước hết, xét về bình diện xã hội, VSATTP liên quan đến chất lượng lao động của cả nền kinh tế hiện tại và tương lai, duy trì và phát triển nòi giống của dân tộc Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập hiện nay VSATTP ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt là những nước đang phát triển mà nguồn tích luỹ ban đầu dựa chủ yếu vào các nguồn lực tự nhiên Các sản phẩm nông nghiệp và thuỷ sản bảo đảm VSATTP là lợi thế cạnh tranh của các nước này trong thương mại quốc tế, làm tăng khả năng tiếp cận thị trường
Thứ ba, bảo đảm VSATTP còn có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi thu hút ngoại lực như đầu tư trực tiếp nước ngoài, du lịch, nâng cao hình ảnh quốc gia trong con mắt của người nước ngoài Cuối cùng, VSATTP còn liên quan đến các yếu tố văn hoá - xã hội Văn hoá ẩm thực của một vùng, một nước là di sản vô cùng quý giá góp phần cho phát triển
1.1.2 Khái niệm pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, được nhà nước đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục đích bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và sự phát triển bền vững của xã hội [13]
Trang 16Pháp luật về VSATTP là một phần trong hệ thống pháp luật của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ VSATTP Mục đích mà pháp luật VSATTP hướng tới là bảo vệ sức khỏe, tính mạng và những lợi ích khác của người tiêu dùng Pháp luật VSATTP điều chỉnh mối quan hệ phát sinh trong chuỗi cung ứng thực phẩm gồm: trồng trọt/chăn nuôi, thu hái/đánh bắt/khai thác,
sơ chế/chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển, giới thiệu, buôn bán thực phẩm Như vậy, pháp luật VSATTP là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành tập hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh giữa chủ thể trong quá trình các chủ thể trong chuỗi cung ứng thực phẩm
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật VSATTP là các quan hệ xã hội phát sinh trong qúa trình sản xuất, kinh doanh, phân phối và sử dụng thực phẩm Pháp luật VSATTP hướng tới chủ thể là các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm Với phạm vi và đối tượng điều chỉnh như vậy,
có thể hiểu pháp luật VSATTP là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban
hành điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng thực phẩm của các cá nhân, tổ chức với mục đích đảm bảo thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe và tính mạng của con người
Nội dung chủ yếu của pháp luật trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm bao gồm các nhóm quy định sau:
- Nhóm quy phạm quy định các hoạt động sản xuất thực phẩm như nuôi trồng nông, lâm, thủy, hải sản, chế biến thực phẩm
- Nhóm quy phạm quy định các hoạt động kinh doanh thực phẩm như: vận chuyển, phân phối, xuất nhập khẩu thực phẩm
- Nhóm quy phạm quy định việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm và khắc phục sự cố khi có sự cố xảy ra
- Nhóm quy phạm quy định hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 17Pháp luật an toàn thực phẩm là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tổ chức cũng như hoạt động quản lý của nhà nước trong lĩnh vực này
Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm:
- Để điều chỉnh các hành vi trong các lĩnh vực đời sống xã hội rất cần có các văn bản quy phạm pháp luật Các văn bản quy pháp luật về an toàn thực phẩm cũng là những quy tắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ pháp luật
- Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Pháp luật bảo đảm an toàn thực phẩm vừa có những vai trò của pháp luật nói chung vừa có những vai trò riêng của nó Đó là những quy phạm pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này, là cơ sở pháp lý cho công tác kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm trên địa bàn cả nước,… Nó được thể hiện như sau:
Thứ nhất, là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quy định hệ thống và
hoạt động của các cơ quan làm nhiệm vụ chức năng trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm trong cả nước từ địa phương đến trung ương
Thứ hai, là khuôn mẫu cho việc điều chỉnh các hành vi, các quan hệ xã
hội để bảo đảm an toàn thực phẩm Pháp luật VSATTP là cơ sở để cho mọi người biết mình được làm gì, không được làm gì, phải làm gì để giữ gìn an toàn thực phẩm trong qúa trình sản xuất
Thứ ba, là cơ sở cho việc thanh tra, giám sát, quản lý, xử lý các vi
phạm trong lĩnh vực này của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Từ đó góp phần làm cho an toàn thực phẩm được nâng cao, ngăn chặn và đẩy lùi mọi hành vi làm mất an toàn thực phẩm
Thứ tư, là cơ sở pháp lý cho mọi người dân được kiểm tra, giám sát các
hành vi trái pháp luật, làm mất an toàn thực phẩm
1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Ban hành pháp luật Nhà nước mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh
Trang 18các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của nhà nước và xã hội Điều
đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ Do vậy, vấn đề không phải chỉ là ban hành thật nhiều các văn bản pháp luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật, làm cho những yêu cầu, quy định của chúng trở thành hiện thực Những quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành sẽ hoàn toàn mất hết ý nghĩa nếu nó không được thực hiện, nghĩa là không đi vào đời sống bằng hành vi của các chủ thể pháp luật Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với những quy định của pháp luật Tất cả những hoạt động nào của con người, của tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của sự việc thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật
Thực hiện pháp luật không chỉ là không vi phạm pháp luật, không làm điều pháp luật cấm Thực hiện pháp luật còn được thể hiện ở những hành vi
sử dụng pháp luật, ở tính tích cực pháp luật của mỗi cá nhân, tổ chức, ở việc chấp hành các nghĩa vụ pháp lý của họ trong cuộc sống Pháp luật chỉ có thể phát huy vai trò và những giá trị của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi quy phạm pháp luật được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống
Theo định nghĩa tại Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của Đại
học Luật Hà Nội thì “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục
đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể” [6, tr.228]
Giáo trình Nhà nước và Pháp luật đại cương của Khoa luật Đại học
Quốc gia Hà Nội cũng định nghĩa “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt
động có mục đích mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định pháp luật trong thực tế đời sống” [12, tr.121]
Trang 19Theo đó bản chất của việc thực hiện pháp luật là sự chuyển hóa các yêu cầu của pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật và các nguyên tắc pháp luật vào trong hành vi cụ thể của các chủ thể Phạm trù thực hiện pháp luật cho biết, bằng những cách thức nào để các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định pháp luật, những yếu tố tác động và điều kiện bảo đảm cho pháp luật được thực hiện
Thực hiện pháp luật bao gồm bốn hình thức thực hiện:
- Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật không thực hiện các hành vi xử sự mà pháp luật cấm
- Thi hành pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật chủ động thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật quy định
- Sử dụng pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện các quyền của mình do pháp luật quy định
- Áp dụng pháp luật là việc các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định
Pháp luật VSATTP thuộc hệ thống pháp pháp luật của nhà nước, là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng thực phẩm của các cá nhân, tổ chức với mục đích đảm bảo thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe và tính mạng của
con người Theo đó, thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực
phẩm là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về VSATTP đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, cơ quan
Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực VSATTP cũng bao gồm bốn hình thức thực hiện là tuân thủ pháp luật VSATTP; thi hành pháp luật VSATTP;
sử dụng pháp luật VSATTP; áp dụng pháp luật VSATTP
Trang 201.2 Các hình thức thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.2.1 Tuân thủ pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Tuân thủ pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Thị Kim Quế, đinh nghĩa
tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm [15]
Cũng là một trong những biểu hiện của việc tuân thủ pháp luật, tuân thủ pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm là một hình thức thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm Theo đó, các chủ thể thực hiện pháp luật không tiến hành những hành vi mà pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm ngăn cấm
Các chủ thể pháp luật VSATTP kiềm chế không làm những điều mà pháp luật VSATTP có quy định cấm, tức là họ đã tuân thủ đúng các quy phạm pháp luật VSATTP mang tính chất ngăn cấm thực hiện những hành vi nhất định Chẳng hạn không thực hiện hành vi tội phạm về VSATTP được quy định trong Bộ luật Hình sự hay không gây ra những hành vi bị cấm được quy định trong Luật An toàn thực phẩm Tuân thủ pháp luật VSATTP là một dạng thức của hành vi hợp pháp
Ví dụ: Điều 5 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 có quy định các hành
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho
Trang 21phép; sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm
… [16, Điều 5]
Như vậy, người thực hiện pháp luật cần tuân thủ đúng quy định này, không được thực hiện các hành vi nêu trên
1.2.2 Thi hành pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Thi hành pháp luật là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật Khác với tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật vốn là hành vi thực tế và thực hiện một cách hợp pháp mang theo mục đích của các chủ thể pháp luật để thực hiện hóa mọi quy định mà pháp luật ban hành, đưa chúng vào đời sống hàng ngày, trở thành những hành vi chuẩn mực được công nhận hợp pháp Theo Giáo trình Nhà nước và pháp luật Đại cương của Đại học Quốc Gia Hà
Nội, thi hành pháp luật được hiểu là hình thức thực hiện những quy định trao
nghĩa vụ bắt buộc của pháp luật một cách tích cực trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng những hành động tích cực [12, tr.122]
Theo đó, thi hành pháp luật VSATTP là một hình thức thực hiện pháp luật về VSATTP Khác với tuân thủ pháp luật VSATTP là không hành động,
ở hình thức thực hiện này, các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình về
vệ sinh an toàn thực phẩm bằng hành động tích cực
Bản chất của thi hành pháp luật VSATTP là chủ động, tích cực thực hiện pháp luật VSATTP dưới hình thức hành vi hành động Mọi chủ thể bao gồm cả các cá nhân, tổ chức và cán bộ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý VSATTP đều thực hiện việc thi hành pháp luật VSATTP Hình thức thể hiện của việc thi hành pháp luật VSATTP thường được thể hiện dưới dạng những quy phạm bắt buộc, theo đó, chủ thể buộc phải thực hiện hành vi hành động hợp pháp, không có sự lựa chọn
Ví dụ: Đối với chủ cơ sở, thương nhân bằng hành động tích cực thi
Trang 22hành quy định về VSATTP là khi có ngộ độc thực phẩm phải báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất và giữ lại mẫu thực phẩm lưu thức ăn thừa để gửi cơ quan
y tế dự phòng của tỉnh hoặc quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét nghiệm tìm nguyên nhân Chủ cơ sở, thương nhân có loại thức ăn gây ngộ độc
sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi sai phạm và phải trả toàn bộ mọi chi phí khám, chữa bệnh cho bệnh nhân ngộ độc và chi phí tìm nguyên nhân gây ngộ độc của các cơ quan điều tra
1.2.3 Sử dụng pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Sử dụng pháp luật là một trong những hình thức thực hiện pháp luật Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Thị Kim
Quế định nghĩa sử dụng pháp luật như sau: “Sử dụng pháp luật là hình thức
thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện những hành vi
mà pháp luật cho phép Những quy phạm pháp luật quy định các quyền tự do, dân chủ của công dân được thực hiện ở hình thức này” [15]
Đặc thù của hình thức sử dụng pháp luật thể hiện ở chỗ, các chủ thể pháp luật chủ động, tự mình quyết định việc thực hiện hay không thực hiện những việc mà pháp luật cho phép, không ai có thể áp đặt, bắt buộc một cá nhân phải sử dụng các quyền của mình
Theo đó, sử dụng pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm được hiểu là các
chủ thể thực hiện cách thức xử sự mà pháp luật cho phép trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Hành vi sử dụng pháp luật được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động
Việc sử dụng các quy phạm pháp luật VSATTP cho phép, giao quyền phải được thông qua hình thức tự nguyện của các cá nhân Đồng thời, nhà nước và xã hội cần thực hiện các hoạt động giáo dục pháp luật để nâng cao tính tích cực pháp luật VSATTP của công dân về sử dụng các quyền đã được hiến pháp và luật quy định một cách hợp pháp, có văn hóa pháp luật
Trang 23Mặc dù sử dụng pháp luật VSATTP không phải là hình thức hiện pháp luật mang tính chất bắt buộc, song trong nhà nước pháp quyền, dân chủ, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo những điều kiện cần thiết để các cá nhân sử dụng pháp luật VSATTP một cách đúng pháp luật, góp phần bảo vệ, bảo đảm VSATTP, phát hiện, ngăn ngừa vi phạm pháp luật từ phía các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và của các cá nhân trong công tác đảm bảo VSATTP
Ví dụ: Công ty A khởi kiện Công ty cung cấp thực phẩm B vì đã cung cấp thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho mình Trong trường hợp này, Công ty A đã sử dụng quyền khởi kiện của mình theo đúng quy định của pháp luật, tức là Công ty A đã sử dụng pháp luật quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
1.2.4 Áp dụng pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất chỉ khi tất cả những quy định của nó đều được thực hiện chính xác, triệt để Nhưng nếu chỉ thông qua các hình thức tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật thì sẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện Lý do có thể là các chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền Do đó hoạt động áp dụng pháp luật cần phải được tiến hành trong các trường hợp sau:
- Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc áp dụng các chế tài pháp luật đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
- Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước
- Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được
- Trong số quan hệ pháp luật là nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để
Trang 24kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế
Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và Pháp luật của Đại học luật Hà Nội định nghĩa:
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách
tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể [13, tr.299-231]
Theo đó, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực VSATTP là một hình thức
thực hiện pháp luật VSATTP trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật VSATTP, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật VSATTP
Áp dụng pháp luật VSATTP là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, chỉ do những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành Áp dụng pháp luật VSATTP có hình thức thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, do tính chất quan trọng và phức tạp của hoạt động
áp dụng pháp luật, chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể được hưởng những lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những hậu quả rất nghiêm trọng nên pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình áp dụng pháp luật VSATTP Bên cạnh đó áp dụng pháp luật trong lĩnh vực VSATTP cũng đòi hỏi tính sáng tạo của người thực hiện Khi áp dụng pháp luật VSATTP, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ
Trang 25đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự
Ví dụ: Cơ quan Nhà nước quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm ra quyết định xử lý những tổ chức vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm
1.3 Đặc điểm thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm có các đặc điểm cơ bản sau:
- Thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm vừa mang tính
quyền lực Nhà nước vừa mang tính xã hội rộng lớn
Thực hiện pháp luật về VSATTP là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy phạm pháp luật về đi vào cuộc sống Các quy phạm pháp luật về VSATTP là những quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ về phát triển theo định hướng nhất định Các quy phạm pháp luật về VSATTP là những quy tắc xử sự của mọi công dân, tổ chức, của các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là những quy định về nội dung chương trình, cơ cấu quản lý và phương thức quản lý, về địa vị pháp lý và trách nhiệm của các chủ thể trong lĩnh vực VSATTP Do
đó nó có tính bắt buộc thực hiện đối với mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, bảo đảm tính quyền lực của Nhà nước được thực thi trong đời sống thực tiễn Thực hiện pháp luật về VSATTP có thể do chủ thể là cá nhân hay tổ chức, pháp nhân, tiến hành Có thể bằng hành động hoặc không hành động Bởi
lẽ, quy phạm pháp luật có nhiều loại khác nhau và ứng với mỗi quy phạm pháp luật đó thì chủ thể thực hiện pháp luật sẽ xác định được xử sự cụ thể của mình, sao cho phù hợp với các quy định của pháp luật
Lĩnh vực VSATTP là một lĩnh vực đặc thù, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của mỗi cá nhân và cộng đồng Do đó, đòi hỏi mọi chủ thể phải thực hiện nghiêm túc các trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong quá trình thực hiện pháp luật VSATTP
Trang 26- Thực hiện pháp luật về VSATTP có phạm vi rộng lớn và chủ thể thực hiện rất đa dạng và phong phú
Thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề rộng lớn, phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau nhằm đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn Chủ thể thực hiện pháp luật VSATTP bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về VSATTP, cá nhân tổ chức sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng Các chủ thể này tham gia vào các quan hệ xã hội về VSATTP để thực hiện các quy định về VSATTP như: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm VSATTP, điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm, kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích ngay cơ đối với VSATTP, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về VSATTP, thông tin, giáo dục, truyền thông về VSATTP, trách nhiệm quản lý nhà nước về VSATTP
Mọi tổ chức cá nhân trong xã hội đều quan tâm đến vấn đề VSATTP và chịu sự tác động của pháp luật về VSATTP Mặt khác những quy định của pháp luật về VSATTP đều nhằm phục vụ lợi ích sức khỏe của công dân, vì thế pháp luật về VSATTP được đa số các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện Bên cạnh đó, vấn đề thực hiện pháp luật về VSATTP được các cấp, các ngành, mọi
tổ chức tích cực, chủ động tham gia chỉ đạo, quản lý, điều hành Có thể nói tác động của pháp luật VSATTP rất rộng lớn, tác động đến mọi thành viên trong
xã hội, từ cá nhân đến các tổ chức, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng
xa trong cả nước
- Thực hiện pháp luật về VSATTP là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật VSATTP
Hành vi là phương thức tồn tại của con người, được hình thành trên cơ
sở nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm và được biểu hiện bằng hành động hoặc không hành động trên thực tế
Trang 27Thực hiện pháp luật về VSATTP được thực hiện trên hai phương diện: không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và thực hiện hành vi hợp pháp Thực hiện pháp luật về VSATTP không chỉ là không vi phạm pháp luật, không làm điều pháp luật cấm Thực hiện pháp luật về VSATTP còn được thể hiện ở những hành vi sử dụng pháp luật
- Thực hiện pháp luật về VSATTP đòi hỏi có sự phối hợp của mọi chủ
thể trong quan hệ pháp luật về VSATTP
Để việc thực hiện pháp luật về VSATTP đạt kết quả cao, đảm bảo VSATTP cho mọi người, đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng thì cần có sự phối hợp của mọi chủ thể Các cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước về VSATTP cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, rèn luyện chuyên môn và vững vàng về đạo đức trong công tác quản lý về VSATTP, thực hiện đúng những đường lối chính sách của Đảng, kế hoạch chương trình đề ra, liêm chính trong công tác thanh kiểm tra trong lĩnh vực VSATTP Các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh thực phẩm cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về đảm bảo VSATTP như đảm bảo thực phẩm tươi sống, lượng tồn dư hóa chất, không lạm dụng các chất phụ gia, bảo quản thực phẩm không cho phép Người tiêu dùng cần cần nâng cao nhận thức về VSATTP để lựa chọn những thực phẩm đảm bảo
1.4 Các điều kiện đảm bảo việc thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
1.4.1 Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế xã hội, hệ thống chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong lĩnh vực xã hội Nền kinh tế xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của tầng lớp xã hội Ngược lại, nền kinh tế xã hội chậm phát
Trang 28triển, kém năng động và kém hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật Yếu tố kinh tế là nền tảng của
sự nhận thức hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh
mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật
Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, các cán bộ, công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện tiếp cận các thông tin về VSATTP, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật VSATTP đa dạng và cập nhật Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật
về VSATTP sẽ dễ dàng đến được với đông đảo người dân Điều đó giúp cho hoạt động thực hiên pháp luật về VSATTP của các chủ thể mang tính tích cực, tự giác Còn khi kinh thế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật về VSATTP Đây chính là mảnh đất lý tưởng cho sự xuất hiện các loại hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại với giá trị, chuẩn mực pháp luật, như tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng của cán bộ, công chức nhà nước trong công tác quản lý về VSATTP; buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế từ phía các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tư tưởng phó mặc sự an toàn của sức khỏe,
về VSATTP của người tiêu dùng
Cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp luật về VSATTP Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế; từ đó sẽ tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật VSATTP của các chủ thế trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng thực phẩm Nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng sẽ tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền,
Trang 29coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật; đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo để đánh giá các quan hệ giữa người với người Đây lại là nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển
1.4.2 Yếu tố ý thức pháp luật và đạo đức của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Chủ thể của quan hệ pháp luật vệ sinh VSATTP là cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là người sản suất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng Kết quả của một quan hệ pháp luật vệ sinh VSATTP được quyết định bởi ý thức và hành động của các chủ thể của quan hệ pháp luật đó
Ý thức pháp luật về VSATTP được hình thành từ tổng thể các hoạt động xã hội – pháp luật về VSATTP trên cả phương diện lý luận và thực tiễn,
ý thức pháp luật về VSATTP là hệ thống các giá trị, chuẩn mực pháp luật được kết tinh từ tri thức pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật; có ảnh hưởng sâu rộng tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ chấp hành sử dụng cho tới áp dụng pháp luật VSATTP Ý thức pháp luật VSATTP được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông qua quá trình thực hiện pháp luật về VSATTP Giữa ý thức pháp luật VSATTP và hoạt động thực hiện pháp luật VSATTP có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Ý thức pháp luật VSATTP là cơ sở, nền tảng, khuôn mẫu tư duy và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện pháp luật về VSATTP, có định hướng đúng đắn Ngược lại, hoạt động thực hiện pháp luật về VSATTP có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm cho các giá trị chuẩn mực của ý thức pháp luật về VSATTP
Một số người có quan niệm sai lầm cho rằng pháp luật chỉ chủ yếu là công cụ trừng phạt, do thiếu hiểu biết họ có tâm lý sợ hãi pháp luật Tâm lý lo
sợ đó khiến cho hành vi của con người thiếu ổn định do đó khó có thể dẫn đến hành vi xử sự tích cực trước pháp luật và đối với pháp luật
Trang 30Tình trạng thờ ơ trước pháp luật hoặc coi thường pháp luật ở một số người tác động tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật của những người khác Vẫn còn tồn tại tình trạng không tuân thủ pháp luật, thờ ơ coi thường pháp luật Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện pháp luật mà còn
có tác động không nhỏ tới xã hội cộng đồng
Ý thức, niềm tin đối với pháp luật về VSATTP của con người có ảnh hưởng quan trọng tới việc thực hiện pháp luật về VSATTP Bởi lẽ, nếu thiếu
sự tin tưởng vào pháp luật, không có niềm tin vững chắc vào tính công bằng
và nghiêm minh của pháp luật … thì việc thực hiện pháp luật về VSATTP không thể tốt và chặt chẽ được
Yếu tố pháp luật là yếu tố rất căn bản tác động đến ý thức, hành vi của con người cùng với những điều kiện khác có thể dẫn dắt con người thực hiện pháp luật VSATTP một cách tốt nhất Hệ thống chính sách, văn bản pháp luật, kế hoạch đảm bảo tính thống nhất, minh bạch, rõ ràng và được phổ biến, thông tin đại chúng sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, chế biến, tiêu dùng thực phẩm thực hiện pháp luật một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, một thực tế là có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành văn bản pháp luật, bất cập cả về số lượng, cả về nội dung, chồng chéo với văn bản gốc, với các văn bản khác về cùng một vấn đề điều chỉnh Điều này đã dẫn đến khó khăn, cản trở cho việc thực thi pháp luật, dẫn đến tâm lý coi thường, mất niềm tin vào các quy định pháp luật, tạo điều kiện cho những chuỗi vi
Trang 31phạm pháp luật ngoài vòng xử lý Nhiều khi, từ giải pháp tình thế, nhiều văn bản chuyên ngành lại có giá trị áp dụng cao hơn văn bản luật nhưng lại có quy định trái với văn bản luật dẫn đến việc khó thực hiện trong thực tế
1.4.4 Yếu tố hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trong bối cảnh hiện nay khi mà ý thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của người sản xuất, kinh doanh và mua bán thực phẩm còn kém cũng như nhận thức của người tiêu dùng về VSATTP chưa được nâng cao thì hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh thực phẩm của các chủ thể
Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ
xã hội Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc hoạch định các chính sách
và tạo khung pháp lý nhằm giảm thiểu những rủi ro, những mối nguy hại đối với VSATTP hay đề ra những quy định mà các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng để bảo đảm thực phẩm an toàn từ khâu sản xuất tới lưu thông Để những quy định đó phát huy hiệu quả trong thực tiễn thực hiện, công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là không thể thiếu Thanh tra, kiểm tra đều cùng có mục đích là nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa, phát hiện, xử lý những vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao của các chủ thể quản lý nhà nước, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện tiếp theo để đạt kết quả như mong muốn
Quản lý nhà nước về VSATTP chặt chẽ, nghiêm minh sẽ đảm bảo các
cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm tuân thủ và thực hiện đúng pháp luật về VSATTP, từ đó đảm bảo nguồn cung ứng thực phẩm an toàn, chất lượng cho cộng đồng Ngược lại, nếu hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước về VSATTP lỏng lẻo, thiếu đồng bộ sẽ dẫn đến việc thực hiện pháp luật
về VSATTP kém hiệu quả, dẫn đến những hệ lụy liên quan đến thực phẩm không đảm bảo chất lượng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Vấn đề VSATTP là một vấn đề đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm và dành nhiều thời gian nghiên cứu, rất nhiều giải pháp được đưa ra để đảm bảo VSATTP, sức khỏe của cộng đồng nói chung và lợi ích của người tiêu dùng nói riêng Ở chương này, luận văn đã nêu ra được những khái luận chung
về VSATTP, những khái niệm về pháp luật và thực hiện pháp luật VSATTP, phân tích và làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài như: “Vệ sinh toàn thực phẩm”, “thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm”, từ đó đưa ra những hình thức thực hiện pháp luật về VSATTP; những yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về VSATTP
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM QUA THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Bắc Giang có vị trí địa lý thuận lợi Bắc Giang nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội Phía Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên Vị trí của tỉnh nằm cạnh tam giác kinh
tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh) rất thuận lợi cho việc phát triển và liên kết vùng Thành phố Bắc Giang cách thủ đô Hà Nội 50km, cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan với Trung Quốc 110km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 50km, cách cảng biển Hải Phòng và cảng biển nước sau Cái Lân – Quảng Ninh 130km Từ đây có thể dễ dàng thông thương với các nước trong khu vực và trên thế giới [1]
Vị trí địa lý thuận lợi của tỉnh Bắc Giang vừa thế mạnh vừa là khó khăn, thách thức đối với tỉnh Bắc Giang trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Với vị trí thuận lợi cho việc phát triển, liên kết vùng và thông thương như đã phân tích ở trên, giúp số loại thực phẩm lưu thông ở tỉnh rất đa dạng phong phú Tuy nhiên, do thực phẩm được đưa đến từ nhiều nơi, nhiều vùng khiến cho việc kiểm soát về chất lượng cũng khó khăn hơn
- Đặc điểm địa hình
Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng miền núi và trung du có đồng bằng xem kẽ Vùng trung du bao gồm 2 huyện Hiệp Hòa, Việt Yên và thành
Trang 34phố Bắc Giang Vùng miền núi bao gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Trong đó 1 phần các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động là vùng núi cao
Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh) là chia cắt mạnh, phức tạp chênh lệch về độ cao lớn Nhiều vùng đất đai còn tốt, đặc biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như vải thiều, cam, chanh, na, hồng, đậu tương, chè ; chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản
Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh) là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng tùy theo từng khu vực Vùng trung du có khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác [1]
Tỉnh Bắc Giang nằm ở vị trí chiến lược, giữ vai trò đầu mối giao thông quan trọng, là điểm tập kết, trung chuyển hàng hóa thực phẩm đi các tỉnh vùng Đông Bắc Bộ, các tỉnh quanh Hà Nội Mặt khác, thiên nhiên ở đây có nhiều ưu đãi, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thoáng mát, dễ chịu, ôn hòa cộng thêm đất màu mỡ, giàu dinh dưỡng nên rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây ăn quả, cây công nghiệp như vải thiều, cam, chanh, na, hồng, chè và các loại cây cung cấp lương thực như: ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, lúa … giúp cho việc sớm hình thành chợ đầu mối nông sản của vùng
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Đặc điểm kinh tế
Đặc điểm địa hình Bắc Giang được phân làm hai vùng sinh thái tương đối rõ rệt: trung du và miền núi, phù hợp cho phát triển nền sản xuất nông - lâm - nghiệp đa dạng Ngoài diện tích trồng cây lương thực với sản lượng hàng năm 550 ngàn tấn, Bắc Giang còn là tỉnh có kinh tế trang trại phát triển mạnh; đã hình thành vùng cây ăn quả tập trung lớn nhất Miền Bắc gồm: vải
Trang 35thiều, dứa, nhãn, hồng, na , với diện tích đạt 3,5 vạn ha, sản lượng các loại quả mỗi năm đạt khoảng 5 vạn tấn, trong đó vải thiều đạt trên 3 vạn tấn Bắc Giang có thế mạnh về trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: lạc, đậu tương, vừng, hàng năm cung cấp khoảng 11 ngàn tấn lạc vỏ, trên 7 ngàn tấn đậu tương Với số lượng lớn lương thực, hoa quả như trên đã đảm bảo cung cấp trong địa bàn tỉnh, các vùng lân cận cũng như xuất khẩu ra nước ngoài
Ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng 33% trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp với 12 vạn con trâu; 7 vạn con bò; hơn 74 vạn con lợn; 7,5 triệu con gia cầm; 6.526 ha diện tích nuôi cá nước ngọt; hàng năm cho sản lượng khoảng 60 ngàn tấn thịt lợn; trên 12 ngàn tấn thịt gia cầm các loại; gần 5 ngàn tấn cá và thuỷ sản, v.v Ngành chăn nuôi trong tỉnh đảm bảo nguồn cung về thực phẩm cho tỉnh và các vùng lân cận [1]
Đặc điểm xã hội
Trong những năm gần gây, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện công tác giảm nghèo, thực hiện chế độ chính sách đối với người có công, đảm bảo an sinh xã hội được quan tâm thực hiện, đạt kết quả tích cực Chất lượng dịch vụ y tế tiếp tục được nâng lên Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được chú trọng, phân cấp mạnh mẽ, có chuyển biến tích cực Công tác phòng, chống dịch bệnh được thực hiện hiệu quả Từ đó, củng cố ý thức của nhân dân về lợi ích chung, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, nhờ đó có ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng lên và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và chủ động hơn
Tuy nhiên trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Giang, nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế và chuyển dịch chậm theo hướng tăng dần tỷ trọng trong công nghiệp và dịch vụ Lực lượng lao động tuy dồi dào nhưng phương tiện, kỹ thuật lao động còn đơn giản, lạc hậu vì vậy việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
Trang 36thuật vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm còn hạn chế; phần lớn cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh còn nhỏ lẻ, kinh doanh theo quy mô hộ gia đình, do đó việc đầu tư cơ sở vật chất nhằm đáp ứng đầy đủ các quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh khó khả thi Một số cơ sở sản xuất, kinh doanh do nhận thức về VSATTP còn hạn chế, thiếu hiểu biết, chạy theo lợi nhuận nên chưa thực hiện tốt VSATTP
2.1.3 Đặc điểm văn hóa – đời sống
Bắc Giang là nơi giao thoa nhiều nền văn hóa, lễ hội Bắc Giang phòng phú về thể loại Hầu hết các thôn làng ở Bắc Giang đều có lễ hội riêng Những
lễ hội dân gian có quy mô lớn và đặc sắc như: Lễ hội Thổ Hà – Việt Yên, Lễ hội trải Tiểu Mai – Hiệp Hòa, Hội chùa Bổ Đà – Việt Yên … Số lượng người địa phương và thập phương tham gia lễ hội rất đông, cũng phát sinh nhu cầu
ăn uống tại lễ hội, các tiểu thương kinh doanh thực phẩm cũng hoạt động rất nhiều tại các lễ hội Việc thực hiện pháp luật của các tiểu thương này trong việc thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm ảnh hưởng rất lớn đến việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại các lễ hội Bên cạnh đó, với thói quen ăn những thực phẩm tại các vỉa hè đường phố, việc kiểm soát chất lượng thực phẩm cũng gặp không ít khó khăn
Tỉnh Bắc Giang là đô thị trung du miền núi, có dân số đông, mặt bằng dân trí chưa cao, có nhiều dân tộc anh em, với phong tục, tập quán văn hóa đa dạng, đời sống kinh tế còn khó khăn, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Do đó, nhận thức về VSATTP còn thấp, hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm còn hạn chế, chưa tạo được sự chuyển biến trong nhận thức làm thay đổi hành vi chấp hành các quy định về VSATTP Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về VSATTP trình độ chuyên môn không cao, lại kiêm nhiệm nhiều việc nên việc hiểu và áp dụng pháp luật về VSATTP còn hạn chế
Trang 372.2 Thực trạng các quy định pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam và tỉnh Bắc Giang
2.2.1 Những quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam
Pháp luật về VSATTP ở Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm VSATTP; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với VSATTP; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về VSATTP; thông tin, giáo dục, truyền thông về VSATTP; trách nhiệm quản lý nhà nước về VSATTP Như vậy, pháp luật VSATTP là toàn bộ các văn bản luật và dưới luật, các thông tư, nghị định có liên quan điều chỉnh những vấn đề xã hội phát sinh trong lĩnh vực VSATTP
Quy định về điều kiện kinh doanh thực phẩm
Luật An toàn thực phẩm năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2018 (gọi chung là Luật An toàn thực phẩm năm 2010) quy định “sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện” [16, Điều 3] Do đó, các chủ thể muốn tham gia kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng những điều kiện kinh doanh
cụ thể đối với một cơ sở kinh doanh thực phẩm Nghị định số 67/2016/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế, về nguyên tắc áp dụng pháp luật, đó
là “tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện được quy định tại Nghị định này được sản xuất, kinh doanh thực phẩm” [7, Điều 3] Đối với các cơ sở kinh doanh thực phẩm thuộc nhóm các cơ sở kinh doanh phải cấp giấy chứng nhận cơ sở
đủ điều kiện VSATTP, điều kiện cần và đủ để kinh doanh đó là phải có giấy
Trang 38chứng nhận đăng ký kinh doanh và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện VSATTP Đối với các cơ sở thuộc nhóm các cơ sở không phải cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện VSATTP, điều kiện để kinh doanh thực phẩm là phải đáp ứng được các yêu cầu để bảo đảm VSATTP trong kinh doanh được các Bộ quản lý chuyên ngành quy định Ví dụ, đối với các cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ thuộc thẩm quyền quản lý chuyên ngành về VSATTP của Bộ Công Thương, phải đáp ứng các yêu cầu sau: (1) Có đủ điều kiện VSATTP phù hợp với từng loại hình kinh doanh thực phẩm được quy định tại Mục 8, Chương VI, Nghị định số 77/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ; (2) Thực hiện ký cam kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền do UBND cấp tỉnh phân cấp quản lý về VSATTP trên địa bàn [7]
Việc quy định về điều kiện kinh doanh thực phẩm như vậy được xem là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựng rào cản nhằm hạn chế những cơ
sở chưa đủ năng lực bảo đảm VSATTP tham gia vào chuỗi cung ứng thực phẩm trên thị trường, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Quy định về điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Điểm a, khoản 2, Điều 8 Luật ATTP năm 2010 quy định nghĩa vụ của
tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm là “phải tuân thủ các điều kiện bảo
đảm an toàn đối với thực phẩm trong quá trình kinh doanh và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình kinh doanh” [16, Điều 8] Mỗi một sản
phẩm, một khâu trong quá trình lưu thông thực phẩm phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể, riêng biệt để bảo đảm thực phẩm được an toàn
- Điều kiện bảo đảm VSATTP đối với cơ sở
Những điều kiện phải đáp ứng về cơ sở vật chất là các yêu cầu về: diện tích mặt bằng, kết cấu, vật liệu xây dựng nhà xưởng, kiến trúc khu vực kinh doanh, các điều kiện về môi trường, … nhằm bảo đảm cho thực phẩm được an
Trang 39toàn trong suốt quá trình kinh doanh Điều kiện này được quy định tại Điều 19, Luật An toàn thực phẩm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định này Hiện nay, Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về điều kiện bảo đảm VSATTP đối với cơ sở kinh doanh, đó là: Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12/09/2012 quy định về điều kiện chung bảo đảm VSATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm (sau đây gọi là Thông
tư số 15/2012/TT-BYT); Nghị định số 67/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế; Nghị định số 77/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về điều kiện đầu
tư, kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương Theo đó, các tổ chức, cá nhân căn cứ vào mặt hàng, lĩnh vực kinh doanh của mình thuộc quản lý chuyên ngành của
Bộ nào để đáp ứng các điều kiện về cơ sở kinh doanh Tuy nhiên, về cơ bản, các nơi diễn ra hoạt động kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng các yêu tại Điều 19, Luật VSATTP 2010 và Điều 5, Thông tư 15/2012/TT-BYT, đó là các yêu cầu: về diện tích kinh doanh; về khu vực kinh doanh; về thiết kế nhà xưởng phục vụ kinh doanh; về kết cấu và xây dựng; về vệ sinh môi trường; về duy trì điều kiện bảo đảm VSATTP và lưu dữ hồ sơ về nguồn gốc, xuất xứ thực phẩm phục vụ truy xuất nguồn gốc khi có sự cố về VSATTP
Để bảo đảm VSATTP, các cơ sở hoạt động thương mại thực phẩm phải đáp ứng các yêu cầu về trang thiết bị, dụng cụ được quy định tại Điều 6, Thông tư số 15/2012/TT-BYT, đó là các yêu cầu về: Sự đầy đủ của trang thiết
bị phục vụ kinh doanh, bảo quản của từng loại thực phẩm và các quy định về quy trình, chế độ vệ sinh đối với cơ sở; Về trang thiết bị để kiểm soát nhiệt
Trang 40độ, độ ẩm, gió và các yếu tố ảnh hưởng tới VSATTP theo yêu cầu kỹ thuật của từng loại sản phẩm thực phẩm trong quá trình kinh doanh; Về thiết bị phòng chống côn trùng và động vật gây hại; Về độ chính xác và chế độ bảo dưỡng, kiểm định đối với các thiết bị, dụng cụ giám sát, đo lường chất lượng
Pháp luật đặt ra các yêu cầu đối với người kinh doanh thực phẩm là phải đáp ứng đủ điều kiện về kiến thức, sức khỏe và thực hành VSATTP Về kiến thức, chủ cơ sở, người trực tiếp kinh doanh thực phẩm phải học tập kiến thức
vệ sinh VSATTP theo quy định và có xác nhận tập huấn kiến thức VSATTP do
cơ sở có thẩm quyền cấp (khoản 1, Điều 7, Thông tư số 15/2012/TT-BYT) Về sức khỏe, chủ cơ sở, người quản lý có tiếp xúc với thực phẩm và người trực tiếp kinh doanh thực phẩm phải được khám sức khỏe định kỳ ít nhất mỗi năm một lần (và phải có Giấy xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ theo quy định của
Bộ Y tế) Người đang mắc các bệnh hoặc chứng bệnh thuộc danh mục các bệnh hoặc chứng bệnh truyền nhiễm mà người lao động không được phép tiếp xúc trực tiếp trong quá trình kinh doanh thực phẩm, đã được Bộ Y tế quy định (Lao, kiết lỵ, thương hàn, ỉa chảy, tả, mụn nhọt, són đái, són phân, viêm gan siêu vi trùng, viêm mũi, viêm họng mủ, các bệnh ngoài da, các bệnh da liễu, những người lành mang vi khuẩn gây bệnh đường ruột) thì không được tham gia trực tiếp vào quá trình kinh doanh thực phẩm [6, Điều 7]
Những yêu cầu cụ thể đối với bảo quản thực phẩm trong kinh doanh được quy định tại Điều 8, Thông tư số 15/2012/TT-BYT Theo đó, thực phẩm phải được bảo quản trong khu vực chứa đựng, kho riêng và phải bảo đảm các yêu cầu nghiêm ngặt, cụ thể là các yêu cầu: đối với khu vực chứa đựng/ kho bảo quản; đối với thiết bị, dụng dụng cụ phục vụ bảo quản thực phẩm; đối với quy cách bảo quản
Đối với những cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ thì theo Điều 22, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Chương V, Thông tư số 16/2012/TT-