Nhiều triệu chứng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đếnchất lượng cuộc sống của người bệnh LBĐHT nhưng không phản ánh sự hoạtđộng mạnh của bệnh, như các biểu hiện ở cơ xương khớp, ngoài da…[36]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -
NGUYỄN THỊ HIỀN-C00680
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
Ở NGƯỜI BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG TẠI KHOA KHÁM BỆNH, BỆNH VIỆN BẠCH MAI
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ SỨC KHỎE
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -
LUẬN VĂN THẠC SỸ SỨC KHỎE
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS Trương Việt Dũng
2 TS Nguyễn Hữu Trường
HÀ NỘI - 2018
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Thăng Long
Bộ môn Y tế công cộng - Trường Đại học Thăng Long
Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ.
Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình thu thập số liệu, viết Luận vănmột cách nghiêm túc Các số liệu, xử lý và phân tích số liệu là hoàn toàntrung thực, chính xác và khách quan
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2018
Học viên
NGUYỄN THỊ HIỀN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sựhướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Vớilòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:Ban giám hiệu, Phòng đào tạo đại học, Bộ môn Y tế công cộng trường Đạihọc Thăng Long đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình họctập và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Trương Việt Dũng và TS Nguyễn HữuTrường cùng các thầy, cô giáo giảng dạy, hết lòng giúp đỡ, động viên và tạo mọiđiều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luậnvăn tốt nghiệp
Xin cảm ơn toàn thể các bác sĩ, điều dưỡng tại khoa Khám bệnh - Bệnh việnBạch Mai đã hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quátrình làm việc, học tập và thu thập số liệu tại khoa để tôi có thể hoàn thành đượcLuận văn
Xin cảm ơn những người bệnh và gia đình đã hợp tác và cho tôi nhữngthông tin quý giá trong quá trình nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ởbên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập, làm việc và hoàn thành Luận văn
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2018
Học viên
NGUYỄN THỊ HIỀN
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG 3
1.1.1 Dịch tễ học bệnh lupus ban đỏ hệ thống 3
1.1.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 4
1.1.3 Mức độ hoạt động của lupus ban đỏ hệ thống 10
1.1.4 Điều trị 11
1.2 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH LBĐHT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ CÓ LIÊN QUAN 14
1.2.1 Định nghĩa chung về chất lượng cuộc sống 14
1.2.2 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống trong LBĐHT 14
1.2.3 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm của chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT 18
1.2.4 Tình hình nghiên cứu về các yếu tố liên quan với chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT 21
Chương 2 25
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 26
2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 26
2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 28
2.4.1 Công cụ nghiên cứu 28
2.4.2 Qui trình nghiên cứu 32
2.4.3 Kỹ thuật thu thập thông tin 32
2.5 PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 32
2.6 SAI SỐ VÀ KIỂM SOÁT SAI SỐ 33
Trang 72.7 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 34
Chương 3 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 35
3.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới 35
3.1.2 Nghề nghiệp 36
3.1.3 Trình độ học vấn 36
3.1.4 Khu vực sinh sống 37
3.1.5 Tình trạng hôn nhân 37
3.1.6 Tình trạng kinh tế 38
3.1.7 Thời gian mắc bệnh 38
3.1.8 Tuổi khởi phát bệnh 38
3.1.9 Một số tổn thương cơ quan thường gặp 39
3.1.10 Mức độ hoạt động của bệnh đánh giá bằng chỉ số SLEDAI 39
3.2 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH LBĐHT 40
3.2.1 Điểm qui đổi của 12 tiểu mục đánh giá 40
3.2.2 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe 40
3.2.3 Chất lượng cuộc sống không liên quan đến sức khỏe 41
3.2.4 Chất lượng cuộc sống nói chung 41
3.2.5 Mối tương quan giữa các điểm chất lượng cuộc sống 42
3.2.6 So sánh điểm CLCS liên quan đến sức khỏe và điểm CLCS không liên quan đến sức khỏe 43
3.3 LIÊN QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ 44
3.3.1 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tuổi người bệnh 44
3.3.2 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và giới tính 46
3.3.3 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và khu vực sinh sống 46
3.3.4 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tình trạng kinh tế 47
3.3.5 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tình trạng hôn nhân 48
3.3.6 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và trình độ học vấn 49
3.3.7 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và thời gian mắc bệnh 49
3.3.8 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tuổi khởi phát bệnh 51
3.3.9 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và các tổn thương cơ quan 53
3.3.10 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và mức độ hoạt động của bệnh 53
3.3.11 Một số yếu tố nguy cơ làm giảm CLCS ở người bệnh LBĐHT 54
Chương 4 56
BÀN LUẬN 56
4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 56
4.1.1 Phân bố tuổi và giới 56
4.1.2 Về tuổi khởi phát bệnh và thời gian mắc bệnh 57
Trang 84.1.3 Về khu vực sinh sống, nghề nghiệp và trình độ học vấn 58
4.1.4 Về tình trạng hôn nhân 59
4.1.5 Về một số tổn thương cơ quan thường gặp ở người bệnh LBĐHT 60
4.2 VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH LBĐHT 61
4.2.1 Về điểm qui đổi 12 tiểu mục của công cụ Lupus-PRO 61
4.2.2 Về điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh LBĐHT 65
4.3 LIÊN QUAN GIỮA CLCS CỦA NGƯỜI BỆNH LBĐHT VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ 69
4.3.1 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tuổi của người bệnh 71
4.3.2 Liên quan giữa CLCS với thời gian mắc bệnh LBĐHT 73
4.3.3 Liên quan giữa CLCS với tuổi khởi phát bệnh 74
4.3.4 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với mức độ hoạt động của LBĐHT 75
4.3.5 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các biểu hiện lâm sàng của bệnh 78
4.3.6 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tình trạng thu nhập của người bệnh 79 4.3.7 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với trình độ học vấn của người bệnh 79
KẾT LUẬN 81
KHUYẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số công cụ đánh chất lượng cuộc sống ở người bệnh
LBĐHT [5],[26] 16
Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 26
Bảng 2.2 Bảng điểm SLEDAI đánh giá mức độ hoạt động của LBĐHT [19] 30
Bảng 2.3 Các mục đánh giá trong bộ câu hỏi LUPUS-PRO 31
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi và giới của các đối tượng nghiên cứu 35
Bảng 3.2 Thời gian mắc bệnh của các đối tượng nghiên cứu (n=360) 38
Bảng 3.3 Tuổi khởi phát bệnh của các đối tượng nghiên cứu (n=360) 38
Bảng 3.4 Một số tổn thương cơ quan thường gặp (n=360) 39
Bảng 3.5 Mức độ hoạt động bệnh đánh giá bằng chỉ số SLEDAI 39
Bảng 3.6 Điểm qui đổi của các tiểu mục đánh giá 40
Bảng 3.7 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (n=360) 40
Bảng 3.8 Chất lượng cuộc sống không liên quan đến sức khỏe 41
Bảng 3.9 Chất lượng cuộc sống nói chung 41
Bảng 3.10 So sánh điểm CLCS liên quan và không liên quan đến sức khỏe 43
Bảng 3.11 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và tuổi người bệnh 44
Bảng 3.12 Liên quan giữa điểm CLCS và tuổi người bệnh 45
Bảng 3.13 Liên quan giữa CLCS và giới tính 46
Bảng 3.14 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và khu vực sống 46
Bảng 3.15 Liên quan giữa CLCS và khu vực sinh sống 47
Bảng 3.16 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và tình trạng kinh tế 47
Bảng 3.17 Liên quan giữa CLCS và tình trạng kinh tế 48
Bảng 3.18 Liên quan giữa CLCS và tình trạng hôn nhân 48
Bảng 3.19 Liên quan giữa CLCS và trình độ học vấn 49
Bảng 3.20 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và thời gian mắc bệnh 49
Bảng 3.21 Liên quan giữa CLCS và thời gian mắc bệnh 50
Trang 10Bảng 3.22 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và tuổi khởi
phát bệnh 51
Bảng 3.23 Liên quan giữa CLCS và tuổi khởi phát bệnh 52
Bảng 3.24 Liên quan giữa CLCS và các tổn thương cơ quan 53
Bảng 3.25 Liên quan giữa CLCS và mức độ hoạt động của bệnh 53
Bảng 3.26 Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ giảm CLCS ở người bệnh LBĐHT 54
Bảng 4.1 Một số kết quả nghiên cứu về các biểu hiện lâm sàng của LBĐHT 60
Bảng 4.2 Một số kết quả nghiên cứu về điểm các tiểu mục của công cụ Lupus-PRO 63
Bảng 4.3 Một số kết quả nghiên cứu về điểm CLCS bằng công cụ Lupus-PRO 66
Bảng 4.4 Một số kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS trong LBĐHT 70
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu 32
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm nghề nghiệp của các đối tượng nghiên cứu (n=360) 36
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của các đối tượng nghiên cứu (n=360) 36
Biểu đồ 3.3 Khu vực sinh sống của các đối tượng nghiên cứu (n=360) 37
Biểu đồ 3.4 Tình trạng hôn nhân của các đối tượng nghiên cứu (n=360) 37
Biểu đồ 3.5 Tình trạng kinh tế của các đối tượng nghiên cứu (n=360) 38
Biểu đồ 3.6 Tương quan giữa điểm CLCS liên quan và không liên quan sức khỏe 42
Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa điểm CLCS liên quan sức khỏe và Lupus-PRO 42
Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa điểm CLCS không liên quan sức khỏe và Lupus-PRO 43
Biểu đồ 3.9 Tương quan giữa điểm CLCS và tuổi của người bệnh 45
Biểu đồ 3.10 Tương quan giữa điểm CLCS và thời gian mắc bệnh 50
Biểu đồ 3.11 Tương quan giữa điểm CLCS và tuổi khởi phát bệnh 52
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Lupus ban đỏ hệ thống là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc cao nhấttrong nhóm các bệnh tạo keo, thường gặp nhất ở nữ giới trong độ tuổi sinh đẻ.Bệnh có thể gây ảnh hưởng đến hầu hết các hệ cơ quan trong cơ thể, không cókhả năng điều trị khỏi, có thể gây tàn phế, tử vong và làm giảm sút nghiêmtrọng chất lượng cuộc sống của người bệnh [8]
Trong một vài thập kỷ qua, việc điều trị LBĐHT đã đạt được những tiến
bộ đáng kể, góp phần kéo dài thời gian sống cho người bệnh và làm giảm tỷ lệ
tử vong do bệnh, từ mức 50% sau 5 năm vào năm 1955 xuống 15% sau 10năm và 25% sau 20 năm theo những nghiên cứu gần đây [9] Tuy nhiên, bấtchấp những thành tựu đã đạt được trong điều trị cũng như những hiểu biết về
cơ chế sinh bệnh học của LBĐHT, chất lượng cuộc sống của người bệnhLBĐHT vẫn không được cải thiện rõ rệt, không chỉ thấp hơn so với mứcchung trong cộng đồng mà còn thấp hơn so với nhiều bệnh mạn tính khác[40] Tầm quan trọng của việc đo lường chất lượng cuộc sống trong LBĐHTđang ngày càng được nhận thấy rõ bởi cả các thày thuốc, người bệnh và cácnhà nghiên cứu Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả và lợi ích của các phươngpháp điều trị LBĐHT không chỉ căn cứ vào khả năng kiểm soát bệnh mà còndựa vào cả sự cải thiện chất lượng cuộc sống sau điều trị [19] Việc đánh giá,
đo lường mức độ hoạt động và tổn thương của LBĐHT là nền tảng trong cácphác đồ điều trị bệnh nhưng lại thường không phản ánh được chất lượng cuộcsống của người bệnh Nhiều triệu chứng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đếnchất lượng cuộc sống của người bệnh LBĐHT nhưng không phản ánh sự hoạtđộng mạnh của bệnh, như các biểu hiện ở cơ xương khớp, ngoài da…[36].Một số nghiên cứu theo dõi dọc còn cho thấy, chất lượng cuộc sống là mộtyếu tố tiên lượng khá tốt nguy cơ tử vong do bệnh ở người bệnh LBĐHT [31].Như vậy, chất lượng cuộc sống là một thông số độc lập với các chỉ số đánhgiá khác trong LBĐHT [19]
Trang 13Sự hiểu biết đầy đủ về tầm quan trọng và những tiến bộ trong việc đolường chất lượng cuộc sống của người bệnh LBĐHT sẽ giúp ích rất nhiều cho
cả người bệnh và các thày thuốc trong việc đưa ra các quyết định điều trị.Trên thế giới, số lượng các nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng tìm hiểu vềchất lượng cuộc sống của người bệnh LBĐHT đã tăng đáng kể trong nhữngnăm gần đây, với rất nhiều công cụ đánh giá đã được đề xuất Tuy nhiên, ởViệt Nam hiện có rất ít các nghiên cứu đánh giá về vấn đề này, đặc biệt là cácnghiên cứu sử dụng những bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống chuyên
biệt cho bệnh LBĐHT Do đó, đề tài: “Chất lượng cuộc sống ở người bệnh lupus ban đỏ hệ thống tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Bạch Mai năm
2018 và một số yếu tố liên quan” đã được tiến hành với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống được điều trị tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Bạch Mai, năm 2018.
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của các đối tượng nghiên cứu.
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG
1.1.1 Dịch tễ học bệnh lupus ban đỏ hệ thống
Lupus ban đỏ hệ thống (LBĐHT) là một trong những bệnh có tỷ lệ mắccao nhất trong nhóm các bệnh tự miễn dịch hệ thống Độ lưu hành của bệnhước tính trong khoảng 20 - 150 ca/100.000 dân, riêng ở nữ giới là khoảng
164 - 406 ca/100.000 dân Bệnh LBĐHT phần lớn xuất hiện ở tuổi trưởngthành và chỉ khoảng 20% số người bệnh được chẩn đoán trước 15 tuổi Trong
độ tuổi sinh sản, tỷ lệ người bệnh LBĐHT nữ/nam là khoảng 9 -12/1 Tỷ lệmắc bệnh tương đối thấp ở trẻ em và người già nói lên vai trò của các hormonsinh dục trong cơ chế bệnh sinh của bệnh [24]
Lupus ban đỏ hệ thống có thể xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới, tuynhiên, tỷ lệ mắc bệnh dao động khá lớn giữa các quốc gia, chủng tộc và giớitính, tỷ lệ mắc bệnh tại mỗi khu vực cũng có thể thay đổi theo thời gian Độlưu hành của bệnh được báo cáo trong 25 năm gần đây ở Bắc Mỹ là khoảng 2-
7 ca/100.000 dân, trong khi ở Nam Phi, vùng Caribê, bán đảo Tây-Bồ vàChâu Á, tỷ lệ này cao hơn xấp xỉ 3 lần Riêng ở Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh trongkhoảng từ 50-80 ca/100.000 dân, tức là có khoảng 160.000 người bệnhLBĐHT tại Mỹ Biểu hiện lâm sàng của bệnh cũng biến đổi theo chủng tộc,thường nặng hơn ở người châu Á và người châu Phi [9],[24]
Số lượng người bệnh LBĐHT mắc mới hàng năm khó xác định do tínhchất phức tạp và khó khăn trong chẩn đoán bệnh Theo một số nghiên cứudịch tễ học ở Mỹ và bán đảo Scandinavie trong giai đoạn 1975-1995, mỗinăm có khoảng 1 - 10 ca mắc mới LBĐHT trong 100.000 dân, con số nàytăng lên hàng năm từ 15,1 đến 51 ca/100.000 dân Điều này có thể giải thích
là do bệnh được phát hiện sớm và điều trị tốt nên bệnh diễn biến kéo dài vàđược theo dõi trong nhiều năm, làm tăng tỷ lệ lưu hành chung của bệnh [24]
Trang 15Bệnh LBĐHT có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là trong nhómtuổi 10 - 40 Tất cả các nghiên cứu đều cho thấy nữ giới mắc bệnh nhiều hơnnam giới, tỷ lệ nữ/nam trung bình là 8-9 / 1-2 Những nghiên cứu gần đây chothấy tỷ lệ người bệnh nam đang tăng dần cùng với sự tăng cao của tuổi mắcbệnh [8][24] Các nghiên cứu về dịch tễ học ở Mỹ cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắcbệnh LBĐHT ở phụ nữ châu Á và người da đen cao hơn so với các chủng tộckhác, khoảng 24,1 /100.000 ở người Trung Quốc, 19,9 / 100.000 ở ngườiPhillipins, 20,4 /100.000 ở người Hawaii và 18,2 / 100.000 ở người Capca.Cũng như vậy, tỷ lệ nữ từ 15 - 44 tuổi mắc bệnh cũng khác nhau tuỳ theo màuda: 90,9/100.000 dân da đen so với 27,6/100.000 dân da trắng ở New York;408,16/100.000 dân da đen so với 142,85/100.000 dân da trắng ở SanPhrancisco [24].
Ở Việt Nam, hiện chưa có các số liệu thống kê chính thức về tình hìnhdịch tễ học của các bệnh tự miễn dịch nói chung và LBĐHT nói riêng Tuynhiên, theo số liệu thống kê của Phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện BạchMai, số lượt người bệnh LBĐHT vào điều trị tại các khoa lâm sàng của bệnhviện đang liên tục tăng lên trong những năm gần đây, từ 992 lượt điều trị năm
2008 lên 1014 lượt năm 2009, 1125 lượt năm 2010, 1329 lượt năm 2011 và
1429 lượt năm 2012 Cùng với sự gia tăng số người bệnh điều trị nội trú, sốlượng người bệnh được quản lý ngoại trú tại Phòng Quản lý bệnh Lupus ban
đỏ hệ thống của Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Bạch Mai cũng không ngừngtăng lên và hiện đã có hơn 400 người bệnh được quản lý điều trị tại đây
1.1.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
1.1.2.1 Đặc điểm lâm sàng
Người bệnh LBĐHT có biểu hiện lâm sàng và các tổn thương nội tạngrất đa dạng Đa số người bệnh có những đợt tiến triển cấp tính xen kẽ vớinhững giai đoạn tương đối ổn định
a Biểu hiện toàn thân.
−Sốt: là triệu chứng thường gặp nhất (50-80%), sốt thường kéo dài vàkhông liên quan với nhiễm vi khuẩn hoặc virus Sốt hay có trước các đợt tiến
Trang 16triển nội tạng của bệnh, thường sốt nhẹ 37o5C - 38oC nhưng cũng có trườnghợp sốt cao tới 39 - 40oC.
−Các biểu hiện khác: thường gặp là mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, gày sútcân, rối loạn kinh nguyệt [2]
b Biểu hiện ở da và niêm mạc
Khoảng 30% người bệnh LBĐHT có các biểu hiện ở da và niêm mạc
−Ban đỏ hình cánh bướm ở mặt: Các ban này không đau, không ngứa,
hơi gờ lên so với mặt da, giai đoạn đầu thường phù nề và bề mặt mịn, giaiđoạn sau có bong vảy nhỏ Vị trí ban thường khu trú ở hai cánh mũi, gò má,trán, tai và dưới cằm, bắc cầu qua sống mũi
−Ban dạng đĩa : ban hình vòng tròn với viền hơi nhô lên, màu đỏ thẫm
có vảy xạm, ở giữa bị teo lõm da Ban thường có ở mặt, tai, da đầu, thân
−Da nhạy cảm ánh sáng: các vùng da tiếp xúc với ánh nắng bị đỏ bừng,
nóng rát, nổi ban đỏ Các ban này vẫn tồn tại sau khi ngừng tiếp xúc với ánh nắng
−Loét niêm mạc miệng, họng : các vết loét hoại tử vô khuẩn ở vùng mũi,
vòm miệng họng Lúc mới nổi thường không đau, khi có bội nhiễm sẽ gâyđau rát nhiều
−Rụng tóc: thường rụng lan tỏa kiểu rừng thưa, giảm khi bệnh ổn định.
Tóc có thể mọc lại trên các tổn thương da đầu của người LBĐHT
−Hội chứng Raynaund: co thắt các mạch máu nhỏ ở đầu ngón tay, ngón
chân, gây biểu hiện trắng nhợt (do co thắt các tiểu động mạch) hoặc xanh tím(do co thắt các tiểu tĩnh mạch) ở đầu ngón tay, ngón chân Nếu tình trạng comạch kéo dài có thể gây hoại tử đầu ngón [3],[4]
c Biểu hiện ở cơ, xương, khớp.
− Đau khớp đơn thuần: đau mỏi các khớp nhỏ và nhỡ, đối xứng hai bên
thường là dấu hiệu khởi phát đợt cấp của bệnh
− Viêm khớp: viêm một hay nhiều khớp, vị trí cũng thường ở các khớp
nhỡ và nhỏ Người bệnh thường không có cứng khớp buổi sáng, không sưngnóng đỏ rõ rệt, không biến dạng và hủy hoại xương khớp, không có hình ảnhbào mòn khớp trên X-quang
Trang 17−Hoại tử xương vô khuẩn: thường gặp ở đầu trên xương đùi, lồi cầu trên
xương đùi, thân xương chày hoặc đầu xương cánh tay Nguyên nhân có thể dobệnh hoặc do dùng corticoid kéo dài
−Viêm cơ, loạn dưỡng cơ: Viêm cơ có thể dẫn đến đau cơ và hạn chế
vận động cơ Xét nghiệm thường có tăng men creatine kinase trong huyếtthanh, sinh thiết cơ có thể thấy xâm nhập bạch cầu
−Các tổn thương khác: Viêm gân-bao hoạt dịch (hay gặp ở dải cơ gấp
gây hội chứng đường hầm cổ tay), đứt gân (gân cơ tứ đầu, gân Achille) [8]
d Tổn thương thận - tiết niệu
− Tổn thương thận là một trong những nguyên nhân thường gặp, gây tửvong ở người bệnh LBĐHT Tổn thương thận thường xuất hiện sớm hơn so vớicác tổn thương nội tạng khác, biểu hiện chủ yếu là viêm cầu thận và thườngkhông có sự tương quan giữa tổn thương giải phẫu bệnh với bệnh cảnh lâm sàng
− Phân loại viêm thận lupus theo Hội thận học quốc tế 2004:
+ Type1: Viêm cầu thận gian mạch tối thiểu
+Type 2: Viêm thận gian mạch tăng sinh
+Type 3: Viêm cầu thận ổ <50% cầu thận
+Type 4: Viêm cầu thận lan tỏa >50% cầu thận
+Type 5: Viêm cầu thận màng
+Type 6: Viêm cầu thận lupus xơ hóa lan tỏa
−Người bệnh LBĐHT bị viêm cầu thận tăng sinh type III và IV thườnghay có hồng cậu niệu vi thể, protein niệu (>500mg/24h) và tăng huyết áp
−Trên lâm sàng, tổn thương thận của LBĐHT thường gặp các hội chứng sau:
+ Hội chứng thận hư: với biểu hiện phù to toàn thân, protein niệu
>3,5g/24h, protein máu < 60g/l, trong đó, albumin máu <30g/l, tăng lipidmáu (triglycerid, cholesterol), có hạt mỡ lưỡng chiết quang trong nước tiểu
+ Hội chứng viêm cầu thận cấp: Biểu hiện tăng huyết áp, đái máu đại
thể hoặc vi thể, thiểu niệu hoặc vô niệu, urê và creatinin máu có thể tăngnhanh trong thời gian ngắn Nếu không xử trí kịp thời, tình trạng suy thận cấp
có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng
Trang 18+ Suy thận mạn: Biểu hiện huyết áp tăng cao, thiếu máu, phù, urê và
creatinin máu tăng cao tùy theo mức độ suy thận
− Tổn thương bàng quang: Là một tổn thương rất hiếm gặp trong LBĐHT,
với biểu hiện chủ yếu là viêm bàng quang (thành bàng quang dày lên) [9]
e Biểu hiện tim mạch
Viêm màng ngoài tim thường gặp nhất (30%), tiếp đến là viêm cơ tim (10%),viêm nội tâm mạc hiếm gặp Chủ yếu xảy ra ở van hai lá và van động mạch chủ
− Tổn thương tim:
+ Viêm màng ngoài tim: Tràn dịch màng ngoài tim là biểu hiện hay gặp
nhất, tiên lượng xấu ở người bệnh có biểu hiện ép tim Hội chứng Pick (Viêmmàng ngoài tim co thắt) rất hiếm gặp
+ Viêm cơ tim: biểu hiện suy tim, rối loạn nhịp, block dẫn truyền
+ Viêm nội tâm mạc: Có thể nghe thấy tiếng thổi ở ổ van hai lá hoặc ổ
van động mạch chủ
−Tổn thương mạch:
+ Tổn thương mạch vành: suy vành, nhồi máu cơ tim có thể gặp.
+ Huyết khối tĩnh mạch: hay gặp ở vùng tĩnh mạch chi, tĩnh mạch tạng,
tĩnh mạch chủ Đặc biệt hay gặp trong các trường hợp có hội chứng khángphospholipid
f Biểu hiện hô hấp
−Viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi: tổn thương một hoặc hai bên,
rất thường gặp trong LBĐHT Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau ngực,đau tăng khi ho, thở sâu và thay đổi tư thế , khó thở khi nằm
−Tổn thương nhu mô: có thể gặp chảy máu phế nang, viêm phổi kẽ lan tỏa.
−Tăng áp động mạch phổi [9].
g Biểu hiện tâm thần kinh.
− Tổn thương thần kinh: Biểu hiện đa dạng, thường gặp là cơn co giật
toàn thể, đau đầu, rối loạn ý thức Đôi khi có tổn thương thần kinh sọ não,thần kinh ngoại biên, liệt do viêm tủy cắt ngang
−Tổn thương tâm thần: Hay gặp nhất là hoang tưởng, ảo giác.
Trang 19h Biểu hiện tiêu hóa
− Các triệu chứng hay gặp là chán ăn, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng
− Ngoài ra, có thể gặp hội chứng giả tắc ruột, viêm mạch ruột, viêm tụycấp Tăng men gan có thể gặp kể cả khi không có tổn thương gan rõ rệt và trởlại bình thường sau điều trị [4],[9]
i Biểu hiện huyết học.
− Thiếu máu mạn tính: Thiếu máu huyết tán có test Coombs (+) hoặc
thiếu máu do viêm
− Giảm bạch cầu: có thể giảm bạch cầu hạt hoặc tế bào lympho, làm
tăng khả năng nhiễm trùng, thường đáp ứng tốt với điều trị và hay gặp trongđợt tiến triển bệnh
− Giảm tiểu cầu: có thể do nguyên nhân miễn dịch hoặc kết hợp với hội
chứng kháng phospholipid
− Rối loạn đông máu: thường gặp trong hội chứng kháng phospholipid
với các biểu hiện như: huyết khối động mạch, huyết khối tĩnh mạch, sẩy thailiên tiếp, viêm van tim
− Hạch to: thường gặp trong đợt tiến triển của bệnh Lách to ít gặp [9].
− Công thức máu: có thể gặp một số bất thường sau:
+ Thiếu máu: là biểu hiện rất thường gặp ở người bệnh LBĐHT, donguyên nhân ngoài tủy, không có giảm sinh tủy
+ Giảm bạch cầu
+ Giảm tiểu cầu
− Tốc độ máu lắng: thường tăng cao
− Điện di protein huyết thanh: tăng gamma globin, tỷ lệ A/G đảo ngược
Trang 20− Men gan có thể tăng nhẹ mà không có các bệnh lý ở gan.
− Amylase tăng cao khi người bệnh có viêm tuyến nước bọt, viêm tụy cấp
− Các biểu hiện rối loạn chức năng thận: urê, creatinin máu tăng,albumin máu giảm, rối loạn điện giải
− Xét nghiệm (XN) nước tiểu có protein, hồng cầu và trụ niệu [9]
− Kháng thể kháng nhân: dương tính ở 95 - 98% số người bệnh LBĐHT,
là 1 trong số các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh nhưng độ đặc hiệu không cao vì
có thể dương tính trong nhiều bệnh lý khác như viêm khớp dạng thấp, viêm
da cơ, nhiễm virus, tuổi già… Kết quả dương tính của xét nghiệm này chỉ cóvai trò hỗ trợ cho chẩn đoán LBĐHT nhưng kết quả âm tính của nó cho phéploại trừ bệnh đến 95%
− Một số tự kháng thể khác: kháng thể anti-Sm rất đặc hiệu trongLBĐHT nhưng tỷ lệ gặp khá thấp, chỉ khoảng 15 - 40% Các kháng thể antiSS-A (Ro) và anti SS-B (La) gặp chủ yếu trong các trường hợp có hội chứngSjögren Kháng thể anti- RNP chủ yếu gặp trong bệnh mô liên kết hỗn hợp.Kháng thể kháng histon dương tính là biểu hiện rất đặc hiệu cho lupus dothuốc Kháng thể kháng phospholipid cũng là một trong những tiêu chuẩnchẩn đoán bệnh Các xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán giang mai (RPR,VDRL) có thể cho kết quả dương tính giả do sự xuất hiện của kháng thểkháng phospholipid [7]
− Bổ thể: giảm C3, C4, CH50 thường gặp trong đợt cấp LBĐHT, đặcbiệt là các trường hợp có tổn thương thận
− Tế bào Hargraves (tế bào LE) hiện ít được sử dụng vì độ nhạy không cao
Trang 21− Sinh thiết da thấy globulin miễn dịch và bổ thể lắng đọng giữa lớptrung bì và thượng bì.
− Xét nghiệm huyết học: thiếu máu bình sắc hồng cầu bình thường, tanmáu (nghiệm pháp Coombs dương tính), giảm số lượng bạch cầu, bạch cầulympho, tiểu cầu Tốc độ máu lắng tăng cao đặc biệt trong đợt cấp của bệnh
− Xét nghiệm sinh hoá máu: tăng urê, creatinin nếu có suy thận, tăngnồng độ α2, β, γ globulin
− Xét nghiệm nước tiểu: có thể có protein niệu, hồng cầu niệu, trụ hạttrong trường hợp có tổn thương thận [2],[3]
1.1.3 Mức độ hoạt động của lupus ban đỏ hệ thống
Mức độ hoạt động của LBĐHT được định nghĩa là những bất thường vềlâm sàng, cận lâm sàng (CLS) mới xuất hiện và có thể đảo ngược, phản ánhtình trạng viêm và rối loạn miễn dịch ở các cơ quan liên quan tại một thờiđiểm trong quá trình diễn biến bệnh Sự hoạt động của bệnh gây phá hủy các
cơ quan, nếu kéo dài có thể dẫn đến suy giảm chức năng các cơ quan và làmtăng nguy cơ tử vong Có 3 kiểu hoạt động của LBĐHT được xác định là đợtbùng phát khi đang trong giai đoạn ổn định, bệnh hoạt động liên tục hoặc ổnđịnh kéo dài [47] Việc lượng hóa và phân độ hoạt động của LBĐHT có vaitrò rất quan trọng trong thực hành điều trị và các thử nghiệm lâm sàngnhưng lại luôn là một thách thức không nhỏ đối với các thày thuốc, do phầnlớn các triệu chứng báo hiệu đợt cấp của bệnh như sốt, mệt mỏi, đau khớp làkhông đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với biểu hiện của các bệnh lý kết hợp thườnggặp trong LBĐHT như tiểu đường, trầm cảm, nhiễm trùng … Một số tổnthương nội tạng như viêm cầu thận, tổn thương thần kinh trung ương có thểxảy ra đơn lẻ, không đi kèm với các dấu hiệu khác của bệnh Ngoài ra,LBĐHT cũng là một bệnh lý hết sức phức tạp với tổn thương ở nhiều hệ cơquan khác nhau, do đó, rất khó để tìm được một yếu tố chỉ điểm đơn lẻ cóthể đánh giá chính xác mức độ hoạt động của bệnh [47] Trong thực hànhlâm sàng, việc đánh giá hoạt tính chung của LBĐHT hoặc hoạt tính bệnh ởtừng hệ cơ quan thường được căn cứ vào các đánh giá lâm sàng, thăm dò
Trang 22CLS hoặc sử dụng những chỉ số tổng hợp đánh giá phối hợp nhiều yếu tố cả
về lâm sàng và xét nghiệm Cho đến nay đã có >60 chỉ số đánh giá mức độhoạt động của LBĐHT được đề xuất như SLEDAI (Systemic LupusErythematosus Disease Activity Index), BILAG (British Isles LupusAssessment Group), SLAM (Systemic Lupus Activity Measure), ECLAM(European Consensus Lupus Activity Measurement), LAI (Lupus ActivityIndex)… [52] Mỗi chỉ số đều có những ưu điểm nổi bật và những hạn chếriêng nên hiện chưa có công cụ nào được cho là tối ưu để đánh giá và theodõi mức độ hoạt động của LBĐHT
Nghiên cứu này sử dụng chỉ số SLEDAI Chỉ số SLEDAI được sử dụng
trong nghiên cứu này có phiên bản đầu tiên do Trường đại học Toronto đưa
ra vào năm 1992, đánh giá 24 đặc điểm của các hệ thống cơ quan khác nhaudựa vào sự có mặt hoặc không có mặt của các triệu chứng tại thời điểm đánhgiá hoặc trong vòng 10 ngày trước đó, tổng điểm trong khoảng từ 0 đến 105.Sau phiên bản đầu tiên, đã có nhiều phiên bản cải biến của SLEDAI được đềxuất như MEX-SLEDAI, SELENA-SLEDAI và SLEDAI-2K Chỉ sốSLEDAI có ưu điểm nổi bật là tương đối đơn giản, dễ khảo sát, cách thựchiện không phức tạp, khách quan trong việc tính điểm, có thể dễ dàng huấnluyện cách thực hành tính điểm cho các điều tra viên, áp dụng tiện lợi cảtrong thực hành lâm sàng và các nghiên cứu, phản ánh được tổng thể tìnhtrạng hoạt động bệnh, bao gồm cả các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng.Một số nghiên cứu đã khẳng định SLEDAI là một công cụ có giá trị và độnhạy cao trong việc đánh giá mức độ hoạt động của LBĐHT, kể cả ở trẻ em.Tuy nhiên, công cụ này cũng có những hạn chế như không phân biệt mức độnặng của các triệu chứng khi cho điểm, đánh giá quá mức vai trò của tổnthương thần kinh trung ương ít gặp nhưng lại bỏ qua các triệu chứng nguyhiểm, đe dọa tính mạng của LBĐHT như xuất huyết phế nang, huyết khối,viêm cơ tim [26]
1.1.4 Điều trị
1.1.4.1 Nguyên tắc điều trị
Trang 23− Quyết định điều trị phải dựa trên đánh giá các tổn thương, mức độ bệnh
và các bệnh lý đi kèm Điều trị cấp cứu trong các trường hợp bệnh nặng
− Quá trình điều trị bao gồm: điều trị các đợt cấp và điều trị dự phòng đểngăn ngừa tái phát Áp dụng điều trị cụ thể với từng cá thể Lưu ý đánh giá tácdụng phụ của thuốc (nhiễm khuẩn, tăng huyết áp, loãng xương…) [8]
1.1.4.2 Chăm sóc người bệnh LBĐHT
−Sống lành mạnh, năng vận động, ít sang chấn tâm lý
−Chế độ nghỉ ngơi hợp lí khi có đợt cấp của bệnh, tránh lao động nặng
−Tránh ánh nắng mặt trời vì tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời thườngkhởi phát hoặc làm nặng các đợt cấp của bệnh
−Tránh dùng bia rượu, chất kích thích
−Thăm khám định kỳ 1- 2 tháng một lần tùy theo mức độ nặng của bệnh
−Dùng thuốc đều đặn, không tự ý ngưng thuốc vì bất kỳ lý do nào [9]
1.1.4.3 Điều trị bằng thuốc
−Các thuốc chống viêm non-steroidal (aspirin, diclofenac, naproxen…):được dùng khởi đầu cho những người bệnh không có các tổn thương nội tạngnặng, đe doạ tính mạng, triệu chứng chủ yếu là đau cơ, đau khớp, sốt, viêmthanh mạc nhẹ Cần lưu ý các độc tính của NSAID như tăng men gan, nhiễmđộc thận, viêm loét dạ dày tá tràng để phát hiện sớm [8]
−Các thuốc chống sốt rét (chloroquine, hydroxychloroquine…): dùng chođiều trị các triệu chứng ở da, khớp và mệt mỏi trong LBĐHT Liều 400 mghydroxychloroquine hàng ngày có thể cải thiện triệu chứng da và niêm mạc sauvài tuần Các tác dụng phụ của thuốc bao gồm tổn thương võng mạc, viêm cơ,nổi ban đỏ Cần khám mắt định kỳ hàng tháng trong thời gian dùng thuốc [8]
−Glucocorticoid đường toàn thân: nên được dùng cho những trường hợp
có tổn thương nội tạng hoặc không đáp ứng với những điều trị trên Ngườibệnh nên được chỉ định glucocorticoid liều cao ngay từ đầu (prednison,prednisolon hoặc methylprednisolon 1 to 2 mg/kg/24h) Trong đợt cấp củabệnh, glucocorticoid nên được dùng chia 2-3 lần/ ngày Sau khi bệnh được
Trang 24kiểm soát, cần giảm chậm liều thuốc và sử dụng một lần duy nhất vào buổisáng sau bữa ăn Khi tình trạng bệnh cho phép, nên chuyển sang dùng liềucách nhật vào buổi sáng để giảm thiểu tác dụng phụ của thuốc Những tổnthương nội tạng nặng như viêm cầu thận tăng sinh lan toả, xuất huyết giảmtiểu cầu kháng điều trị thông thường, viêm cơ tim…có thể được kiểm soát vớiliều rất cao của glucocorticoid như 250 - 1000 mg methylprednisolon/ ngàytruyền tĩnh mạch trong 3 – 5 ngày Các tác dụng phụ thường gặp khi sử dụngglucocorticoid kéo dài là biểu hiện giả cushing, tăng cân, tăng huyết áp, bầmtím, trứng cá, loãng xương, hoại tử vô khuẩn đầu xương, đục thuỷ tinh thể,tăng nhãn áp, tiểu đường, teo cơ, hạ kali máu, rối loạn tâm thần, suy giảm sức
đề kháng, rối loạn kinh nguyệt Để giảm nguy cơ loãng xương, nên bổ xungcalci (1000 mg hàng ngày) kết hợp với vitamin D 50,000 đơn vị 2-3 lần/ tuần.Cần bổ xung estrogen ở những người bệnh tiền mãn kinh [9]
−Các thuốc gây độc tế bào (azathioprine, chlorambucil, cyclophosphamide,cyclosporin A, methotrexate, mycophenolate mofetil): có vai trò quan trọngtrong việc kiểm soát và dự phòng các đợt cấp, điều trị các tổn thương nội tạngnặng không đáp ứng với glucocorticoid và giảm bớt nhu cầu sử dụngglucocorticoid Các tác dụng phụ thường gặp của nhóm thuốc này bao gồm:
ức chế tuỷ xương, tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội, suy chức năng buồngtrứng không hồi phục, nhiễm độc gan (với azathioprine, methotrexate, andmycophenolate), viêm bàng quang, rụng tóc, nguy cơ gây ung thư (vớicyclophosphamide), ỉa chảy, rối loạn tiêu hoá với mycophenolate, suy thận,tăng huyết áp với cyclosporin A [9]
1.1.4.4 Điều trị một số biến chứng nội tạng
a Suy tim, tăng hưyết áp
Trang 25−Nếu tràn dịch nhiều có dấu hiệu ép tim cấp phải chọc tháo màng tim,phối hợp với corticoid liều cao.
c Hội chứng thận hư, suy thận.
− Duy trì chế độ ăn nhạt 2-3g muối / ngày, hạn chế đạm 0,6- 0,7g / kgcân nặng cơ thể
− Corticoid liều cao đường tĩnh mạch (Pulse therapy) hoặccyclophosphamide đường tĩnh mạch 1 lần/tháng trong 6 tháng đầu 1lần/3tháng trong 6 tháng tiếp theo Chống chỉ định cho những trường hợp suy thậnnặng độ 3, độ 4
− Dùng thuốc hạ huyết áp khi có tăng huyết áp
− Dùng thuốc lợi tiểu duy trì thể tích nước tiểu 24 giờ khoảng 1500ml(chú ý bù đủ kali), truyền albumin khi cần
− Dùng thuốc kích thích sản sinh hồng cầu erythropoietin (epokin, eprex)
− Chạy thận nhân tạo khi có chỉ định [9]
1.2 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH LBĐHT VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ CÓ LIÊN QUAN
1.2.1 Định nghĩa chung về chất lượng cuộc sống
− Theo Tổ chức y tế thế giới: “Chất lượng cuộc sống là sự nhận thức cánhân về vị trí của họ trong cuộc sống phù hợp với văn hóa và giá trị mangtính chất hệ thống ở nơi mà họ sinh sống và phù hợp với mối quan hệ, vớimục đích, sự kì vọng, trình độ và mối quan tâm của họ” [26]
− Chất lượng cuộc sống (CLCS) liên quan tới sức khỏe: Bao gồm tất cảnhững lĩnh vực của cuộc sống bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những thay đổi củasức khỏe [19],[26]
1.2.2 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống trong LBĐHT
Tương tự với nhiều bệnh mạn tính khác, việc đánh giá CLCS trongLBĐHT cũng được thực hiện thông qua 2 loại bộ câu hỏi là các bộ câu hỏichung và bộ câu hỏi đặc hiệu với bệnh Các bộ câu hỏi khảo sát CLCS đặc
Trang 26hiệu với LBĐHT mới chỉ được phát triển trong một vài thập kỷ gần đây nêncòn chưa được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu lâm sàng [63]
Để lựa chọn một công cụ đo lường CLCS liên quan đến sức khỏe chongười bệnh LBĐHT, một số vấn đề cần được cân nhắc Trước tiên, công cụ đó
có đánh giá được những lĩnh vực CLCS quan trọng đối với người bệnhLBĐHT không? Thứ hai, công cụ đó có được người bệnh LBĐHT chấp nhậnkhông? Số lượng và thuộc tính của các câu hỏi ảnh hưởng đến khả năng đượcchấp nhận của công cụ đối với người bệnh Thứ ba, tính chất đo lường tâm lýcủa công cụ có phù hợp đối với người bệnh LBĐHT hay không? Những tínhchất này bao gồm tính hằng định nội tại, mức độ tin cậy test - trước test, tínhhợp lệ về cấu trúc và sự nhạy cảm với các thay đổi Thứ tư, công cụ đó cóthực sự đánh giá được các lĩnh vực CLCS mà nó muốn đo lường? Thứ năm,công cụ đó có sẵn với nhiều ngôn ngữ không và đã được chuẩn hóa với cácngôn ngữ này chưa? [26]
1.2.2.1 Các công cụ chung
Hiện nay, bộ câu hỏi chung đánh giá CLCS được sử dụng thường xuyênnhất là SF-36 Bộ câu hỏi này được xây dựng bởi Ware và cs (1992), có 36mục tự đánh giá và có thể sử dụng được với nhiều bệnh lý, nhiều cộng đồng
và tình huống khác nhau SF-36 đánh giá 8 nhóm vấn đề: chức năng thể chất,chức năng xã hội, sự hạn chế vai trò do các vấn đề thể chất, sự hạn chế vai trò
do các vấn đề cảm xúc, sức khỏe tinh thần, nghị lực sống, sự đau đớn và cảmnhận chung về tình hình sức khỏe, trong đó, điểm được chia thành 2 nhómchính: điểm tóm tắt của thành phần thể chất và điểm tóm tắt của thành phầntinh thần SF-36 được chứng minh là một công cụ phù hợp với LBĐHT và đãđược sử dụng trong nhiều nghiên cứu đánh giá CLCS của người bệnhLBĐHT Với công cụ này, một số nghiên cứu đã khẳng định rằng người bệnh
có CLCS thấp hơn rõ rệt so với một số bệnh mạn tính khác [19]
Trang 27Bảng 1.1 Một số công cụ đánh chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT [5],[26]
Bộ câu hỏi
Phạm vi đánh giá Số câu
hỏi đánh giá
Thực hiện
Tác động về thể chất/chức năng
Tác động về xã hội/ tinh thần
1.2.2.2 Các công cụ chuyên biệt cho Lupus ban đó hệ thống
Hiện nay, có 4 bộ câu hỏi đánh giá CLCS chuyên biệt cho LBĐHT đãđược chuẩn hóa và sử dụng trong các nghiên cứu [54] Leong và cs (2005) đã
Trang 28phát triển và chuẩn hóa bộ công cụ SLEQoL (Systemic Lupus specific Quality-of-Life), bộ công cụ này bao gồm 40 câu hỏi đánh giá đặchiệu với CLCS của người bệnh LBĐHT Các câu hỏi được chia làm 6 phần:chức năng thể chất, hoạt động, triệu chứng bệnh, điều trị, cảm xúc và tự nhậnthức về bản thân Trong một nghiên cứu trên 275 người bệnh LBĐHT, so vớicông cụ SF-36, SLEQoL được chứng minh là nhạy cảm hơn với những sựthay đổi [70] Ngoài ra, công cụ này cũng chứng minh được tính hợp lệ, sựhằng định nội tại và độ tin cậy kiểm chứng trước – sau trong đánh giá CLCS ởNgười bệnh LBĐHT Cho đến nay, SLEQoL là bộ công cụ chuyên biệt choLBĐHT duy nhất được phát triển ở nước châu Á và đã được dịch ra nhiềungôn ngữ khác nhau [54]
Erythematosus-Bộ công cụ LupusQoL do Teh và cs đưa ra năm 2005 cũng được sử dụngrất rộng rãi để đánh giá đặc hiệu CLCS trong LBĐHT Bộ câu hỏi này baogồm 34 câu hỏi, đánh giá 8 nhóm vấn đề bao gồm: chức năng thể chất, sự đauđớn, chức năng cảm xúc, sự mệt mỏi, hình ảnh bản thân, hoạt động tình dục,khả năng lập kế hoạch và các gánh nặng khác [70] Theo Touma Z và cs(2011), bộ câu hỏi LupusQoL có tính hằng định nội tại, độ tin cậy kiểm chứngtrước – sau và giá trị tiêu chuẩn đồng hành tương đương so với công cụ SF-36[66] Nghiên cứu của Garcisa-Carrasco M và cs (2012) còn cho thấy mốitương quan rất chặt chẽ giữa điểm SF-36 và điểm LupusQoL, cả hai công cụđều có giá trị trong đánh giá CLCS ở người bệnh LBĐHT [33]
Lupus-PRO (Lupus Patient-Reported Outcome) là một công cụ đo lườngCLCS chuyên biệt cho LBĐHT mới được phát triển và chuẩn hóa gần đây tại
Mỹ bởi Jolly và cs (2012) [41] Lupus-PRO bao gồm 43 câu hỏi với tổngđiểm qui đổi từ 0-100, đánh giá 8 vấn đề liên quan đến sức khỏe (triệu chứngbệnh, thuốc điều trị, sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần, sự đau đớn, nghịlực sống, sự sinh sản, nhận thức và hình ảnh bản thân) và 4 vấn đề không liênquan đến sức khỏe (mong muốn - mục đích, cách đối mặt với bệnh tật, sự hỗtrợ từ xã hội và sự hài lòng với hệ thống chăm sóc y tế) Công cụ này có giátrị và độ tin cậy cao trong đánh giá CLCS ở người bệnh LBĐHT, đáp ứng tốt
Trang 29và khá nhạy với các thay đổi của tình trạng sức khoẻ [41] Bên cạnh đó, bộcâu hỏi này cũng có thời gian trả lời tương đối ngắn, phù hợp với các nghiêncứu được thực hiện tại những cơ sở y tế có số lượng người bệnh đông quá tảinhư khoa Khám bệnh của bệnh viện Bạch Mai [54] Đây cũng là lý do quantrọng để chúng tôi lựa chọn công cụ Lupus-PRO cho nghiên cứu này
Các bản hướng dẫn đánh giá hiện nay nói chung vẫn ưu tiên sử dụng các
bộ câu hỏi chung, chỉ bổ sung bằng các câu hỏi chuyên biệt khi có thể
1.2.3 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm của chất lượng cuộc sống ở
người bệnh LBĐHT
1.2.3.1 Sự thay đổi chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT
Trên thế giới, có khá nhiều nghiên cứu đánh giá CLCS ở người bệnhLBĐHT đã được công bố, trong đó, phần lớn sử dụng một bộ công cụ đơn lẻ,chỉ có một vài nghiên cứu dùng phối hợp đồng thời nhiều công cụ Cácnghiên cứu này không chỉ mô tả đặc điểm CLCS trong LBĐHT mà còn tìmhiểu mối tương quan giữa CLCS với các đặc điểm khác của bệnh như mức độhoạt động, tổn thương và tiên lượng bệnh [19],[28],[31]
Với mọi công cụ đánh giá được sử dụng, các nghiên cứu đều cho thấy sựgiảm sút CLCS ở người bệnh LBĐHT khi so sánh với cộng đồng chung hoặcvới những người mắc các bệnh mạn tính khác [40] Phần lớn nghiên cứu trướcđây sử dụng các công cụ SF-20 hoặc SF-36 Với những công cụ này, nhiềunghiên cứu đã cho thấy CLCS của người bệnh LBĐHT giảm rõ rệt ở cả 2phân vùng thể chất và tinh thần [54] Khi điểm các thành phần cấu thành củaSF-36 được tính toán, người bệnh LBĐHT có giảm cả điểm thể chất và tinhthần, xếp vào bách vị phân thứ 10 cho điểm thành phần thể chất và bách vịphân thứ 25 cho điểm thành phần tâm thần khi so với cộng đồng khỏe mạnh[40] Mặc dù các nghiên cứu được mô tả ở trên sử dụng những công cụ đánhgiá CLCS khác nhau, chủng tộc và số lượng người bệnh trong nghiên cứucũng khác nhau, nhưng nhìn chung CLCS ở người bệnh LBĐHT đều bị giảmsút so với cộng đồng chung và nhóm chứng Hầu hết các nghiên cứu này đượcthực hiện ở những người bệnh điều trị ngoại trú, mức độ bệnh không nặngnhưng CLCS vẫn giảm rõ rệt
Trang 30Sự thay đổi CLCS trong quá trình diễn biến bệnh ở những người bệnhLBĐHT có sự khác biệt giữa các giai đoạn phát triển khác nhau của bệnh.Nghiên cứu của Kuriya B và cs ở những người bệnh LBĐHT giai đoạn muộncho thấy, điểm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần không thay đổi sau 8năm ở >80% số người bệnh, tỷ lệ người bệnh có cải thiện CLCS chỉ đạt <5%[45] Trong khi đó, nghiên cứu của Urowitz M (2014) trên 495 người mắcbệnh LBĐHT giai đoạn sớm lại tìm thấy sự cải thiện CLCS ở phần lớn trườnghợp trong vòng 2 năm đầu theo dõi [68].
Cho đến nay, SF-36 là công cụ chủ yếu được sử dụng để đo lường CLCStrong các nghiên cứu, điều này cho phép so sánh CLCS giữa các bệnh mạntính Báo cáo của Schmeding A và cs (2013) tổng hợp số liệu từ 24 nghiêncứu khác nhau sử dụng bộ câu hỏi SF-36 để đánh giá CLCS của những ngườibệnh LBĐHT cho thấy, sự giảm sút CLCS trong LBĐHT là tương đương vớinhiều bệnh mạn tính nguy hiểm như HIV/AIDS, hội chứng Sjogren’s và viêmkhớp dạng thấp, nhưng nặng nề hơn so với u hạt Wegener [61] Điểm chứcnăng thể chất và cảm giác đau ở người bệnh viêm khớp dạng thấp giảm rõ rệthơn so với LBĐHT theo nghiên cứu của Wolfe F (2010), nguyên nhân có thể
do bệnh lý này tổn thương chủ yếu ở hệ cơ xương khớp [69] Trong một sốnghiên cứu sử dụng các bộ câu hỏi QOLS-S và AIMS, người bệnh LBĐHT tỏ
ra quan tâm đến tình trạng bệnh của mình nhiều hơn so với các người mắcbệnh viêm khớp dạng thấp Mặc dù tính tổng thể cả 2 nhóm người bệnh đềuhài lòng với CLCS của họ nhưng giữa 2 nhóm vẫn có những điểm khác biệt
về những điều không hài lòng với tình trạng sức khỏe của mình [40] Một sốtác giả cũng đã tiến hành so sánh CLCS của người bệnh LBĐHT và u hạtWegener, kết quả cho thấy, mặc dù u hạt Wegener là một bệnh viêm mạch hệthống nguy hiểm nhưng mức độ ảnh hưởng của bệnh đến các hoạt độngthường ngày và nguy cơ mất việc của người bệnh vẫn thấp hơn so với cácbệnh LBĐHT Người bệnh LBĐHT thường có biểu hiện mệt mỏi mạn tính,mất khả năng lên kế hoạch cho tương lai do không dự báo được diễn biến củabệnh và phải đối mặt với sự thiếu hiểu biết về bệnh của các đồng nghiệp và
Trang 31người quản lý Tuy nhiên, ở khía cạnh tích cực, người bệnh LBĐHT thườngcho rằng bệnh tật giúp cải thiện mối quan hệ của họ với bạn bè và đưa giađình họ đến gần nhau hơn [40] Chứng xơ đau cơ với các biểu hiện chính làmệt mỏi và đau cơ cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến CLCS Nhữngngười mắc chứng bệnh này, dù tiên phát hay thứ phát, đều có CLCS thấp hơn
so với LBĐHT [69]
Ở Việt Nam, đã có khá nhiều nghiên cứu được thực hiện để đánh giáCLCS trong các bệnh mạn tính như vảy nến, tăng huyết áp, Alzheimer…, tuynhiên, có ít nghiên cứu về CLCS ở người bệnh LBĐHT được công bố [11]
1.2.3.2 Các lĩnh vực chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng ở người bệnh LBĐHT
Các lĩnh vực của CLCS bị ảnh hưởng có thể khác nhau giữa các bệnh lý
do mỗi bệnh sẽ có những ảnh hưởng khác nhau đối với cuộc sống của ngườibệnh Điều này được khẳng định bởi kết quả của một số nghiên cứu trênnhững nhóm bệnh tự miễn khác nhau, trong đó, người bệnh viêm khớp dạngthấp gặp nhiều khó khăn với các hoạt động hàng ngày hơn so với người bệnhLBĐHT Trong khi đó, những người bệnh với chứng xơ đau cơ có điểmđánh giá tổng thể tình trạng chức năng tồi nhất [69] Để có thể đánh giáđược những tác động của LBĐHT đối với CLCS, cần xác định được nhữnglĩnh vực của CLCS bị ảnh hưởng bởi bệnh và lựa chọn công cụ để đánh giánhững lĩnh vực này Phần lớn các lĩnh vực quan trọng của CLCS bị ảnhhưởng ở người bệnh LBĐHT đều liên quan đến đặc trưng của LBĐHT làmột bệnh mạn tính có diễn biến dao động từng đợt, có thể ảnh hưởng đếnnhiều hệ thống cơ quan và liên quan rõ rệt với nguy cơ tàn phế và tử vong.Các lĩnh vực của CLCS liên quan đến sức khỏe bị ảnh hưởng bởi LBĐHT cóthể khác nhau giữa các hoàn cảnh văn hóa xã hội do CLCS liên quan đến sứckhỏe bị ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa Các nghiên cứu đánh giá những lĩnhvực quan trọng của CLCS liên quan đến sức khỏe ở người bệnh LBĐHT chođến nay đều được thực hiện ở các nước có nền văn hóa phương tây, điều đóđặt ra yêu cầu phải có thêm những nghiên cứu trong các điều kiện văn hóa
xã hội khác [19],[54]
Trang 321.2.4 Tình hình nghiên cứu về các yếu tố liên quan với chất lượng cuộc
sống ở người bệnh LBĐHT
Mặc dù CLCS bị giảm sút ở hầu hết người bệnh LBĐHT, nhưng có sựkhác biệt quan trọng giữa các nhóm chủng tộc Phần lớn các nghiên cứu trướcđây được thực hiện trên những nhóm người bệnh LBĐHT thuộc nhiều chủngtộc khác nhau, chỉ một số ít nghiên cứu có so sánh sự thay đổi CLCS giữa cácchủng tộc Barnado A và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu trên 3 nhómchủng tộc (người da trắng, da đen và da vàng), trong đó sử dụng phối hợpnhiều bộ câu như Health Assessment Questionnaire (HAQ), IllnessIntrusiveness Ratings Scale (IIRS), Affect Balance Scale (ABS), Center forEpidemiologic Studies Depression (CES-D) và Rheumatology Attitudes Index(RAI) Kết quả cho thấy, ở các vấn đề tâm lý, xã hội, người da trắng có CLCStốt nhất và người da đen có CLCS tồi nhất Trong nghiên cứu LUMINA(Lupus in Minority Populations, Nature versus Nurture) sử dụng bộ câu hỏiSF-36, những người bệnh LBĐHT thuộc 3 nhóm chủng tộc (Tây - Bồ, MỹPhi và da trắng) với số lượng tương đương đã được đưa vào nghiên cứu Kếtquả cho thấy, sức khỏe thể chất là tương đương nhau giữa 3 nhóm chủng tộc,nhưng sức khỏe tinh thần ở người da trắng là tốt hơn so với 2 nhóm còn lại[17] Thumboo và cs cũng tiến hành nghiên cứu với công cụ SF-36 trên 3nhóm người bệnh LBĐHT người Trung hoa, Malays và Ấn Độ, kết quả chothấy không có sự khác biệt về CLCS giữa các nhóm chủng tộc này Các tácgiả cho rằng, trên thực tế CLCS có liên quan với các yếu tố kinh tế - xã hội,những người bệnh tham gia nghiên cứu có điều kiện kinh tế xã hội tươngđương nhau, tiếp cận một dịch vụ chăm sóc sức khỏe giống nhau, do đó,CLCS cũng không có sự khác biệt [65] Như vậy, CLCS của người bệnhLBĐHT bị giảm sút nhiều ở một số nhóm chủng tộc có thể là do ảnh hưởngcủa điều kiện kinh tế xã hội Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng cho thấy mốiliên quan phức tạp giữa yếu tố chủng tộc và tình trạng kinh tế xã hội Trongmột nghiên cứu tiến cứu của Alarcon và cộng sự, người bệnh LBĐHT thuộcchủng tộc Mỹ - Phi chỉ bị giảm sút CLCS ở một số mục đánh giá theo thang
Trang 33điểm SF-36 Tuy nhiên, nghèo đói và chăm sóc xã hội kém có liên quan mạnh
mẽ với sự giảm sút CLCS một cách toàn diện ở mọi chủng tộc [12]
Bên cạnh yếu tố chủng tộc và điều kiện kinh tế xã hội, nhiều biến sốkhác cũng có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến CLCS của ngườibệnh LBĐHT, được khẳng định rõ rệt nhất là tình trạng mệt mỏi, các hỗ trợ vàvai trò xã hội, khả năng ứng phó, tình trạng giáo dục, tuổi và thời gian mắcbệnh [27],[28],[60],[64]
Mệt mỏi: là biểu hiện rất thường gặp ở người bệnh LBĐHT, mặc dùkhông đặc hiệu nhưng có tác động không nhỏ đến CLCS Trong khá nhiềunghiên cứu, người bệnh LBĐHT thường cho rằng mệt mỏi là biểu hiện chínhlàm suy yếu khả năng hoạt động của họ Một khó khăn lớn khi đánh giá biểuhiện mệt mỏi người bệnh LBĐHT là việc các nghiên cứu đã sử dụng quánhiều công cụ đánh giá khác nhau trong các nghiên cứu nên khó so sánh vàkhông thể đưa ra được kết luận cuối cùng Ngoài một số bộ câu hỏi đánh giáchuyên biệt về mệt mỏi như Fatigue Severity Score (FSS), Chalder FatigueScale (CFS), Piper Fatigue Scale (PFS), Multidimensional Fatigue Inventory(MFI) và Vanderbilt Fatigue Scale (VFS), một số công cụ đánh giá chung vềCLCS cũng bao gồm các câu hỏi về mệt mỏi như SF-20, SF-36 Kết quả từnhững nghiên cứu sử dụng các bộ câu hỏi chuyên biệt về mệt mỏi cho thấy,người bệnh LBĐHT có mức độ mệt mỏi cao hơn so với nhóm chứng khôngmắc bệnh và biểu hiện này cũng có tác động đến tất cả các thành tố của CLCSđược đánh giá trong các bộ câu hỏi SF-20 và SF-36 [54]
Sự hỗ trợ xã hội: một số nghiên cứu cho thấy, mức độ hỗ trợ xã hội caoliên quan với CLCS tốt hơn ngoại trừ vấn đề thể chất Sự hài lòng của ngườibệnh đối với hệ thống chăm sóc y tế càng cao thì CLCS liên quan đến sứckhỏe cũng càng tốt [60]
Vai trò xã hội: nghiên cứu của Thumboo J ghi nhận rằng bệnh LBĐHT
có thể ảnh hưởng tiêu cực đến trạng thái tâm lý của người bệnh bằng cách gây
ra tình trạng trầm cảm và mất tinh thần do ảnh hưởng lớn đến vai trò xã hộicủa họ hoặc đặt họ vào những vị trí xã hội mà họ không mong muốn [65]
Trang 34Khả năng ứng phó: một số nghiên cứu cắt ngang các tác giả nước ngoài
đã cho thấy đặc điểm về khả năng ứng phó trong các biến số đánh giá CLCS
là một yếu tố có thể dự báo cả khía cạnh thực thể và tinh thần của CLCS khiđánh giá bằng công cụ SF-36 [61]
Tuổi người bệnh và thời gian mắc bệnh: rất nhiều nghiên cứu với nhữngcông cụ đánh giá khác nhau đã khảo sát các tác động của tuổi đối với CLCS ởngười bệnh LBĐHT Tương tự với nhiều bệnh lý khác, CLCS của người bệnhLBĐHT cũng có mối tương quan không hằng định với tuổi Phần lớn cácnghiên cứu này cho thấy mối tương quan nghịch giữa tuổi và sức khỏe thểchất, chỉ có một nghiên cứu tìm thấy mối tương quan nghịch giữa tuổi và sứckhỏe tinh thần Nghiên cứu của Shen B và cs (2014) tại Trung Quốc khôngtìm thấy mối tương quan giữa điểm CLCS được đánh giá bằng công cụ SF-36
và tuổi của người bệnh LBĐHT [62] Trong khi đó, một số tác giả khác lại chỉtìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi của người bệnhLBĐHT với điểm sức khỏe thể chất mà không có liên quan với điểm sức khỏetinh thần [13],[64] Trái với các kết quả này, một số nghiên cứu lại cho thấymối tương quan có ý nghĩa thống kê của cả điểm sức khỏe thể chất và sứckhỏe tinh thần được đánh giá bằng nhiều công cụ khác nhau với tuổi củangười bệnh LBĐHT [12],[25],[39],[60]
Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và CLCS ở người bệnh LBĐHTcũng đã được khảo sát qua hàng chục nghiên cứu với những kết quả khá mâuthuẫn Một số tác giả nhận thấy, thời gian mắc bệnh càng kéo dài thì sức khỏethực thể, tâm lý và trạng thái cảm xúc càng tốt Tuy nhiên, một số nghiên cứukhác lại không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố này Các nghiên cứucủa Yilmaz-Oner S và cộng sự (2015) tại Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng công cụ đánhgiá CLCS LupusQoL [62] và nghiên cứu của Panopalis P (2005) [55] tại 3quốc gia Mỹ, Canada và Anh sử dụng công cụ SF-36 đều không tìm thấy mốiliên quan giữa thời gian mắc bệnh và CLCS của người bệnh Trái với nhữngkết quả trên, các nghiên cứu của Almehed K (2010) tại Thụy Điển [13] vàTamayo T (2010) tại Đức [64] lại ghi nhận mối tương quan nghịch có ý nghĩathống kê giữa điểm CLCS với thời gian mắc bệnh LBĐHT
Trang 35Về mối liên quan với mức độ hoạt động của bệnh, CLCS là một thông số
độc lập với các chỉ số đánh giá bệnh khác trong LBĐHT như mức độ hoạtđộng hoặc hủy hoại của bệnh [19] Mối liên quan giữa CLCS với các chỉ sốđánh giá độ hoạt động của LBĐHT là vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâmnghiên cứu nhưng cũng còn nhiều tranh cãi do có những bằng chứng tráingược nhau Một số nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan nghịch có ýnghĩa thống kê giữa mức độ hoạt động của bệnh với điểm sức khỏe thể chất
và sức khỏe tinh thần được đánh giá bằng nhiều công cụ khác nhau như giữađiểm SLEDAI và điểm WHOQOL-Bref [44], điểm SF-36 và điểm SLAQ(Systemic Lupus Activity Questionnaire) [64], điểm SF-36 và điểm SLEDAI[62] Tuy nhiên, mối liên quan giữa CLCS với mức độ hoạt động của bệnhLBĐHT là không thống nhất giữa các nghiên cứu Nghiên cứu của Chenchen
W (2001) với 54 người bệnh LBĐHT được khảo sát CLCS bằng các công cụSF-36 và EQ-5D cho thấy, điểm EQ-5D tương quan nghịch có ý nghĩa thống
kê với điểm SLEDAI nhưng điểm sức khỏe thể chất và điểm sức khỏe tinhthần được đánh giá bằng công cụ SF-36 lại không có tương quan với cả điểmSLEDAI và SLAM-R [22] Tương tự, Yilmaz-Oner S (2015) cũng không tìmthấy mối tương quan giữa chỉ số SLEDAI với điểm CLCS được đánh giábằng các công cụ LupusQoL và điểm SF-36 [62] Một số tác giả khác sử dụngcông cụ SF-36 cũng không tìm thấy mối liên quan giữa điểm sức khỏe tinhthần với mức độ hoạt động của bệnh được đánh giá bằng chỉ số SLEDAI [11],[13],[72]
Cho đến nay, phần lớn các nghiên cứu về đặc điểm CLCS ở người bệnhLBĐHT và các yếu tố có liên quan đều sử dụng công cụ đánh giá CLCSchung, không chuyên biệt cho bệnh như SF-36, EQ-5D, SF-12… Các công cụnày thường tương đối ngắn gọn, cho phép so sánh giữa nhiều bệnh lý khácnhau, tuy nhiên, chúng cũng có chứa những mục đánh giá không phù hợp và
bỏ sót một số vấn đề quan trọng của LBĐHT
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là người bệnh LBĐHT được quản lý và theo dõi
điều trị tại Phòng Quản lý bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, Bệnh viện Bạch Mai
từ 03/2018 đến 04/2018
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh đã được chẩn đoán lupus ban đỏ hệ thống theo tiêu chuẩn
SLICC 2012 (Phụ lục 1) [56]
- Đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn.
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Rối loạn tâm thần, không hợp tác nghiên cứu
- Đang mang thai
- Mắc kèm các bệnh mạn tính có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng
cuộc sống như đái tháo đường, xơ cứng bì hệ thống, viêm khớp dạng thấp,hen phế quản…
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng Quản lý bệnh Lupus và phòng
khám chuyên khoa Dị ứng - Miễn dịch Lâm sàng, khoa Khám Bệnh bệnh việnBạch Mai
- Các xét nghiệm cận lâm sàng được thực hiện tại các khoa phòng tương
ứng của bệnh viện Bạch Mai: khoa Sinh hóa, khoa Huyết học, khoa Chẩn đoánhình ảnh, khoa Thăm dò chức năng, Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng…
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ 04/2018 đến 08/2018
Trang 372.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
- Cỡ mẫu: sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả, ước tính
một tỷ lệ trong quần thể:
2 (1 /2) 2
+ n là cỡ mẫu cần nghiên cứu
+ p là tỷ lệ người bệnh dự kiến có CLCS kém (p = 36% theo Phạm ThịXuân năm 2015 [11])
+ d là khoảng sai lệch mong muốn giữa mẫu và quần thể, d = 5%
+ α là mức ý nghĩa thống kê = 0,05; với độ tin cậy 95%, Z(1- α /2) = 1,96.Với công thức trên, tính được cỡ mẫu n = 354, làm tròn bằng 360
- Cách chọn mẫu: các đối tượng nghiên cứu được chọn theo phương
pháp chọn mẫu thuận tiện Tất cả những người bệnh đủ tiêu chuẩn lựa chọntrên vào viện từ … đến … đều được chọn vào mẫu nghiên cứu, không phânbiệt tuổi, giới và mức độ bệnh
2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU
Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Phương pháp thu thập
Trang 38- Tình trạng hôn nhân
- Thời gian mắc bệnh
- Tuổi khởi phát bệnh
- Mức độ hoạt động
- Cơ quan tổ thương
- Tỷ lệ % theo hôn nhân
- Thời gian mắc trung bình
- Tuổi khởi phát trung bình
- Điểm SLEDAI trung bình
- Tỷ lệ tổn thương theo cơ quan
+ Thuốc điều trị LBĐHT+ Sức khỏe sinh sản+ Sức khoẻ thể chất+ Sức khoẻ tinh thần+ Sự đau đớn
+ Hình ảnh bản thân+ Mong muốn - mục đích+ Sự hỗ trợ từ xã hội+ Cách đối mặt với bệnh tật+ Sự hài lòng với hệ thống chăm sóc y tế và hỗ trợ của điều dưỡng
+ Điểm CLCS liên quan đến sức khỏe
+ Điểm CLCS không liên quan đến sức khỏe
+ Điểm CLCS chung
- Tỷ lệ % người bệnh có CLCS
tốt, trung bình, kém
- Thu thập thông tin từ bệnh án
- Người bệnh
tự đánh giá vàđiền vào bộ câu hỏi tự điền
Một số yếu Biến độc lập:
Trang 39- Liên quan giữa mức độ hoạt
động của bệnh với điểm CLCS
- Lên quan giữa tuổi với điểm
- Liên quan giữa tình trạng hôn
nhân với điểm CLCS
- Liên quan giữa học vấn với
điểm CLCS
Tính toándựa vào cácbiến độc lập
và biến phụthuộc
2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN
2.4.1 Công cụ nghiên cứu
a Bộ câu hỏi khảo sát: được xây dựng dựa theo bộ công cụ đánh giá chất
lượng cuộc sống Lupus-PRO phiên bản 1.7 (Theo Dua và cs năm 2013 [26]),bao gồm 3 phần chính:
A Phần 1: Các thông tin chung:
Trang 40- Biểu hiện lâm sàng: phát hiện và ghi nhận một số biểu hiện lâm sàng và
tổn thương cơ quan thường gặp của LBĐHT tại thời điểm nghiên cứu, điềnthông tin vào bệnh án nghiên cứu:
+ Viêm cầu thận lupus
+ Rối loạn tâm thần kinh: đau đầu lupus, co giật, múa vờn, trầm cảm,mất ngủ…
+ Rối loạn thị giác: đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, viêm thần kinh thị giác…+ Rụng tóc
+ Biểu hiện cơ xương khớp: viêm khớp, đau khớp, viêm cơ, đau cơ,loãng xương…
+ Tổn thương da, niêm mạc: ban cánh bướm, ban dạng đĩa, viêm loét miệng…+ Tăng huyết áp
+ Biểu hiện tiêu hóa: viêm loét dạ dày tá tràng, trào ngược dạ dày, viêm ruột…
- Mức độ hoạt động của LBĐHT: được đánh giá bằng bộ câu hỏi
SLEDAI, bao gồm 8 tiểu mục đánh giá với số điểm cho từng tiểu mục đượctrình bày trong bảng 2.2 Điểm SLEDAI được tính bằng tổng điểm của từngtiểu mục được đánh giá trong khoảng thời gian 10 ngày trước và sau thời