1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu khám chữa bệnh và một số yếu tố liên quan tại khoa khám bệnh theo yêu cầu – bệnh viện tai mũi họng trung ương năm 2017

69 116 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 333,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phòng khám chất lượng cao nội ngoại Nhi của bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh được mở với mục đích nâng cao chất lượng KCB, giảmtải thời gian chờ đợi, nhằm đáp ứng nhu cầu KCBTN

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe đã có từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt làcác nước phát triển Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hoa Kỳ đã dành8,608$ bình quân đầu người cho chăm sóc Y tế và chiếm tới 17,2% tổng sảnphẩm quốc gia [33] Ở Việt Nam từ sau khi đất nước giành được độc lập, nềnkinh tế của đất nước ngày càng nâng cao Tiếp theo đó là nhu cầu được chămsóc sức khỏe, được khám và điều trị bệnh của người bệnh cũng như của nhândân ngày càng cao Trước những tình hình đó Chính phủ đã đặt ra mục tiêu vềqui hoạch, phát triển mạng lưới khám chữa bệnh (KCB) và tầm nhìn năm 2020:

“Xây dựng và phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh phù hợp với điều kiện pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ngang tầmcác nước tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhândân hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển” [3]

Nhưng thực tế trong những năm gần đây hiện tượng quá tải tại các bệnhviện Trung ương, tình trạng vượt tuyến xảy ra hằng ngày, các cơ sở y tế tuyếndưới không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Quá tải tạicác bệnh viện cũng ảnh hưởng tới chất lượng KCB và thái độ phục vụ ngườibệnh Theo số liệu thống kê của cục quản lý KCB - BYT tính đến hết năm 2011,tình trạng quá tải các bệnh viện tuyến trung ương lên đến 36,4%, tập trung ở cácchuyên khoa sâu

Bệnh viện Tai - Mũi - Họng Trung ương là bệnh viện tuyến chuyên khoađầu ngành về tai, mũi, họng, khám và điều trị tất cả các bệnh về tai, mũi, họng

và vùng đầu mặt cổ vì vậy lượng bệnh nhân đến khám bệnh tại bệnh viện hàngngày rất đông Mặc dù bệnh viện đã có những giải pháp, những bước đi cụ thể

để cải thiện tình trạng này như triển khai một số dịch vụ khám chữa bệnh theoyêu cầu ở khoa khám bệnh, nhưng tình trạng quá tải vẫn thường xuyên diễn ra

Để góp phần đưa ra những con số về tình trạng khám chữa bệnh tại khoa khámbệnh theo yêu cầu và cung cấp bằng chứng cho Ban lãnh đạo và quản lý của

Trang 2

bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương trong việc lập kế hoạch, triển khai cungcấp các loại hình dịch vụ y tế tự nguyện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữabệnh tự nguyện (KCBTN) ngày càng cao cần có thêm các nghiên cứu cập nhật

mới nhất Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Nhu cầu khám chữa bệnh

và một số yếu tố liên quan tại khoa khám bệnh theo yêu cầu – Bệnh viện Tai

- Mũi - Họng Trung ương năm 2017” với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả nhu cầu khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh theo yêu cầu -Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2017.

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhu cầu khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh theo yêu cầu -Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2017.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Tình hình về nhu cầu khám chữa bệnh tự nguyện và một số mô hình, hoạt

động khám chữa bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh tự nguyện của nhân dân

1.1.1 Khái niệm nhu cầu khám chữa bệnh tự nguyện

Khám chữa bệnh là là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thựcthể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng đểchẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận [4]

Nhu cầu KCB tự nguyện là sự đòi hỏi, sự lựa chọn của bệnh nhân và giađình bệnh nhân đối với các dịch vụ y tế để chăm sóc sức khỏe hoặc khám chữabệnh cho bản thân hay người nhà một cách tự nguyện, phù hợp với điều kiện của

họ Họ sẵn sàng chi trả mức phí sử dụng các dịch vụ y tế cho nhà cung cấp ( bệnhviện, cơ sở y tế tư nhân, các phòng khám theo yêu cầu…) Ngược lại các nhà cungcấp dịch vụ y tế cần đầu tư cơ sở hạ tầng, trang bị máy móc, ứng dụng kỹ thuật tiêntiến hiện đại để đáp ứng nhu cầu đó Nó phản ánh nhu cầu KCB gắn liền với sựphát triển kinh tế và trình độ phát triển của xã hội về mọi mặt Khi ngành Y tế pháttriển thì nhu cầu KCB của nhân dân sẽ càng cao và rất đa dạng

1.1.2 Một số mô hình và hoạt động khám chữa bệnh tự nguyện nhằm đáp

ứng nhu cầu khám chữa bệnh tự nguyện của nhân dân

1.1.2.1 Một số mô hình khám chữa bệnh theo yêu cầu

Tại khoa khám bệnh theo yêu cầu của bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhânđăng ký KCB bằng thẻ ngân hàng với giá một thẻ là 30.000 đồng trở lên, bệnhnhân và gia đình bệnh nhân có quyền lựa chọn bác sĩ khám cho mình mà khôngcần phải xếp hàng chờ đợi lâu Quản lý bệnh án điện tử minh bạch, mọi thắcmắc đều được đáp ứng và giải thích nhanh chính xác Mỗi lần khám bác sỹ,bệnh nhân phải chi trả 50.000 đồng và giáo sư khám là 100.000 đồng Khoakhám chữa bệnh theo yêu cầu có đủ khả năng cung cấp các dịch vụ khám chữabệnh với chất lượng cao, chăm sóc toàn diện [6]

Trang 4

Ở khoa KCB theo hẹn của bệnh viện Nhi đồng 1 - Thành phố Hồ ChíMinh có hình thức KCB theo hẹn qua điện thoại nhằm đáp ứng nhu cầu củanhững phụ huynh không có thời gian, nhà ở xa muốn có cuộc hẹn ngày giờkhám cụ thể trước khi đưa trẻ đến bệnh viện tránh phải chờ đợi lâu, đỡ tốn thờigian gây mệt mỏi cho trẻ và gia đình người bệnh” trung bình một ngày có hơn

400 lượt gia đình bệnh nhân yêu cầu

Phòng khám chất lượng cao nội ngoại Nhi của bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh được mở với mục đích nâng cao chất lượng KCB, giảmtải thời gian chờ đợi, nhằm đáp ứng nhu cầu KCBTN của gia đình bệnh nhân.Một số bệnh ngoại Nhi được mổ và ra viện trong ngày, với phương thức dịch vụ

-“một điểm dừng” của phòng khám dịch vụ 9 chất lượng cao, bệnh nhân sẽ đượckhám theo yêu cầu, theo lịch hẹn, được tiếp đón, khám chữa bệnh, điều trị, phátthuốc và thông báo kết quả xét nghiệm nhanh nhất Ngoài ra bệnh nhân cònđược dược sĩ tư vấn về nguyên tắc sử dụng thuốc, tác dụng lợi hay hại củathuốc

Khoa trẻ em lành mạnh ở bệnh viện Nhi đồng 2 là khoa dịch vụ khám đặcbiệt cho trẻ từ 1 đến 24 tháng tuổi theo nhu cầu của gia đình bệnh nhân cần theodõi sức khỏe định kỳ Ngoài việc khám định kỳ thể chất các bé còn được tầmsoát các bệnh về mắt, tâm thần vận động, khoa còn phối hợp với các khoa tâm

lý, vật lý trị liệu để khám cho trẻ khi gặp các vấn đề liên quan Chi phí một lầnkhám là 150.000 đồng

1.1.2.2 Vận hành của hoạt động khám chữa bệnh ngoài giờ và theo yêu cầu

Trong kỳ họp thứ IV đại hội XIV của Ủy ban nhân dân - Hội đồng nhândân thành phố Hà Nội ra nghị quyết 06/2012/NQ-HĐND về việc thông qua Quyhoạch phát triển hệ thống y tế thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đếnnăm 2030 Mục tiêu chung là phát triển đồng bộ hệ thống y tế vừa phổ cập, vừachuyên sâu kể cả công lập và tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệsức khỏe của nhân dân Củng cố, nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở đảm bảo phục

vụ mọi nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân thuận tiện, nhanh chóng vớichất lượng dịch vụ tốt Phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu, xây dựng các tổ

Trang 5

hợp công trình y tế chất lượng tầm cỡ quốc tế, xây dựng đội ngũ nhân lực y tếThủ đô Hà Nội đủ về số lượng, có phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn,phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ y tế có chất lượng cao [8].

Cơ sở vật chất được đầu tư và nguồn vốn đầu tư: Tất cả các cơ sở KCB ngoài

giờ đều được tổ chức trên nền tảng cơ sở vật chất ban đầu của các bệnh việncông Khoảng 56% các cơ sở đã cải tạo và nâng cấp các công trình cũ, số cònlại hoàn toàn sử dụng cơ sở vật chất hiện có mà không đầu tư gì thêm Nguồnvốn cho việc nâng cấp được lấy chủ yếu (khoảng 78%) từ quỹ phúc lợi và khenthưởng của bệnh viện Một nguồn vốn khác là từ đóng góp của cán bộ côngnhân viên và từ sự đóng góp, tài trợ của các tổ chức bên ngoài Phần vốn đónggóp của nhân viên được chia lời theo dạng cổ đông Tất cả các đơn vị đầu tưnâng cấp cơ sở hạ tầng đều có trang bị thêm máy móc thiết bị Các máy mócđược mua chủ yếu là máy siêu âm, máy chụp X-quang, máy ECG và các thiết bịmáy móc khác theo yêu cầu chuyên môn của từng bệnh viện Phần lớn các bệnhviện (khoảng 89%) sử dụng quỹ phúc lợi của bệnh viện để mua sắm trang bịmáy móc, khoảng 44% bệnh viện có sử dụng thêm nguồn vốn từ cán bộ bệnhviện [15]

Nhân lực: Phần lớn nhân viên tham gia vào hoạt động KCB ngoài giờ chính là

các bác sỹ, điều dưỡng và y công trong biên chế hay hợp đồng dài hạn của bệnhviện Rất ít bệnh viện sử dụng cán bộ của mình đã về hưu hoặc ký hợp đồngngắn hạn với các nhân viên để chỉ hoạt động cho khu vực “dịch vụ” [15]

1.2 Đặc điểm về bệnh tật tai mũi họng

Bệnh lý TMH là những bệnh thông thường, hay mắc phải tại cộng đồngnhưng lại đem đến nhiều khó chịu cho bệnh nhân Các mặt bệnh TMH gồm cócác bệnh lý về từng chuyên khoa như mũi xoang, họng – thanh quản, các khối uvùng đầu mặt cổ và chấn thương TMH, tai – tiền dình, đầu mặt cổ…Trong sốcác bệnh nhân đến khám bệnh có đủ các lứa tuổi tuy nhiên số lượng trẻ emchiếm khá đông Trước đây bệnh lý TMH chủ yếu thiên về các bệnh nhiễm

Trang 6

khuẩn Ngày nay bệnh lý khối u và chấn thương cũng tăng nhanh làm cho sốlượng bệnh nhân đến KCB ngày càng nhiều.

1.3 Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến dịch vụ khám chữa

“Quyền và nghĩa vụ của người bệnh” Gồm 10 điều (từ điều 7 đến điều 16) chialàm 2 mục:

- Mục 1: Quyền của người bệnh được qui định từ điều 7 đến điều 13 vềquyền được khám bệnh chữa bệnh có chất lượng phù hợp vói điều kiện thực tế,quyền được lựa chọn trong KCB…

- Mục 2: Nghĩa vụ của người bệnh từ điều 14 đến điều 16 trong đó có các quiđịnh về nghĩa vụ chi trả chi phí KCB

Nghị định 10/2002/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP: Tự chủ tronghoạt động và tài chính của các cơ sở y tế công được quy định trước tiên trongNghị định 10 Với việc áp dụng Nghị định 10, quá trình phân quyền đã đượcthúc đẩy và bệnh viện được giao trách nhiệm lớn hơn trong việc đưa ra quyết

Trang 7

định của mình Trong khi đó, Chính phủ vẫn mở rộng phạm vi các hoạt động tựchủ với việc điều chỉnh lại Nghị định 10 bằng Nghị định 43 Đây là những vănbản pháp luật cho phép tạo cơ chế mới cho phép khai thác nguồn lực của xã hộicho công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập Cùng với việc sửa đổinày, các bệnh viện có quyền tự chủ nhiều hơn trong vấn đề nhân sự (cán bộ hợpđồng, đào tạo cán bộ, thành lập hay chấm dứt cơ sở cung cấp dịch vụ), lập ngânsách (do đó ngân sách cố định được cấp bởi chính phủ và ngân sách còn lại đượcđảm bảo bởi bệnh viện), quyết định cung cấp loại hình dịch vụ gì và quản lýdịch vụ như thế nào (tăng lương và thưởng, quy chế thu và chi) Nghị định 10/43chủ yếu áp dụng cho các cơ sở y tế công giúp tạo ra nguồn thu ổn định từ việcthu viện phí (bệnh nhân trả tiền trực tiếp) Bệnh viện sử dụng nguồn thu này đểmua sắm trang thiết bị, nâng cấp cơ sở KCB chất lượng hơn nhằm đáp ứng tốthơn nhu cầu KCB của gia đình bệnh nhân.

Còn nghị định 85/ 2012/ NĐ – CP về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chínhđối với đơn vị sự nghiệp Y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh củacác cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập

1.4 Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về nhu cầu khám chữa

bệnh tự nguyện

1.4.1 Trên thế giới

Năm 1996, nghiên cứu của Van der Stuyft, P, SC Sorensen & E Delgado

về nhu cầu tìm kiếm dịch vụ KCB của người dân tại vùng nông thôn Guatemalacho thấy: Qua phỏng vấn 324 bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị mắc bệnh như sốt, tiêuchảy, ho, thiếu máu…có 63% - 83% bà mẹ tin tưởng vào chăm sóc tại nhà, tỷ lệ

sử dụng dịch vụ y tế (DVYT) là rất thấp (khoảng 15%), mặc dù các DVYT ởđây dễ tiếp cận Nghiên cứu này cho thấy các yếu tố liên quan đến sự lựa chọndịch vụ KCB phụ thuộc vào trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp, sự công bằng

xã hội cũng như mức độ bệnh tật của trẻ [32]

Shipman C & Dale J (1996) nghiên cứu về sự đánh giá của bác sỹ đốivới nhu cầu khám chữa bệnh ngoài giờ theo các nhu cầu về thể chất, tâm sinh lý

và xã hội ở một vùng của Vương quốc Anh cho thấy 66% các yêu cầu khám

Trang 8

bệnh ngoài giờ có liên quan đến các yêu cầu về thể chất, tâm sinh lý và xã hội và10,7% các trường hợp là không xác định được mối liên quan Thêm vào đó, có36,9% nhu cầu là mong muốn tư vấn trực tuyến điện thoại Kết quả của khámngoài giờ gồm 27,9% được kê đơn về nhà điều trị, gửi khám chuyên khoa16,8%, chuyển viện khác khám và điều trị 3,3% [27].

Năm 2002, Salisbury xem xét các nghiên cứu nhu cầu về dịch vụ khámbệnh ngoài giờ của bác sỹ ở nước Anh cho biết, tất cả các dịch vụ khám bệnhngoài giờ đều có chi phí gia tăng (night visit fee) Chi phí này khác nhau giữacác vùng miền, trình độ và các bác sỹ khác nhau [25]

Kajal & Guibo (2003) tiến hành nghiên cứu phân tích nhu cầu dịch vụchăm sóc sức khỏe ngoại viện của các cựu chiến binh được hỗ trợ bởi Medicarephát hiện rằng số tiền chênh sau khi được Medicare hỗ trợ và khoảng cách từnhà đến bệnh viện làm giảm khả năng lựa chọn dịch vụ chăm sóc ngoại viện.Một số yếu tố khác như thu nhập, tình trạng bảo hiểm, phương tiện đi lại, côngviệc, sức khỏe và tình trạng chẩn đoán cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọndịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại viện [34]

LG Glynna, M Byrnea, J Newellb and AW Murphya (2004) nghiên cứu về

sự ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe đối với sự hài lòng của người bệnh khi sửdụng dịch vụ ngoài giờ được bác sỹ gia đình cung cấp ở Cộng hòa Ireland chothấy người bệnh có tình trạng sức khỏe yếu hơn có mức độ hài lòng cao hơn vớidịch vụ này Đồng thời họ cũng khuyến nghị đây là một trong các chỉ số để triểnkhai dịch vụ ngoài giờ [30]

Năm 2007, Eric và cộng sự tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám, chămsóc và điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấyrằng bác sỹ tiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấp cứuchỉ phải tiếp nhận 12% các dịch vụ này Phần lớn các nhu cầu khám ngoài giờcủa các đối tượng nam giới trưởng thành là các chấn thương, trong đó có 19% làcác chấn thương gãy xương [26]

Nghiên cứu về nhu cầu sử dụng dịch vụ KCB có liên quan tới tình trạngkinh tế cũng được nhiều tác giả đề cập đến Năm 2009, Kristianson và cộng sự

Trang 9

đã tiến hành nghiên cứu tại khu vực Amazon của Peru với mục đích điều tra nhucầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) và sử dụng thuốc có liên quanđến tình trạng kinh tế hộ gia đình tại 2 cộng đồng vùng Amazon của Peru và chothấy: những gia đình nghèo nhất ít tìm đến các dịch vụ KCB cũng như sử dụngthuốc cho trẻ cả bệnh nhẹ cũng như bệnh nặng chứng tỏ rằng điều kiện về kinh tếđóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn và ảnh hưởng đến nhu cầu KCB [24].

1.4.2 Ở Việt Nam

1.4.2.1 Thực trạng cung cấp và tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tự nguyện

Năm 2001, Sở Khoa học công nghệ & Môi trường và Sở Y tế Thành phố

Hồ Chí Minh đã triển khai một điều tra khảo sát nhằm xác định các loại hình

“dịch vụ” đang tồn tại trong các bệnh viện thành phố Hầu hết các loại hìnhkhám chữa bệnh “dịch vụ” đầu tiên ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu của ngườibệnh, sự quá tải trong việc khám chữa bệnh ngoài giờ và tăng nguồn thu nhậpcho nhân viên y tế Loại hình “dịch vụ” đầu tiên ra đời tại các các cơ sở y tế nhànước là KCB ngoài giờ Thời điểm ra đời của các loại hình khám chữa bệnh

“dịch vụ” đầu tiên rất khác nhau, rải rác từ năm 1980 đến năm 1995 Vào thời

kỳ 90 - 95, hàng loạt các cơ sở y tế thành lập mới hoặc mở rộng các loại hoạtđộng dịch vụ ngoài giờ Có khoảng 65,3% các cơ sở y tế được khảo sát đã thànhlập các loại hình khám chữa bệnh “dịch vụ” Tại thời điểm đó, hầu hết việcthành lập các hình thức khám chữa bệnh trên chưa có một quy chế chính thứcnào từ các cơ quan lãnh đạo [15]

Loại hình khám chữa bệnh “dịch vụ” tại các cơ sở y tế, các bệnh viện khá

đa dạng, bao gồm: khám chữa bệnh ngoài giờ, phòng dịch vụ, khoa điều trị tựnguyện, can thiệp ngoại khoa theo yêu cầu, khám bệnh theo yêu cầu và chuyênmôn khác (siêu âm, xét nghiệm, nội soi, x-quang…) Hầu hết các cơ sở y tế(khoảng 87,5%) triển khai dịch vụ khám chữa bệnh ngoài giờ và phòng khámdịch vụ Rất nhiều các bệnh viện thực hiện nhiều loại hình “dịch vụ” cùng mộtlúc [15]

Hành vi tìm kiếm và sử dụng DVYT là một quá trình tương tác của nhiềuyếu tố Các mức độ lựa chọn DVYT cũng khác nhau ở mỗi đối tượng, mỗi nhóm

Trang 10

đối tượng Ngoài ra còn phụ thuộc vào sự thuận tiện, giờ giấc, thời gian làmviệc, thủ tục hành chính, thái độ nhân viên y tế, chất lượng DV và thuốc mencũng như trình độ chuyên môn của thầy thuốc.

Hiện nay, ở Việt Nam đa số bệnh nhân đều có khả năng tiếp cận cácDVYT, kể cả người nghèo Ước tính toàn quốc có khoảng 100 triệu lượt ngườiđược khám bệnh trong năm 2006, trong đó số người có thẻ BHYT chiếm tỷ lệ1/3 Tỷ lệ sử dụng dịch vụ KCB nội trú giữa người giàu và người nghèo làkhông chênh lệch nhiều Tuy nhiên xét về các tuyến KCB thì có sự chênh lệchlớn giữa người giàu và người nghèo

1.4.2.2 Tình trạng quá tải các bệnh viện

Quá tải bệnh viện là nguyên nhân gây nên những bức bối trong KCB nhưchất lượng KCB giảm, thời gian chờ đợi khám và xét nghiệm lâu, thái độ giaotiếp giữa nhân viên y tế và BN thiếu chuẩn mực…đã làm tăng lên nhu cầu tìmkiếm các dịch vụ y tế theo yêu cầu, phòng khám tự nguyện, chất lượng cao…

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trên toàn hệ thống KCB, mặc dù có xu hướngcông suất sử dụng giường bệnh giảm nhẹ từ 118% năm 2008 xuống 111% năm

2010 nhưng tình trạng quá tải lại xuất hiện trầm trọng hơn ở tuyến Trung ươngvới công suất sử dụng giường bệnh chung ở tuyến Trung ương là 116% năm

2009, 120% năm 2010 và 118% năm 2011 Đặc biệt là tình trạng quá tải ở cácbệnh viện trung ương: Bệnh viện K: 172%; Bệnh viện Bạch Mai: 168%; Bệnhviện Chợ Rẫy 139%; Bệnh viện đa khoa Trung ương Quảng Nam 114%; Bệnhviện Nhi Trung ương: 119%; Bệnh viện Bệnh nhiệt đới 124% [7]

Nghiên cứu mới đây của Lê Quang Cường và cộng sự cho thấy một sốnguyên nhân gây quá tải bệnh viện làm tăng nhu cầu KCB của người dân:

- Nhu cầu KCB của người dân ngày càng tăng trong khi chỉ tiêu giường bệnhthấp và tăng không tương xứng với nhu cầu KCB

- Chất lượng KCB tại tuyến dưới không đảm bảo dẫn tới mất lòng tin củabệnh nhân và sự thiếu tuân thủ quy định chuyển tuyến, chuyển tuyến ngược:80% bệnh nhân đến KCB tại tuyến trung ương là do họ tin tưởng vào dịch vụ ởtuyến trung ương, tỉ lệ bệnh nhân vượt tuyến ở BV tuyến trung ương là 75%;

Trang 11

90% bệnh nhân KCB ở khoa khám bệnh BV Nhi trung ương có thể KCB tạituyến dưới; 56% bệnh nhân nội trú ở BV phụ sản là đẻ thường hoặc viêm nhiễmnội khoa có thể chữa tại tuyến dưới, thậm chí tại trạm y tế xã, 58% bệnh nhân ở

BV tuyến tỉnh và 20,7% bệnh nhân ở BV huyện có thể xử lý tại cơ sở y tế tuyếndưới [11]

- Chính sách giá viện phí và BHYT trong đó giá và cơ chế chi trả không phùhợp dẫn tới bệnh nhân có xu hướng bỏ tuyến

- Nguồn lực đầu tư cho y tế chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhu cầu khám,chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong giai đoạn hiện nay Trong khi

cơ sở vật chất, nguồn lực phát triển một số bệnh viện còn nhiều khó khăn thì nhucầu KCB và ý thức của người dân với sức khỏe tăng cao, người dân thường lựachọn những bệnh viện tuyến Trung ương Điều đó làm cho sự quá tải càng lớnhơn

- Do diễn biến phức tạp của bệnh dịch, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn và

sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm Bên cạnh đó, với chính sách ưu việt

về chăm sóc sức khỏe nhân dân như thẻ BHYT cho người nghèo, trẻ em dưới 6tuổi, đối tượng ưu tiên chính sách, tỷ lệ tham gia BHYT tăng, từ mức 49% năm

2007 nay đạt mức 62% dân số (năm 2011), đã khuyến khích người dân đi KCBnhiều hơn, làm gia tăng nhu cầu KCB của nhân dân

- Một trong những nguyên nhân gây ra quá tải bệnh viện phải kể đến là nănglực chuyên môn của y tế cơ sở vẫn còn hạn chế, trang thiết bị một số bệnh việnchưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu của tuyến điều trị

- Mặt khác, cơ chế tài chính đối với các bệnh viện công còn nhiều bất cập, cơchế hoạt động của hệ thống y tế còn chậm đổi mới, chưa phù hợp với quy luậtcung cầu, quy luật giá trị của nền kinh tế thị trường; chất lượng dịch vụ y tế đãđược cải thiện nhưng chưa tương xứng với yêu cầu của xã hội Giá viện phíthấp, chậm thay đổi để phù hợp với giá thị trường Tất cả đã làm phá vỡ tuyếnđiều trị, dồn ép bệnh nhân lên tuyến trên [7],[11],[10]

1.4.2.3 Tính công bằng, minh bạch trong khám chữa bệnh tự nguyện

Trang 12

Không có sự phân công riêng biệt cho các giáo sư, bác sỹ giỏi ở khoaKCBTN, việc KCBTN đều được thực hiện theo đúng qui trình chuyên môn củaBYT Những ca bệnh khó đều phải hội chẩn với sự tham gia của các giáo sư, bác

sỹ giỏi, không có phân biệt giàu nghèo, có BHYT hay không Bằng chứng là tạicác bệnh viện thì bệnh nhân nghèo có BHYT vẫn được hưởng y tế kỹ thuật caovới mức giá viện phí bằng với mức giá qui định tại thông tư 14 và thông tư 03.Không có sự khác nhau về chất lượng chuyên môn KCB giữa các đối tượngkhám thông thường và KCBTN Giữ được sự công bằng, minh bạch trong côngtác KCB Việc lựa chọn các giáo sư, bác sỹ giỏi khám có mức phí cao hơn dochất lượng khám tốt hơn là yêu cầu tự nguyện của bệnh nhân và gia đình bệnhnhân [13]

Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn, Hoàng Khải Lập (2002) tại một sốbệnh viện thuộc tỉnh Lào Cai cho thấy không có sự khác nhau về thái độ phục vụ

và chăm sóc sức khỏe giữa người có thẻ BHYT và người phải trả viện phí bệnhnhân có BHYT vẫn mua thuốc bên ngoài (47%) và 50,8% số BN không từngdùng thẻ BHYT để KCB [20]

1.5 Những nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến nhu cầu khám chữa

bệnh tự nguyện

Trong điều tra Y tế Quốc gia năm 2001-2002, trẻ em dưới 5 tuổi là nhóm

có tỷ lệ ốm cao, đây cũng là đối tượng được quan tâm nhất trong sử dụng cácdịch vụ CSSK (59% là trẻ có độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi) Việc lựa chọn và nhu cầuKCB lại phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng dịch vụ y tế, tình trạng bệnh của trẻ,điều kiện kinh tế gia đình, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế và nhu cầu cầnthiết của gia đình bệnh nhân [2]

Nghiên cứu thực trạng sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ dưới 6 tuổi tại trạm

Y tế phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội của Trần Mạnh Tùng năm 2008 chokết quả trong số trẻ bị ốm thì nhóm trẻ dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ 90,9%, các bệnh

về tiêu chảy và hô hấp chiếm đa số 53% Sự lựa chọn dịch vụ Y tế tại trạm Y tếphường 24,2%, tuyến trên 39,1%, đến các cơ sở Y tế tư nhân 23,7% Lý do cácbậc cha mẹ không cho con KCB tại trạm là vì không tin tưởng vào trình độ

Trang 13

chuyên môn của cán bộ y tế, trạm không đủ thuốc, mức độ bệnh của trẻ nặng, tựđưa trẻ đi KCB theo ý muốn và nhu cầu của gia đình [21].

Bùi Thùy Dương nghiên cứu nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ vàtại nhà của BN và GĐBN năm 2010 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã kết luậntrình độ học vấn của gia đình bệnh nhân chủ yếu là đại học và sau đại học(54,8%-63,4%), công nhân viên chức (50,8-51,6%) Cả bệnh nhân và gia đìnhbệnh nhân đều có nhu cầu cao sử dụng dịch vụ CSSK tại nhà và ngoài giờ(53,3%-90,3%) nhất là khám dịch vụ vào ngày thứ 7, chủ nhật Bệnh nhân cóBHYT hay khả năng chi trả của bệnh nhân ảnh hưởng đến nhu cầu của họ Cònđối với đối tượng ở nông thôn hay thành thị, bệnh nhẹ hay nặng thì nhu cầuKCB là như nhau [14]

Nguyễn Thị Kim Dung (2012) nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tốliên quan đến sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ dưới 5 tuổi của người dân xã SơnĐồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội cho thấy kinh tế gia đình và khả năng sẵn sàngchi trả cho dịch vụ KCB khi con ốm là rất cao: trong số 385 người có con ốmđược phỏng vấn thì 96,4 % người sẵn sàng chi trả phí dịch vụ KCB miễn là chấtlượng cao, thuận tiện và hài lòng Ngoài ra nghiên cứu cũng cho thấy nhóm tuổicủa các bà mẹ từ 25 đến 35 có nhu cầu sử dụng dịch vụ KCB cho con là caonhất; 72,7% các bà mẹ sẵn sàng đưa con ốm tới các cơ sở y tế có uy tín, chấtlượng cao; 50,9% lựa chọn cơ sở y tế gần nhà và 59,1% các bà mẹ lựa chọn dokinh nghiệm đã đưa trẻ đến khám những cơ sở y tế lần trước [12]

1.6 Thông tin về Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương

1.6.1 Thông tin chung về bệnh viện

Đầu năm 1953, được phép của bộ Y Tế, dưới sự lãnh đạo của bác sỹ TrầnHữu Tước, Bệnh khoa Tai Mũi Họng trực thuộc Bộ đã được thành lập ở an toànkhu (ATK) Việt Bắc Đó chính là tiền thân của Bệnh viện Tai Mũi Họng ngàynay Tháng 10/1954, Bệnh khoa Tai Mũi Họng chuyển về Hà Nội tiếp quảnKhoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Bạch Mai do Bác sỹ Võ Tấn cùng với các bác sỹ,nhân viên của Khoa đấu tranh với thực dân Pháp để giữ lại cơ sở vật chất,phương tiện, trang thiết bị y tế Sau khi tiếp quản Bệnh viện Bạch Mai trong đó

Trang 14

có Khoa Tai Mũi Họng, bác sĩ Trần Hữu Tước được cử giữ chức giám đốc Bệnhviện, đồng thời trực tiếp lãnh đạo Khoa Tai Mũi Họng Bác sĩ Trần Hữu Tước làmột trong 8 vị giáo sư đầu ngành được Nhà nước phong tặng học hàm Giáo sưđầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Vào năm 1961, Hội Tai Mũi Họng Việt Nam được thành lập, sự kiện này

đã thúc đẩy quá trình phát triển của ngành Tai Mũi Họng

Năm 1967, cùng sự lớn mạnh của Khoa Tai Mũi Họng, sự trưởng thànhcủa đội ngũ cán bộ chuyên môn, cộng với nhu cầu khám chữa bệnh ngày cànglớn của nhân dân Khoa Tai Mũi Họng đã được Bộ Y Tế quyết định tự quản lý

về tổ chức, hành chính, chuyên môn và chỉ đạo tuyến về TMH Thời gian này đãhình thành và bước đầu phát triển một số phân môn chính như: Tai, ung thư,thanh học, tai mũi họng nhi và TMH tổng hợp Đây có thể coi là bước chuẩn bịcho việc thành lập Viện Tai Mũi Họng sau này

Ngày 14/7/1969, giữa lúc cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống chiếntranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc đang diễn ra quyết liệt, Viện Tai MũiHọng đã được thành lập theo Quyết định số 111/CP ngày 14/07/1969 của Hộiđồng Chính phủ, một Viện chuyên khoa có giường bệnh đầu ngành cả nước,hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Y tế

Trải qua 48 năm phát triển và trưởng thành, bệnh viện Tai Mũi HọngTrung ương hiện là đơn vị đầu ngành về Tai Mũi Họng trong cả nước, Bệnh viện

đã xây dựng quy hoạch phát triển đến năm 2020, tầm nhìn 2030 để vươn tới tầmcao mới và phấn đấu trở thành trung tâm có uy tín về Tai Mũi Họng trong khuvực và trên thế giới

Trang 15

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức của bệnh viện

1.6.2 Nhiệm vụ cụ thể của Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương

- Duy trì và phát triển các kỹ thuật mũi nhọn của bệnh viện, mở rộng qui mô,nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ trongbệnh viện, chú trọng công tác phòng bệnh, giải quyết các vấn đề bệnh lý sớm tạicộng đồng

- Thúc đẩy nghiên cứu khoa học, tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách trongcông tác chăm sóc sức khỏe, đồng thời hướng tới hội nhập quốc tế và phát triển

- Chủ động và phối hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, để từng bướcgiải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực cho ngành Tai Mũi Họng, tiến tớingày một nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho bệnh viện và toàn hệ thống ytế

- Tăng cường nâng cao công tác chỉ đạo tuyến, hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật cótrọng tâm, trọng điểm theo đúng nhu cầu cấp thiết của địa phương (tuyến dưới)

Trang 16

- Tranh thủ và mở rộng các nguồn lực hợp tác quốc tế.

- Từng bước chuyên nghiệp hóa công tác quản lý bệnh viện theo hướng tiêuchuẩn và chất lượng, lấy bệnh nhân làm trung tâm, lấy hiệu quả làm thước đo

- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ viên chức, xây dựng mộtmôi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp

1.6.3 Giới thiệu về khoa khám bệnh - Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương

Khoa Khám bệnh, tiền thân là Phòng Khám bệnh, được thành lập ngay từngày đầu thành lập Bệnh viện Năm 2000 được đổi tên thành Khoa Khám bệnhvới chức năng nhiệm vụ:

- Khám và tư vấn điều trị cho người bệnh đến khám chữa bệnh;

- Điều trị ngoại trú trong chuyên khoa tai mũi họng;

- Hội chẩn các bệnh nhân liên viện;

- Tham gia đào tạo Bác sỹ và Điều dưỡng chuyên khoa từ các tuyến có nhu cầu

- Hợp tác nghiên cứu khoa học của Bệnh viện và trường y Hà Nội;

- Khám chẩn đoán và điều trị bệnh viêm mũi xoang dị ứng đơn thuần hay kếthợp các bệnh dị ứng khác;

- Thực hiện các xét nghiệm chuyên khoa dị ứng phục vụ bệnh nhân và điều trịnội, ngoại trú;

- Tạo nguồn kinh phí cho Bệnh viện

Những thành tựu cơ bản: Từ năm 2008 cho đến nay khoa khám bệnh đã triển

khai:

- Khám bệnh bằng nội soi góp phần chẩn đoán phát hiện sớm các khối u tạivùng tai mũi họng;

- Ứng dụng laser trong điều trị bệnh lý tai mũi họng;

- Tăng cường công tác điều trị ngoại trú;

- Tham gia đào tạo Bác sỹ và Điều dưỡng chuyên khoa từ các tuyến có nhucầu;

- Nghiên cứu các đề tài cấp Bộ, cấp cơ sở và áp dụng các kỹ thuật trong côngtác khám, chữa bệnh;

- Hợp tác nghiên cứu khoa học của Bệnh viện và trường y Hà Nội;

- Số lượng bệnh nhân ngày một tăng, trung bình từ 600 - 800 lượt/ngày

Trang 17

1.5.3.1 Cơ cấu tổ chức nhân sự:

Hiện nay, Khoa khám bệnh có 33 cán bộ công nhân viên Trong đó có 9bác sĩ: 2 bác sĩ có trình độ tiến sĩ, 4 thạc sĩ, 1 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 1 bác

sỹ chuyên khoa cấp I và 1 bác sỹ định hướng về Tai Mũi Họng Khoa có 22 điềudưỡng gồm có 4 đại học và 2 hộ lý, hiện có tất cả điều dưỡng đều học điềudưỡng chuyên khoa tai mũi họng Có 3 lãnh đạo khoa (trình độ chuyên khoa II)

Ngoài ra khoa khám bệnh còn ký hợp đồng với các GS, TS, BS đầu ngànhcác khoa phòng trong viện, các chuyên khoa sâu niêm yết tên danh sách cụ thể

để cho bệnh nhân tự lựa chọn theo yêu cầu của mình

1.5.3.2 Định hướng phát triển của khoa khám bệnh

- Xây dựng mô hình phòng khám theo yêu cầu một cách tiên tiến, hiện đạinhất trong nước và khu vực đối với ngành Tai Mũi Họng

- Không ngừng nâng cao chất lượng KCB và CSSK với điều kiện y tế tốtnhất

- Đi đầu trong hoạt động nghiên cứu khoa học y học, đào tạo chuyển giaocông nghệ cho các đơn vị có nhu cầu

- Tăng cường hợp tác quốc tế và ứng dụng các công nghệ tiên tiến hiện đạitrong quản lý y tế

- Tiến tới đạt 100% sự hài lòng của gia đình bệnh nhân mỗi khi đến KCB

Trang 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu:

Người đến khám bệnh và người đến khám sức khỏe

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Người đến khám bệnh và người đến khám sức khỏe (người sử dụng dịch vụ): Các đối tượng phải thỏa mãn được các tiêu chuẩn dưới đây:

- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên; người đưa người bệnh đi khám với bệnhnhân < 18 tuổi được mời tham gia nghiên cứu

- Không có các dấu hiệu của các tổn thương về tinh thần và nhận thức đểhoàn thiện bộ câu hỏi

- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Những người không đồng ý tham gia vào nghiên cứu sau khi được giảithích rõ mục đích và mục tiêu của nghiên cứu

- Các đối tượng không đáp ứng được các tiêu chuẩn lựa chọn nói trên

- Người bệnh đang trong tình trạng bệnh rất nặng hoặc đang trong tìnhtrạng cấp cứu

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2017 tạikhoa khám bệnh theo yêu cầu – Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian tiến hành nghiên cứu cụ thể như sau:

- Thu thập và xử lý số liệu: từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2017

- Phân tích số liệu và viết báo cáo: từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Trang 19

Cỡ mẫu: Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính theo công thức sau:

p = 0,92: Tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu đến khám vào thứ 7 và chủ nhật

trong nghiên cứu của Trần Thanh Long năm 2011 [16]

d = 0,03: Độ chính xác tuyệt đối

n: cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu

Dựa vào các chỉ số và công thức trên đã tính được cỡ cỡ mẫu là 314

Để dự phòng một tỷ lệ nhất định số người bệnh được chọn làm đối tượngnghiên cứu từ chối hoặc không tiếp cận được, cỡ mẫu sẽ được tăng thêm 10%.Như vậy, tổng số mẫu điều tra tối thiểu là 345 Thực tế, chúng tôi đã chọn được

361 đối tượng tham gia vào nghiên cứu

Cách chọn mẫu:

Cỡ mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, tất cả các đối tượng đến khám bệnh sẽ được lựa chọn vào nghiên cứu cho tới khi đủ cỡ mẫu

2.2.3 Các biến số nghiên cứu

Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu

biến Đặc điểm của người sử dụng dịch vụ

Nhân khẩu học

Tuổi Tỷ lệ bệnh nhân

theo nhóm tuổi Tính theo tuổi dương lịch

LiêntụcGiới

Tỷ lệ nam, nữ trong nhóm bệnhnhân NC

− Nam

− Nữ

Nhịphân

Tình trạng hôn nhân

Tỷ lệ bệnh nhân chưa kết hôn, đã kết hôn, ly hôn, góa

− Chưa có vợ/chồng

− Đang sống với vợ/chồng

− Ly thân/ly dị

− Góa

Địnhdanh

Trình độ học vấn Tỷ lệ bệnh nhân − Tiểu học/Dưới tiểu Thứ

Trang 20

Biến số Chỉ số Định nghĩa biến số Loại

biến

theo trình độ họcvấn

− Công nhân viên chức

− Lao động tự do

− Hưu trí

− Khác

Địnhdanh

Thời gian làm việc

Tỷ lệ bệnh nhân

có thời gian làm việc tự do, làm theo ca hoặc làmgiờ hành chính

− Tự do

− Làm ca

− Hành chính

Địnhdanh

Khoảng cách từ nhà đến viện tính bằng km

Liêntục

Thu nhập cá nhân và

gia đình

Tỷ lệ đối tượng

có thu nhập cá nhân trên và dưới 3 triệu

Thu nhập cá nhân, bình quân đầu người trên tháng

Liêntục

Sự hài lòng và đánh giá của người bệnh về bệnh viện

Cơ sở vật chất và trang

thiết bị

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về cơ sở vậtchất, trang thiết

bị tại bệnh viện

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về cơ sở vật chất và trang thiết bị tại bệnh viện(từ rất không hài lòng đếnrất hài lòng)

Thứhạng

Vệ sinh khoa phòng và

an ninh

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về vệ sinh khoa phòng và

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về vệ sinh khoa phòng và an ninh tại bệnhviện (từ rất không hài lòng đến rất hài lòng)

Thứhạng

Trang 21

Biến số Chỉ số Định nghĩa biến số Loại

biến

an ninh tại bệnh viện

Trình độ chuyên môn

của cán bộ

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về về trình

độ chuyên môn tại bệnh viện

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về trình độ chuyên môn của cán bộ tại bệnh viện (từ rất không hài lòng đến rất hài lòng)

Thứhạng

Thái độ phục vụ

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về thái độ của nhân viên y

tế tại bệnh viện

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về thái độ phục vụ tại bệnh viện (từ rất không hài lòng đến rất hàilòng)

Thứhạng

Thủ tục khám bệnh

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về thủ tục khám bệnh tại bệnh viện

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về thủ tục khám bệnh tại bệnh viện (từ rất không hài lòng đến rất hàilòng)

Thứhạng

Thủ tục nhập viện

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về thủ tục nhập viện

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về thủ tục nhập viện tại bệnh viện (từ rất

không hài lòng đến rất hàilòng)

Thứhạng

Thủ tục bảo hiểm y tế

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về thủ tục BHYT tại bệnh viện

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về thủ tục bảo hiểm

y tế tại bệnh viện (từ rất không hài lòng đến rất hàilòng)

Thứhạng

Thời gian chờ đợi

khám bệnh và xét

nghiệm

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về thời gianchờ khám bệnh

và xét nghiệm tại

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về thời gian chờ đợi khám và xét nghiệm tại bệnh viện (từ rất không hài lòng đến rất hài lòng)

Thứhạng

Trang 22

Biến số Chỉ số Định nghĩa biến số Loại

biến

bệnh viện

Viện phí

Tỷ lệ đối tượng rất không hài lòng đến rất hài lòng về viện phí tại bệnh viện

Mức độ hài lòng của bệnhnhân về viện phí tại bệnh viện (từ rất không hài lòng đến rất hài lòng)

Thứhạng

Mục tiêu 1: Mô tả nhu cầu khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh theo yêu cầu -Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2017

Nhu cầu khám buổi

chiều ngày thường

Tỷ lệ bệnh nhân rất không có nhucầu đến rất có nhu cầu khám buổi chiều ngày thường

Mức độ nhu cầu khám bệnh vào buổi chiều các ngày trong tuần tại bệnh viện (từ không nên đến rất nên)

Thứhạng

Nhu cầu khám ngoài

giờ ngày thường

Tỷ lệ bệnh nhân rất không có nhucầu đến rất có nhu cầu khám ngoài giờ ngày thường

Mức độ nhu cầu khám bệnh ngoài giờ hành chính tại bệnh viện (từ không nên đến rất nên)

Thứhạng

Nhu cầu khám thứ 7,

chủ nhật

Tỷ lệ bệnh nhân rất không có nhucầu đến rất có nhu cầu khám thứ 7, CN

Mức độ nhu cầu khám bệnh vào thứ 7 và Chủ Nhật tại bệnh viện (từ không nên đến rất nên)

Thứhạng

Nhu cầu đăng ký khám

qua điện thoại

Tỷ lệ bệnh nhân rất không có nhucầu đến rất có nhu cầu đăng ký khám bệnh qua điện thoại

Mức độ nhu cầu đăng ký khám bệnh qua điện thoạitại bệnh viện (từ không nên đến rất nên)

Thứhạng

Nhu cầu đăng ký khám

qua internet

Tỷ lệ bệnh nhân rất không có nhucầu đến rất có nhu cầu đăng ký khám bệnh qua internet

Mức độ nhu cầu đăng ký khám bệnh qua Internet tại bệnh viện (từ không nên đến rất nên)

Thứhạng

Trang 23

Biến số Chỉ số Định nghĩa biến số Loại

biến

Khả năng chi trả viện

phí

Tỷ lệ bệnh nhân rất có khả năng đến rất có khả năng chi trả việnphí tăng thêm

Mức độ khả năng chi trả viện phí của bệnh nhân đối với các dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu (từ rất không có KN đến rất có khả năng)

Thứhạng

Mục tiêu 2: Mô tả một số yếu tố liên quan đến nhu cầu khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh theo yêu cầu -Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2017

Mối liên quan giữa tuổi

và nhu cầu khám chữa

bệnh

Tuổi ảnh hưởng đến nhu cầu khám chữa bệnh

RờirạcMối liên quan giữa

giới và nhu cầu khám

chữa bệnh

Giới ảnh hưởng đến nhu cầu khám chữa bệnh

NhịphânMối liên quan giữa

trình độ học vấn và

nhu cầu khám chữa

bệnh

Trình độ học vấn ảnh hưởng đến nhu cầu khám chữa bệnh

Danhmục

Mối liên quan giữa

nghề nghiệp và nhu

cầu khám chữa bệnh

Nghề ghiệp ảnh hưởng đến nhu cầu khám chữa bệnh

DanhmụcMối liên quan giữa thu

nhập cá nhân và gia

đình và nhu cầu khám

chữa bệnh

Thu nhập ảnh hưởng đến nhu cầu khám chữa bệnh

Liêntục

Mối liên quan giữa

thời gian làm việc và

nhu cầu khám chữa

bệnh

Thời gian làm việc ảnh hưởng đến nhu cầu khám chữa bệnh

Danhmục

Mối liên quan giữa nơi

Liêntục

Trang 24

Biến số Chỉ số Định nghĩa biến số Loại

ThứhạngMối liên quan giữa có

hay không có bảo hiểm

y tế và nhu cầu khám

chữa bệnh

Có hay không có bảo hiểm y tế ảnh hưởng đến nhu cầu khám chữa bệnh

Nhịphân

2.2.4 Quy trình thu thập thông tin

- Công cụ nghiên cứu: Bộ câu hỏi phỏng vấn thiết kế sẵn, gồm 2 phầnchính (phần A và phần B)

+ Phần A: gồm 13 câu hỏi, thu thập các thông tin chung của đốitượng (tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo…)

+ Phần B: gồm 30 câu hỏi, thu thập các thông tin về nhu cầu, sự hàilòng và khả năng chi trả của đối tượng về nhu cầu khám chữa bệnh.Các mức độ về nhu cầu, sự hài lòng và khả năng chi trả dựa trênthang điểm Liker (từ tệ nhất đến tốt nhất)

- Kỹ thuật: phỏng vấn

Trước khi tiến hành thu thập số liệu, các điều tra viên được tập huấn vềphương pháp và nội dung thu thập thông tin và giải thích các thắc mắc liên quanđến nghiên cứu, bộ câu hỏi và quy trình nghiên cứu trong thời gian từ 1 – 2ngày Công tác thu thập số liệu về người bệnh sẽ được thực hiện trong tháng3/2017 đến tháng 9/2017 Công tác giám sát thu thập số liệu được tiến hànhđồng thời do các nghiên cứu viên chính đảm nhiệm

Ngay sau khi đề cương nghiên cứu được thông qua cùng với sự chấpthuận cho tiến hành nghiên cứu thực địa của Hội đồng Khoa học và Hội đồngĐạo đức của Trường Đại học Thăng Long, công tác thu thập số liệu chính thứcđược triển khai

Người khám sức khỏe, người đến khám bệnh tại Khoa Khám bệnh theoyêu cầu – Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, điều tra viên tiếp cận với đốitượng trước khi sử dụng dịch vụ để giới thiệu về nghiên cứu Sau khi đối tượng

Trang 25

đã sử dụng các dịch vụ của bệnh viện, điều tra viên phỏng vấn trực tiếp bằng bộcâu hỏi thiết kế sẵn.

2.2.5 Sai số và biện pháp khống chế sai số

Các sai số hệ thống có thể mắc phải trong nghiên cứu này là sai số thôngtin (sai số phỏng vấn)

Các biện pháp khống chế sai số được áp dụng bao gồm chuẩn hoá bộ câuhỏi thông qua điều tra thử, tập huấn điều tra viên một cách kỹ lưỡng và giám sátchặt chẽ quá trình điều tra

2.2.6 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi được thu thập sẽ được làm sạch và nhập vào máy tínhbằng phần mềm Epidata 3.1 Phần mềm thống kê Stata 12 được sử dụng trongphân tích số liệu Cả thống kê mô tả và suy luận được thực hiện Mức ý nghĩathống kê α=0,05 được sử dụng trong thống kê suy luận

− Các trắc nghiệm thống kê để đánh giá sự khác biệt giữa các tỷ lệ như khibình phương/Fisher's exact test được sử dụng

− Để tìm mối tương quan giữa một số đặc điểm của người sử dụng dịch vụ vớinhu cầu sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ , tỷ suất chênh (OR)

2.2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được sự chấp thuận của Hội đồng khoa học Trường Đại họcThăng Long Trước khi tham gia vào nghiên cứu, tất cả các đối tượng nghiêncứu sẽ được cung cấp thông tin rõ ràng liên quan đến mục tiêu và nội dungnghiên cứu Họ sẽ được thông báo là họ tự nguyện quyết định tham gia vàonghiên cứu bằng cách ký nhận vào bản đồng ý tham gia nghiên cứu Tất cảnhững thông tin thu thập được từ các đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật.Không có câu trả lời nào là đúng hay sai và họ có quyền dừng sự tham gia hoặcrút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào Việc từ chối tham gia hay rút khỏi nghiêncứu sẽ không ảnh hưởng gì đến chất lượng khám và điều trị cho người bệnh

Nghiên cứu chỉ nhằm thu thập thông tin về nhu cầu sử dụng dịch vụ loạihình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng như khả năng đáp ứng của bệnh viện Từ

Trang 26

đó, Ban lãnh đạo bệnh viện sẽ có những bằng chứng quan trọng cho việc lập kếhoạch và quản lý điều hành hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện.

Trang 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=361)

Nhóm tuổi 30 – 50 tuổi chiếm 63,4%; dưới 30 tuổi chiếm 21,1% và nhóm

từ 50 tuổi trở lên chiếm 15,5%

Trang 28

Tỷ lệ nam và nữ khá ngang bằng nhau 55,7% là nam và 44,3% là nữ giới.

Đa số đối tượng thuộc dân tộc kinh (98,9%); không theo tôn giáo nào(100%) và đang sống với vợ/ chồng (90,6%)

Về trình độ học vấn, phần lớn các đối tượng đã tốt nghiệp THPT (39,9%)

Có 77,0% đối tượng có khoảng cách từ nhà đến viện từ 25 km trở lên và83,4% đối tượng có bảo hiểm y tế

Biểu đồ 3.1 Sự hài lòng và đánh giá của người bệnh về bệnh viện (n=361)

Nhận xét:

Đa số các đối tượng tham gia vào nghiên cứu đều cảm thấy hài lòng vềbệnh viện: 90% đối tượng hài lòng, 6,4% đối tượng rất hài lòng về cơ sở vậtchất; 85,8% đối tượng hài lòng và 9,4% đối tượng rất hài lòng về vệ sinh và anninh trong bệnh viện; 76,2% đối tượng hài lòng và 19,9% đối tượng rất hài lòng

về trình độ chuyên môn của NVYT; 62,9% đối tượng hài lòng và 11,9% đốitượng rất hài lòng về thái độ của NVYT; 62,3% đối tượng hài lòng và 7,2% đốitượng rất hài lòng về thời gian chờ đợi; 65,1% đối tượng hài lòng và 5,8% đốitượng rất hài lòng về thủ tục khám bệnh

Trang 29

3.2 Nhu cầu khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh theo yêu cầu

Bảng 3.2 Điểm mức độ ưu tiên lựa chọn các dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu

Nhận xét:

Trong các dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu, đối tượng nghiên cứu chođiểm ưu tiên lựa chọn dịch vụ khám giáo sư cao nhất với điểm trung bình là 4,34điểm; sau đó là dịch vụ khám bác sỹ chuyên khoa với điểm trung bình là 4,30điểm; dịch vụ đăng ký khám qua điện thoại được cho điểm ưu tiên triển khaithấp nhất đạt 3,93 điểm

Biểu đồ 3.2 Điểm mức độ ưu tiên triển khai dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu

(n=361)

Nhận xét:

Đa số các đối tượng đều cho rằng nên và rất nên triển khai các dịch vụkhám bệnh theo yêu cầu; chỉ có 0,6% đối tượng cho rằng nên nhưng khó khả thikhi triển khai dịch vụ khám, điều trị ngoại trú; 0,3 % đối tượng cho rằng khôngnên triển khai dịch vụ đăng ký khám qua điện thoại, đăng ký khám qua internethay xét nghiệm theo yêu cầu

Trang 30

Bảng 3.3 Điểm mức độ nhu cầu về dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu (n=361)

Nhận xét:

Trong các dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu, đối tượng nghiên cứu chođiểm về nhu cầu với dịch vụ khám giáo sư cao nhất với điểm trung bình là 4,30điểm; sau đó là dịch vụ khám bác sỹ chuyên khoa với điểm trung bình là 4,29điểm; dịch vụ đăng ký khám qua điện thoại được cho điểm nhu cầu thấp nhất đạt3,93 điểm

Trang 31

Biểu đồ 3.3 Mức độ nhu cầu về các dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu (n=361)

Nhận xét:

Đa số các đối tượng đều có nhu cầu hoặc rất có nhu cầu với các dịch vụkhám bệnh theo yêu cầu đặc biệt là dịch vụ khám giáo sư và khám bác sỹchuyên khoa; chỉ có 0,9% đối tượng không có nhu cầu/ rất không có nhu cầu vớidịch vụ khám và điều trị nội trú; 0,3% đối tượng không có nhu cầu với dịch vụđăng ký khám qua điện thoại/ internet

Trang 32

Bảng 3.4 Điểm mức độ khả năng chi trả của người bệnh về dịch vụ khám bệnh

theo yêu cầu (n=361)

Khám Bác sỹ chuyên khoa tăng 20% 3,79 ± 0,61 2 5 4

Khám tổng quát, định kỳ: tăng 10% 3,81 ± 0,58 2 5 4

Khám, theo dõi trong ngày tăng 20% 3,79 ± 0,59 2 5 4

Đăng ký hẹn qua điện thoại tăng 15% 3,79 ± 0,58 2 5 4Nhận xét:

Điểm trung bình khả năng chi trả của người bệnh về các dịch vụ khámbệnh theo yêu cầu đều đạt từ 3,78 điểm trở lên trong đó cao nhất là điểm khảnăng chi trả đối với dịch vụ khám tổng quát, định kỳ tăng 10% đạt 3,81 điểm

Trang 33

Biểu đồ 3.4 Khả năng chi trả của người bệnh về dịch vụ khám bệnh theo yêu

cầu (n=361)

Nhận xét:

Đa số các đối tượng đều có khả năng chi trả các dịch vụ khám bệnh theoyêu cầu; có 8,9% đối tượng không có khả năng chi trả với dịch vụ khám bác sỹchuyên khoa/ khám giáo sư; 8,3% đối tượng không có khả năng chi trả với dịch

vụ khám, theo dõi trong ngày; 8,0% đối tượng không có khả năng chi trả vớidịch vụ xét nghiệm/ khám định kỳ, tổng quát/ đăng ký khám qua điện thoại

Trang 34

3.3 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu khám chữa bệnh tại khoa khám

bệnh theo yêu cầu

Bảng 3.5 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về

dịch vụ Khám bác sỹ chuyên khoa (n=361)

Đặc điểm của người bệnh

Nhu cầu về dịch vụ khám chuyên khoa

Ngày đăng: 28/09/2019, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Thị Kim Dung (2013) Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dưới 5 tuổi của người dân xã Sơn Đồng huyện Hoài Đức - Hà Nội năm 2012, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đếnsử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dưới 5 tuổi của người dân xã SơnĐồng huyện Hoài Đức - Hà Nội năm 2012
13. Trương Việt Dũng và cộng sự (2004) "Nghiên cứu tính công bằng trong sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh qua điều tra Y tế hộ gia đình.". Tạp chí nghiên cứu Y học, 27 (1), 140 - 146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính công bằng trong sửdụng dịch vụ khám chữa bệnh qua điều tra Y tế hộ gia đình
16. Trần Thanh Long (2011) Khảo sát nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại bệnh viện đại học y hà nội năm 2010, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường đại học y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏengoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại bệnh viện đại học y hà nộinăm 2010
17. Hoàng Văn Minh, Kim Bảo Giang (2010) "Tỷ lệ hiện mắc, mô hình sử dụng dịch vụ y tế và chi phí điều trị một số bệnh mạn tính của người dân Thành phố Hà Đông". Tạp chí nghiên cứu Y Học, 70 (5), 1 – 7, 43 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ hiện mắc, mô hình sửdụng dịch vụ y tế và chi phí điều trị một số bệnh mạn tính của người dân Thànhphố Hà Đông
18. Hà Thị Soạn (2007) Đánh giá sự hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh đối với công tác khám chữa bệnh tại một số bệnh viện tỉnh Phú Thọ năm 2006 - 2007. Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng - Hội nghị Khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thứ Ba. 17 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng - Hội nghịKhoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thứ Ba
20. Nguyễn Minh Tuấn, Hoàng Khải Lập (2002) "Thực trạng khám chữa bệnh của bệnh nhân có Bảo hiểm y tế và bệnh nhân phải trả viện phí tại một số bệnh viện thuộc tỉnh Lào Cai". Tạp chí y học thực hành, 9, 37 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng khám chữa bệnhcủa bệnh nhân có Bảo hiểm y tế và bệnh nhân phải trả viện phí tại một số bệnhviện thuộc tỉnh Lào Cai
21. Trần Mạnh Tùng (2008) Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dưới 6 tuổi tại trạm Y tế phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh chotrẻ dưới 6 tuổi tại trạm Y tế phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội
22. Bùi Thị Dương Vân (2011) Đánh giá sự hài lòng của người bệnh với hoạt động khám bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương, Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện, Đại học y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự hài lòng của người bệnh với hoạtđộng khám bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương
23. Phạm Nhật Yên (2008) Đánh giá sự hài lòng của NB về chất lượng dịch vụkhám chữa bệnh tại Khoa khám bênh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Đại học y tế công cộng,TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự hài lòng của NB về chất lượng dịch vụ"khám chữa bệnh tại Khoa khám bênh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai
24. Kristiansson C and et al (2009) "Access to health care in relation to socioeconomic status in the Amazonian area of Peru". Int J Equity Health, 8, 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Access to health care in relation tosocioeconomic status in the Amazonian area of Peru
25. Salisbury C (2002) "The demand for out-of-hours care from GPs: a revie".Family Practice, 17, 340-347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The demand for out-of-hours care from GPs: a revie
26. Eric P Moll van Charante, Pauline CE van Steenwijk-Opdam, and Patrick JE Bindels (2007) "Out-of-hours demand for GP care and emergency services: patients' choices and referrals by general practitioners and ambulance services". BMC Fam Pract, 8-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Out-of-hours demand for GP care and emergencyservices: patients' choices and referrals by general practitioners and ambulanceservices
27. Shipman C. &amp; Dale J. (1999) "Responding to out-of-hours demand: the extent and nature of urgent need". Family Practice, 16, 23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Responding to out-of-hours demand: theextent and nature of urgent need
28. Jacox AK, Bausell BR, Mahrenholz DM (1997) "Patient satisfaction with nursing care in hospitals". Outcomes Manag Nurs Pract, 1 (1), 20-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patient satisfaction withnursing care in hospitals
29. Jenkinson C, Coulter A, Bruster S et al (2002) "Patients’ experiences and satisfaction with health care: results of a questionnaire study of specific aspects of care". Qual Saf Health Care, 11 (4), 335-339 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patients’ experiences andsatisfaction with health care: results of a questionnaire study of specific aspectsof care
19. Trương Quang Trung, Lưu Ngọc Hoạt, Bùi Văn Lệnh (2009) Nghiên cứu thời gian của người bệnh và gia đình họ trong quy trình khám bệnh tại Khoa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w