1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay.

101 238 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 503 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng. Từ đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướng mắc của các quy định pTrong đề tài này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng. Từ đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật hiện hành; cố gắng đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức hiện nay. Trong đề tài này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng. Từ đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật hiện hành; cố gắng đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức hiện nay. Trong đề tài này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng. Từ đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật hiện hành; cố gắnTrong đề tài này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng. Từ đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướng Trong đề tài này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng. Từ đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật hiện hành; cố gắng đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức hiện nay. của các quy định pháp luật hiện hành; cố gắng đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức hiện nay. g đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức hiện nay. háp luật hiện hành; cố gắng đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức hiện nay.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG THỊ THU NGA

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ TUYÓN DôNG C¤NG CHøC

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG THỊ THU NGA

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ TUYÓN DôNG C¤NG CHøC

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 8380101.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình của cá nhân tôi Các kết quả được nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình, văn bản nào Tôi đã hoàn thành đầy đủ các môn học theo đúng quy định của Khoa Luật, trường Đại học Quốc Gia Hà Nội.

Vậy, tôi làm lời cam đoan này kính mong Khoa Luật xem xét

đề nghị để tôi có thể được bảo vệ luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Dương Thị Thu Nga

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với GS.TS Hoàng Thị Kim Quế,

người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp em hoàn thành tốt luận văn này Cô đãtận tình dìu dắt, san sẻ, giúp đỡ em có thể vượt qua những khó khăn gặp phảitrong suốt quãng thời gian qua

Em xin cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia HàNội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho em Xin cảm ơn những ngườiyêu thương nhất đã hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần cho em trong nhữngnăm qua Nếu thiếu đi những tình cảm thân thương ấy, thì em đã không thểhoàn thành tốt khóa luận này./

Em xin chân thành cảm ơn!!!

Hà Nội, ngày 02 tháng 09 năm 2018

Học viên

Dương Thị Thu Nga

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

1.1 Khái niệm chung về công chức và tuyển dụng công chức 6

1.1.1 Khái niệm công chức 6

1.1.2 Khái niệm tuyển dụng công chức 8

1.1.3 Điều kiện và thủ tục tuyển dụng công chức 9

1.2 Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức 11

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức 11

1.2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức 16

1.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay 30

1.3.1 Hệ thống pháp luật tuyển dụng công chức 30

1.3.2 Ý thức pháp luật của cá nhân, tổ chức trong thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức 31

1.3.3 Hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức 34

1.3.4 Dư luận xã hội, giám sát xã hội đối với thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay 36

Trang 7

1.4 Những điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện pháp luật tuyển

dụng công chức 39 Kết luận chương 1 45 Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TUYỂN

DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 46 2.1 Thực trạng hệ thống pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt

Nam hiện nay 46

2.1.1 Tổng quan hệ thống pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam

hiện nay 462.1.2 Những hạn chế của hệ thống pháp luật tuyển dụng công chức ở

Việt Nam hiện nay 512.1.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng hệ thống pháp luật tuyển dụng

công chức ở Việt Nam hiện nay 53

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt

Nam hiện nay 55

2.2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật tuyển dụng công chức của các cơ

quan có thẩm quyền 552.2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức của các cá

nhân, tổ chức 602.2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng thực hiện pháp luật tuyển dụng

công chức ở Việt Nam hiện nay 66

Kết luận chương 2 70 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 71 3.1 Những quan điểm cơ bản 71

3.1.1 Đảm bảo nguyên tắc tôn trọng, tuân thủ pháp luật tuyển dụng

công chức 71

Trang 8

3.1.2 Thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức trên các nguyên tắc

công bằng, bình đẳng, công khai, minh bạch 73

3.1.3 Thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ, chuyên môn thực thi có hiệu quả những nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra 75

3.2 Giải pháp cơ bản bảo đảm thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay 77

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật tuyển dụng công chức 77

3.2.2 Thực hiện chế độ giám sát, kiểm tra, thanh tra Nhà nước đối với thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức 80

3.2.3 Thực hiện giám sát và phản biện xã hội đối với thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức 82

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, quá trình toàn cầu hoáđang diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực Bối cảnh đó vừa là điều kiện thuận lợivừa là thách thức to lớn đối với yêu cầu hiện đại hoá, chuyên nghiệp hoá nềncông vụ của nước nhà Nó đòi hỏi đội ngũ công chức phải có đạo đức, bảnlĩnh chính trị vững vàng, năng lực, trình độ chuyên môn ở một tầm cao mới

đủ để giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xãhội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trên thực tế, chất lượng công chức ở Việt Nam hiện nay chưa đáp ứngvới yêu cầu đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội Đội ngũ công chức bị trì trệ,thiếu tính nhạy bén, yếu kém về năng lực để thực hiện nhiệm vụ Một bộ phậncông chức suy thoái phẩm chất, đạo đức, thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân,phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, ý thức tổ chức kỷ luật kém,tha hoá về lối sống hoặc né tránh, thiếu bản lĩnh đấu tranh với những hành viquan liêu, tham nhũng, tiêu cực Một số công chức chưa thực sự lấy việc phục

vụ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu, làm thước đo chủ yếu nhất cho mức độ

và kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình Quan hệ của họ với nhân dân thậmchí còn mang dấu ấn cai trị theo kiểu ban phát, thiếu bình đẳng, thiếu tôntrọng Từ đó dẫn đến tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền

hà đối với nhân dân và lợi dụng chức trách, thẩm quyền được Nhà nước vànhân dân giao phó để nhận hối lộ, tham nhũng, làm biến dạng những giá trị và

tiêu chuẩn đích thực của người “cung bộc của nhân dân”, rơi vào chủ nghĩa

cá nhân, cơ hội, thực dụng

Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức đang là vấn đề có ýnghĩa sống còn không chỉ riêng của công cuộc cải cách hành chính mà của cả sự

Trang 10

nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước Trong hoạt động của nền hànhchính, việc xây dựng đội ngũ công chức luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu Độingũ công chức trực tiếp thực hiện quyền lực trong quản lý xã hội, đảm bảo thựcthi pháp luật và là nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính.

Công tác tuyển dụng là bước đầu tiên để tuyển chọn được đội ngũ côngchức có chất lượng cao Tuyển dụng công chức là để giao giữ một chức tráchnhất định hay để bổ nhiệm vào một ngạch công chức nào đó, để thi hànhnhiệm vụ được trao, do vậy công tác tuyển dụng công chức rất quan trọng

Việc nghiên cứu đề tài “Thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt

Nam hiện nay” là điều cần thiết góp phần đáp ứng yêu cầu của thực tế cải

cách hành chính Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều bài viết mang tínhnghiên cứu khoa học về vấn đề thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức

như: Quy định về tuyển dụng công chức và một số giải pháp hoàn thiện của tác giả Phạm Tuấn Doanh; Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh

giá đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay của tác giả Thạch Thọ Mộc; Kiên quyết xử lý sai phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm công chức của tác giả Tô

Nam, Về chính sách thu hút, tuyển dụng, trọng dụng và đãi ngộ người có

tài năng trong hoạt động công vụ của tác giả Trương Thế Nguyễn; Cải cách chế độ tuyển dụng công chức trong bối cảnh cải cách hành chính ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Duy Thăng.

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nghiên cứunào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống việc thực hiện phápluật tuyển dụng công chức ở Việt Nam

Hơn nữa, nhận thấy được sự cần thiết phải nghiên cứu các khía cạnhcủa vấn đề nên tác giả đã chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 11

Trong đề tài, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng côngchức Trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng từ đó tổng hợp các vấn

đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướngmắc của các quy định pháp luật hiện hành; cố gắng đưa ra các giải pháp cụthể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đang quantâm đổi mới công tác xây dựng pháp luật Mục đích nghiên cứu chính của đềtài là nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về thực hiện quychế tuyển dụng công chức nước ta hiện nay, chỉ rõ thực trạng của vấn đề từ đóđánh giá những thuận lợi khó khăn trong thực tiễn áp dụng xử lý vi phạm,kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiện khung pháp lí về thực hiện pháp luậttuyển dụng công chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hànhchính Nhà nước ta hiện nay

Để đạt được những mục đích nghiên cứu như trên, đề tài đặt ra và thựchiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Thứ nhất: Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay.

- Thứ hai: Phân tích đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về quy chế tuyển dụng công chức từ đó nắm bắt được tình hình hoạt động, ưu điểm, nhược điểm, hiệu quả làm việc của bộ máy hành chính nước ta hiện nay.

- Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là thực hiện pháp luật tuyển dụngcông chức ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về

thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam, thực trạng và giảipháp đảm bảo thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam

- Phạm vi về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện

pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2014 đến nay

- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu tình hình thực hiện pháp

luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam nói chung và dẫn chiếu một số ví dụ

cụ thể về thực trạng thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở các tỉnhthành nói riêng như Gia Lai, Lai Châu, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre,…

5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác – Lênin, quan điểm của Đảng về thực hiện pháp luật tuyển dụng côngchức, những quan điểm mới của khoa học pháp lý nói chung, về tuyển dụngcông chức nói riêng

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợpcũng sẽ được sử dụng ở mức độ phù hợp để hoàn thành mục tiêu của đề tài

6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Về mặt lý luận: Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam

tập trung nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về thực hiện pháp luật tuyển dụngcông chức ở Việt Nam hiện nay

Về mặt thực tiễn: những phân tích đánh giá cũng như những đề xuất cụ

thể mà tác giả đưa ra nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về cơ chế tuyểndụng công chức là tài liệu quan trọng giúp nhà làm luật tham khảo, vận dụngvào quá trình xây dựng luật một cách hiệu quả và phù hợp; các giải phápnhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính là những đóng góp

có giá trị đối với công tác nghiên cứu khoa học, công tác lập pháp và áp dụngpháp luật của Luận văn

Trang 13

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, phụ lục, khóa luận được kết cấuthành chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật tuyển

dụng công chức ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt

Nam hiện nay

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật tuyển

dụng công chức ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Khái niệm chung về công chức và tuyển dụng công chức

1.1.1 Khái niệm công chức

Xây dựng đội ngũ công chức luôn là mối quan tâm hàng đầu của cácquốc gia trên thế giới Quan niệm đúng đắn về khái niệm công chức là cơ sởcho việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu của nềnhành chính Tùy theo đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và cấu trúc bộ máyNhà nước mà mỗi quốc gia lại có những quan niệm khác nhau Khái niệmcông chức ở Việt Nam có lịch sử phát triển khá phong phú Ngay từ nhữngnăm sau khi giành chính quyền, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 76/SLngày 22/05/1950 quy định chế độ công chức của nước Việt Nam Dân ChủCộng Hòa.Trải qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm này có nhiều thay đổi

Ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII đã thông quaLuật cán bộ, công chức Đây là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từtrước đến nay và cắt nghĩa được rõ ràng về các khái niệm công chức Theo đócông chức được hiểu là:

Những công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vàongạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh,cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân màkhông phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốcphòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,

Trang 15

quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn

vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchNhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương củađơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [30]

Như vậy, theo định nghĩa trên, đặc điểm của một công chức bao gồm:

Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam

Thứ hai, về chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm

Công chức phải là người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào ngạch,chức danh, chức vụ trong các Cơ quan, Tổ chức, Đơn vị thuộc cấp Trungương, cấp Tỉnh, cấp Huyện

Ví dụ: Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định:

Những người là Công chức, trong đó Công chức trong ViệnKiểm sát nhân dân tối cao gồm: Phó Viện trưởng Viện Kiểm sátnhân dân tối cao; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trongvăn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc Viện Kiểm sátnhân dân tối cao [5, Điều 8]

 Công chức phải có đủ trình độ chuyên môn phù hợp với ngạch, chứcdanh, chức vụ

Các vấn đề liên quan tới bổ nhiệm, tuyển dụng công chức vào các chứcdanh, chức vụ và bổ nhiệm vào các ngạch công chức quy định cụ thể ởchương IV- Luật cán bộ, công chức năm 2008 Những vấn đề này còn phụthuộc vào quy định riêng đối với các chức danh, chức vụ khác nhau; cùng mộtchức danh, chức vụ nhưng thuộc các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác nhau;cùng một chức danh, chức vụ thuộc cùng một loại tổ chức, cơ quan, đơn vịnhưng ở các cấp khác nhau

Trang 16

Thứ ba, về nơi làm việc: Nơi làm việc của công chức rất đa dạng;

không chỉ hoạt động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Tổ chức chínhtrị – xã hội ở Trung ương, ở Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, ởHuyện, Quận, Thị xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh mà còn làm việc ở cả Cơquan, Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập

Ví dụ: Nghị định 06/2010/NĐ – CP quy định công chức trong bộ máy

lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập như sau: “Người đứng đầu, cấp

phó của người đứng đầu; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ” [5, Điều 11, Khoản 2].

Thứ tư, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi

được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật

Lao động (Điều 60 – Luật cán bộ, công chức năm 2008); chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi (Quy

định tại điểm a Khoản 1 Điều 73 – Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014).

Thứ năm, về chế độ lao động: Công chức được biên chế và hưởng

lương từ ngân sách Nhà nước (Điều 12 – Luật cán bộ, công chức năm 2008).

Đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệpcông lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lậptheo quy định của pháp luật

1.1.2 Khái niệm tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức là một dạng hoạt động của quản lý hành chínhNhà nước nhằm chọn được những công chức có đủ khả năng, tiêu chuẩn vàđiều kiện thực thi công việc trong các cơ quan Nhà nước Tùy theo tính chất,chức năng, nhiệm vụ của từng loại cơ quan mà tiêu chuẩn, điều kiện, hìnhthức tuyển dụng theo đó cũng có sự khác nhau Tuyển dụng là khâu đầu tiên

Trang 17

có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đội ngũ công chức, do đó cần phải tuânthủ những nguyên tắc chung nhất định và quy trình khoa học từ hình thức đếnnội dung thi tuyển.

1.1.3 Điều kiện và thủ tục tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức được thực hiện bằng hình thức thi cử công khai

do Chính phủ quy định Người được tuyển dụng qua thi tuyển phải là người

có phẩm chất đạo đức tốt, đúng với tiêu chuẩn trình độ, chuyên môn Tuynhiên thi tuyển chỉ là bắt đầu của quá trình tuyển dụng Sau khi trúng tuyển,người được tuyển dụng phải thực hiện chế độ tập sự, hết thời hạn tập sự cơquan tuyển dụng phải đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc củangười tập sự, nếu đạt được yêu cầu thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩmquyền quản lý công chức quyết định bổ nhiệm chính thức vào ngạch

Tùy thuộc vào từng loại công chức hành chính khác nhau, căn cứ vàovai trò, vị trí của họ mà con đường trở thành công chức cũng khác nhau Đốivới những công chức trong các ngạch, bậc nhất định, thông thường thực hiệntuyển dụng ngay vào hệ thống biên chế qua thi tuyển Đối với những côngchức lãnh đạo (Bộ trưởng, Thủ tướng, Chủ tịch…) thì được hình thành bằngcác quy định khác Yêu cầu của tuyển dụng công chức trong điều kiện hiệnnay là phải tuân thủ pháp luật và chế độ công vụ, đảm báo nguyên tắc bìnhđẳng, khách quan, công khai… Cùng với những vấn đề pháp luật, yêu cầu củaviệc tuyển dụng nêu trên, việc đánh giá tình trạng công tác tuyển dụng cònphải đề cập đến các hình thức tuyển dụng và những tiêu chuẩn đặt ra trongquá trình tuyển dụng công chức

 Về các hình thức tuyển dụng: Tuyển dụng công chức theo nghĩachung nhất là tuyển lựa, thi tuyển, bầu chọn, bổ nhiệm…để lấy một số ítngười trong số nhiều người tham gia công vụ Nhà nước Theo đánh giá từ cácquy định pháp luật ban hành, ở nước ta có hai hình thức tuyển dụng cơ bản:

Trang 18

o Một là, hình thức bầu: Đây là hình thức đang được áp dụng cho một

số chức danh công chức, hoạt động với tư cách là một nhà chính trị và tư cách

là công chức thực thi công vụ, ví dụ như: Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịchUBND tỉnh, huyện… Tuy nhiên đây là hình thức có tính đặc thù trong xâydựng đội ngũ công chức hành chính

oHai là hình thức thi tuyển: Có thể nhìn nhận ở việc thi tuyển để bổsung biên chế trong hệ thống công chức hành chính và việc thi tuyển làm thayđổi trạng thái công vụ của công chức như thi nâng ngạch, thi chuyển ngạch,thay đổi ngạch, bậc, chức vụ đảm nhận… Hình thức này nhằm để công chức

có những thăng tiến, phát triển trong nền hành chính Nhà nước

Trong hình thức thi tuyển tùy theo yêu cầu đặt ra mà tiêu chuẩn cũngđòi hỏi những điều kiện nhất định về đối tượng, trình độ đào tạo Thi tuyển cóthể thực hiện qua phần thi viết để đánh giá bằng chuyên môn, khả năng đápứng các tiêu chuẩn về nghiệp vụ trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể Đồng thờicũng có thể tiến hành tuyển dụng công chức qua thi vấn đáp, thực hành…đốivới những ngành, lĩnh vực có yêu cầu đặc thù nhất định

Về tiêu chuẩn tuyển dụng công chức: Để đảm bảo chất lượng đội ngũcông chức hành chính, những người muốn tham gia công vụ phải đáp ứngđược những đòi hỏi trước khi tuyển dụng, những tiêu chuẩn được coi là điềukiện bắt buộc Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/03/2010 của Chính phủquy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trong các cơ quan Nhànước quy định những điều kiện chung khi tuyển dụng công chức Cụ thể:

oViệc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị tríviệc làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức;

oNgười tham dự đăng ký thi tuyển phải thỏa mãn các điều kiện quyđịnh tại Luật cán bộ, công chức 2008 là:

Trang 19

a) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;

b) Đủ 18 tuổi trở lên;

c) Có đơn dự tuyển, có lý lịch rõ ràng;

d) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;

đ) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;

e) Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;

g) Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển

[30, Điều 36, Khoản 1].Ngoài các điều kiện nói trên, căn cứ vào tính chất và đặc điểm chuyênmôn nghiệp vụ của ngạch tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng cóthể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người dự tuyển

Tuyển dụng công chức là một hoạt động chuyên nghiệp, có tổ chức vàđược thực hiện theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, ngoài những cơ chếchung còn có những điều kiện riêng được áp dụng trong từng ngành để tuyểndụng những chức danh nhất định, nhằm đảm bảo chuyên môn, nghiệp vụ như:Thời gian công tác, học vấn, trình độ, năng lực, kinh nghiệm… Những yêucầu, quy định cơ bản đó của công tác tuyển dụng là chính cơ sở quan trọngcho quá trình xây dựng đội ngũ công chức những năm qua

1.2 Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức

Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật làcác yếu tố cấu thành cơ bản để duy trì sự tồn tại của đời sống pháp luật, đồngthời thể hiện sống động sự phân công quyền lực Nhà nước theo các quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước pháp quyền Các yếu tố này cùngtồn tại, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau Công tác

tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và

Trang 20

là chức năng của cơ quan hành pháp Đó chính là quá trình hướng dẫn, chuẩn

bị các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất thực hiện từng

văn bản pháp luật) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập,quán triệt, vận dụng để mọi hành vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp vớiquy định của pháp luật có liên quan Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của việc tổchức thực hiện pháp luật còn phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động lậppháp - ban hành luật và giám sát thực hiện luật của Quốc hội, của hoạt động

tư pháp trong bảo vệ pháp luật và sử dụng cưỡng chế Nhà nước Ngoài ra,thực hiện pháp luật còn bị ảnh hưởng bởi các chủ thể khác như tổ chức kinh tế

- xã hội, công dân khi các chủ thể này tổ chức thực hiện phản biện và giám sát

xã hội, thực hiện quyền kiến nghị, phát hiện, tố cáo, khiếu nại cũng nhưmức độ tuân thủ và chấp hành pháp luật khi thực thi các quyền và nghĩa vụcủa chủ thể trong đời sống Một số yếu tố khác như trình độ dân trí, ý thức vàtruyền thống pháp luật, xu thế vận động xã hội, xu thế toàn cầu hoá và hộinhập cũng có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến quá trình tổ chức thựchiện pháp luật trong cuộc sống

Việc tổ chức thực hiện pháp luật làm cho những quy định mà lập pháp

đã tạo dựng (còn là văn bản trên giấy) vận hành trong hoạt động thường nhậtcủa xã hội, là quá trình tiến đến mục tiêu của nhà làm luật nhằm sử dụng công

cụ pháp luật để quản lý, thúc đẩy sự phát triển xã hội theo xu thế tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống, phát huy hiệu quả của pháp luật.

Tuy chung quanh khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”

còn có những quan điểm khác nhau, nhưng có một nhận thức thống nhất làtrong Nhà nước pháp quyền, Nhà nước phải quản lý xã hội bằng pháp luật vàpháp luật có vị trí thượng tôn Để quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật

có vị trí thượng tôn, việc tổ chức thực hiện pháp luật là một yếu tố rất quantrọng Một mặt, Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật một

Trang 21

cách có hiệu quả, hiệu lực nhất, mặt khác bản thân Nhà nước cũng phải tuyệtđối tuân thủ các quy định của pháp luật Hai yếu tố này có mối quan hệ tương

hỗ lẫn nhau Việc Nhà nước tuyệt đối tuân thủ các quy định pháp luật là cơ sở

để tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả, hiệu lực Ngược lại, việc tổ chứcthực hiện pháp luật có hiệu quả đặt ra yêu cầu tất yếu là Nhà nước phải tuânthủ tuyệt đối các quy định của pháp luật

Khi ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh cácquan hệ xã hội, Nhà nước mong muốn các văn bản đó phải được tôn trọng vàthực thi có hiệu quả trong thực tế Đây cũng chính là yêu cầu để pháp luậtphát huy được giá trị đích thực của chính nó đối với đời sống xã hội conngười Một hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức ra đời được xây dựngtương đối đầy đủ cả về nội dung và hình thức, quy định khá bao quát vềnhững vấn đề và các yếu tố khác nhau, đồng thời cũng là cơ sở tiền đề quantrọng để việc thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức trên thực tế đạt kếtquả tốt Vậy thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức là gì?

 Khái niệm thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức

o Trước khi đi tìm hiểu khái niệm thực hiện pháp luật tuyển dụng côngchức, chúng ta cùng làm rõ khái niệm thực hiện pháp luật nói chung Theo lý

luận chung về Nhà nước và pháp luật, thực hiện pháp luật là “một quá trình hoạt

động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [21].

o Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiềucách thức khác nhau Đó có thể là hành vi của mỗi cá nhân, nhưng cũng cóthể là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chứckinh tế Dưới góc độ pháp lý, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp Hành

vi đó không trái mà phù hợp với những quy định của pháp luật và có lợi cho

xã hội, cho Nhà nước, cho công dân Hành vi hợp pháp này có thể được chủ

Trang 22

thể thực hiện trên cơ sở tự nhận thức là cần thiết phải xử sự theo đúng quyđịnh của pháp luật; cũng có thể chúng được thực hiện do chủ thể bị ảnhhưởng của những người xung quanh mà hành động; hoặc có thể có nhữnghành vi hợp pháp được thực hiện là kết quả của việc áp dụng những biện phápcưỡng chế Nhà nước hoặc do sợ bị áp dụng những biện pháp đó.

o Pháp luật về tuyển dụng công chức là một bộ phận của hệ thống phápluật Việt Nam Qua việc tìm hiểu khái niệm và các đặc điểm của việc thực

hiện pháp luật như trên, chúng ta có thể rút ra được khái niệm: “Thực hiện

pháp luật tuyển dụng công chức là một quá trình hoạt động có mục đích của các cơ quan Nhà nước và mọi công dân nhằm đưa các quy phạm pháp luật về tuyển dụng công chức trở thành những hành vi thực tế hợp pháp”.

 Đặc điểm thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức

Để có được khái niệm chính xác, cũng như để hiểu rõ hơn bản chất củathực hiện pháp luật tuyển dụng công chức, tác giả phân tích một số đặc điểmchủ yếu của thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức như sau:

o Thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức là một quá trình hoạtđộng có mục đích

Thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật tuyển dụng côngchức nói riêng luôn là hoạt động có mục đích của các chủ thể Khi tiến hànhcác hành vi trên thực tế, các chủ thể pháp luật luôn mong muốn đạt được mộtkết quả cụ thể, nhất định Kết quả này là điều mà các chủ thể đặt ra trước khithực hiện hành vi Trong nhận thức, các chủ thể mong muốn đạt được mụcđích khi thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức Mục đích đó có thể làmục đích lâu dài, mục đích trước mắt, mục đích chung cho toàn bộ quá trìnhhoặc được xác định theo từng nội dung cụ thể Chẳng hạn, đối với chủ thểthực hiện pháp luật tuyển dụng công chức là cá nhân, cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền, trong quá trình triển khai thực hiện phải tuân thủ các điều kiện

Trang 23

bảo đảm sự minh bạch, tính công bằng bình đẳng, tính công khai, bảo đảmchất lượng đội ngũ công chức trong thi tuyển và chịu trách nhiệm về nhữnghành vi sai trái của mình nếu có sự gian dối Hoạt động tuân thủ pháp luậttuyển dụng công chức nhằm mục đích kiểm soát, đánh giá chất lượng củatừng cuộc thi tuyển dụng, góp phần xây dựng và hoàn thiện đội ngũ côngchức đạt chất lượng cao.

o Chủ thể thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức là các cơ quanNhà nước, tổ chức và các cá nhân trong xã hội

Cũng như các lĩnh vực pháp luật khác, thực hiện pháp luật tuyển dụngcông chức phải thông qua hành vi của một chủ thể nhất định Tuỳ vào từngquan hệ cụ thể của pháp luật tuyển dụng công chức mà chủ thể đó có thể là cơquan Nhà nước hoặc bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong xã hội Do đó chủ thểthực hiện pháp luật tuyển dụng công chức có phạm vi rộng lớn về số lượng,

cụ thể: Với cương vị là người tuyển dụng thì chủ thể là các cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền (thực hiện thông qua hành vi của cán bộ, công chức được giaothẩm quyền tổ chức tuyển dụng), với cương vị là người được tuyển dụng thìchủ thể là các cá nhân đáp ứng đủ điểu kiện mà pháp luật quy định trong xãhội, nhưng nếu trong quan hệ pháp luật về ngăn ngừa các hành vi vi phạm thìchủ thể thực hiện pháp luật có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào… Do tính đadạng về chủ thể nên để nâng cao ý thức thực hiện pháp luật tuyển dụng côngchức, chúng ta cần căn cứ vào từng đối tượng cụ thể để lựa chọn giải pháp,cách thức phù hợp

o Thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức là nhằm hiện thực hoá cácquy phạm pháp luật về xây dựng chất lượng đội ngũ công chức, bảo đảm sựvận hành có hiệu quả hệ thống các cơ quan Nhà nước, đảm bảo hoạt độngquản lí, duy trì trật tự xã hội

Các quy định của pháp luật tuyển dụng công chức muốn phát huy được

Trang 24

hiệu lực, hiệu quả trên thực tế đòi hỏi phải có hành vi thực hiện pháp luật củacác tổ chức, cá nhân trong xã hội Thông qua hành vi của mình, có thể bằnghành động hoặc không hành động, các chủ thể pháp luật đã đưa pháp luậttuyển dụng công chức vào đời sống.

Việc tuyển dụng công chức được quy định khá chặt chẽ trong Luật Cán

bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn, thế nhưng trong quá trìnhthực hiện vẫn còn rất nhiều sai phạm điển hình là sự vi phạm nghiêm trọngnhững nguyên tắc cơ bản của các kỳ thi, thi chỉ để hợp thức hóa những người

đã được “chấm” từ trước Với thực trạng đó, các cơ quan quản lý cần nghiêm

túc kiểm điểm, chấn chỉnh, xử lý sai phạm, đồng thời thực hiện nghiêm các quyđịnh của pháp luật về tuyển dụng công chức, bổ nhiệm công chức lãnh đạo,quản lý; giảm bớt các khả năng dẫn đến tiêu cực trong quá trình bổ nhiệm,

tuyển dụng; hạn chế tình trạng tuyển dụng những người công chức “hữu danh

vô thực”, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong tương lai.

1.2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức

Trong hoạt động xây dựng pháp luật, bất kỳ một văn bản quy phạmpháp luật nào được ban hành đều nhắm tới những mục tiêu chính sách nhấtđịnh Chẳng hạn, việc ban hành quy định về tính công khai, minh bạch trongtuyển dụng công chức là nhằm chiêu nạp những người thật sự có tài, giảmthiểu sự tiếp nhận nhân sự yếu kém, không đủ trình độ chuyên môn làm việctrong bộ máy Nhà nước Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật yêu cầucác cơ quan chủ trì soạn thảo phải tiến hành thực hiện báo cáo đánh giá tácđộng của dự thảo văn bản trước khi tiến hành soạn thảo nhằm nâng cao tínhkhả thi của các văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành

Khi các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực, yêu cầu đặt ra đối vớiviệc tổ chức thực hiện văn bản này là phải đạt được những mục tiêu chínhsách nhất định Đây là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá việc thực hiện pháp

Trang 25

luật, vì nếu không đạt được những mục tiêu chính sách đặt ra thì các quyphạm pháp luật cũng không có giá trị thực tế Chính vì vậy, hiệu quả thựchiện pháp luật trên thực tế là thước đo chính xác nhất đối với một văn bản quyphạm pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành là để hướnghành vi của các chủ thể trên thực tế đến một mục tiêu nào đó chứ không phải

là để trưng bày hoặc chỉ để lấp đầy những quy định điều chỉnh các quan hệ xãhội Đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc ban hànhcác văn bản quy phạm pháp luật không đạt được những mục tiêu đã định sẽlàm giảm tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật và có thể dẫn tới việc làmgiảm ý thức tuân thủ pháp luật của người dân - vốn là một trong những yếu tốcản trở lớn nhất đối với hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật

Để đảm bảo tính khả thi của một văn bản quy phạm pháp luật, quy trình

và kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm những yêucầu đặt ra Trước hết, việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật phảiđược tiến hành trên cơ sở xác định rõ các vấn đề của cuộc sống và các mụctiêu chính sách rõ ràng cần phải đạt đến Xác định các mục tiêu của chínhsách cũng chính là thiết lập các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của việc tổ chứcthực hiện pháp luật về sau Qua đó, những hành vi của các chủ thể cần điềuchỉnh sẽ được xác định với những định hướng cụ thể

Với mục tiêu điều chỉnh các hành vi, các quy phạm pháp luật phải xácđịnh rõ các yếu tố của hành vi như: ai ? thực hiện hành vi gì ? thực hiện hành

vi trong điều kiện nào ? Đây chính là những thông tin cơ bản giúp bản thâncác chủ thể có trách nhiệm thực hiện pháp luật nắm bắt để thực hiện tốt trongthực tế của cuộc sống Mục đích của pháp luật là được ban hành để điều chỉnhcác hành vi của các chủ thể trong xã hội Mong muốn của các nhà lập pháp làcác khuôn mẫu hành vi đó sẽ được các đối tượng tuân thủ Tuy nhiên, các yêucầu đặt ra đối với hành vi cho dù có rất rõ ràng, thì trong nhiều trường hợp

Trang 26

mong muốn vẫn chưa hẳn đã được đáp ứng Về cơ bản, những định hướnghành vi có thể bị các đối tượng bị điều chỉnh bỏ qua nếu chúng không cónhững tác động tích cực và phù hợp đến xu hướng hành vi của họ.

Ở nước ta hiện nay, các văn bản pháp luật quy định trực tiếp về tuyểndụng công chức là Luật cán bộ, công chức 2008; Nghị định số 06/2010/NĐ-CPngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức; Nghị định

số 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/03/2010 Quy định về tuyển dụng, sửdụng và quản lý công chức; Nghị định 93/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày31/08/2010 sửa đổi một số điều của nghị định 24/2010/NĐ-CP; Thông tư số13/2010/TT-BNV của Bộ Nội vụ Quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng vànâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP; Thông tư số 05/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ ngày 24/10/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều tuyểndụng và nâng ngạch công chức

Theo đó, những đối tượng áp dụng trong các văn bản quy phạm phápluật này là:

1 Công chức quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức

2 Cơ quan quản lý công chức, bao gồm:

a Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổchức chính trị - xã hội;

b Tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương;

c Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toánNhà nước;

d Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

đ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tổchức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải

là đơn vị sự nghiệp công lập;

e Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 27

Các văn bản quy phạm pháp luật này nhìn chung quy định khá rõ ràng

về các yếu tố: ai, làm gì, trong điều kiện nào Tuy nhiên, tính khả thi của quyđịnh này còn là vấn đề phải bàn bởi chưa nêu rõ được những trách nhiệm vàchế tài đặt ra đối với những cán bộ, công chức làm trái quy định tuyển dụngcông chức dẫn đến những sai phạm nghiêm trọng làm giảm hiệu quả hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước Chính vì vậy, để tránh tình trạng thiết kế những quyphạm không phù hợp, khó tổ chức thực hiện trên thực tế, khi thiết kế các quyphạm, các yếu tố tác động đến hành vi của của các chủ thể rất cần được chútrọng

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp

lý đã xác định và chia thành bốn hình thức thực hiện pháp luật là tuân thủpháp luật (hay tuân theo pháp luật), thi hành pháp luật (hay chấp hành phápluật), sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các

chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luậtcấm Những quy phạm pháp luật cấm đoán sẽ được thực hiện ở hình thức này

và là hình thức thực hiện pháp luật bằng không hành động

Cụ thể, tại điều Điều 3 và Điều 4 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP có quyđịnh về căn cứ và điều kiện tuyển dụng công chức:

Điều 3 Căn cứ tuyển dụng công chức

1 Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm

vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức

2 Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm xác định, mô

tả vị trí việc làm, báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt đểlàm căn cứ tuyển dụng công chức

3 Hàng năm, cơ quan sử dụng công chức xây dựng kế hoạchtuyển dụng công chức, báo cáo cơ quan quản lý công chức để phê

Trang 28

duyệt và tổ chức tuyển dụng theo quy định tại Nghị định này.

Điều 4 Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức

Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức thực hiện theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức Cơ quan sử dụngcông chức xác định các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dựtuyển quy định tại điểm g khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức,báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt trước khi tuyển dụng

Có thể nói, tuyển dụng công chức là hoạt động chuyên biệt, mang tính

tổ chức mà chỉ các cơ quan có thẩm quyền mới có thể tiến hành hoạt độngtuyển dụng Ở đó, các chủ thể khi tiến hành sẽ dựa vào các căn cứ và điềukiện cụ thể để tìm ra những người xứng đáng nhất, phù hợp với tiêu chuẩn đề

ra Nhà nước và pháp luật Việt Nam nghiêm cấm mọi hành vi tuyển dụng bừabãi, tùy tiện, không tuân thủ pháp luật tránh tình trạng công chức được tuyểndụng không đủ trình độ chuyên môn, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầucông việc trong bộ máy Nhà nước

Thi hành pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các

chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tíchcực Các quy phạm pháp luật bắt buộc sẽ được thực hiện ở hình thức này vàđược thực hiện bằng hành động Các chủ thể khi ở trong điều kiện mà phápluật quy định thì phải làm những việc mà Nhà nước yêu cầu, họ không thểviện lý do để từ chối

Trong thi hành pháp luật tuyển dụng công chức, để cụ thể hóa công táctuyển dụng giúp đi vào hoạt động có hiệu quả, Nhà nước ta quy định rất rõ ràng

về thẩm quyền tuyển dụng công chức tại Nghị định 24/2010/NĐ-CP Theo đó:

1 Cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức bao gồm:a) Các cơ quan theo quy định tại Điều 39 Luật Cán bộ, công chức;b) Cơ quan, tổ chức, đơn vị được phân cấp tuyển dụng côngchức theo quy định tại Điều 39 Luật Cán bộ, công chức, được giao

Trang 29

biên chế, kinh phí hoạt động, có con dấu, tài khoản riêng

2 Căn cứ số lượng người đăng ký dự tuyển, người đứng đầu

cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng quyết định việc thành lập Hộiđồng thi tuyển khi tổ chức thi tuyển và Hội đồng xét tuyển khi tổchức xét tuyển (sau đây gọi chung là Hội đồng tuyển dụng)

3 Trường hợp không thành lập Hội đồng tuyển dụng, bộphận tham mưu về công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩmquyền tuyển dụng giúp người đứng đầu cơ quan có thẩm quyềntuyển dụng thực hiện việc tuyển dụng; đồng thời khi tổ chức tuyểndụng vẫn phải thành lập các bộ phận giúp việc theo quy định tạiđiểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định này

Cũng tại Điều 7 Nghị định này quy định về cơ cấu của Hội đồng tuyển dụng công chức:

1 Hội đồng tuyển dụng công chức có 05 hoặc 07 thành viên,bao gồm:

a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó củangười đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức;

b) Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu bộ phận thammưu về công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền tuyểndụng công chức;

c) Ủy viên kiêm thư ký Hội đồng là công chức thuộc bộ phậntham mưu về công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyềntuyển dụng công chức;

d) Các ủy viên khác là đại diện một số bộ phận chuyên môn,nghiệp vụ có liên quan

2 Hội đồng tuyển dụng làm việc theo nguyên tắc tập thể,

Trang 30

biểu quyết theo đa số, có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Thành lập bộ phận giúp việc gồm: Ban đề thi, Ban coi thi,Ban phách, Ban chấm thi trong trường hợp tổ chức thi tuyển, Bankiểm tra sát hạch trong trường hợp tổ chức xét tuyển, Ban phúc khảo;

b) Tổ chức thu phí dự tuyển và sử dụng theo quy định;

c) Tổ chức chấm thi;

d) Chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày tổ chức chấm thi xong,Hội đồng tuyển dụng phải báo cáo người đứng đầu cơ quan có thẩmquyền tuyển dụng công chức kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển đểxem xét, quyết định công nhận kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển;

đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thituyển hoặc xét tuyển [6, Điều 6]

Từ những quy định cụ thể, các cơ quan tổ chức có thẩm quyền sẽ dễdàng xác định mục tiêu, nhiệm vụ và có phương hướng hoạt động giúp chocông tác tuyển dụng đi vào hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, chuyên nghiệp và

có hệ thống, tạo hiệu quả cao trong quá trình thực hiện pháp luật tuyển dụngcông chức ở nước ta hiện nay

Sử dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các

chủ thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình trong giới hạn chophép của pháp luật Nhà nước tạo khả năng cho các chủ thể có thể đượchưởng những quyền nào đó và chủ thể thực hiện các quyền này hay không làtùy thuộc vào mong muốn, ý chí của chủ thể Những quy phạm pháp luật quyđịnh về các quyền và tự do pháp lý của các tổ chức, cá nhân được thực hiện ởhình thức này Tuy nhiên, Nhà nước cũng yêu cầu các chủ thể pháp luật phảithực hiện các quyền pháp lý một cách đúng đắn, chỉ được tiến hành nhữnghành vi nhất định trong phạm vi, giới hạn cho phép của pháp luật

Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định ưu tiên trong tuyển dụng công

Trang 31

b) Người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an,quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành,con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởngchính sách như thương binh, con của người hoạt động cách mạngtrước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước),con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học,con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động: đượccộng 20 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển;

c) Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ phục vụ cóthời hạn trong lực lượng công an nhân dân, đội viên thanh niênxung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triểnnông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ:được cộng 10 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển

2 Trường hợp người dự thi tuyển hoặc dự xét tuyển côngchức thuộc nhiều diện ưu tiên quy định tại khoản 1 Điều này thì chỉđược cộng điểm ưu tiên cao nhất vào kết quả thi tuyển theo quyđịnh tại khoản 3 Điều 10 Nghị định này hoặc kết quả xét tuyển theoquy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định này [6, Điều 5]

Có thể thấy, Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay đều nhất quánkhẳng định sự quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền con người Đảm bảo sự bìnhđẳng dành cho tất cả các nhóm đối tượng trong xã hội được xem là mục tiêu

Trang 32

chung của tất cả các quốc gia phát triển theo xu hướng tiến bộ, đồng thời cũng

là mục tiêu hướng đến của Việt Nam nhằm xây dựng một Nhà nước phápquyền dân chủ, công bằng, văn minh Pháp luật tuyển dụng công chức ở ViệtNam quy định cụ thể những đối tượng được ưu tiên cộng điểm trong quá trìnhtuyển dụng Theo đó, những trường hợp thuộc Điều 5 Nghị định 24 nêu trên

có quyền được sử dụng quyền ưu tiên của mình để tham gia thi tuyển, tìm một

cơ hội đứng trong hàng ngũ Nhà nước Điều này mang đậm tính nhân văn sâusắc cũng như là tính công bằng của pháp luật Việt Nam

Áp dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà

nước thông qua các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tổ chức chocác chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứvào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thayđổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Đây là hình thứcthực hiện pháp luật mang tính tổng hợp, trong đó có cả ba hình thức tuân thủpháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật Hoạt động áp dụng phápluật đòi hỏi phải được áp dụng theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung mà phápluật đã quy định nhằm bảo đảm tính hợp tình, hợp lý, và chính xác Ở đây,yếu tố đóng vai trò quyết định tới hiệu quả của việc áp dụng pháp luật chính

là mức độ hoàn thiện của pháp luật, sự vững mạnh của bộ máy Nhà nước,lương tâm và trình độ pháp lý của những tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Với

ý nghĩa đó, áp dụng pháp luật vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, đồngthời cũng là một biện pháp đảm bảo cho pháp luật được thực hiện trên thực tế

Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, vị tríviệc làm, chỉ tiêu biên chế và thông qua thi tuyển theo nguyên tắc công khai,minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh Hình thứcthi, nội dung thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, đảm bảo lựachọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu

Trang 33

tuyển dụng Trên cơ sở đó, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định:

Điều 8 Các môn thi và hình thức thi

1 Môn kiến thức chung: thi viết 01 bài về hệ thống chính trị,

tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội;quản lý hành chính nhà nước; chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước về ngành, lĩnh vực tuyển dụng

2 Môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết 01 bài và thi trắc nghiệm

01 bài về nghiệp vụ chuyên ngành theo yêu cầu của vị trí việc làm

Đối với vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn là ngoại ngữhoặc tin học, môn thi nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tinhọc Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chứcquyết định hình thức và nội dung thi môn nghiệp vụ chuyên ngành

là ngoại ngữ hoặc tin học phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làmcần tuyển dụng Trong trường hợp này, người dự tuyển không phảithi môn ngoại ngữ quy định tại khoản 3 hoặc môn tin học vănphòng quy định tại khoản 4 Điều này

3 Môn ngoại ngữ: thi viết hoặc thi vấn đáp 01 bài một trongnăm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữkhác theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan cóthẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định

Đối với vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số,việc thi môn ngoại ngữ được thay thề bằng thi tiếng dân tộc thiểu

số Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chứcquyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc thiểu số

4 Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thitrắc nghiệm 01 bài theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng

Trang 34

đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định.

Điều 9 Điều kiện miễn thi một số môn

Người đăng ký dự tuyển công chức được miễn thi một sốmôn trong kỳ thi tuyển công chức như sau:

1 Miễn thi môn ngoại ngữ trong trường hợp môn nghiệp vụchuyên ngành không phải là ngoại ngữ nếu có một trong các điềukiện sau:

a) Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học về ngoại ngữ;b) Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học ở nước ngoài hoặctốt nghiệp đại học, sau đại học tại cơ sở đào tạo bằng tiếng nướcngoài ở Việt Nam

2 Miễn thi môn tin học văn phòng trong trường hợp có bằngtốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên

Điều 10 Cách tính điểm

1 Bài thi được chấm theo thang điểm 100

2 Điểm các môn thi được tính như sau:

a) Môn kiến thức chung: tính hệ số 1;

b) Môn nghiệp vụ chuyên ngành: bài thi viết tính hệ số 2; bàithi trắc nghiệm tính hệ số 1;

c) Môn ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số, môn tin học vănphòng: tính hệ số 1 và không tính vào tổng số điểm thi

3 Kết quả thi tuyển là tổng số điểm của các bài thi môn kiến thứcchung và môn nghiệp vụ chuyên ngành tính theo quy định tại khoản 2Điều này cộng với điểm ưu tiên quy định tại Điều 5 Nghị định này

Điều 11 Xác định người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức

1 Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức phải có đủcác điều kiện sau đây:

a) Có đủ các bài thi của các môn thi;

Trang 35

b) Có điểm của mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên;

c) Có kết quả thi tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuốngthấp trong phạm vi chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm

2 Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi tuyểnbằng nhau ở vị trí cần tuyển dụng, người có điểm bài thi viết mônnghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu điểm bàithi viết môn nghiệp vụ chuyên ngành bằng nhau thì người có điểmbài thi trắc nghiệm môn nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là ngườitrúng tuyển; nếu vẫn không xác định được người trúng tuyển thìngười đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chứcquyết định người trúng tuyển

3 Người không trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chứckhông được bảo lưu kết quả thi tuyển cho các kỳ thi tuyển lần sau [6].Tuyển dụng công chức tuyệt đối phải tuân thủ theo pháp luật Đối vớinhững trường hợp tuyển dụng trái pháp luật, Đảng và Nhà nước ta sẽ có kếhoạch xử lý nghiêm khắc Trước mắt là miễn nhiệm chức danh lãnh đạo đốivới các công chức không đáp ứng trình độ đại học về chuyên môn; miễnnhiệm đối với các trường hợp không bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn theo chứcdanh được bổ nhiệm; hủy bỏ quyết định tuyển dụng đối với các trường hợpkhông thực hiện đúng quy định về tuyển dụng không qua thi tuyển và xéttuyển sai đối tượng cử tuyển

Giữa các hình thức thực hiện pháp luật có mối liên hệ logic phụ thuộcvào sự nhận thức và hành động của các chủ thể Vì thế, bản thân các chủ thể(cá nhân, tổ chức) thực hiện pháp luật có vai trò rất quan trọng Ví dụ, nếu cánhân, tổ chức không tự giác thi hành hay tuân thủ pháp luật (tức là không tựgiác thực hiện các nghĩa vụ, không kiềm chế làm những việc bị cấm) thì cơquan Nhà nước có thẩm quyền sẽ phải áp dụng các biện pháp can thiệp như:

xử lý vi phạm buộc các cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện đúng các quy định

Trang 36

của pháp luật, hoặc phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì những vi phạm

đó Tuy nhiên, việc phân chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức nhưtrên chỉ có tính chất tương đối, phục vụ cho mục đích nghiên cứu nên chủ yếu

có ý nghĩa về mặt lý luận, còn trong thực tế, các thuật ngữ tuân theo, thi hành,

sử dụng hay áp dụng pháp luật nhiều khi được dùng đồng nghĩa với nhau, đềubiểu thị một nội dung là pháp luật phải được tôn trọng và thực hiện nghiêmchỉnh bởi tất cả các chủ thể trong xã hội Hơn nữa, nếu chỉ hiểu khái niệm

“thực hiện pháp luật” như trong khoa học pháp lý nêu trên thì chưa thể phản

ánh hết nội dung, thực chất của vấn đề Trên thực tế, hình thức thực hiện phápluật phong phú, đa dạng và được mở rộng hơn rất nhiều Ngoài việc đượchiểu bao gồm bốn hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụngpháp luật, áp dụng pháp luật thì trên hết, thực hiện pháp luật phải được xem làmột trong những hình thức nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhànước; để tổ chức, quản lý xã hội, xây dựng Nhà nước và ban hành pháp luật

Ban hành các quy phạm pháp luật, Nhà nước mong muốn sử dụngchúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của Nhànước Điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nướcban hành được các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách tích cực, chính xác vàđầy đủ Như vậy, thực hiện pháp luật với vai trò là một trong những hình thứcthực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước phải bao gồm đầy đủ các hoạtđộng, từ ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, giáodục pháp luật; tổ chức thực thi pháp luật; đến việc giám sát, kiểm tra việc thựchiện pháp luật; xử lý các vi phạm pháp luật; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cácquy phạm khi chúng không còn phù hợp

Ngoài ra, một trong những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước phápquyền như đã nói ở trên là sự thượng tôn pháp luật Trong việc tổ chức thựchiện pháp luật, yêu cầu tôn trọng pháp luật cũng là một trong những yêu cầu

Trang 37

cơ bản Mặc dù các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện phápluật có thể được trao những khoảng không gian nhất định để thực hiện côngviệc nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật có tính linh hoạt, phù hợp với cáctình huống trên thực tế, nhưng tất cả mọi quyền hạn đó đều phải nằm trongkhuôn khổ pháp luật và phải được pháp luật trao quyền Ở đây, yêu cầu Nhànước chỉ được thực hiện những gì pháp luật cho phép càng được nhấn mạnh.Nói cách khác, việc tổ chức thực hiện pháp luật phải nằm trong khuôn khổpháp luật nhất định và phải có tính thống nhất với tổng thể hệ thống pháp luật.

Tổ chức thực hiện pháp luật trong Nhà nước pháp quyền không được tuỳ tiệnhoặc ngẫu nhiên, mà phải tuân theo các tiêu chuẩn đã định

Thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức ngoài bốn hình thức tuânthủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật, về bản chất phải được xem làhoạt động thường xuyên thể hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trongcông tác xây dựng đội ngũ công chức đạt hiệu quả cao Các hoạt động nàybao gồm: ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tuyển dụng công chức; tổchức thực thi pháp luật tuyển dụng công chức; kiểm tra, giám sát việc thựchiện pháp luật tuyển dụng công chức; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quyphạm pháp luật về tuyển dụng công chức và kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung,hoàn thiện các quy phạm pháp luật hiện hành về tuyển dụng công chức do các

cơ quan Nhà nước cấp trên ban hành; tổng kết, đánh giá việc thực hiện phápluật tuyển dụng công chức…

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười trong Thư gửi cán bộ, nhân viên ngành

tư pháp nhân dịp 50 năm thành lập ngành đã nhấn mạnh:

Có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ cũng mới chỉ là

có được một yếu tố cần của Nhà nước pháp quyền nhưng chưa đủ.Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân, đòi hỏipháp luật phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất

và công bằng, theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước

Trang 38

pháp luật [16, tr.1]

Hệ thống văn bản pháp luật về công tác tuyển dụng công chức củanước ta cho đến nay đã tương đối đầy đủ Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luậttuyển dụng công chức trên thực tế có hiệu quả hay không còn phụ thuộc rấtlớn vào sự quản lý của các cơ quan Nhà nước, vào ý thức tôn trọng và thực thipháp luật tuyển dụng công chức một cách nghiêm túc từ phía Nhà nước vàmỗi con người

1.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật tuyển dụng

công chức ở nước ta hiện nay

Trong thực tế hoạt động thực hiện pháp luật chịu sự quy định, ảnhhưởng của nhiều yếu tố thuộc cả cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng pháp

lý Và sau đây là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động thực hiệnpháp luật tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay

1.3.1 Hệ thống pháp luật tuyển dụng công chức

Trước hết, hoạt động áp dụng pháp luật có liên quan rất chặt chẽ vớihoạt động xây dựng pháp luật Để thực hiện và áp dụng pháp luật có hiệu quảcần phải có pháp luật tốt Nói cụ thể hơn là phải có một hệ thống pháp luậthoàn chỉnh, đồng bộ, sát thực tế; phù hợp với các quy luật khách quan của sựphát triển kinh tế - xã hội; phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị, vănhóa xã hội, tâm lí, tổ chức…mà trong đó pháp luật sẽ tác động, đáp ứngnhững nhu cầu đòi hỏi của đất nước ở mỗi thời kì phát triển

Thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức có vai trò rất quan trọng đốivới việc nâng cao chất lượng công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chínhtrong giai đoạn hiện nay Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X củaĐảng đã đề ra mục tiêu:

Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và

Trang 39

công chức thực sự là công bộc của nhân dân và đưa ra giải pháp: Đổimới chính sách cán bộ và công tác quản lý cán bộ, xây dựng chế độcông vụ rõ ràng, minh bạch, đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩmchất và năng lực gắn với chế độ hưởng thụ thỏa đáng và công bằng Triển khai các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hệ thốngcác văn bản quy phạm pháp luật như Luật Cán bộ, công chức năm 2008 vàcác văn bản hướng dẫn thi hành, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý cán

bộ, công chức nói chung và tuyển dụng công chức nói riêng góp phần xâydựng đội ngũ công chức vừa hồng, vừa chuyên đáp ứng yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức là hoạt động tiền đề nhằmxây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp

vụ công chức Một hệ thông pháp luật hoàn chỉnh và toàn diện mới có thể tạohành lang pháp lý cho công tác tuyển dụng, góp phần nâng cao năng lực thựcthi công vụ, chất lượng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu quản lý trật tự xãhội, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước Văn kiện Đại hội Đảng lần

thứ XI cũng chỉ rõ: “Thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên

chức và các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác cán bộ nhằm nâng cao chất lượng công tác cán bộ” Thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức

chính là giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thực thi công

vụ của công chức, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhànước trong giai đoạn hiện nay

1.3.2 Ý thức pháp luật của cá nhân, tổ chức trong thực hiện pháp luật tuyển dụng công chức

Như đã nói, tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên trong quá trình xéttuyển một người đủ điều kiện trở thành một mắt xích quan trọng trong bộ máyNhà nước Chủ thể của pháp luật tuyển dụng công chức rất rộng, có thể là

Trang 40

người tuyển dụng, người được tuyển dụng hoặc bất kì một cá nhân nào trong

xã hội Nói đến ý thức pháp luật trong thực hiện pháp luật tuyển dụng côngchức là nói đến ý thức pháp luật của mọi chủ thể trong xã hội, tuy nhiên chủthể đầu tiên phải kể đến chính là bản thân những người công chức Nhà nước

Thời đại hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất,quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển kinh tế thị trường đặt ra nhiều vấn đềcấp bách, dẫn đến mối quan hệ giữa pháp luật và ý thức pháp luật cần đượcnhận thức và làm rõ Pháp luật cùng với ý thức pháp luật đang từng ngàytừng giờ tác động tới cuộc sống của con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt

là những công chức Nhà nước Bởi lẽ, khác với những công dân bình thườngtrong xã hội, công chức Nhà nước là những người trực tiếp xây dựng và thựcthi chính sách, pháp luật của Nhà nước Muốn vậy, họ cần phải là những conngười có ý thức pháp luật cao hơn hết Công chức Nhà nước của Nhà nướcpháp quyền, nơi pháp luật có vị trí tương đối, cần phải là những người có ýthức pháp luật cao trong xã hội, am hiểu pháp luật và có ý thức tự giác tuânthủ pháp luật

Hơn thế nữa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang làmột yêu cầu cấp bách của Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa đòi hỏi rất nhiều giải pháp đồng bộ, mang tính chiến lược lâu dài,trong đó việc tuyển dụng một đội ngũ công chức vừa có tài vừa có đức là mộtyêu cầu căn bản Bởi chung quy lại, mọi vấn đề của Nhà nước hay bất cứ thiếtchế xã hội nào khác cũng là vấn đề con người, cụ thể trong trường hợp củaNhà nước, đó là đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước Đội ngũ cán bộ, côngchức của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là những người đượcnhân dân tín nhiệm trao quyền đại diện để thực hiện ý chí và nguyện vọng của

Ngày đăng: 09/11/2019, 20:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nội vụ (2006), Tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg và triển khai Quyết định số 1374/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015, 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số40/2006/QĐ-TTg và triển khai Quyết định số 1374/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cánbộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015, 2011
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2006
2. Bộ Nội vụ (2010), Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP (Thông tư số 13/2010/TT-BNV), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010Hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP (Thông tư số13/2010/TT-BNV)
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2010
3. Bộ Nội vụ (2011), Tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2011 – 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức, viên chức của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giaiđoạn 2011 – 2015
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2011
4. Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 05/2012/TT-BNV ngày 24/10/2012 của Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 05/2012/TT-BNV ngày 24/10/2012của Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số13/2010/TT-BNV
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2012
5. Chính phủ (2010), Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 Quy định những người là công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 Quyđịnh những người là công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
6. Chính phủ (2010), Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/03/2010 Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/03/2010 Quyđịnh về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
7. Chính phủ (2011), Nghị quyết 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011 ban hànhChương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
8. Trần Nam Chuân - Viện chiến lược Quốc phòng (2018), “Đổi mới công tác cán bộ, đòi hỏi từ thực tiễn”, Báo Nhân dân cuối tuần, ngày 03/05/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới côngtác cán bộ, đòi hỏi từ thực tiễn”, "Báo Nhân dân cuối tuần
Tác giả: Trần Nam Chuân - Viện chiến lược Quốc phòng
Năm: 2018
9. Vi Tiến Cường - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Đỗ Văn Viện - Học viện Nông nghiệp Việt Nam (2017), Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức hiện nay, ngày 14/04/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạovà bồi dưỡng đội ngũ công chức hiện nay
Tác giả: Vi Tiến Cường - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Đỗ Văn Viện - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2017
10. Phạm Tuấn Doanh - Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức – Bộ Nội vụ (2016), “Quy định về tuyển dụng công chức và một số giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, ngày 27/04/2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tuyển dụng công chức và một số giải pháphoàn thiện”, "Tạp chí Tổ chức Nhà nước
Tác giả: Phạm Tuấn Doanh - Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức – Bộ Nội vụ
Năm: 2016
11. Đoàn Minh Huấn - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, tổng biên tập Tạp chí Cộng sản (2018), “Lề lối, phong cách làm việc khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, Tạp chí Cộng sản, ngày 01/09/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lề lối, phong cách làm việc khoa học, dânchủ, chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong xâydựng, chỉnh đốn Đảng”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đoàn Minh Huấn - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, tổng biên tập Tạp chí Cộng sản
Năm: 2018
12. Lê Ngọc Hùng - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018),“Phát triển khung năng lực công chức ngang tầm yêu cầu của xã hội đổi mới: Lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Cộng sản, ngày 18/05/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khung năng lực công chức ngang tầm yêu cầu của xã hội đổimới: Lý luận và thực tiễn”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Lê Ngọc Hùng - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2018
13. Đinh Xuân Khoa, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Vinh (2018), “Cần có những chính sách quan trọng đối với đội ngũ trí thức để phát triển và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, ngày 28/08/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần có những chính sách quan trọng đối với đội ngũ trí thứcđể phát triển và hội nhập quốc tế”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đinh Xuân Khoa, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Vinh
Năm: 2018
14. Phạm Ngọc Linh - Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Ban Tuyên giáo Trung ương (2018), “Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức – Mười năm nhìn lại”, Tạp chí Cộng sản, ngày 21/08/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển đội ngũ tríthức – Mười năm nhìn lại”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Phạm Ngọc Linh - Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2018
15. Thạch Thọ Mộc -Viện Khoa học tổ chức Nhà nước (2018), Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay, Bộ Nội vụ - Viện khoa học tổ chức Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổimới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ công chức ở nước ta hiệnnay
Tác giả: Thạch Thọ Mộc -Viện Khoa học tổ chức Nhà nước
Năm: 2018
16. Đỗ Mười (1995), “Thư gửi cán bộ, nhân viên ngành tư pháp nhân dịp 50 năm thành lập ngành”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư gửi cán bộ, nhân viên ngành tư pháp nhân dịp50 năm thành lập ngành”, "Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Đỗ Mười
Năm: 1995
17. Tô Nam (2017), “Kiên quyết xử lý sai phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm công chức”, Báo điện tử Nhân Dân, ngày 26/09/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiên quyết xử lý sai phạm trong tuyển dụng, bổnhiệm công chức”, "Báo điện tử Nhân Dân
Tác giả: Tô Nam
Năm: 2017
18. Trương Thế Nguyễn - Trường Chính trị tỉnh Sóc Trăng (2016), Về chính sách thu hút, tuyển dụng, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong hoạt động công vụ, ngày 12/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vềchính sách thu hút, tuyển dụng, trọng dụng và đãi ngộ người có tàinăng trong hoạt động công vụ
Tác giả: Trương Thế Nguyễn - Trường Chính trị tỉnh Sóc Trăng
Năm: 2016
19. Nguyễn Tuấn Ninh - Bộ Nội vụ (2016), Xây dựng đội ngũ công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực, ngày 07/10/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ công chứctrong các cơ quan quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực
Tác giả: Nguyễn Tuấn Ninh - Bộ Nội vụ
Năm: 2016
20. Nguyễn Văn Phong – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2017), “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, ngày 19/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nângcao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức hiệnnay”, "Tạp chí Tổ chức Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Văn Phong – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w