Các nguồn cung cấp thông tin vô cùng đa dạng, phongphú như mạng xã hội, truyền hình, truyền thanh, báo chí,vv… Hệ thống nàyrất phổ biến, thuận tiện và ảnh hưởng sâu sắc tới việc tiếp cận
Trang 1VŨ THỊ PHƯƠNG
TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ BỆNH DO VI RÚT ZIKA CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2017 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2011-2017
HÀ NỘI – 2017
Trang 2VŨ THỊ PHƯƠNG
TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ BỆNH DO VI RÚT ZIKA CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2017 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2011-2017
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS PHẠM BÍCH DIỆP
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Phòng Đào tạo Đại học, đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu tại trường
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Y Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, các thầy cô trong Bộ môn Giáo dục sức khỏe đã tận tình dạy
dỗ, giúp đỡ em trong 6 năm học tại trường cũng như trong quá trình hoànthành luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn TS Phạm Bích Diệp – giảng viên hướng dẫn đã dành nhiều thời gian tận tình chỉ
bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn của mình
Em xin chân thành cảm ơn Trung tâm khảo thí và đảm bảo chất lượng,cùng các bạn sinh viên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thuthập số liệu
Mình cám ơn sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của bạn bè trong qúa trìnhhọc tập cũng như trong cuộc sống
Đặc biệt, con cám ơn gia đình đã luôn dành cho con sự yêu thương vànhững điều kiện tốt nhất để con yên tâm học tập và hoàn thành luận văn tốtnghiệp đại học
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi : - Phòng Đào tạo đại học – Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, năm học 2016 – 2017
Em xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của em, toàn bộ
số liệu được thu thập và xử lý một cách khách quan, trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một tài liệu nào khác
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Vũ Thị Phương
Trang 5ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
SV: Sinh viên
VR: Vi rút
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tiếp cận thông tin 3
1.2 Tiếp cận thông tin sức khỏe 3
1.2.1 Khái niệm tiếp cận thông tin sức khỏe 3
1.2.2 Mô hình lý thuyết tìm kiếm thông tin sức khỏe 4
1.3 Vai trò của tiếp cận thông tin sức khỏe 5
1.4 Một số nghiên cứu về tiếp cận thông tin sức khỏe nói chung và Zika nói riêng 10
1.4.1 Một số nghiên cứu về tiếp cận thông tin sức khỏe nói chung 10
1.4.2 Nghiên cứu về tiếp cận thông tin sức khỏe về bệnh do vi rút Zika.14 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Thiết kế nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.3 Thời gian nghiên cứu 16
2.4 Địa điểm nghiên cứu 16
2.5 Mẫu và cách chọn mẫu 16
2.5.1 Cỡ mẫu 16
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu 18
2.6 Biến số, chỉ số nghiên cứu 18
2.7 Phương pháp và quy trình thu thập số liệu 24
2.8 Sai số và cách khống chế sai số 24
2.9 Nhập liệu và quản lý số liệu 24
2.10 Phân tích số liệu 25
2.11 Đạo đức nghiên cứu 25
Trang 73.3 Tìm kiếm chủ động thông tin về bệnh do vi rút Zika 363.4 Một số yêu tố liên quan đến tiếp cận thông tin chủ động về bệnh do virus Zika của sinh viên trường ĐH Y Hà Nội năm học 2016-2017 37
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 39
4.1 Đặc điểm chung của đôi tượng nghiên cứu 394.2 Mô tả việc tiếp cận thông tin về bệnh do virus Zika của sinh viên trườngĐại học Y Hà Nội năm học 2016-2017 40
KẾT LUẬN 42 KHUYẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu 18
Bảng 2.2: Các chỉ số nghiên cứu 22
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 26
Bảng 3.2: Hành vi tìm kiếm thông tin về vi rút Zika theo giới tính 37
Bảng 3.3: Hành vi tìm kiếm thông tin về vi rút Zika theo chuyên ngành 37
Bảng 3.4: Hành vi tìm kiếm thông tin về vi rút Zika theo năm học 38
Bảng 3.5: Hành vi tìm kiếm thông tin về Zika theo học lực 38
Trang 9Biểu đồ 3.2: Nguồn tin về Zika mà SV tiếp cận 29
Biểu đồ 3.3: Mức độ có đầy đủ thông tin về bệnh do vi rút Zika của SV 30
Biểu đồ 3.4: Nhu cầu có thêm thông tin về bệnh do vi rút Zika của SV 30
Biểu đồ 3.5: Phần thông tin về bệnh do vi rút Zika SV muốn được bổ sung 31
Biểu đồ 3.6: Chủ động tìm kiếm thông tin về bệnh do vi rút Zika của SV 32
Biểu đồ 3.7: Tần suất tiếp cận thụ động của sinh viên với các nguồn tin 33
Biểu đồ 3.8: Mức độ tin cậy của sinh viên với các nguồn tin khi tiếp cận thụ động 34
Biểu đồ 3.9: Lý do tin cậy nguồn tin khi tiếp cận thụ động 35
Biểu đồ 3.10: Kiểm chứng thông tin về Zika khi tiếp cận thụ động 36
Trang 10về sức khỏe nói riêng Các nguồn cung cấp thông tin vô cùng đa dạng, phongphú như mạng xã hội, truyền hình, truyền thanh, báo chí,vv… Hệ thống nàyrất phổ biến, thuận tiện và ảnh hưởng sâu sắc tới việc tiếp cận, tìm kiếm thôngtin sức khỏe của cộng đồng
Ngày nay, do ảnh hưởng của biến đối khí hậu, các mô hình bệnh tậtkhông ngừng biến đổi, có rất nhiều dịch bệnh lây mới xuất hiện, đe dọanghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng Một trong số những bệnh lây mới nổiđược cả cộng đồng quan tâm là bệnh do vi rút Zika Zika đã xuất hiện ở 75quốc gia trên thế giới và để lại những hậu quả và biến chứng nguy hiểm nhưdẫn đến tình trạng dị tật bẩm sinh thai nhi, điển hình là tình trạng đầu và nãoteo nhỏ bất thường Việt nam cũng là một trong số các nước có virut Zika.Tháng 4 năm 2016, Bộ Y tế Việt Nam đã công bố ca vi rút Zika đầu tiên ởViệt Nam, tính đến nay trong vòng 1 năm đã có hơn 216 ca (tài liệu thamkhảo) Với những bệnh lây mới nổi như bệnh do viruts Zika, việc thực hiệntruyền thông trong cộng đồng rất quan trọng để giúp cung cấp thông tin dựphòng, bảo vệ sức khỏe của nhân dân Câu hỏi đặt ra là những thông tin nàyđược truyền thông cho người dân như thế nào và dưới hình thức nào?
Sinh viên y là đối tượng thường xuyên được tiếp xúc với các thông tinsức khỏe do đặc thù chuyên ngành học tập Không chỉ vậy, họ còn được giảng
Trang 11dạy và đào tạo một cách khoa học, bài bản về sức khỏe, bệnh tật Nhữngnguồn thông tin sức khỏe mà họ thường xuyên tiếp xúc vô cùng phong phú,
đa dạng: các chuyên gia, nhân viên y tế, thầy cô, bạn học, thư viện, internet,bệnh nhân… Với sinh viên Y, việc tự học giữ vị trí vô cùng quan trọng.Không chỉ thu hẹp trong việc học tập trên giảng đường hay bênh viện, sinhviên còn cần phải tích cực tự tìm hiểu, bổ sung các kiến thức về sức khỏe đểphục vụ cho việc học tập hiện tại Bên cạnh đó, sinh viên y sẽ là cán bộ y tếtrong tương lai, sẽ tham gia vào hoạt động điều trị và dự phòng chăm sóc sứckhỏe cho nhân dân Do vậy, cập nhật kiến thức cho bản thân về các thông tinliên quan đến vấn đề sức khỏe đang tồn tại hoặc các vấn đề sức khỏe mới nổirất quan trọng trong việc điều trị cho bệnh nhân và bảo vệ sức khỏe của cộngđồng
Thông thường với các vấn đề sức khỏe tồn tại đã lâu hay phổ biến, sinhviên có thể dễ dàng tìm kiếm hay tiếp cận trong quá trình học tập Vậy với cácbệnh mới nổi, cụ thể là bệnh do viruts Zika, trong cộng đồng và chưa đượccập nhật, giới thiệu đầy đủ trong chương trình học tập và giảng dạy, sinh viên
Y có quan tâm tìm kiếm những thông tin về các bệnh mới nổi không? Họthường tìm kiếm thông tin như thế nào? Có những yếu tố gì ảnh hưởng tớiquá trình tìm kiếm thông tin về bệnh do viruts Zika?
Để trả lời cho các câu hỏi về trên, nghiên cứu “Tiếp cận thông tin vềbệnh do virut Zika của sinh viên Đại học Y Hà Nội năm học 2016-2017 vàmột số yếu tố liên quan” được thực với 2 mục tiêu sau:
1. 1 Mô tả việc tiếp cận thông tin về bệnh do virus Zika của sinh viên trường Đại học Y Hà Nội năm học 2016-2017
2 Xác định một số yêu tố liên quan đến tiếp cận thông tin chủ động về bệnh do virus Zika của sinh viên trường ĐH Y Hà Nội năm học 2016-2017.
Nghiên cứu này hi vọng sẽ cung cấp những kết quả cơ bản ban đầu trongviệc cung cấp và tìm kiếm thông tin về bệnh do virut Zika, từ đó cung cấp cáckhuyến nghị trong việc cung cấp thông tin về bệnh do viruts Zika nói riêng vàbệnh mới nổi nói chung
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tiếp cận thông tin
Tiếp cận thông tin có 2 hình thức: thụ động và chủ động
+ Tiếp cận chủ động (tìm kiếm thông tin) là việc tìm kiếm thông tin cóchủ đích nhằm đáp ứng một số mục tiêu Trong quá trình tìm kiếm thông tin,các cá nhân có thể tương tác với hệ thống thông tin qua các phương pháp thủcông, truyền thống như tạp chí hoặc thư viện hoặc qua các phương pháp dựavào công nghệ như mạng Internet
+ Tiếp cận thụ động: chẳng hạn như nghe radio hoặc xem các chươngtrình truyền hình, là nơi mà người tìm ko chủ định tìm kiếm thông tin nhưnglại thu được thông tin ở đó
1.2 Tiếp cận thông tin sức khỏe
1.2.1 Khái niệm tiếp cận thông tin sức khỏe
Tiếp cận thông tin sức khỏe là phạm trù đã được nhắc tới từ rất lâu tuynhiên hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức và chính xác tuyệt đối.Theo Johnson (1993) , tiếp cận thông tin có thể được định nghĩa là "việcnhận được thông tin có chủ đích từ các thông tin được lựa chọn" Đặttrong bối cảnh sức khỏe, nó có thể hiểu là sự phân loại các thông tin mà
họ tìm được là có ích hay không Nó bao gồm tất cả các hình thức chủđộng và thụ động tiếp nhận các thông tin về sức khỏe hay y tế thông quamạng lưới nguồn cung cấp phong phú và một quá trình quan trọng để mọingười có được một sức khỏe tốt, tránh được các yếu tố nguy cơ và bệnhtật hay khi đã mắc bệnh có thể tìm ra các hướng chẩn đoán, điều trị, tiênlượng và phục hồi chức năng
Trang 131.2.2 Mô hình lý thuyết tìm kiếm thông tin sức khỏe
Mô hình Wilson 1981 là mô hình tìm kiếm thông tin sức khỏe rút ra từcác nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác ngoài khoa học thông tin, bao gồm
cả việc ra quyết định, tâm lý học, sự đổi mới, truyền thông sức khỏe vànghiên cứu người tiêu dùng Mô hình dựa trên hai mệnh đề chính đó là: nhucầu cơ bản và nỗ lực khai thác thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu Xét về tâm
lý học, Wilconson cho rằng, nhu cầu cơ bản là tâm lý, nhận thức và ông cũngchú ý tới bối cảnh khi ai đó tìm kiếm thông tin cho bản thân họ Ông đã chỉ ranhu cầu thông tin được phát sinh như thế nào và những gì có thể cản trở, hỗtrợ, liên quan tới hành vi tìm kiếm thông tin trong thực tế, điều đó được thểhiện trong sơ đồ sau:
Hành vitìm kiếmthông tin
Tổ chứchoạt động
Yếu tốcan thiệp
Tổ chứchoạt động
Chú ý thụđộng
Nguy cơ/
thuận lợi
Tâm lýStress/đối
phó vớistress
liên quan/
thụ động
Thuyếthọc thức
xã hội
Năng lựcbản thân
Trang 14Wilson cũng đã đưa ra một số khái niệm về tìm kiếm thông tin như sau:
- Chú ý thụ động: chẳng hạn nghe radio hoặc xem chương trình truyềnhình, nới mà người tìm không chủ định tìm kiếm thông tin nhưng lại thu đượcthông tin ở đó
- Tìm kiếm thụ động: Có vẻ như là mâu thuẫn nhưng có quan hệ nguyênnhân khi một loại tìm kiếm hoặc một hành vi khác đưa đến kết quả thu nhậnthông tin
- Tích cực tìm kiếm là hình thức phổ biến nhất khi tìm kiếm các thôngtin khoa học, khi ấy cá nhân sẽ chủ động tìm kiếm các thông tin
Ưu điểm của mô hình này là có đề cập đến cả việc tiếp cận thụ động lẫn việcchủ động thông tin Như chúng ta đã biết hằng ngày lượng thông tin chúng tacập nhật là nhiều vô kể, nếu chỉ quan tâm đến những thông tin ta thu được dotìm kiếm thì sẽ thiếu đi một mảng rất quan trọng
1.3 Vai trò của tiếp cận thông tin sức khỏe.
Tiếp cận thông tin sức khỏe giúp mỗi cá nhân hiểu được những mối đedọa tới sức khỏe của mình, những yếu tố nguy cơ, dự đoán được chiều hướngtiêng triển từ đó ảnh hưởng đến mức độ mà mỗi cá nhân ra quyết định liênquan đến lối sống sức khỏe và hành vi dự phòng Như vậy, tiếp cận thông tin
là một cách để thực hiện giáo dục sức khỏe Theo mô hình của Tannahill thìgiáo dục sức khỏe là một trong 3 cách để nâng cao sức khỏe
Trang 15Sơ đồ 1.1: Mô hình 3 hình cầu của nâng cao sức khỏe theo Tannahill 1996Như vậy, tiếp cận thông tin sẽ giúp giáo dục, dự phòng và bảo vệ sứckhỏe từ đó góp phần nâng cao sức khỏe Khi có kiến thức tốt sẽ dẫn tới sựthay đổi hành vi của mỗi cá nhân theo hướng có lợi cho sức khỏe Có rấtnhiều lý thuyết các mô hình thay đổi hành vi sức khỏe như mô hình lý thuyết
về hành động có lý do, mô hình niềm tin sức khỏe, mô hình giai đoạn của sựthay đổi, mô hình về khuynh hướng hành vi và yếu tố có thể tác động đếnthay đổi hành vi Theo các mô hình lý thuyết này thì kiến thức là một trongcác yếu tố có tác động đến niềm tin và giúp thay đổi hành vi sức khỏe lànhmạnh Tiếp cận thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung kiến thức
và thay đổi hành vi
Mô hình niềm tin sức khỏe là được phát triển vào năm 1950 bởi cácnhà tâm lý học xã hội tại dịch vụ y tế công của Mỹ, là một trong những lýthuyết nổi tiếng nhất và được sử dụng rộng rãi nhất trong lĩnh vực thay đổihành vi sức khỏe Mô hình đã được bổ sung sửa đổi năm 1988, được áp dụng
để dự đoán một loạt các hành vi sức khỏe
Trang 16Sơ đồ 1.2: Mô hình niềm tin sức khỏe.
Nguyên lý của mô hình này là cách một người nhận thức thế giới quan
và những nhận thức này làm động cơ để thay đổi hành vi của người đó nhưthế nào Những cá nhân tự đánh giá những lợi ích của việc thay đổi hành vi và
tự quyết định có hành động hay không Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM)xác định 4 mặt của sự đánh giá này: Sự nhạy cảm hiểu được về sức khỏe kém;Hiểu được mức độ nghiêm trọng của sức khỏe; Hiểu được lợi ích của thay đổihành vi; Hiểu được những trở ngại của việc hành động Khi có kiến thức tốtthì có thể sẽ giúp cho thay đổi hành vi tuy nhiên đôi khi kiến thức thay đổinhưng hành vi vẫn chưa thay đổi nhưng đa phần là có kiến thức mới thay đổihành vi
Năm 1992, các nhà tâm lý đã phát triển lý thuyết về “Các giai đoạn thayđổi” bao gồm 4 giai đoạn: tiền suy nghĩ, suy nghĩ, giai đoạn chuẩn bị chohành động, hành động và suy trì đã được xác định và trình bày như một quá
Trang 17trình liên tục của thay đổi Trong đó, giai đoạn tiền suy nghĩ: cá nhân có vấn
đề (có thể họ có nhận ra hoặc không nhận ra) và chưa có ý định thay đổi; Giaiđoạn suy nghĩ: các cá nhân nhận ra vấn đề và suy nghĩ nghiêm túc về các thayđổi; Giai đoạn chuẩn bị cho hành động: các cá nhân các cá nhân nhận ra vấn
đề và có ý định thay đổi hành vi trong thời gian tới Như vậy ta thấy, giaiđoạn cá nhân nhận thức được vấn đề là vô cùng quan trọng và có ý nghĩatrong việc hình thành các hành vi sức khỏe Để nhận thức được vấn đề, việctiếp cận với các nguồn thông tin sức khỏe là cần thiết để họ có kiến thức vàthái độ tích cực hay quan tâm, qua đó dẫn đến sự thay đổi hành vi để bảo vệsức khỏe của bản thân cũng như gia đình và xã hội
Thông tin tốt sẽ giúp dự phòng sức khỏe tốt ví dụ đối với các bệnh lâynhiễm có thể tiêm phòng; các bệnh không lây có thể thay đổi hành vi và lốisống Áp dụng mô hình niềm tin, có thể thấy, việc tiếp cận với thông tin sứckhỏe là vô cùng quan trọng, bắt đầu từ quá trình tiếp cận thụ động, mỗi cánhân thu nhận các thông tin sức khỏe mới, nhận thức được sự trầm trọng haylợi ích của thông tin sức khỏe đó một cách không có chủ ý hay có chủ ý, từ đóthúc đẩy mỗi cá nhân có hành vi chủ động tìm kiếm thông tin, có thể qua cácphương tiện internet, qua sách vở, qua bạn bè, người thân, bác sỹ… giúp họhiểu được những mối đe dọa tới sức khỏe của mình, những yếu tố nguy cơ, dựđoán được chiều hướng tiến triển, qua đó mỗi cá nhân luyện tập hoặc làm việcthông qua kinh nghiệm của họ, biết cách quản lý các yếu tố nguy cơ, xác địnhnhững gì nguồn lực có sẵn để điều chỉnh các yếu tố ấy, đưa ra quyết định,tăng khả năng dự báo và cảm giác kiểm soát tình huống từ đó tăng cườngcách đối phó với vấn đề sức khỏe của mình
Theo thống kê của quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Việt Nam cókhoảng 1/3 dân số thuộc lứa tuổi vị thành niên và thanh niên Qua điều tracho thấy, nguồn cung cấp thông tin cho vị thành niên về các bệnh truyền
Trang 18nhiễm chủ yếu là qua các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo, tivi ), vịthành niên được tiếp nhận thông tin từ nhà trường, từ cơ sở y tế chiếm một tỷ
lệ ít hơn Sinh viên y là những nhân viên y tế trong tương lai, là người trựctiếp chăm sóc sức khỏe cũng như tư vấn cho người bệnh, đồng thời cũng lànhững người có nguy cơ cao bị lây nhiễm, do vậy, việc tiếp cận, cập nhật vàtiếp thu những thông tin sức khỏe mới là vô cùng quan trọng Việc nhận thứcđược những vấn đề sức khỏe mới, không chỉ giúp sinh viên tự bảo vệ cho bảnthân, tư vấn cho bạn bè, người thân mà còn giúp cho sinh viên có nền tảngkiến thức vững chắc trong việc thực hành cũng như điều trị, tư vấn cho bệnhnhân sau này Vì vậy, nghiên cứu tiếp cận thông tin sức khỏe của sinh viên y
là vô cùng cần thiết và quan trọng
Hiện nay, virus Zika là một bệnh truyền nhiễm mới nổi, đang trở thànhnỗi kinh hoàng trên toàn cầu vì những hậu quả nặng nề mà loại virus nàymang lại Virus Zika được lây truyền qua vết cắn của muỗi Aedes bị nhiễm,được phát hiện đầu tiên trong năm 1947 tại Uganda, ổ dịch bệnh do vi rútZika được báo cáo lần đầu tiên ở Thái Bình Dương vào năm 2007 ở Yap,Polynesia Pháp vào năm 2013 và các nước châu Mỹ (Brazil và Colombia),châu Phi (Cape Verde) năm 2015 Ngoài ra, hơn 13 quốc gia ở châu Mỹ đãbáo cáo các trường hợp lẻ tẻ nhiễm virus Zika, điều đó cho thấy sự mở rộngđịa lý nhanh chóng của virus Zika Tuy chưa có nghiên cứu chính thứcnhưng theo các chuyên gia, virus Zika được cho là nguyên nhân hàng đầu dẫnđến tình trạng dị tật bẩm sinh thai nhi, điển hình là tình trạng đầu và não teonhỏ bất thường Hiện nay, WHO đã tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp toàncầu do diễn biến phức tạp và tốc độ lây lan nhanh của bệnh Theo Cục Y tế
dự phòng, trong thời gian quan đã phát hiện ra một số tỉnh có chẩn đoán cabệnh nhiễm virus Zika, đặc biệt trong thời gian gần đây, số ca mắc có tăng tạithành phố Hồ Chí Minh với trên 200 ca Cục Y tế dự phòng cũng đã nhận
Trang 19định, trong năm tới, dịch bệnh do virus Zika sẽ tăng kể cả số địa phương lẫn
số ca bệnh tăng, virus Zika sẽ trở thành bệnh dịch lưu hành bởi nó có nguồnbệnh, vật trung gian truyền bệnh là loại muỗi sốt xuất huyết Trước nhữngvấn đề sức khỏe mới nổi này, thế hệ sinh viên nói chung và đặc biệt là sinhviên y nói riêng đã nhận thức được hay chưa, nguồn tiếp cận của sinh viên vớicác thông tin sức khỏe đó như thế nào? Họ đã làm gì để chung tay bảo vệ sứckhỏe cho chính bản thân, gia đình và cộng đồng khi nhận thức được sự nguyhiểm của căn bệnh truyền nhiễm này Việc đánh giá tiếp cận thông tin củasinh viên y về các bệnh truyền nhiễm đặc biệt là bệnh do virus zika có ý nghĩaquan trọng trong vấn đề đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượngchăm sóc sức khỏe cho sinh viên nói riêng và cộng đồng nói chung
1.4 Một số nghiên cứu về tiếp cận thông tin sức khỏe nói chung và Zika nói riêng.
1.4.1 Một số nghiên cứu về tiếp cận thông tin sức khỏe nói chung.
Nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin sức khỏe ở các nước đangphát triển cho thấy: 71% người thỉnh thoảng kiếm tra lại những thông tin y tế
mà họ nhận được thụ động qua các phương tiện truyền thông như tivi, radio,chỉ có 1.5% thường xuyên kiểm tra kĩ lại những thông tin ấy Kết quả chỉ rarằng có tần suất trung bình của tìm kiếm thụ động là 1.6/5 và tìm kiếm chủđộng là 1,4 ( Thang điểm từ 1-5 tương ứng với mức độ từ “ không baogiờ”-“thường xuyên”).Vì thế; với sự khác biệt nhỏ trong thứ hạng trung bình
có thể nói rằng hầu hết mọi người là thụ động tìm kiếm thông tin y tế Ti viđược đánh giá là nguồn cung cấp thông tin y tế nhiều nhất, tiếp đến là trao đổivới gia đình, bạn thân, tìm hiểu qua sách vở và cuối cùng là internet Thống
kê này cũng đã cho thấy đa số mọi người tiếp cận thụ động với các nguồn tinthông qua ti vi Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữatrình độ học vấn và sử dụng internet để tìm kiếm thông tin y tế (p=0,041)
Trang 20Cũng có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa tuổi (p=0,005) và công việc(p=0,015) và thảo luận với những người khác như gia đình, người thân haygần bạn bè để đáp ứng thông tin y tế Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấymột mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố nhân khẩu học xã hộikhác chẳng hạn như giới tính và giáo dục với thảo luận với những người khácngười như gia đình, bạn bè và sử dụng Internet (p> 0,005)
Nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe ưu tiên và việc sử dụng các nguồn
thông tin sức khỏe trên sinh viên của Yan Zhang cho thấy: Các đối tượng
tham gia nghiên cứu cho rằng Internet, cụ thể là các trang web tìm kiếm vàcác trang web về sức khỏe là nguồn thông tin y tế rất quan trọng Bên cạnh
đó, phù hợp với những phát hiện của các nghiên cứu trước đó, bác sĩ vànhững người chăm sóc sức khỏe được xếp là nguồn cung cấp thông tin y tếquan trọng nhất Các mối quan hệ xã hội của người tham gia, đặc biệt là vớicác thành viên trong gia đình và một người nào đó, chủ yếu là bạn bè, cũngđược coi là quan trọng Mặc dù các phương tiện truyền thông truyền thống, cụthể là tài liệu in (sách, báo, tạp chí, và các tờ rơi) và phương tiện truyền thôngđại chúng (TV) được xếp hạng thấp hơn nhưng vẫn được ưa chuộng Về tiêuchí lựa chọn và sử dụng nguồn thông tin thì khả năng tiếp cận, nội dung bảnquyền là những tiêu chí được sử dụng rộng rãi nhất, tiếp theo là sự tin cậy vàkhả năng sử dụng Nguồn tin được tiếp cận nhiều hơn khi các nguồn tin này
có sẵn (ví dụ như các công cụ tìm kiếm và liên kết trực tuyến) hoặc trongkhoảng cách thích hợp ( ví dụ như thư viện và cha mẹ) và có thể tiến hànhtrong khoảng thời gian chấp nhận được ( ví dụ một cuộc hen với bác sĩ hoặcbạn bè)
Một nghiên cứu về sinh viên đại học tại các nước đang phát triển về “ thông tin sức khỏe được tìm ở đâu “ cho thấy: 85,7% sinh viên đại học đã tìm
thông tin sức khỏe chủ yếu là từ Internet Internet là sự lựa chọn hàng đầu của
Trang 21họ khi cần tìm kiếm thông tin y tế 76% sinh viên tham gia nghiên cứu chobiết internet là nguồn thông tin y tế cơ bản của họ Kĩ năng sử dụng internetthành thạo được hình thành trong quá trình học là nguyên nhân nhân chínhkhiến họ ưu tiên lựa chọn intetnet hơn các nguồn tin khác Những nguồnthông tin ưu tiên tiếp theo của họ là gia đình và bác sĩ Trong gia đình, sinhviên thường hỏi ý kiến của mẹ nhiều hơn cha về các vấn đề sức khỏe Cácnguồn khác bao gồm sách, báo, tạp chí và sách nhỏ Trong các công cụ tìmkiếm trực tuyến, Google là công cụ ưa thích nhất để tìm kiếm các thông tin y
tế Với việc tìm kiếm thông tin cơ bản, Google rất có ích nhưng nếu cần tìmkiếm chuyên sâu thì cần rất nhiều lượt tìm kiếm và liên tục Do đó việc quảng
bá các công cụ tìm kiếm miền cụ thể hoặc các hệ thống thông tin y tế là vôcùng quan trọng, ví dụ: WebMed, MedlinePlus Sinh viên cũng được sử dụngWikipedia như nguồn thông tin y thế cơ bản thứ hai của mình Nghiên cứucũng cho biết nguồn thông tin y tế từ phương tiện truyền thông xã hội đã tácđộng to lớn đối với truyền thông sức khỏe vì nó cung cấp nền tảng để mọingười giao tiếp và chia sẻ thông tin
Một cuộc điều tra định tính về hành vi tìm kiếm thông tin hàng ngày của
27 thanh thiếu niên thành thị tuổi từ 14 đến 17 bằng cách sử dụng nhật kýhoạt động bằng văn bản và các cuộc phỏng vấn nhóm bán cấu trúc cho thấybạn bè và gia đình là nguồn thông tin được ưu tiên lựa chọn khi tìm kiếm,điện thoại di động là phương pháp truyền thông trung gian được yêu thích, vàcác hoạt động học đường, các truy vấn liên quan đến thời gian và đời sống xãhội là những khu vực phổ biến nhất và quan trọng nhất của nguồn tìm kiếmthông tin và thư viện là nguồn ít được áp dụng nhất
Nghiên cứu nguồn tìm kiếm thông tin sức khỏe ở người trưởng thành
Mỹ cho thấy: 86% đối tượng sẽ tìm đến một chuyên gia y tế như bác sĩ, 68%
sẽ hỏi một người bạn hoặc thành viên gia đình, 57% sử dụng sách hoặc tài
Trang 22liệu tham khảo đã in khác, 33% liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểmcủa họ, 5% sử dụng một nguồn khác không được đề cập trong danh sách, 61%tìm kiếm thông tin y tế trực tuyến
Một nghiên cứu trên 94.806 sinh viên tại 117 trường cao đẳng và đại họccho 4 nguồn thông tin sức khỏe có thể tin cậy nhất được chỉ ra là các nhânviên y tế tại trung tâm y tế, các giảng viên y tế , khoa hoặc môn học và cácbậc cha mẹ Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể trong nhóm phụ nữ, đặc biệt
là trong việc sử dụng cha mẹ làm nguồn thông tin sức khoẻ Các tác giả kếtluận rằng thông tin về việc sử dụng và tin tưởng các nguồn thông tin sức khoẻ
có thể giúp các trường cao đẳng thiết kế các chiến dịch thông tin y tế có hiệuquả hơn
Một báo cáo của sinh viên đại học Hoa Kỳ về việc nhận được các thôngtin y tế tại trường cao đẳng cho thấy: các cơ sở giáo dục đại học là môi trườngthuận lợi để thúc đẩy các hành vi lành mạnh bằng cách giáo dục sức khỏe chosinh viên, tuy nhiên chỉ có khoảng gần ¾ sinh viên báo cáo họ nhận được thôngtin về ít nhất một chủ đề về sức khỏe và chỉ có khoảng 6% đã nhân được thôngtin về tất cả các chủ đề được kiểm tra [6] Một nghiên cứu khác về nguồn và sựtin cậy của các thông tin liên quan đến sức khỏe ở sinh viên cho thấy: khảo sát
1202 sinh viên cho thấy 46% mẫu không nhận được bất kì thông tin gì, trong khichỉ có 0,5% nhận được tất cả các thông tin về tất cả các chủ đề sức khỏe Internet
là nguồn phổ biến nhất của thông tin liên quan đến sức khỏe nhưng trái lại đượccoi là nguồn ít tin cậy nhất, nhân viên y tế và giảng viên được coi là nguồn đángtin cậy nhất tuy nhiên lại ít phổ biến hơn
Từ các nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu chủ yếu là tìm hiểu về tiếpcận thông tin sức khỏe chủ động với chủ đề sức khỏe nói chung Các nguồnthông tin được tiếp cận chủ yếu là internet và tivi Các yếu tố ảnh hưởng đếntiếp cận thông tin là tuổi, giới, môi trường học tập, nghành học…
Trang 231.4.2 Nghiên cứu về tiếp cận thông tin sức khỏe về bệnh do vi rút Zika.
Hiện tại, trên thế giới và Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về tiếp cậnthông tin về bệnh do virus Zika Nghiên cứu khả năng tiếp cận thông tin vềbệnh do virus Zika rất quan trọng trong việc xác định các thông tin về bệnhmới nổi tại Việt nam thường được cung cấp như thế nào, mức độ tin cậy củađối tượng đích khi tiếp cận thông tin như thế nào? Ngoài ra, khi có các thôngtin về bệnh mới nổi, sinh viên y khoa, các nhà chăm sóc sức khỏe nhân dântrong tương lai, có chủ động tìm hiểu thông tin hay không và họ thường tintưởng sử dụng những nguồn tin nào Các thông tin trong nghiên cứu này sẽgiúp cung cấp bức tranh tổng hợp về tiếp cận thông tin chủ động và bị động
về bệnh mới nổi, cụ thể là bệnh do virus Zika, từ đó cung cấp các khuyến nghị
để đưa ra những giải pháp thích hợp để mỗi người đều có khả năng tiếp cậnthống tin chính xác, dầy đủ, từ đó có ý thức tự bảo vệ sức khỏe cho bản thânđồng thời có trách nhiệm tuyên truyền cho cộng đồng giúp khống chế và kiểmsoát dịch bệnh
Đây là nghiên cứu ban đầu về tiếp cận thông tin về bệnh do Virus Zika,
do vậy nội dung chính của nghiên cứu sẽ tìm hiểu theo 3 khâu cơ bản của quátrình truyền thông bao gồm nguồn phát tin, kênh truyền tin và nguồn nhận tin
Trang 24Kênh truyền tin: là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Nơi nhận tin là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trongquá trình truyền thông
Nghiên cứu này sẽ được tiến hành trên sinh viên trường đại học Y HàNội Do vậy, nguồn nhận tin trong nghiên cứu này chính là sinh viên trườngđại học Y Hà Nội Các yếu tố nguồn phát tin có thể là nhân viên y tế, giađình, bạn bè/hàng xóm, giảng viên đại học, tivi, radio, Internet, thư viện/sáchbáo chuyên ngành y, loa phát thanh thôn xóm, tổ dân phố, sách/ tạp chí/tờrơi
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
1.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm thứ nhất, thứ ba và thứ năm hệbác sĩ tất cả các chuyên ngành của trường Đại học Y Hà Nội học 2016 –
2017
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Những sinh viên hiện đang theo học trường đại học Y Hà Nội năm học2016-2017
- Sinh viên tự nguyện và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những sinh viên không tự nguyện và từ chối tham gia nghiên cứu
- Sinh viên không tuân thủ qui trình thu thập số liệu (không hoàn chỉnh bộ câu hỏi, sao chép bài của sinh viên khác…)
1.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đã được tiến hành từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017
Thời gian thu thập số liệu tháng 2 năm 2017
1.4. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường ĐH Y Hà Nội
1.5. Mẫu và cách chọn mẫu
1.5.1 Cỡ mẫu
Nghiên cứu “Tiếp cận thông tin về bệnh do virut Zika của sinh viên Đạihọc Y Hà Nội năm học 2016-2017 và một số yếu tố liên quan” tiến hành thu
Trang 26thập số liệu cùng với nghiên cứu “Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về Zika của sinh viên ĐH Y Hà Nội năm học 2016-2017” Do hiện tại chưa cónghiên cứu nào về bệnh do virus Zika nên để tính cỡ mẫu, nghiên cứu thử trên
100 sinh viên Bác sỹ Y học dự phòng năm 2 đã được thực hiện Kết quảnghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên có khả năng thực hiện hành động dựphòng là 0,65 do vậy, nghiên cứu về kiến thức, thái độ và tiếp cận thông tin
đã lựa chọn p = 0,65 để tính cỡ mẫu Ngoài ra, các nghiên cứu về tiếp cậnthông tin cho thấy tỷ lệ tiếp cận thông tin về sức khỏe nói chung là: p= 1.00
do đó nghiên cứu này sử dụng p = 0.65
Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính toán theo công thức cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong quần thể
Z2 (1 – α/2) p ( 1 –p)(p.ε))2
Trong đó:
n = Cỡ mẫu: Số sinh viên cần điều tra
Z(1 – α/2) = 1,96 là giá trị của độ tin cậy trong nghiên cứu tương ứngvới α = 0,05 và độ tin cậy là 95%
p=0,65 là tỷ lệ sinh viên có khả năng thực hiện hành động dự phòngdựa trên nghiên cứu thử
ε) = 0,05 là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu(p) và tỷ lệ của quần thể (P)
Cỡ mẫu tính ra dựa vào công thức là 206
Nhân thêm hệ số thiết kế nghiên cứu đối với cách chọn mẫu chùm là
2 và dự trù thêm 10% sinh viên vắng mặt hoặc không trả lời
Cỡ mẫu tính được là: 206x2+206x2x10%=453 (sinh viên)
1.5.2 Phương pháp chọn mẫu
Trang 27Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu nhiều giai đoạn
Giai đoạn 1: Chọn sinh viên năm thứ 1, năm thứ 3, năm thứ 5 đanghọc đại học chính quy tại trường Đại học Y Hà Nội Vì mỗi khối sốlượng sinh viên không có sự khác biệt lớn nên cỡ mẫu từng khối là: 453:3=151 (sinh viên)
Giai đoạn 2: Từ danh sách các sinh viên của trường (theo danh sáchcủa trung tâm khảo thí và đảm bảo chất lượng) tiến hành chọn ngẫunhiên đơn các tổ sinh viên trong từng khối cho đến khi đủ cỡ mẫu
1.6. Biến số, chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu
A THÔNG TIN CHUNG
3 Chuyên ngành Chuyên ngành hiện tại mà sinh viên
đang theo học
sinh sống
lực học kỳ II năm học 2015 - 2016
7 Thiết bị truyền tin Những thiết bị thu phát thông tin
xung quanh hoặc tại nơi sinh viênthường xuyên sinh sống
B.TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ ZIKA
8 Lần đầu tiên Lần đầu tiên SV nghe tới bệnh do
virus Zika
9 Lần cuối cùng Lần cuối cùng SV nghe tới bệnh do
virus Zika
Trang 2810 Nguồn tin đầu tiên Nguồn cung cấp thông tin đầu tiên
mà SV nghe về Zika
11 Nguồn tin cuối cùng Nguồn cung cấp thông tin cuối
cùng mà SV nghe về Zika
12 Mức độ thông tin về Zika Mức độ thông tin về bệnh do virus
Zika mà SV tự đánh giá đã có đượctính đến hiện tại
13 Nhu cầu bổ sung thông tin Nhu cầu của SV về bổ sung thông
tin về bệnh do virus Zika
14 Thông tin cần bổ sung Phần thông tin về bệnh do virus
Zika mà SV muốn bổ sung thêm
15 Tìm kiếm thông tin Zika SV đã bao giờ tìm kiếm thông tin
về Zika chưa
C TIẾP CẬN THỤ ĐỘNG THÔNG TIN VỀ ZIKA
16 Tần suất tiếp cận thụ động Tần suất SV tiếp cận thụ thông tin về
Zika qua các nguồn thông tin trongvòng 1 năm nay qua các nguồn:
1 Không bao giờ
2 Hiếm khi (1-2 lần/tháng)
3 Thỉnh thoảng (3-8 lần/tháng)
4 Thường xuyên ( ≥8 lần/tháng)
17 Tin cậy nguồn thụ động Mức độ tin cậy của SV vào các
nguồn tin khi tiếp xúc thụ độngtrong 1 năm qua:
1 Không tin cậy
2 Khá tin cậy
3 Tin cậy
4 Rất tin cậy
18 Lý do tin thụ động Tính chất quan trọng nhất khiến SV
tin tưởng nguồn tin khi họ tiếp cận
Trang 29thụ động thông tin về bệnh do virusZika
19 Kiểm chứng thụ động Sinh viên có/không kiểm chứng lại
các thông tin họ tiếp cận thụ động
20 Cách kiểm chứng thụ động Hình thức sinh viên dùng để kiểm
chứng lại các thông tin tiếp xúc thụđộng
D TIẾP CẬN CHỦ ĐỘNG
tìm kiếm thông tin về bệnh do virusZika
22 Nguồn tin chủ động Nguồn thông tin mà sinh muốn
dùng để lấy các thông tin về Zika
23 Nguồn tin ưa thích Nguồn thông tin mà sinh muốn dùng
nhất để lấy các thông tin về Zika
24 Lý do chủ động Tính chất quan trọng nhất khiến SV
chọn nguồn tin để tìm kiếm thôngtin về Zika
25 Tần suất tìm kiếm Tần suất SV tìm kiếm thụ thông tin
về bệnh do virus Zika qua cácnguồn thông tin trong vòng 1 nămnay:
1 Không bao giờ
2 Hiếm khi (1-2 lần/tháng)
3 Thỉnh thoảng (3-8 lần/tháng)
4 Thường xuyên ( ≥8 lần/tháng)
26 Tin cậy nguồn tìm kiếm Mức độ tin cậy của SV vào các
nguồn tin khi chủ động tìm kiếmtrong 1 năm qua:
1 Không tin cậy