1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về tiếp công dân – qua thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

132 230 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 858 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một nhà nước dân chủ nói chung, tiếp dân là việc làm không thể thiếu. Ở Việt Nam, tiếp công dân cũng là một trong những yêu cầu, là nguyên tắc bắt buộc đối với hoạt động quản lí trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và hoạt động quản lí hành chính nhà nước nói riêng. Việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân trên thực tế gặp phải rất nhiều khó khăn, cho đến nay, vẫn là đề tài giành được nhiều sự quan tâm bởi ý nghĩa, tầm quan trọng của nó trước yêu cầu của thực tiễn và cả về nhận thức lí luận. Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học trên những khía cạnh chủ yếu sau: Thứ nhất, luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận của thực hiện pháp luật về tiếp công dân; Thứ hai, luận văn đã nghiên cứu đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND các cấp trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Thứ ba, luận văn đã đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND các cấp trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THÁI DƯƠNG

Trang 4

HÀ NỘI - 2018

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, có tham khảo các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan của tác giả khác và có dẫn nguồn cụ thể; các số liệu trích dẫn trong Luận văn hoàn toàn chính xác, trung thực và có chỉ rõ nguồn.

Luận văn là công trình do tôi tự mình nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp và hoàn thiện, không sao chép Kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phí Thị Ánh

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến thầy, cô giảng viên Khoa Luật, Đạihọc Quốc Gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo Bộ môn Luật Hiến pháp và LuậtHành chính đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi học tập, nghiên cứuchương trình đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Tiến sĩGiảng viên chính Trần Thái Dương, Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã tận tâm,nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên,quan tâm, cổ vũ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Phí Thị Ánh

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN 12

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tiếp công dân 12

1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân 12

1.1.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về tiếp công dân 20

1.1.3 Vai trò của thực hiện pháp luật về tiếp công dân 32

1.2 Nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về tiếp công dân 34

1.2.1 Nội dung thực hiện pháp luật về tiếp công dân 34

1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật về tiếp công dân 40

1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân 44

1.3.1 Yếu tố chính trị- pháp luật 44

1.3.2 Yếu tố kinh tế, văn hóa, ý thức pháp luật của người dân 45

1.3.3 Yếu tố trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân 47

1.3.4 Yếu tố cơ sở vật chất- kĩ thuật đảm bảo thực hiện pháp luật về tiếp công dân 48

Tiểu kết chương 1 50

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 51

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội và sự ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức 51

Trang 8

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ở huyện Hoài Đức 512.1.2 Sự ảnh hưởng của đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội đến thực hiện

pháp luật về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức 52

2.2 Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về tiếp công

dân ở huyện Hoài Đức và nguyên nhân 55

2.2.1 Kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện

Hoài Đức 552.2.2 Nguyên nhân của những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật

về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức 68

2.3 Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở

huyện Hoài Đức và nguyên nhân 70

2.3.1 Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện

Hoài Đức 702.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp

công dân ở huyện Hoài Đức 74

Tiểu kết chương 2 79 Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP

LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH

PHỐ HÀ NỘI 80 3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện

Hoài Đức, thành phố Hà Nội 80

3.1.1 Quan điểm thứ nhất: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân đáp ứng

yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền 803.1.2 Quan điểm thứ hai: Xây dựng đồng bộ các điều điện bảo đảm thực

hiện pháp luật về tiếp công dân 813.1.3 Quan điểm thứ ba: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân nhằm bảo

đảm các quyền và lợi ích của công dân 833.1.4 Quan điểm thứ tư: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân gắn liền với

cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật về tiếp công dân trên thực tế 843.1.5 Quan điểm thứ năm: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân để góp

phần giảm các yếu tố gây mất trật tự an toàn xã hội, giảm tệ nạn

tham nhũng, lãng phí 843.1.6 Quan điểm thứ sáu: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân nhằm góp

Trang 9

phần xây dựng sự đồng thuận giữa người dân và cơ quan nhà nước

85

3.2 Nhóm giải pháp chung bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân

863.2.1 Đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí của nhà nước đối

với việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân 863.2.2 Tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát của HĐND đối với việc

thực hiện pháp luật về tiếp công dân 873.2.3 Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

của người dân 903.2.4 Xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về tiếp công dân

913.2.5 Hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm trong

hoạt động tiếp công dân bằng việc quy định các chế tài đủ độ răn đe 953.2.6 Hoàn thiện các quy định về giao tiếp, ứng xử trong công tác tiếp công dân

97

3.3 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện

Hoài Đức, thành phố Hà Nội 97

3.3.1 Đổi mới nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật về giải quyết khiếu

nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong tiếp công dân 993.3.2 Đổi mới hoạt động giám sát của cơ quan dân cử- HĐND huyện 1003.3.3 Trau dồi, nâng cao kỹ năng giao tiếp của cán bộ, lãnh đạo trong thực

hiện pháp luật về tiếp công dân tại huyện Hoài Đức 1033.3.4 Bảo đảm hiệu quả hoạt động tiếp nhận đơn thư giải quyết khiếu nại,

tố cáo, phản ánh, kiến nghị đối với các phòng, ban chuyên môn ở

huyện, UBND các xã, thị trấn 1043.3.5 Phát huy vai trò của BTCD huyện 1063.3.6 Vai trò của dư luận xã hội với việc thực hiện pháp luật về tiếp công

dân tại huyện Hoài Đức 1073.3.7 BTCD huyện cần phối hợp có hiệu quả với các cơ quan liên quan

trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân 108

Tiểu kết chương 3 113

Trang 10

KẾT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC 120

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BCH Ban chấp hànhBTCD Ban tiếp công dânCHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩaHĐND Hội đồng nhân dân

MTTQ Mặt trận Tổ quốcPhòng TN&MT Phòng Tài nguyên& Môi trườngTTPTQĐ Trung tâm phát triển quỹ đấtUBND Ủy ban nhân dân

Trang 11

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Quy trình tiếp người khiếu nại 25

Sơ đồ 1.2: Quy trình tiếp người tố cáo 26

Sơ đồ 1.3: Quy trình tiếp người kiến nghị, phản ánh 27

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong một nhà nước dân chủ nói chung, tiếp dân là việc làm không thể thiếu

Ở Việt Nam, tiếp công dân cũng là một trong những yêu cầu, là nguyên tắc bắt buộcđối với hoạt động quản lí trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung vàhoạt động quản lí hành chính nhà nước nói riêng Nhờ hoạt động này mà chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước được thực hiệnhiệu quả, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; công tác giải quyết khiếu nại,

tố cáo, kiến nghị, phản ánh được nhanh chóng, hiệu quả, góp phần xây dựng và tổchức chính quyền vững mạnh Để tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền làmchủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân thì hoạt động tiếp công dânphải trở thành một hoạt động thường xuyên, thiết thực và trên thực tế hoạt động này

đã và đang có ý nghĩa, vai trò hết sức quan trọng

Nhà nước Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộnghòa ra đời đến nay, Đảng, nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâmđến việc thể chế hóa, hiện thực hóa các quyền tự do và đề cao vai trò của nhândân; nhà nước luôn phải lắng nghe, tiếp nhận những ý kiến, nguyện vọng củanhân dân và đương nhiên có trách nhiệm tiếp công dân nhằm tạo điều kiện chomọi người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình.Thông qua việc tiếp nhận, xử lí, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phảnánh của công dân, pháp chế và kỷ luật trong quản lí hành chính được bảo đảm

Để giải quyết tốt những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân,các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh phảithực hiện tốt nhiều nội dung Trong đó, phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo vệ, bảođảm các quyền con người, quyền công dân là yếu tố vô cùng quan trọng

Tiếp công dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan hànhchính nhà nước, là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng, tổ chức chínhtrị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập Hoạt động tiếp dân đồng thời cũng là lĩnh

Trang 13

vực hết sức quan trọng trong điều hành xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước

và công dân Công tác tiếp công dân là thể hiện quan điểm “lấy dân làm gốc”, thực

sự tôn trọng nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đây chính là hoạtđộng thiết thực để củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng và nhà nước Hoạt độngtiếp công dân có tác động kép, thông qua công tác tiếp công dân, một mặt làm chomối quan hệ máu thịt giữa dân với Đảng, nhà nước càng gắn bó hơn, cơ quan nhànước sẽ lắng nghe, ghi nhận được những thông tin cần thiết để hiểu được tâm tưnguyện vọng của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và nhànước đề kịp thời chấn chỉnh, bổ sung, sửa đổi hoặc hủy bỏ các nội dung không cònphù hợp Đồng thời, Đảng và nhà nước nắm được tình hình thực hiện chính sách,pháp luật của nhà nước ở các địa phương, bao quát được phẩm chất, năng lực củacán bộ, công chức; qua đó, nâng cao được công tác chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành,quản lí trong tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước; tạo dựng cho nhân dân thực hiệnquyền dân chủ thực sự, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực

Với mục đích, ý nghĩa sâu sắc như vậy, nên Đảng và nhà nước ta rất coitrọng và quan tâm đến công tác tiếp dân Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản đểbảo đảm việc công dân có thể thực thi quyền hiến định này Ngay trong những ngàyđầu xây dựng chính quyền nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Namdân chủ cộng hoà đã nhận được khá nhiều ý kiến từ các tầng lớp nhân dân phản ảnhbằng thư từ, đơn kiện hoặc gặp gỡ trực tiếp bày tỏ nguyện vọng cần sớm chấm dứtcác hiện tượng, việc làm sai trái của một số nhân viên trong bộ máy chính quyềncác cấp, nhất là ở các địa phương

Hiến pháp năm 1992 ghi nhận khiếu nại, tố cáo là một trong các quyền cơbản của công dân, quyền này được sử dụng không hạn chế ở bất cứ lĩnh vực nào.Nghị định số 89/1997/NĐ-CP ngày 07/8/1997 của Chính phủ quy định về công táctiếp công dân Tháng 12/1998, lần đầu tiên Quốc hội thông qua Luật Khiếu nại, tốcáo năm 1998 Luật đã cụ thể hoá quyền khiếu nại, tố cáo là những quyền hiến địnhcủa công dân thành các chế định pháp lí để bảo đảm thực thi trên thực tế Sau đó,Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004, 2005;

Trang 14

sau đó được thành hại đạo luật là Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, đều được Quốchội thông qua ngày 11/11/2011

Trước khi có Luật Tiếp công dân năm 2013, các văn bản pháp luật của nước

ta chưa có văn bản nào quy định thế nào là “tiếp công dân” Trên cơ sở đường lối,chủ trương của Đảng, cụ thể tại các văn bản: (i) Thông báo số 164-TB/TW ngày23/9/1989 của Ban Bí thư, BCH TW Đảng về việc tiếp công dân và bảo vệ Trụ sởTiếp công dân của TW Đảng và Nhà nước; (ii) Chỉ thị số 09-CT/TW ngày06/3/2002 của Ban Bí thư, BCH TW Đảng về một số vấn đề cấp bách cần thực hiệntrong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay; (iii) Thông báo số 307-TB/TW về

Đề án đổi mới công tác tiếp công dân ngày 10/02/2010 v.v., các cơ quan nhà nước

đã ban hành các văn bản về tiếp công dân :

Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 18-TTG ngày 15/01/1993 về công táctiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Văn bản đầu tiên của Nhànước quy định các vấn đề cụ thể liên quan đến hoạt động tiếp công dân được banhành là Nghị định số 89-CP ngày 07/8/1997 của Chính phủ ban hành quy chế tiếpcông dân Trên cơ sở Nghị định số 89/CP, Tổng Thanh tra Nhà nước ban hànhThông tư số 1178/TT-TTNN ngày 25/9/1997 hướng dẫn thực hiện Nghị định số89/CP ngày 7/8/1997; Quyết định số 1204/QĐ-TTNN ngày 01/10/1997 ban hànhBản quy định về việc phối hợp tiếp công dân

Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 858/QĐ-TTg ngày14/6/2010 về việc phê duyệt đề án đổi mới công tác tiếp công dân, quy định cụ thể

về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của trụ sở tiếp công dân, mốiquan hệ giữa trụ sở tiếp công dân với cơ quan nhà nước Bên cạnh đó khi Quốc hộiban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Khiếu nại, tố cáo năm 2004&2005, tiếp công dân cũng đã được quy định trongluật (chương V từ điều 74 đến điều 79) Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số30/2004/QH11 ngày 16/6/2004 về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnhvực quản lý hành chính nhà nước Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 và Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006

Trang 15

của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo vàLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo, trong đó quy định chitiết và hướng dẫn việc tiếp công dân, tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo Luật Khiếu nại năm 2011 tiếp tục đề cậpđến các khái niệm về trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân, trách nhiệm củacán bộ tiếp công dân được quy định tại Chương 5 (từ Điều 59 đến Điều 62); tạiChương 5 (từ Điều 21 đến Điều 31) Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; Thông tư số07/2011/TT-TTCP ngày 28/7/2011 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn quy trìnhtiếp công dân Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTgngày 18/5/2012 về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả tiếp công dân, giải quyết khiếunại, tố cáo Nghị định số 75/2012/NĐ-CP và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo cũng quyđịnh trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong trường hợp nhiều ngườicùng khiếu nại, tố cáo

Đặc biệt, năm 2013 Luật tiếp công dân năm 2013 ra đời đã quy định rõnhững vấn đề cơ bản của hoạt động tiếp công dân Tiếp theo đó, ngày 26/6/2014,Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật tiếp công dân năm 2013 Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số06/2014/TT-TTCP ngày 31 tháng 10 năm 2014 quy định về quy trình tiếp công dân

Trong hoạt động thực tiễn, mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, tổ chức

xã hội, giữa công dân với công dân, khi phát hiện có quyết định hành chính, hành vihành chính trái pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhànước, quyền lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân thì công dân có quyền khiếu nạihoặc tố cáo, kiến nghị, phản ánh với cơ quan nhà nước, với người có thẩm quyền đểđược xem xét và yêu cầu giải quyết Theo đó, những vấn đề tồn tại trong hoạt độngtiếp công dân được phản ánh khá nhiều trong dư luận xã hội Công tác tiếp dânđược xem như bước đầu tiên trong việc giải quyết những thắc mắc liên quan đếnquyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân

Trang 16

Huyện Hoài Đức là huyện ngoại thành phía Tây thành phố Hà Nội, chínhthức được sáp nhập vào thủ đô Hà Nội kể từ ngày 01/8/2008 Với vị trí là cửa ngõphía Tây của thủ đô, từ những năm 2000 trở lại đây, các mặt kinh tế, văn hóa, xã hộicủa huyện Hoài Đức có nhiều sự chuyển dịch vô cùng mạnh mẽ, nhất là từ nền kinh

tế sản xuất nông nghiệp sang phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ HuyệnHoài Đức đã tổ chức di dời, giải toả đền bù nhiều hộ dân để thực hiện các dự án,việc làm này đã có ảnh hưởng nhất định đến đời sống của một bộ phận nhân dân,bên cạnh những thuận lợi, cũng đã dẫn tới khá nhiều vấn đề bất cập, đây là mộttrong những nguyên nhân chính dẫn đến phát sinh phần lớn đơn khiếu nại, tố cáo,kiến nghị, phản ánh

Với những văn bản đã được ban hành, pháp luật về tiếp công dân là cơ sởpháp lí quan trọng trong việc giải quyết và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng củanhân dân Tuy nhiên, thời gian qua, tình hình khiếu nại tố cáo, kiến nghị, phản ánhvẫn diễn ra phức tạp, mặc dù chính quyền địa phương đã hết sức cố gắng giải quyếtnhững khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân nhưng số lượng các vụkhiếu nại, tố cáo vẫn chưa giảm nhiều Tính chất phức tạp của những vụ việc khiếukiện được thể hiện qua số người tham gia khiếu kiện đông, cách thức khiếu nại, tốcáo không theo đúng trình tự, thẩm quyền mà pháp luật đã quy định Khiếu nại, tốcáo tập trung nhiều vào các lĩnh vực như: đất đai, thu hồi đất, bồi thường giải phóngmặt bằng, đòi lại đất cũ v.v Đặc biệt, có nhiều vụ việc người dân tiếp tục khiếukiện sau khi các cơ quan chức năng giải quyết theo đúng quy định của pháp luật

Tiếp công dân là một nội dung rất quan trọng nhằm bảo đảm mối liên hệ gắn

bó máu thịt giữa nhà nước với nhân dân, thể hiện trách nhiệm lắng nghe, thấu hiểu,nắm chắc được tâm tư nguyện vọng ý kiến của nhân dân, đặc biệt là để nâng caohiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đồng thờiđây cũng là một hoạt động có nội dung hết sức phong phú, rộng lớn, liên quan đếnnhiều lĩnh vực hoạt động của cả bộ máy nhà nước, các thiết chế trong hệ thốngchính trị, các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập Qua tiếp thu những nội dung kiến

Trang 17

đã truyền đạt cùng với những kinh nghiệm của bản thân là một người trực tiếp làmcông tác tiếp công dân tại Ban tiếp công dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội,

học viên mạnh dạn chọn vấn đề: “Thực hiện pháp luật về tiếp công dân - qua thực

tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học,

chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Tác giả mong được góp phầnlàm rõ thêm cơ sở lí luận của thực hiện pháp luật về tiếp công dân trong hoạt độngquản lí nhà nước, đánh giá đúng đắn thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dâncủa địa phương, cụ thể tại trụ sở Ban tiếp công dân UBND huyện, các xã, thị trấntrên địa bàn huyện và đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật

về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Do ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, trong thời gian qua, vấn đề tiếp côngdân và thực hiện pháp luật về tiếp công dân đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu

Những vấn đề liên quan đến thực hiện pháp luật đã được đề cập trong một sốcông trình khoa học, sách chuyên khảo như:

- Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên), "Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về thực

hiện pháp luật", Nxb Chính trị-Hành chính, Hà Nội, 2006 Nội dung cuốn sách

gồm 2 phần: Phần thứ nhất, một số vấn đề lí luận về thực hiện pháp luật, các tác giả

đã nêu những điểm hạn chế trong lí luận về thực hiện pháp luật mà các giáo trìnhhiện đang sử dụng trong các trường học, trên cơ sở đó đã nêu những điểm cần bổsung và phát triển một số vấn đề lí luận để phù hợp với điều kiện toàn cầu hóa, hộinhập quốc tế của Việt Nam Đồng thời, các tác giả cũng đã chỉ ra các yếu tố đảmbảo thực hiện pháp luật trong giai đoạn hiện nay

- Nguyễn Thị Hồi (chủ biên), “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Một

số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2009 Nội dung cuốn sách

nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật- hình thức thực hiện pháp luật cơ bản, chủyếu và quan trọng nhất trong một số lĩnh vực cụ thể vừa góp phần làm sáng tỏ vàhoàn thiện lý luận, vừa có thể chỉ ra được những điểm bất cập trong các quy định của

Trang 18

pháp luật, những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện các quy định đó, từ đó gópphần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của thực hiện pháp luật trên thực tế.

- Nguyễn Minh Đoan, “Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam”, Nxb.

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Cuốn sách chuyên khảo về thực hiện pháp luậtgồm 5 chương, trong đó, chương 1 bàn về các vấn đề lí luận thực hiện pháp luậtgồm: khái niệm, mục đích, ý nghĩa của thực hiện pháp luật… Thực hiện pháp luậtđược thể hiện thông qua bốn hình thức gồm: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật,

sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Chương 2 bàn sâu về áp dụng pháp luật,các trường hợp áp dụng pháp luật, đặc điểm, nguyên tắc áp dụng pháp luật Chương

3 đề cập quy trình thực hiện pháp luật Trong chương 4, tác giả đưa ra và phân tíchcác yếu tố bảo đảm pháp luật ở Việt Nam Chương 5 bàn về hiệu quả thực hiện phápluật; tiêu chí đánh giá hiệu quả của thực hiện pháp luật; thực trạng và một số giảipháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Tác giả coi đây là tài liệu chuyên khảo

có giá trị khoa học sâu sắc để vận dụng trong luận văn về thực hiện pháp luật theolĩnh vực nghiên cứu của đề tài

- Đào Trí Úc (2012), "Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở

Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (3), tr.5 Bài viết này bàn về các vấn đề:

bản chất, vị trí và vai trò của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp luật; các hìnhthức thực hiện pháp luật; cơ chế thực hiện và những điều kiện bảo đảm hiệu quảthực hiện pháp luật Bài viết có giá trị lớn,để vận dụng trong luận văn

- Chu Hồng Thanh (2016), “Thực hiện pháp luật có thể là rào cản đối với

đổi mới tư duy pháp lí”, chuyên đề trong tập sách chuyên khảo: “Tư duy pháp lí – lí

luận và thực tiễn”; Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr.51 Tác giả nhấn mạnh thựchiện pháp luật trong quan niệm mới không nên chỉ coi là công việc chủ yếu của Nhànước, do Nhà nước, vì Nhà nước mà cần phải đề cao, phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của các chủ thể pháp luật, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền conngười, quyền công dân Yêu cầu pháp chế XHCN đặt ra nguyên tắc pháp luật đãban hành phải được thực hiện nghiêm chỉnh, điều đó là đúng nhưng chưa đủ Thựchiện pháp luật một cách máy móc, thụ động, bị ép buộc sẽ triệt tiêu tính năng động,

Trang 19

sáng tạo trong hoạt động thực tiễn và tư duy, sẽ là rào cản trong đổi mới tư duypháp lí hiện nay.

Những vấn đề liên quan đến thực hiện pháp luật về tiếp công dân đã được đềcập trong một số công trình khoa học, sách chuyên khảo như:

- Tạp chí Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, “Quy trình tiếp công dân và xử lí

đơn thư”, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2013 Cuốn sách đề cập những vấn đề chung

của tiếp công dân và quy định của pháp luật hiện hành về công tác này

- Trong cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tiếp công dân và giải

quyết khiếu nại, tố cáo” của TS Bùi Mạnh Cường và TS Nguyễn Thị Tố Uyên,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, các tác giả đã sưu tầm và tổng hợp các bàiviết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếp công dân và giảiquyết khiếu nại, tố cáo

- Cuốn sách “Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay”,

xuất bản năm 2017 của GS.TS Phạm Hồng Thái, PGS.TS Vũ Công Giao, PGS.TS.Đặng Minh Tuấn và TS Nguyễn Minh Tuấn đồng chủ biên Cuốn sách được biênsoạn dựa trên cơ sở tuyển chọn các bài viết của các tác giả đang công tác tại KhoaLuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Thanhtra Chính phủ v.v Nội dung các bài viết giới thiệu các quy định của pháp luật vềkhiếu nại, tố cáo; thực trạng hoạt động khiếu nại, tố cáo và áo dụng pháp luật vềkhiếu nại, tố cáo; đồng thời đóng góp những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện phápluật về khiếu nại, tố cáo, pháp luật về tiếp công dân ở nước ta hiện nay

Cũng từ góc độ lí thuyết, có nhiều đề tài khoa học đã đi sâu tìm hiểu tươngđối toàn diện những khía cạnh cơ bản liên quan tới công tác tiếp công dân như:

- Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai (2017), Đề tài khoa học “Nâng cao hiệu quả

hoạt động công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thông qua công nghệ thông tin tại Ban tiếp công dân tỉnh và Ban tiếp công dân các huyện, thành phố”;

- Tham luận “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tình hình hiện nay”, Tham luận tại Hội thảo Thanh tra 7 tỉnh

miền Bắc năm 2014 đã tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu

Trang 20

Một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ có đề cập những khía cạnh chuyên

biệt về tiếp công dân như: (i) Bùi Mạnh Cường (2007), Ứng dụng công nghệ thông

tin vào hoạt động tiếp công dân, Đề tài khoa học cấp bộ Thanh tra Chính phủ; (ii)

Nguyễn Mai Hạnh (2009), Thực hiện pháp luật của đại biểu Quốc hội trong việc

tiếp nhận, xử lí, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và khiếu nại của công dân, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật- ĐHQGHN, Hà Nội; (iii) Trần Thị

Thúy Mai (2010), Đổi mới công tác tiếp công dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo,

Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật ĐHQGHN, Hà Nội; (iv) Lê Thị Sáu (2014),

Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật ĐHQGHN, Hà

Nội; (v) Đỗ Thị Kim Cường (2014), Cải cách thủ tục hành chính trong công tác

tiếp công dân nhằm phát triển kinh tế xã hội ở Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Quản lí

kinh tế, Đại học Kinh tế- ĐHQGHN; (vi) Nguyễn Thị Huệ (2016), Thực hiện pháp

luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Luận văn thạc sĩ

luật học, Học viện KHXH, Hà Nội; (vii) Nguyễn Hữu Tiến (2017), Tổ chức thực

hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lí đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện hàn lâm Khoa

học xã hội Việt Nam

Các công trình nghiên cứu trên từ các góc độ và ở các mức độ khác nhau đềunghiên cứu rất sâu sắc về thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về các lĩnhvực cụ thể hoặc thực hiện pháp luật về tiếp công dân trên cả hai khía cạnh lí luận vàthực tiễn Tuy nhiên, đối với thực hiện pháp luật về tiếp công dân, các công trìnhnghiên cứu nêu trên mới chỉ đề cập những vấn đề có tính khái quát hoặc riêng rẽ, chưa

có tính hệ thống đối với thực hiện pháp luật về tiếp công dân, nhất là thực hiện phápluật về tiếp công dân trong quản lí hành chính nhà nước Nói cách khác, thực hiện phápluật về tiếp công dân, cho đến nay, vẫn là đề tài chưa được quan tâm tương xứng với ýnghĩa, tầm quan trọng của nó trước yêu cầu của thực tiễn và cả về nhận thức lí luận

Đây cũng là một lí do nữa để học viên chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về

tiếp công dân - qua thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận

văn thạc sĩ của mình

Trang 21

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở khoa học (lí luận và thực tiễn) thực hiện pháp luật về tiếp côngdân, luận văn đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật

về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận của thực hiện pháp luật về tiếp công dân;

- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND các cấptrên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội;

- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật vềkhắc phục hạn chế, bảo đảo thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND các cấptrên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân của UBND huyệnHoài Đức và UBND của 20 xã, thị trấn thuộc huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Mô hình tổ chức tiếp công dân cấp huyện ở nước ta do rất nhiều chủ thể tiếnhành, được ghi nhận tại điều 4 Luật tiếp công dân năm 2013, như: Ủy ban nhân dâncấp huyện; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện; Hội đồng nhân dâncấp huyện; Tòa án nhân dân cấp huyện; Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, v.v

Tuy nhiên, đối với thời lượng của luận văn ngắn trong khi vấn đề nghiên cứurộng, học viên chọn lọc nghiên cứu thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBNDhuyện Hoài Đức, UBND các xã và thị trấn thuộc huyện Hoài Đức gắn với chức năngquản lí nhà nước của các cấp chính quyền địa phương ở đây trong khoảng thời gian từnăm 2014 đến giữa năm 2017 bởi lý do, đây là các chủ thể có trách nhiệm và có nhiềuhoạt động quan trọng nhất trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại địa phương

Về phạm vi vấn đề nghiên cứu, việc thực hiện pháp luật về tiếp công dânđược nghiên cứu trong luận văn diễn ra trên lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước,đồng thời liên quan đến việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánhcủa công dân tới UBND huyện và các UBND xã, thị trấn trên địa bàn

Trang 22

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong chương 1: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp luận giải, phântích, tổng hợp để làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật

về tiếp công dân, xác định nội dung, hình thức, các yêu cầu, yếu tố bảo đảm thựchiện pháp luật về tiếp công dân

Tại chương 2: Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, chứng minh,thống kê, so sánh để nghiên cứu, đánh giá thực trạng, làm rõ những kết quả đạtđược, những hạn chế và nguyên Nhân của kết quả, hạn chế trong thực hiện phápluật về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, luận giải để đề xuấtquan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân trong chương 3

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về thực hiện pháp luật về tiếp côngdân qua thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Luận văn có thể được tham khảotrong nhận thức lí luận và chỉ đạo thực tiễn trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân ởhuyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và ở các địa phương khác trên cả nước

Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy,học tập, nghiên cứu chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính ở các cơ sởđào tạo luật của nước ta

7 Bố cục luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1- Cơ sở lí luận của thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Chương 2- Thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện Hoài

Đức, thành phố Hà Nội

Chương 3- Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công

dân ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

Trang 23

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ TIẾP CÔNG DÂN

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật

về tiếp công dân

1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân

1.1.1.1 Khái niệm pháp luật về tiếp công dân

Có nhiều hình thức hoạt động khác nhau để các cơ quan nhà nước, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền tiếp nhận yêu cầu, kiến nghị, khiếu tố từ nhân dân như: (i)tiếp xúc cử tri (là việc đại biểu dân cử gặp gỡ, trao đổi với cử tri nhằm mục đíchnắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các cử tri) của đại biểu Quốc hội, đạibiểu HĐND; (ii) tiếp cận thông tin (là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép,chụp thông tin), phản ánh qua các trang thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức,đơn vị; (iii) tiếp nhận thông tin, phản ánh từ các phương tiện thông tin đại chúng

và (iv) tiếp công dân

Tiếp nói chung được hiểu là hoạt động giao tiếp, đón tiếp các đối tượng nhấtđịnh; tiếp nhận những thứ từ chủ thể khác, nơi khác chuyển đến, ví dụ như: tiếp đónđoàn đại biểu nước ngoài, tiếp khách đến thăm cơ quan đơn vị, tiếp nhận hồ sơ, tiếpnhận hàng hoá, tiếp nhận đơn thư v.v Trong đó, việc tiếp nhận đơn thư khiếu nại,

tố cáo, hoặc ý kiến kiến nghị, phản ánh của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vàcác chủ thể khác có trách nhiệm thường gắn liền với hoạt động tiếp công dân

Trong chế độ dân chủ, địa vị cao nhất là dân, nhân dân là người chủ Nhândân có quyền chủ động đến cơ quan nhà nước gặp gỡ, tiếp xúc với cán bộ, côngchức để giao tiếp, thể hiện tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, thái độ hay để đưa ra cácyêu cầu, kiến nghị, phản ánh về bất cứ vấn đề gì liên quan đến lợi ích của nhân dân,công việc của nhà nước và tinh thần, trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán

bộ, công chức mà nhân dân quan tâm Do vậy, tiếp công dân là yêu cầu bắt buộc, làtrách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước Tiếp công dân một mặt thể

Trang 24

hiện ý thức tôn trọng nhân dân, quyền của nhân dân từ phía bộ máy công quyền,một mặt cũng là thể hiện quyền của nhân dân-cội nguồn, gốc rễ của quyền lực nhànước Hay nói cách khác, tiếp công dân là biểu hiện của dân chủ, là hình thức biểuhiện trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước, qua đó thể hiện sự quantâm của Đảng và nhà nước đối với nhân dân cũng như thể hiện gián tiếp việc thựchiện quyền giám sát của nhân dân đối với nhà nước Bên cạnh đó, tiếp công dân làcông cụ bảo vệ và khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan,

tổ chức; nhờ đó mà nhà nước nắm rõ được ý chí, nguyện vọng của công dân, cơquan, tổ chức; kịp thời đề ra các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, cơ quan, tổ chức Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nên việc này luôn được Đảng và nhànước ta hết sức đề cao và coi trọng [7, tr.23]

Khái niệm “tiếp công dân” có thể được hiểu là việc mặt đối mặt một cáchtrực tiếp giữa bên tiếp (cán bộ tiếp công dân) và bên được tiếp (công dân đến trụ sởtiếp công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh) gặp gỡ để lắng nghe hoặc tiếpnhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị;khác với việc tiếp nhận đơn thư gửi qua bưu điện khi mà mọi sự việc khiếu nại, tốcáo, kiến nghị, phản ánh đều được trình bày bằng chữ viết hay những ý kiến phảnánh được trình bày gián tiếp bằng lời nói qua điện thoại; hoặc thông tin trên cáctrang mạng trực tuyến, mạng xã hội Đây là đặc điểm nổi bật nhất của tiếp côngdân, cũng từ đây đặt ra các yêu cầu về tinh thần, thái độ làm việc, ý thức tráchnhiệm của cả bên tiếp công dân và bên được tiếp trong hoạt động tiếp công dân

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn cho dân yêu, muốn

được lòng dân, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” [7, tr.32] Thực vậy, quyền lực nhà nước được thực hiện thông

qua các quyền lập pháp, hành pháp và quyền tư pháp Mặc dù các quyền này đượcđặt trong cơ chế kiểm tra, giám sát nhưng quá trình thực thi quyền khó tránh khỏi sựxâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Trong đó, quyền hành phápđược thực hiện thông qua hoạt động chấp hành, điều hành, hoạch định và tổ chức

Trang 25

thực hiện các chính sách quốc gia Trong mối quan hệ giữa các chủ thể được giaothẩm quyền quản lí hành chính (gồm hệ thống cơ quan hành chính và nhiều cơquan, tổ chức, cá nhân khác, trải rộng từ trung ương đến địa phương thông qua cơchế phân cấp quản lí của nhà nước cho các đơn vị hành chính lãnh thổ tương ứng:tỉnh, huyện, xã và các đơn vị hành chính tương đương) và đối tượng chịu sự quản lí,các chủ thể được giao thẩm quyền quản lí có thể xâm phạm đến quyền và lợi íchhợp pháp của công dân thông qua việc ban hành các quyết định hoặc thực hiện hành

vi bất hợp pháp, bất hợp lí Bên cạnh đó, tại nhiều cơ quan nhà nước, nhiều ý kiến,tâm tư, nguyện vọng của nhân dân chưa được tiếp nhận, xem xét thấu đáo; công tácquản lí hành chính nhà nước chưa thực sự được coi trọng đúng mức Vì vậy, trongviệc thực thi ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, khả năng xâm phạm đếnquyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong việc thực thi quyền hành pháp là phổbiến hơn cả Sự phản ứng của người dân đối với vi phạm trong thực thi quyền hànhpháp cũng thường xuyên xảy ra hơn Người dân thường ở vị trí yếu thế, cần được

bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng viết: “Cán bộ ta nhiều người ‘cúc cung

tận tụy’ hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ với quốc dân, nhưng cũng

có những người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc dĩ công dinh tư” [7, tr.23], khi nắm được quyền hành trong tay hay lạm dụng.

Trong chế độ dân chủ đòi hỏi người dân phải được chống lại, phản ứng lại với sựxâm phạm đó, cụ thể là phản ứng đối với các quyết định, hành vi trái pháp luật đượcthực hiện trong quá trình thực thi quyền của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩmquyền Các yếu tố dân chủ trong xã hội ngày càng phát triển, gắn liền với với đó làviệc mở rộng và bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; chế

độ dân chủ phải ghi nhận một quyền riêng cho người dân để phản ứng lại sự viphạm này- đó là quyền khiếu nại, tố cáo hành chính, kiến nghị, phản ánh Hay nóimột cách khác, bản chất của quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh là quyền

tự vệ hợp pháp trước những hành vi vi phạm để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền

và lợi ích của xã hội Đó là quyền hiến định, quyền phản hồi, quyền dân chủ và hơnthế nữa, đó là quyền để bảo vệ quyền Hoạt động tiếp công dân là hoạt động quantrọng, là khâu đầu tiên trong chu trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản

Trang 26

ánh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với người dân.

Hiến pháp đặt ra nền tảng cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước và bảo vệcác quyền tự do của con người Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới đã ghinhận quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân và trách nhiệmtiếp nhận, giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Nhìn từ lịch

sử nhân quyền thế giới, quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhândân được thể hiện rất rõ:

Điều 16 Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 có nêu:

Mọi công dân đề có quyền khiếu nại để đòi bồi thường thiệt hại,cắt chức các công chức, kiến nghị áp dụng, hủy bỏ, sửa chữa đạo luật,quy tắc hành chính hay khiếu nại trong các lĩnh vực khác; không ngườinào bị phân biệt đối xử vì ủng hộ các kiến nghị này [16, tr.19]

Điều 26 Hiến pháp Hàn Quốc năm 1948 quy định:

(1) Mọi công dân có quyền kiến nghị bằng văn bản đến bất kỳ cơquan nào theo các điều kiện theo quy định của pháp luật; (2) Nhà nước

có nghĩa vụ xem xét tất cả các kiến nghị đó [16, tr.42]

Điều 41 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, quy định về quyền giám sát củacông dân đối với cơ quan nhà nước như sau:

Công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quyền phê bình

và kiến nghị đối với bất kỳ cơ quan nhà nước hoặc nhân viên của cơquan nhà nước, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc tố giác đối vớibất kỳ hành vi không làm tròn trách nhiệm, trái pháp luật của cơ quannhà nước hoặc nhân viên cơ quan nhà nước, nhưng không được phép bịađặt hoặc bẻ cong sự thật để vu cáo hãm hại; Đối với khiếu nại, khiếu tốhoặc tố giác của công dân, cơ quan có liên quan phải điều tra rõ sự việc,

có trách nhiệm xử lí [41, tr.207]

Qua đây có thể nhận thấy, quyền khiếu nại, tố cáo kiến nghị, phản ánh vàtrách nhiệm tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được ghi nhận trongpháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, thể hiện rõ quan điểm bảo vệ quyền và

Trang 27

lợi ích hợp pháp của công dân khắp nơi trên thế giới có quyền được bày tỏ quanđiểm, được chỉ ra cái sai, thiếu sót, cần được khắc phục, sửa chữa; tôn trọng quyềngiám sát của nhân dân, coi nhân dân là gốc của mọi hành vi pháp luật bởi conngười, các quyền và tự do của con người là những giá trị cao nhất Việc hiến định,thừa nhận, tuân thủ và bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân là bổnphận của nhà nước Đội ngũ công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhànước để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ của nhà nước một cách chuyên nghiệp,mẫn cán, không thiên vị.

Ở Việt Nam, mặc dù Hiến pháp năm 1946 chưa có điều khoản cụ thể nào quyđịnh về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và trách nhiệm tiếp nhận khiếu nại, tốcáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân, song thể chế dân chủ mà Hiến pháp năm

1946 tạo dựng lên đã là nền tảng cơ bản đầu tiên hình thành quyền khiếu nại, tố cáo,kiến nghị, phản ánh của nhân dân và trách nhiệm tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiếnnghị, phản ánh của cơ quan nhà nước trong pháp luật hiện nay Quyền giám sát củanhân dân đối với nhà nước được thể hiện qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,phản ánh của công dân Trong hoạt động quản lí nhà nước nói chung và hoạt độngquản lí hành chính nói riêng, để đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,quyền con người, quyền công dân, hoạt động tiếp công dân là hoạt động thườngxuyên, có ý nghĩa và vai trò quan trọng Đây là một thiết chế dân chủ để tiếp nhậnnhững ý kiến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, khắc phục nhữnghậu quả do chính những hành vi hành chính của bộ máy nhà nước gây ra, tăngcường trách nhiệm và năng lực của cán bộ công chức và các cơ quan nhà nướcnhằm góp phần xây dựng một bộ máy thực sự vì dân và có hiệu quả

Khoản 1 Điều 2 Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định:

Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có tráchnhiệm tiếp công dân để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiếnnghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân vềviệc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quyđịnh của pháp luật [25]; tiếp công dân là công tác quan trọng từ trungương đến cơ sở, gồm: hoạt động tiếp công dân thường xuyên, tiếp công

Trang 28

dân định kì và tiếp công dân đột xuất.

Luật tiếp công dân năm 2013 có hiệu lực ngày 01/7/2014 và Nghị định số64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật Tiếp công dân, Thông tư số 06/2014/TT-TTCP ngày 31 tháng 10 năm

2014 quy định về quy trình tiếp công dân là những cơ sở pháp lí quan trọng quyđịnh về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong cơ quan nhànước, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác tiếp công dân; quyđịnh về quyền và nghĩa vụ của nhân dân khi thực hiện quyền trong thực hiện phápluật về tiếp công dân

Pháp luật về tiếp công dân cần được quan niệm là một lĩnh vực pháp luậtđộc lập (tương đối) so với pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung Bởipháp luật về khiếu nại tố cáo quy định việc tiếp công dân nhằm mục đích tiếpnhận khiếu nại, tố cáo nhưng trên thực tế, khi đến trụ sở tiếp công dân, ngườikhiếu nại, tố cáo vẫn có thể khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị, phản ánh mọi hoạtđộng liên quan đến mọi lĩnh vực trong đời sống Tiếp công dân là kênh giao tiếpđặc biệt để lắng nghe người dân góp ý, hiến kế, phản hồi về công tác điều hànhquản lí của bộ máy hành chính; pháp luật về khiếu nại, tố cáo quy định tiếp côngdân để nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo chỉ là một nội dung của pháp luật về tiếpcông dân nói chung Tiếp công dân, tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo,kiến nghị, phản ánh là một hoạt động liên quan trực tiếp đến việc giải quyết khiếunại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, được xem như những bước đầu tiêntrong việc giải quyết những thắc mắc liên quan đến quyền khiếu nại, tố cáo củacông dân Với những văn bản đã ban hành, pháp luật về khiếu nại, tố cáo và phápluật về tiếp công dân đều là cơ sở pháp lí quan trọng trong việc giải quyết, bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của nhân dân

Tóm lại, có thể hiểu: Pháp luật về tiếp công dân là tổng thể các quy phạm

pháp luật quy định về nhiệm vụ tiếp công dân của cơ quan nhà nước và quyền của công dân được trực tiếp trình bày, trực tiếp gửi đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến trụ sở tiếp công dân các cấp; quy định về nguyên tắc, thẩm quyền,

Trang 29

thủ tục giải quyết tiếp công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

1.1.1.2 Định nghĩa thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Nhà nước ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinhtrong đời sống Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung,

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội; là

sự ghi nhận về mặt pháp lí trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và cá nhân côngdân; là phương tiện quản lí nhà nước có hiệu lực, hiệu quả đối với mọi mặt đời sống

xã hội; là phương tiện đảm bảo cho quần chúng nhân dân tham gia quản lí nhà nước,quản lí xã hội Pháp luật, đồng thời là phương tiện thể chế, ghi nhận sự phát triển củanền dân chủ, đảm bảo cho tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân [43] Nhànước ta rất đề cao vai trò của pháp luật, chú trọng xây dựng và thực hiện pháp luật,coi đó là công cụ quản lí xã hội hữu hiệu và là điều kiện không thể thiếu để cải cáchhành chính thành công [16] Hệ thống các quy phạm này là sự tổng kết, điển hìnhhóa, mô hình hóa các quan hệ phát sinh trong mọi lĩnh vực đời sống; tạo khuôn khổcho hoạt động xã hội, chứa đựng các quy tắc cấm đoán hoặc bắt buộc chung và tácđộng, điều chỉnh tới các quan hệ xã hội Có thể nói rằng, pháp luật thường là nhữngphạm trù trừu tượng, có tính khái quát cao Từ thực tiễn cuộc sống cho đến phápluật yêu cầu cả một quá trình sàng lọc chặt chẽ, những gì thực sự điển hình mớiđược đưa lên thành luật để đại diện cho toàn bộ thực tiễn Và như vậy, pháp luật vàthực tiễn không thể trùng khớp với nhau, hay nói cách khác là pháp luật không nhấtthiết phản ánh toàn bộ thực tiễn cuộc sống [38, tr.3]

Xét theo nghĩa rộng, thực hiện pháp luật là phạm trù rộng lớn, bao gồm tất cảcác hoạt động của nhà nước, cá nhân, tổ chức nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống,thực tiễn; là phương thức tồn tại của pháp luật để pháp luật có thể thực hiện chứcnăng xã hội của mình, đó là pháp luật trong hành động Xét theo tính chất của cácquy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của các chủ thể, hệ thống pháp luật cócách thức và quy trình thực hiện khác nhau Khoa học pháp lí đã phân định thành 04hình thức thực hiện pháp luật, đó là: (i) tuân thủ pháp luật, (ii) chấp hành pháp luật,(iii) sử dụng pháp luật và (iv) áp dụng pháp luật

Trang 30

Thực hiện pháp luật là bước tiếp theo sau khi văn bản pháp luật được banhành để đưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử sự của các chủ thểpháp luật; là quá trình hiện thực hóa các quy định của pháp luật, nguyên tắc phápluật vào các trường hợp cụ thể trên thực tế Vì vậy, thực hiện pháp luật không chỉđòi hỏi sự quan tâm của nhà nước, mà còn là của mỗi cá nhân, bởi kết quả của quátrình thực hiện pháp luật tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội Thựchiện pháp luật là những hành vi (hành động hoặc không hành động) đơn lẻ, tức thờicủa cá nhân, là quy trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các cá nhân; việc

tổ chức thực hiện pháp luật có tính chất quá trình Nói đến thực hiện pháp luật là nóiđến một kết quả tích cực của quy trình điều chỉnh pháp luật mà điều chỉnh pháp luậtthì hướng tới hai yêu cầu: (i) thực hiện hành vi hợp pháp hoặc (ii) không thực hiệnhành vi trái pháp luật [38]

Xét theo phương diện pháp lí, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, hành

vi đó không trái, không vượt ra ngoài các quy định của pháp luật Thực hiện phápluật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của cá cơquan nhà nước, tổ chức xã hội Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy, hiện nay

có một số quan niệm về thực hiện pháp luật, như sau:

Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật- Đại họcQuốc gia Hà Nội, cho rằng:

Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động)của con người phù hợp với những quy định của pháp luật Nói khác đi,tất cả những hoạt động của con người, của các tổ chức mà thực hiện phùhợp với quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việcthực hiện các quy phạm pháp luật [21, tr.494]

Thực hiện pháp luật, ngoài ra, còn là quá trình hoạt động có mục đích làmcho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tếhợp pháp của các chủ thể pháp luật

Theo giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật của Trường Đại học

Luật Hà Nội, thì: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm

cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp

Trang 31

pháp của các chủ thể pháp luật” [36, tr.461].

Từ những quan niệm trên cho thấy các định nghĩa đều thống nhất về thực

hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu

cầu của pháp luật, là hoạt động thực tế, hợp pháp, làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế trong cuộc sống con người.

Trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân, các chủ thể tham gia vào hoạtđộng tiếp công dân buộc phải tuân thủ đầy đủ các hình thức thực hiện pháp luật nêutrên; đây là một quá trình thống nhất để giải quyết những khiếu nại, tố cáo, kiếnnghị, phản ánh của công dân, là yêu cầu quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa.Hoạt động của chủ thể từ thời điểm trình bày trực tiếp hoặc trực tiếp gửi khiếu nại,

tố cáo, kiến nghị, phản ánh tới cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền qua hoạtđộng tiếp công dân hình thành quan hệ xã hội mà pháp luật về tiếp công dân điềuchỉnh; thực hiện các quy định về tiếp công dân và vấn đề áp dụng pháp luật về tiếpcông dân để giải quyết vướng mắc phải thực hiện thống nhất theo quy định củapháp luật Công bằng, nhất quán và nhân văn là nguyên tắc căn bản của thực hiệnpháp luật đối với mọi chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân, không chỉ ở nộidung các quy định của pháp luật mà còn rất quan trọng trong thực hiện pháp luật.Bởi thực hiện pháp luật trên thực tế vốn là khâu khó khăn hơn nhiều so với việc thểhiện các nguyên tắc này trong nội dung văn bản pháp luật

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân

là hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được tiến hành theo những hình thức pháp lí nhất định, nhằm chuyển tải, truyền đạt rộng rãi, hiện thực hóa các nguyên tắc, nội dung của quy phạm pháp luật về tiếp công dân; bảo đảm cho các quy định của pháp luật về tiếp công dân được thực hiện trên thực tế, giúp phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm cho việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân.

1.1.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Thực hiện pháp luật về tiếp công dân là một lĩnh vực cụ thể của thực hiệnpháp luật nên nó vừa có đặc điểm chung của thực hiện pháp luật, vừa có những đặc

Trang 32

điểm riêng, mang tính đặc thù Đây chính là những dấu hiệu đặc trưng mà nhờ nó

có thể phân biệt được thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này với thực hiện pháp luật

về các lĩnh vực khác

1.1.2.1 Thực hiện pháp luật về tiếp công dân là trách nhiệm của nhà nước

Công dân có quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ với nhà nước Trong mốiquan hệ này, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Mọi ngườiđều có quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và tiếp đón để giải quyết khiếunại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh là trách nhiệm của nhà nước, là nhiệm vụ công tácthường xuyên của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị Trách nhiệm của nhànước trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân thể hiện qua các nội dung sau:

Một là, nhà nước bảo đảm cho mọi công dân được hưởng quyền làm chủ của

mình như “quyền bình đẳng trước pháp luật”, “quyền tham gia quản lí nhà nước và

xã hội”, “quyền khiếu nại, tố cáo” v.v (đã được ghi trong Hiến pháp năm 2013 củanước CHXHCN Việt Nam); xác lập khuôn khổ pháp lí để xây dựng và hoàn thiệnnhà nước pháp quyền; khẳng định tiếp công dân là trách nhiệm có tính bắt buộc củanhà nước, bảo đảm thể chế hóa quyền và trách nhiệm tham gia quản lí nhà nước củanhân dân theo định hướng công bằng và phát triển

Hai là, nhà nước đầu tư các nguồn lực để thực hiện pháp luật về tiếp công

dân có hiệu quả, cụ thể: nhà nước rất chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở, vật chất phục

vụ tiếp công dân; đầu tư kinh phí, quy định chi tiết về chế độ đãi ngộ của cán bộtiếp công dân và cán bộ hỗ trợ công tác tiếp công dân; đặc biệt tuyên truyền, giáodục pháp luật cho các vùng sâu, vùng xa, nơi nhân dân nghèo để nhân dân có hiểubiết về pháp luật và có thể sử dụng hiệu quả các quyền của mình, trong đó có quyềnkhiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và quyền được đón tiếp tại cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội Trong trường hợp này, chỉ có nhà nước mới có đủ sức mạnh đầu tư;thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta đối với việc thực hiện mục tiêu dân chủ,công bằng, văn minh

Ba là, nhà nước tạo lập cơ chế, chính sách và trực tiếp hỗ trợ việc đào tạo,

bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức và nhân viên hoạt động trong hoạt động

Trang 33

tiếp công dân Đây chính là lực lượng nòng cốt có vai trò rất quan trọng Hệ thống

cơ chế, chính sách hợp lí của nhà nước không chỉ tạo điều kiện xây dựng đội ngũcán bộ, công chức, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực tiếp công dân đầy đủ về sốlượng, bảo đảm về chất lượng, mà còn phát huy vai trò, trách nhiệm và sự đóng góp

có hiệu quả của lực lượng này cho xã hội

Bốn là, nhà nước thực hiện tốt việc giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lí vi

phạm pháp luật nhằm bảo đảm tính hợp pháp và tính hợp lí trong quản lí hành chínhnhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội cũng như quyền và lợi ích hợp phápcủa nhân dân Thông qua thực hiện pháp luật về tiếp công dân, bên cạnh việc giúpcho cơ quan hành chính nhà nước nắm được những tâm tư, nguyện vọng, nhữngthông tin phản hồi, các kiến nghị, góp ý của nhân dân từ thực tiễn trong việc thựchiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, còn giúp nhà nướckịp thời chấn chỉnh, bổ sung hoặc hủy bỏ các nội dung quy định không phù hợp

1.1.2.2 Chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân là các bên trong quan hệ phápluật về tiếp công dân Chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân là cơ quan vànhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền quy định tại Điều 4 Luật tiếp công dân năm

2013, tiếp nhận những thông tin từ công dân để lắng nghe, giải quyết các yêu cầucủa người dân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Ngoài ra, chủ thể thựchiện pháp luật về tiếp công dân không chỉ có cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng,nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội mà còn là cá nhân người dân, tổ chức đến khiếunại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh Trong xã hội dân chủ, người dân có thể thẳng thắn,công khai bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình đối với các vấn đề về chính sách, phápluật, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, đội ngũ cán bộ,công chức; họ sẵn sàng sử dụng quyền chủ thể của mình trong thực hiện pháp luật

về tiếp công dân

Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013, quy định: “Mọi người có quyền

khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm

Trang 34

trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”, chủ thể quyền được mở rộng hơn so

với Hiến pháp năm 1992 khi chỉ quy định “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố

cáo ” (Điều 74) Tức là, theo Hiến pháp năm 2013, mọi công dân Việt Nam và cả

người nước ngoài, người không quốc tịch đang hiện diện hợp pháp trên lãnh thổViệt Nam đều có quyền khiếu nại, tố cáo đối với những việc làm trái pháp luật của

cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặcbất cứ cá nhân nào Trong đó:

(i) Chủ thể thực hiện quyền khiếu nại là cá nhân, cơ quan, tổ chức khi có căn

cứ cho rằng quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hànhchính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quanhành chính nhà nước; yêu cầu nhà nước chấm dứt một quyết định, hành vi hànhchính gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ và đề nghị nhà nước đền

bù thiệt hại do sự vi phạm gây ra Mục đích của chủ thể khiếu nại là nhằm khôiphục quyền, lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm hại

(ii) Chủ thể thực hiện quyền tố cáo chỉ có thể là cá nhân, một người cụ thể

Cá nhân có quyền tố cáo mọi hành vi vi phạm mà mình biết được, hành vi vi phạm

đó có thể tác động trực tiếp, gián tiếp hoặc không tác động đến người tố cáo Mụcđích của tố cáo là phát giác, hạn chế, ngăn chặn kịp thời và xử lí nghiêm minh mọihành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của nhà nước hoặc quyền, lợi íchhợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức mà không nhất thiết là quyền, lợi ích hợppháp của người tố cáo

(iii) Chủ thể thực hiện quyền kiến nghị là cá nhân hoặc tổ chức đề nghị với

cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan quản lí hành chính nhà nước có thẩm quyền cần xử líhoặc điều chỉnh, sửa đổi hoặc có các giải pháp, biện pháp và hình thức quản lí, điềuhành một lĩnh vực chuyên môn nào đó đã được triển khai thực hiện trong quá trìnhquản lí hành chính nhà nước mà chủ thể kiến nghị cho rằng không hiệu quả, khôngphù hợp, không khả thi, có thể gây hoặc đã gây hậu quả xấu đến hoạt động bìnhthường và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và tập thể

(iv) Chủ thể thực hiện quyền phản ánh là cá nhân, tổ chức nêu lên và đề xuất

Trang 35

với cá nhân, đơn vị có thẩm quyền xem xét, xử lí kịp thời những sự việc phát sinhlàm ảnh hưởng xấu đến các hoạt động bình thường hoặc gây thiệt hại đến lợi ích hợppháp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội của cá nhân, tổ chức và tập thể [41].

1.1.2.3 Thực hiện pháp luật về tiếp công dân phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định, tương ứng với từng loại việc cụ thể

Thực hiện pháp luật về tiếp công dân gồm nhiều lĩnh vực khác nhau và phảituân theo trình tự, thủ tục nhất định, theo từng loại việc cụ thể như tiếp công dânđến tố cáo, khiếu nại, kiến nghị, phản ánh Thông tư số 06/2014/TT-TTCP ngày31/10/2014 quy định quy trình tiếp công dân do Thanh tra Chính phủ ban hành chitiết các giai đoạn của quá trình tiếp công dân thường xuyên của cán bộ, công chức

cơ quan hành chính nhà nước; tiếp nhận, phân loại, xử lí đối với các loại đơn khiếunại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền; hướng dẫn ngườikhiếu nại hoặc chuyển đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị đến cơ quan hoặc người

có thẩm quyền giải quyết; công tác tiếp công dân định kỳ hoặc đột xuất của thủtrưởng các cơ quan hành chính nhà nước; tổ chức theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các cơquan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quanhành chính nhà nước cùng cấp và cấp trên trực tiếp trong công tác tiếp công dân, xử

lí đơn; việc phối hợp của các cơ quan trong công tác tiếp công dân và xử lí đơn;thông báo kết quả xử lí đơn và tổ chức giao các văn bản về giải quyết khiếu nại, tốcáo, phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo

Theo đó, mỗi quy trình tiếp công dân được thực hiện có những nội dungkhác nhau phụ thuộc vào tính chất của nội dung vụ việc Qua nghiên cứu các quyđịnh hiện hành, tác giả cho rằng việc tiếp công dân theo trình tự thủ tục đối với từngloại việc có thể được thể hiện qua từng sơ đồ cụ thể như sau:

Trang 36

Sơ đồ 1.1: Quy trình tiếp người khiếu nại

Bước 1: Đón tiếp công dân

Bước 2.1: Từ chối tiếp công dân nếu

thuộc trường hợp từ chối tiếp

Bước 2.2: Tiếp công dân nếu không thuộc trường hợp từ chối tiếp

Bước 3: Xác định nhân thân người khiếu nại, người đại diện cho người khiếu nại

Bước 4: Nghe, ghi chép nội dung khiếu nại, tiếp nhận thông tin, tài liệu

Bước 5: Xác định nội dung vụ việc, yêu cầu của người khiếu nại

Bước 6: Phân loại, xử lí khiếu nại

Bước 6.1: Không tiếp nhận khiếu

nại nếu không đủ điều kiện thụ lí Bước 6.2: Tiếp nhận khiếu nại nếu đủ điều kiện thụ lí

Bước 7: Vào sổ tiếp công dân thường

xuyên

Trang 37

Sơ đồ 1.2: Quy trình tiếp người tố cáo

Bước 1: Đón tiếp công dân

Bước 2.1: Từ chối tiếp công dân

nếu thuộc trường hợp từ chối tiếp

Bước 2.2: Tiếp công dân nếu không thuộc trường hợp từ chối tiếp

Bước 3: Xác định nhân thân, giữ bí mật và bảo vệ người tố cáo

Bước 4: Nghe, ghi chép nội dung tố cáo, tiếp nhận thông tin, tài liệu

Bước 5: Xác định nội dung vụ việc, yêu cầu của người tố cáo

Bước 6: Phân loại, xử lí tố cáo

Bước 6.1: Không tiếp nhận tố cáo

nếu không đủ điều kiện thụ lí Bước 6.2: Tiếp nhận tố cáo nếu đủ điều kiện thụ lí

Bước 7: Vào sổ tiếp công dân thường

xuyên

Trang 38

Sơ đồ 1.3: Quy trình tiếp người kiến nghị, phản ánh

Bước 1: Đón tiếp công dân

Bước 2: Xác định nhân thân người

quyền giải quyết

Bước 5.2: Tiếp nhận kiến nghị, phản ánh nếu kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết

Bước 6: Vào sổ tiếp công dân thường

xuyên

Trang 39

Nhìn chung, quy trình tiếp công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cónhững điểm chung gồm 3 bước cơ bản sau:

Bước 1: Đón tiếp, xác định nhân thân, mục đích đến gặp của công dân

Cán bộ tiếp dân phải có tác phong, cử chỉ lời nói lịch sự, nhã nhặn; thái độbình tĩnh, khiêm tốn, đúng mực; giới thiệu rõ họ, tên chức danh của mình ngay khitiếp xúc ban đầu với công dân Cán bộ tiếp dân yêu cầu cá nhân, đại diện tổ chứckhi đến nơi tiếp công dân để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh: (i) Nêu rõ họtên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy giới thiệu, nếu là người được uỷquyền thì phải xuất trình giấy uỷ quyền hợp pháp; (ii) Cử từ 01 đến 05 người đạidiện để trình bày (với trường hợp nhiều người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phảnánh cùng một nội dung)

Đặc biệt, khi tiếp nhận tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phảinghiên cứu, xác định nội dung vụ việc, những thông tin nếu tiết lộ sẽ gây bất lợi chongười tố cáo để áp dụng biện pháp phù hợp nhằm giữ bí mật thông tin cho người tốcáo Trường hợp cần thiết có thể lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cánhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo,đồng thời lưu trữ và quản lí thông tin về người tố cáo theo chế độ thông tin mật

Căn cứ vào việc xác định nhân thân của công dân, cán bộ tiếp công dân đượcphép từ chối không tiếp đối với những trường hợp: (i) Người sử dụng chất kíchthích, rượu bia, chất có cồn, (ii) Công dân có hành vi gây rối trật tự ở nơi tiếp côngdân hoặc xúc phạm đến uy tín, danh dự của cơ quan nhà nước, người thi hànhnhiệm vụ, công vụ; (iii) Trường hợp khiếu nại đã được cấp có thẩm quyền ra quyếtđịnh giải quyết lần 2 theo quy định của pháp luật và vụ việc đó không có tình tiếtmới phát sinh theo quy định tại Điều 9 Luật tiếp công dân năm 2013

Bước 2: Lắng nghe, ghi chép, tiếp nhận thông tin, tài liệu có liên quan

* Cán bộ tiếp dân phải lắng nghe, ghi chép nội dung trình bày của người đếnkhiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh Yêu cầu công dân trình bày trung thực về sự

việc và cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan (nếu có)

- Đối với vụ việc khiếu nại: Cán bộ tiếp dân phải xác định rõ những yêu cầu

Trang 40

của người khiếu nại, đơn yêu cầu giải quyết về việc quyền lợi hợp pháp của họ bịxâm hại như thế nào Đồng thời nghiên cứu quá trình đã giải quyết khiếu nại, kếtquả giải quyết khiếu nại và các tài liệu liên quan (nếu có) để xác định việc xử lí vàthẩm quyền giải quyết.

Các trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan, cán

bộ tiếp dân phải hướng dẫn công dân đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Các trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơquan và có đủ điều kiện thụ lí; căn cứ vào các quy định của pháp luật cán bộ tiếpdân phải tiến hành tiếp nhận các tài liệu, hồ sơ liên quan để xem xét

- Đối với vụ việc tố cáo: Trình tự tiếp người đến tố cáo, về cơ bản tương tựnhư tiếp người đến khiếu nại Song do tính chất nội dung của tố cáo có những điểmkhác biệt nhất định với việc tiếp người đến khiếu nại, nên cán bộ tiếp dân thực hiệnviệc tiếp nhận nội dung tố cáo như sau:

Nếu việc tố cáo có tính chất khẩn cấp như: tố cáo hành vi vi phạm pháp luậthiện đang diễn ra, có khả năng gây thiệt hại hoặc đe doạ gậy thiệt hại nghiêm trọngcho lợi ích nhà nước, tập thể, lợi ích của công dân; cán bộ tiếp dân phải nhanhchóng báo cáo lãnh đạo, thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để có biệnpháp ngăn chặn xử lí kịp thời

Đối với tố cáo liên quan đến những cá nhân giữ những trọng trách của cáccấp, các ngành Cán bộ tiếp dân, tiếp nhận thông tin có trách nhiệm báo cáo vớilãnh đạo cơ quan để có sự chỉ đạo phù hợp

Đối với các loại tố cáo khác: tiến hành tiếp nhận, phân loại và xử lí theo quyđịnh của pháp luật

Cán bộ tiếp dân cần yêu cầu người đến tố cáo nêu rõ hành vi vi phạm phápluật bị tố cáo và đưa ra bằng chứng chứng minh hành vi bị tố cáo (nếu có) là viphạm pháp luật của mình là có căn cứ nhằm hạn chế những trường hợp tố cáo dothù hằn cá nhân, tố cáo bừa bãi thiếu căn cứ pháp luật; tố cáo cán bộ, công chức nhànước do không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đúng quyđịnh của pháp luật trước đó Cán bộ tiếp dân có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địachỉ, bút tích của người tố cáo khi người tố cáo yêu cầu

Ngày đăng: 09/11/2019, 07:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2008), Thông báo số 130/TB-TW ngày 10/01/2008 về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 130/TB-TW ngày 10/01/2008 về công táctiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2008
2. Bộ Chính trị (2014), Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 26/5/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 26/5/2014 về tăng cườngsự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tốcáo
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
3. Chính phủ (2012), Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/ 2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/ 2012 quy địnhchi tiết một số điều của Luật Khiếu nại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
4. Chính phủ (2012), Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/ 2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/ 2012 quy địnhchi tiết một số điều của Luật Tố cáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
5. Chính phủ (2014), Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật tiếp công dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy địnhchi tiết một số điều của Luật tiếp công dân
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
6. Đỗ Thị Kim Cường (2014), Cải cách thủ tục hành chính trong công tác tiếp công dân nhằm phát triển kinh tế xã hội ở Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính trong công tác tiếpcông dân nhằm phát triển kinh tế xã hội ở Phú Thọ
Tác giả: Đỗ Thị Kim Cường
Năm: 2014
7. Bùi Mạnh Cường và Nguyễn Thị Tố Uyên (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh vềvấn đề tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Bùi Mạnh Cường và Nguyễn Thị Tố Uyên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc giaSự thật
Năm: 2013
8. Nguyễn Đăng Dung (2014), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hạn chế quyền lực nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2014
9. Trần Thái Dương (2017), “Bàn về khái niệm pháp quyền, nguyên tắc pháp quyền”, Tạp chí nhà nước và Pháp luật, (3), tr. 5-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm pháp quyền, nguyên tắc phápquyền”, "Tạp chí nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Trần Thái Dương
Năm: 2017
10. Võ Tán Đào và Lê Việt Sơn (2017), “Quyền của người khiếu nại theo Luật khiếu nại năm 2011”, Tạp chí nhà nước & Pháp luật, 5(349), tr.10-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của người khiếu nại theo Luậtkhiếu nại năm 2011”, "Tạp chí nhà nước & Pháp luật
Tác giả: Võ Tán Đào và Lê Việt Sơn
Năm: 2017
11. Trần Ngọc Đường (2004), “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của dân, do dân, vì dân”, Tạp chí nhà nước và Pháp luật, (7), tr.3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổchức thực hiện pháp luật của dân, do dân, vì dân”, "Tạp chí nhà nước và Phápluật
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2004
12. Trần Ngọc Đường (2017), “Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp 2013”, Tạp chí nhà nước và Pháp luật, (12), tr. 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nướctheo Hiến pháp 2013”, "Tạp chí nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2017
13. Nguyễn Mai Hạnh (2009), Thực hiện pháp luật của Đại biểu Quốc hội trong việc tiếp nhận, xử lí, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và khiếu nại của công dân, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật- ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật của Đại biểu Quốc hội trongviệc tiếp nhận, xử lí, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và khiếunại của công dân
Tác giả: Nguyễn Mai Hạnh
Năm: 2009
14. Nguyễn Tuấn Khanh (2014), Cơ chế pháp lí bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại hành chính của công dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế pháp lí bảo đảm thực hiện quyền khiếunại hành chính của công dân
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
15. Bùi Huy Khiên (2008), “Pháp luật và thực hiện pháp luật dưới triều vua Lê Thánh Tông và Vua Minh Mệnh”, Tạp chí quản lí nhà nước, (150) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật và thực hiện pháp luật dưới triều vua LêThánh Tông và Vua Minh Mệnh”, "Tạp chí quản lí nhà nước
Tác giả: Bùi Huy Khiên
Năm: 2008
16. Khoa Luật - ĐHQGHN (2012), Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia
Tác giả: Khoa Luật - ĐHQGHN
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
17. Trần Thị Thúy Mai (2010), Đổi mới công tác tiếp công dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật- ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác tiếp công dân trong lĩnh vựckhiếu nại, tố cáo
Tác giả: Trần Thị Thúy Mai
Năm: 2010
18. Hoàng Thị Kim Quế (2015), “Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật của công dân ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, (3), tr. 26-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luậtcủa công dân ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2015
19. Hoàng Thị Kim Quế (2015), “Thực hiện pháp luật của cá nhân, công dân trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học, 2(177), tr.44-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật của cá nhân, công dântrong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, "Tạp chíLuật học
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2015
20. Hoàng Thị Kim Quế (2015), “Thực hiện pháp luật nhìn từ phương diện hành vi hợp pháp và tính tích cực pháp luật của công dân”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, tập 31, (4), tr.1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật nhìn từ phương diện hànhvi hợp pháp và tính tích cực pháp luật của công dân”, "Tạp chí Khoa họcĐHQGHN: Luật học
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w