1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn tại tỉnh sơn la

82 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 5,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin điểm qua một số công trình khoa học đã được công bố sau đây: - Ở góc độ luận văn: Luận văn Thạc sỹ luật học của Lê Thị Bích Lan “Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

PHẠM VĂN THÀNH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC

VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ THỰC TIỄN

TẠI TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

PHẠM VĂN THÀNH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC

VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ THỰC TIỄN

TẠI TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 8380103

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đình Nghị

HÀ NỘI - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ, đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích và thực tiễn tại tỉnh Sơn La”, là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các

số liệu, trích dẫn trong Luận văn, đảm bảo trung thực, khách quan

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 6

1.1 Một số vấn đề lý luận về tai nạn giao thông đường bộ 6

1.1.1 Định nghĩa về tai nạn giao thông đường bộ 6

1.1.2 Đặc điểm của tai nạn giao thông đường bộ 9

1.2 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ 15

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ 15

1.2.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ 15

1.2.3 Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 16

1.3 Phạm vi bồi thường và cơ sở xác định mức bồi thường thiệt hại 19

1.3.1 Phạm vi bồi thường thiệt hại 19

1.3.2 Cơ sở xác định mức bồi thường thiệt hại 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ GÂY RA 29

2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 29

2.1.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra 29

2.1.2 Có việc gây thiệt hại trái pháp luật 30

2.1.3 Có quan hệ nhân quả giữa việc gây thiệt hại và thiệt hại thực tế 31

2.2 Xác định thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật 32

2.2.1 Thiệt hại về tài sản 32

2.2.2 Thiệt hại liên quan đến sức khỏe, tính mạng 34

2.2.3 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại 42

2.3 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong TNGT đường bộ 44

2.3.1 Đối với TNGT đường bộ do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 45

Trang 5

2.3.2 TNGT đường bộ do hành vi trái pháp luật gây ra 46 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ GÂY RA TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 49 3.1 Khái quát chung về điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội của tỉnh Sơn La 49

3.2 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời

gian gần đây 49 3.2.1 Địa bàn xảy ra tai nạn giao thông đường bộ 49

3.2.2 Phương tiện, nguồn gây tai nạn giao thông đường bộ và nguyên nhân

gây ra tai nại 51 3.2.3 Chủ thể, độ tuổi gây ra tai nạn giao thông đường bộ 52

3.2.4 Thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trong những năm qua 53 3.3 Thực tiễn giải quyết, xử lý về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn

giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời gian qua 54

3.3.1 Bồi thường thiệt hại trong giai đoạn điều tra, xử lý vi phạm hành chính

của cơ quan công an 54 3.3.2 Bồi thường thiệt hại theo quyết định của Tòa án 57

3.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tai

nạn giao thông đường bộ gây ra 61 3.4.1 Về vấn đề lỗi của người gây ra tai nạn giao thông đường bộ 61

3.4.2 Cần tăng mức bồi thường đối với thiệt hại về tính mạng khi người gây

thiệt hại có lỗi cố ý 61

3.4.3 Bổ sung quy định về trách nhiệm vận hành, sử dụng, bảo quản, trong

giữ vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ 62

3.4.4 Về phương thức hoàn lại tiền bồi thường thiệt hại cho pháp nhân, chủ

làm công 63 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 64 PHẦN KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Tai nạn luôn tiềm ẩn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống thường ngày Ở nước ta, giao thông vận tải đường bộ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân nhưng tai nạn xảy ra trong quá trình hoạt động giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay đang được coi là một vấn nạn vì liên tục xảy ra và con số người bị tử nạn do tai nạn giao thông gây ra còn nhiều hơn

so với dịch bệnh, đại dịch bệnh Ngoài ra, tai nạn giao thông đường bộ còn mang đến tổn thất nặng nề vật chất cho toàn xã hội nói chung Vì vậy, công cuộc phòng chống tai nạn giao thông là nhiệm vụ cấp bách, thiết thực thuộc chương trình hành động quốc gia Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã tương đối cụ thể và đầy đủ Tuy nhiên, việc áp dụng quy định của pháp luật để giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trong thực tế còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm Chẳng hạn, thế nào là tai nạn, tai nạn giao thông đường bộ; áp dụng loại trách nhiệm nào để giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong từng vụ tai nạn giao thông cụ thể; ai là người phải bồi thường thiệt hại…là những vấn đề còn nhiều tranh cãi Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ được đặt ra khi có đủ bốn điều kiện: Có thiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Để nghiên cứu và làm rõ hơn về các loại trách nhiệm được áp dụng khi giải quyết các vụ tai nạn giao thông đường bộ, từ đó tìm ra điểm bất cập, hạn chế và cách khắc phục những hạn chế đó trong thực tiễn ở địa bàn tỉnh Sơn

Trang 7

La, tôi chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn

giao thông đường bộ và thực tiễn tại tỉnh Sơn La” cho Luận văn này

2 Tình hình nghiên cứu

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu với nhiều công trình khoa học đã được công bố Tôi xin điểm qua một số công trình khoa học đã được công bố sau đây:

- Ở góc độ luận văn: Luận văn Thạc sỹ luật học của Lê Thị Bích Lan

“Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng,

sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín” trường Đại học luật Hà Nội năm

1999; Luận văn Thạc sỹ luật học của Nguyễn Minh Châu “Bồi thường thiệt

hại trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, một số vấn đề lý luận

và thực tiễn” trường Đại học luật Hà Nội năm 2006; Luận văn Thạc sĩ Luật

học của Nguyễn Ngọc Ánh năm 2017: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hải Phòng” trường Đại học luật Hà nội năm 2017 Tuy vậy, những luận văn

này chỉ nghiên cứu chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

mà chưa nghiên cứu về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

- Công trình khoa học là luận án: Luận án Tiến sĩ luật học của Nguyễn

Thanh Hồng về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao

thông đường bộ” trường Đại học luật Hà nội năm 2001; Luận án Tiến sĩ của

Phạm Kim Anh về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại - Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn” Trường đại học Luật Hà Nội năm 1997; Luận án của Nguyễn

Thanh Hồng nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trong phạm vi toàn quốc

- Ngoài ra, có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật liên

quan đến đề tài như “Bàn về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng” của TS Phùng Trung Tập (Tạp chí Luật học số 10/2004);

Trang 8

hay “Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm

cao độ gây ra” của Hoàng Đạo, Vũ Thị Lan Hương (Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp số 13/2013)… Tuy nhiên, nội dung trong các bài viết này nghiên cứu trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và hiện nay đã được thay thế bởi Bộ luật dân sự năm 2015 Do đó, nội dung này cần được tiếp tục nghiên cứu xem xét theo quy định hiện hành

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao

thông và thực tiễn tại tỉnh Sơn La” được nghiên cứu hướng tới mục đích sau

đây:

- Xác định bản chất của tai nạn giao thông; xác định các loại trách nhiệm bồi thường trong tai nạn giao thông; xác định trách nhiệm được áp dụng để giải quyết các vụ tai nạn giao thông đường bộ;

- Tìm hiểu, thống kê tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Sơn La và thực tế áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn tỉnh Sơn La trong ba năm gần đây nhất

- Thể hiện quan điểm của cá nhân trong việc áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết việc bồi thường trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ Xác định sự phù hợp cũng như tìm ra các bất cập trong quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và nêu hướng hoàn thiện đối với các bất cập, hạn chế đó

Với mục đích trên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và việc vận dụng quy định đó để giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Sơn La

Trang 9

4 Các phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh đối chiếu, tổng hợp để xem xét đưa ra cách hiểu thống nhất và khoa học về những quy định của pháp luật có liên quan đến các vấn đề mà đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu Tác giả cũng sử dụng số liệu thống kê của các cơ quan chuyên môn để xác định tình hình thực tế về tai nạn giao thông trên địa bàn được xác định theo đề tài và thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt khoa học, trên cơ sở phân tích lý luận khoa học, đề tài đã đưa ra nhiều khái niệm mang tính học thuật như: Khái niệm về tai nạn; tai nạn giao thông đường bộ; trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông; phương tiện giao thông đường bộ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ; xác định các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan đến tai nạn giao thông đường bộ

Về mặt thực tiễn, trên cơ sở khoa học đã được phân tích, đề tài đã xác định một cách cụ thể trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ thì trường hợp nào áp dụng trách nhiệm bồi thường do hành vi của con người gây ra, trường hợp nào áp dụng trách nhiệm bồi thường thiêt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Qua đó, đề tài cũng xác định cụ thể về người phải bồi thường thiệt hại theo từng trường hợp cụ thể

6 Kết cấu của đề tài

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trong phạm vi nghiên cứu đã được xác định, đề tài được kết cầu theo ba chương sau đây:

Trang 10

Chương I Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ

Chương II Quy định của pháp luật hiện hành về bồi thương thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ gây ra

Chương III Thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ gây ra trên địa bàn tỉnh Sơn La và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 Một số vấn đề lý luận về tai nạn giao thông đường bộ

1.1.1 Định nghĩa về tai nạn giao thông đường bộ

Tai nạn giao thông đã có từ rất lâu đời trong lịch sử phát triển của loài người Năm 1896, tại Anh chiếc ô tô chạy thử sau khi xuất xưởng đã cán chết hai người Và ba năm sau, ở Mỹ lại có một người chết do ô tô gây nên, từ đó những cái chết do phương tiện giao thông gây nên ngày càng nhiều Và ngày nay, tai nạn giao thông đã ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng hơn…nó đang dần trở thành hiểm họa không chỉ với một quốc gia mà là cả thế giới Ở Việt Nam, vấn đề tai nạn giao thông đang trở thành một vấn đề nhức nhối, được xã hội quan tâm Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm tai nạn giao thông đường bộ cướp đi sinh mạng của 1,3 triệu người, làm hơn 50 triệu người bị thương và gây thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 518 tỉ đô la

Tai nạn giao thông đã xuất hiện từ rất lâu nhưng chưa có định nghĩa thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của nó Về cơ bản một vụ tai nạn giao thông thường có những đặc tính như: Được thực hiện bằng những hành

vi cụ thể; Gây ra những thiệt hại nhất định về tính mạng, sức khỏe con người, vât, tài sản, ; Chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi phải là người tham gia giao thông; Lỗi vô ý hay không có lỗi

Nghiên cứu quan niệm tai nạn giao thông (TNGT) của các quốc gia trên thế giới cho thấy: Tại khoản 1, mục 1, Điều 2 Luật Giao thông đường bộ Nhật

Bản, định nghĩa “TNGT là các sự vụ phát sinh gây tử vong hoặc bị thương do

TNGT được phát sinh bởi phương tiện giao thông cơ giới hoặc phương tiện đường sắt” Tuy nhiên, khái niệm này chỉ đề cập đến hậu quả đối với sức

Trang 12

khỏe, tính mang của con người mới coi là tại nạn giao thông mà chưa đề cập đến thiệt hại khác về vật chất Hơn nữa, cách định nghĩa này cũng không rõ ràng, “tại nạn giao thông là… do tai nạn giao thông….”

Tại Liên Bang Nga, mục 1.2, giải thích từ ngữ của Luật Giao thông

đường bộ, định nghĩa “TNGT là sự kiện phát sinh trong quá trình phương tiện

giao thông di chuyển trên đường dẫn đến làm chết người, bị thương người, làm hỏng phương tiện giao thông, công trình, hàng hóa hay là nguyên nhân gây ra các thiệt hại vật chất khác” Về cơ bản, khái niệm này khá rõ ràng và

đầy đủ, mô tả chi tiết về biểu hiện và hậu quả của tai nạn giao thông

Ở Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau về TNGT đường bộ được đưa ra bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân Dưới góc độ quản lý nhà nước và theo chức năng, nhiệm vụ được giao hiện nay có hai khái niệm về TNGT đường bộ được quy định tại Thông tư số 58/2009/TT-BCA ngày 28/10/2009 của Bộ trưởng Bộ công an quy định và hướng dẫn, tổng hợp, xây dựng cơ sở

dữ liệu, cung cấp thông tin TNGT đường bộ Theo đó, “TNGT đường bộ là sự

việc xảy ra do người tham gia giao thông đang hoạt động trên mạng lưới giao thông đường bộ vi phạm các qui định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ hay gặp phải sự cố bất ngờ gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Nghị

định số 97/2016/ NĐ – CP, ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định nội dung

chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia quy định “TNGT

là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng (gọi là mạng lưới giao thông: Đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không), nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do

Trang 13

gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản”

Trong phạm vi ngành, hiện có khái niệm TNGT đường bộ do Bộ Y tế

đưa ra “TNGT là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con

người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn công cộng nhưng

do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự

cố đột xuất không kịp phanh, tránh, gây thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe” 1

Dưới góc độ học thuật, qua tìm hiểu có hàng chục khái niệm do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đưa ra Có thể nêu một số dẫn chứng cụ thể như sau: Theo Trung tá, TS Lê Huy Trí, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu An

toàn giao thông, Học viện Cảnh sát nhân dân “TNGT đường bộ là va chạm

giao thông, có liên quan đến một phương tiện giao thông đường bộ đang di chuyển, trên mạng lưới giao thông đường bộ công cộng mà công chúng có quyền tiếp cận, bao gồm: va chạm giữa các phương tiện giao thông đường bộ; giữa phương tiện và người đi bộ; giữa phương tiện và thú vật hoặc các chướng ngại cố định, với một phương tiện khác không có người, gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc tài sản”2 Dước góc độ nghiên cứu của mình, tác giả Đỗ Đình Hòa định nghĩa

“TNGT là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra

khi các đối tượng tham gia giao thông trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng nhưng do chủ

1

Cục Cảnh sát giao thông – Bộ Công an (2016), “Báo cáo tổng quan hội thảo Công tác thống kê, báo cáo đánh giá tai nạn giao thông, Thực trạng và những giải pháp kiến nghị”, Hội thảo khoa học “Thống kê, báo cáo đánh giá tai nạn giao thông, Thực trạng và những giải pháp kiến nghị”, Hà Nội, Tr.10

2

“Bàn về khái niệm tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam” Trung tá, TS Lê Huy Trí, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ATGT, Học viện Cảnh sát nhân dân, Chuyên đề An toàn giao thông số 12/2016

Trang 14

quan, vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản của Nhà nước và nhân dân”3.

Theo tác giả Vũ Mạnh Thắng “TNGT là sự việc xảy ra bất ngờ do người

tham gia giao thông hoặc vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông hoặc gặp phải tình huống, sự cố đột xuất, không kịp xử lý, có thiệt hại về tính mạng sức khỏe con người, thiệt hại về tài sản4 Đây có thể nói là cách định nghĩa ngắn gọn mà đầy đủ về tai nạn giao thông

Như vậy, có thể thấy mỗi khái niệm, định nghĩa về TNGT và TNGT đường bộ đều mang những đặc điểm chung nhất định Khái quát lại, tôi xin

trình bày khái niệm TNGT đường bộ theo quan điểm của tôi như sau “TNGT

đường bộ là một sự việc gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông hoặc sự kiện bất khả kháng xảy ra trong quá trình tham gia giao thông đường bộ”

1.1.2 Đặc điểm của tai nạn giao thông đường bộ

Từ việc phân tích và xây dựng khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm về tai nạn giao thông như sau:

Thứ nhất, TNGT đường bộ là một sự kiện xảy ra do hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ của con người hoặc do các sự kiện bất khả kháng gây nên khi đang tham gia giao thông đường bộ

Có thể nói đây là một đặc điểm dễ nhận thấy của một vụ TNGT đường

bộ Bởi lẽ, pháp luật luôn đặt ra những quy định nhằm đảm bảo an toàn giao thông đường bộ như cấm vượt đèn đỏ, không được điều khiển phương tiện

3 Bộ công an (1997), “Tai nạn giao thông, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, trang 20

4 Tạp chí Công an nhân dân, số 9/1999, Bộ công an, trang 12 “Quy định của pháp luật về tai nại, va chạm giao thông đường bộ”

Trang 15

giao thông vượt quá tốc độ cho phép,…Trong trường hợp có TNGT xảy ra, các quy định về an toàn giao thông sẽ được xem xét đầu tiên để biết được người điều khiển phương tiện có vi phạm quy định về an toàn giao thông hay không Và thông thường nếu hành vi vi phạm gây tai nạn giao thông thì người điều khiển sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi đó Tuy nhiên, không phải bất kì hành vi vi phạm an toàn giao thông nào cũng đều là nguyên nhân gây nên vụ TNGT đường bộ

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Trong quá trình tham gia giao thông đường bộ có một số sự kiện bất khả kháng có thể xảy ra như mưa bão, cây cối

đổ, nhà cửa, công trình sập,…Khi những sự kiện bất khả kháng xả ra, người tham gia giao thông không kịp xử lý hoặc có xử lý nhưng không kịp thời dẫn đến TNGT đường bộ

Thứ hai, TNGT đường bộ có thể gây ra một hay nhiều loại thiệt hại Cụ thể TNGT đường bộ chỉ gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người và tài sản, không gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và uy tín

Xuất phát từ thực tế có thể dễ dàng nhận thấy, hậu quả của TNGT nói chung TNGT đường bộ nói riêng dẫn đến những thiệt hại đáng kể hoặc vô cùng nghiêm trọng đối với con người Tùy vào mức độ của vụ tai nạn mà thiệt hại xảy ra được xác định ở các mức khác nhau Thiệt hại ở đây chủ yếu là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người và tài sản, đặc biệt không có trường hợp gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và uy tín của con người Danh dự cá nhân là sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân đó, dựa trên những giá trị đạo đức, phẩm chất tốt đẹp; nhân phẩm cá nhân là những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó; uy tín cá nhân thể hiện

sự tín nhiệm, miễn phục của cộng đồng hoặc một bộ phận dân cư đối với cá

Trang 16

nhân đó Các hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể kể đến là hành vi làm nhục, vu khống,…5

TNGT đường bộ dẫn đến thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và tài sản là dễ thấy Thực tế cho thấy, mỗi vụ TNGT đường bộ đều ít nhiều để lại những thiệt hại Đó có thể là gây nên thương tích cho con người – người lái xe hoặc người đi bộ qua đường hoặc gây thiệt hại về tài sản như hỏng phương tiện giao thông, chi phí sửa chữa phương tiện, chi phí nằm bệnh viện,… hoặc có những trường hợp mà hậu quả để lại nặng nề hơn thế, đó là đánh đổi bằng cả tính mạng con người

Thứ ba, các vụ TNGT đường bộ xảy ra từ nhiều nguyên nhân khác nhau

TNGT đã xuất hiện từ lâu đời, việc nghiên cứu về nguyên nhân gây TNGT đã được rất nhiều nhà nghiên cứu thực hiện và rút ra những giải pháp nhằm hạn chế TNGT Từ những phân tích và nghiên cứu có thể rút ra những nguyên nhân cơ bản gây TNGT sau đây:

Nguyên nhân từ hành vi của con người: Điều này có nghĩa là nguyên

nhân chủ quan dẫn tới TNGT là hành vi của con người Hành vi này mang lỗi

vô ý hoặc là không có lỗi chứ không mang lỗi cố ý

Một hành vi gây tai nạn mang lỗi cố ý không phải là vụ TNGT đường bộ thông thường bởi lẽ Người gây tai nạn ý thức được hành vi của mình, ý thức được hậu quả xảy ra nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi đó dẫn tới hậu quả gây tai nạn Hành vi mang lỗi cố ý sẽ bị xử lý trách nhiệm hình sự tùy vào mức độ nghiêm trọng của hậu quả việc thực hiện hành vi

Ví dụ: Anh A và anh B cùng đem lòng yêu say đắm chị H Vì điều kiện gia đình, học vấn cũng như vẻ ngoài anh A đều tốt hơn anh B nên chị H đã nhận lời yêu anh A, bỏ mặc anh B theo đuổi qua năm tháng Vì lẽ đó, anh B

5

PGS.TS Nguyễn Văn Cừ - PGS TS Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm 2016

Trang 17

đã ghét anh A và chị C Vào một ngày, anh B đến công ty nơi anh A và chị C làm việc, khi hai người họ về nhà, anh B cũng về theo Trên đường anh B nhiều lần cố ý đi sát hai người, rồ ga và nói những lời không hay Hậu quả dẫn đến anh A bị ngã xe, thương tích 61% chị C tử vong Đây không được coi

là TNGT bởi rõ ràng hành vi của anh B là cố ý, anh B biết được việc mình làm sẽ có thể dẫn đến tai nạn nhưng vẫn cố ý thực hiện Một hành vi mang lỗi

vô ý hoặc không có lỗi mà gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người và tài sản mới được coi là TNGT Hành vi mang lỗi vô ý như: hành vi vi phạm

an toàn giao thông đường bộ (đi sai làn đường, điều khiển xe vượt quá tốc độ, vượt đèn đỏ, nồng độ cồn vượt quá mức cho phép khi điều khiển phương tiện giao thông,…) gây tai nạn giao thông

Hành vi của con người là nguyên nhân dẫn đến các vụ TNGT đường bộ bao gồm: Hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, hành vi của người tham gia giao thông đường bộ khác (người đi bộ, người bang qua đường,…), hành vi gây cản trở giao thông đường bộ (đỗ xe trái quy định, chiếm dụng lòng đường làm trái quy định, bán hàng trên vỉa hè, ) Hoặc không có lỗi của người điều khiển phương tiện giao thông nhưng vẫn gây tai nạn giao thông, ví dụ như ngày mưa bão sương mù che chắn tầm nhìn, người sang đi bộ đột nhiên sang đường,…

Nguyên nhân từ phương tiện giao thông đường bộ: thực tế cho thấy có

rất nhiều vụ TNGT đường bộ xảy ra mà nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn là xuất phát từ phương tiện giao thông Ví dụ trường hợp nổ lốp khi xe đang chạy, mất phanh khi xe đang xuống dốc,… Đối với những TNGT đường bộ

mà nguyên nhân là do phương tiện giao thông đường bộ gây ra thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định là trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Nguyên nhân từ các sự kiện bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết

Trang 18

Sự kiện bất khả kháng trong các vụ TNGT có thể là bão, lũ lụt, sóng thần, động đất, chiến tranh

Còn tình thế cấp thiết là nhìn thấy nguy cơ gây thiệt hại cho người khác là rất lớn và đã thực hiện một hành vi gây thiệt hại khác gây thiệt hại nhỏ hơn nhằm tránh được thiệt hại lớn đó Chẳng hạn như vụ tai nạn giao thông xảy ra vào khoảng 13h ngày 29/03/2018, trên đường 359C (đoạn trước cổng Trung tâm dạy nghề và sát hạch lái xe Nam Triệu, xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng), đã xảy ra vụ tai nạn giao thông liên hoàn Lái xe tải gây tai nạn được xác định là anh Đỗ Văn Tiến (xóm 3, Kỳ Sơn, Thủy Nguyên, Hải Phòng) Trong quá trình điều khiển xe, anh Tiến đã gặp phải…… Nhận thấy mối nguy hiểm đặc biệt sẽ xảy ra, anh Tiến đã quyết định đánh lái để tránh vụ tai nạn thảm khốc Tuy nhiên, xe tải lại đâm vào xe con và một xe khác ven đường, gây thiệt hại về tài sản6 Có thể thấy, nguyên nhân xảy ra tai nạn trong tình huống này không xuất phát từ người điều khiển phương tiện mà bắt nguồn từ một sự kiện khác, trong tình thế cấp thiết buộc anh Tiến phải đưa ra quyết định này để giảm thiểu thiệt hại do vụ tai nạn gây ra

Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác dẫn đến TNGT đường bộ như đường xá nhỏ hẹp chỉ phù hợp với các loại xe di chuyển chậm, mật độ thưa; các con đường đang được nâng cấp, tu sửa nên dễ dẫn đến các sự cố Lượng

xe lưu thông quá nhiều, mật độ lớn mà đa phần là xe ô tô, mô tô phân khối lớn điều này dễ dàng dẫn đến TNGT Đội ngũ điều hành, quản lý giao thông

có trình độ yếu, hoạt động kém hiệu quả cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến TNGT đường bộ

6

http://cafef.vn/vu-tai-xe-danh-lai-cuu-nguoi-dang-khen-ngoi-nhung-van-phai-boi-thuong-20180403092803512.chn

Trang 19

Việc các chủ thể gây ra TNGT đường bộ cũng phát sinh trách nhiệm pháp lý giống như việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác, có thể bao gồm một số trách nhiệm sau đây:

Trách nhiệm hành chính: Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm thi

hành nghĩa vụ do pháp luật hành chính quy định và trách nhiệm phát sinh do

vi phạm nghĩa vụ đó Trách nhiệm pháp lí hành chính gồm khiển trách, cảnh cáo, phạt tiền, cách chức, buộc thôi việc,… Đối với việc gây TNGT đường

bộ, trách nhiệm hành chính phát sinh chủ yếu là phạt tiền theo quy định của pháp luật

Trách nhiệm dân sự: là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp

dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại Trách nhiệm dân sự được hiểu là một trách nhiệm pháp lý cho nên nó sẽ mang những đặc tính nói chung của trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, vì đây là trách nhiệm dân sự nói riêng nên sẽ có những đặc điểm riêng biệt thuộc về trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm hình sự: Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm

pháp lý, là hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở trách nhiệm của người phạm tội trước Nhà nước phải chịu những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng theo một trình tự tố tụng nhất định7 Để phát sinh trách nhiệm hình sự đối với người gây thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông đường bộ thì phải xem xét việc gây thiệt hại đó có đủ yếu

tố cấu thành tội phạm hình sự quy định tại mục 1 Chương XXI Bộ luật hình

sự năm 2017

7 http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/41154-Trach-nhiem-hinh-su-#ixzz2G7yFpz00

Trang 20

1.2 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định luật được hình thành và phát triển sớm nhất trong các chế định luật dân

sự Những quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với việc duy trì trật tự xã hội cũng như bảo đảm lẽ công bằng mà các hệ thống pháp luật đều hướng tới Xã hội phát triển kéo theo những tranh chấp về quyền và lợi ích nói chung, tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng xảy ra ngày càng nhiều, tính chất các vụ việc ngày càng phức tạp

1.2.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ

Thứ nhất, bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT mang đầy đủ những

đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đó là một trách nhiệm dân sự, phát sinh ngoài hợp đồng, mức bồi thường dựa vào thiệt hại xảy ra trong thực tế

Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ

mang những đặc điểm riêng biệt Trong đó có một đặc điểm rất quan trọng,

đó là không bắt buộc thiệt hại xảy ra phải bắt nguồn từ hành vi trái pháp luật

Có những trường hợp người điều khiển phương tiện không có hành vi trái pháp luật, thậm chí thiệt hại xảy ra là do phương tiện giao thông nhưng người điều khiển phương tiện gây thiệt hại vẫn phải bồi thường

Trang 21

Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cá nhân tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc chủ sở hữu người được giao chiếm hữu sử dụng phương tiện giao thông

Yếu tố lỗi trong TNGT đường bộ có thể là lỗi vô ý hoặc trường hợp không có lỗi vấn phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt Do vậy, trong bồi thường thiệt hại đối với các vụ TNGT, việc xác định lỗi chỉ có ý nghĩa trong việc xác định mức bồi thường

1.2.3 Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

1.2.3.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người gây ra

Căn cứ theo quan điểm của các nhà lập pháp, có thể nhận thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện cơ bản sau: có thiệt hại xảy ra, có hành vi gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người gây ra, có hai trường hợp đáng chú ý là bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi và bồi thường thiệt hại trong trường hợp

có lỗi của nhiều người

Một là, bồi thường thiệt hại trong trường hợp bị hại có lỗi Khi thiệt hại

xảy ra mà người bị thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của mình Thực chất, trong trường hợp này người bị thiệt hại xác định rõ mức độ lỗi của mỗi bên để xác định trách nhiệm bồi thường Vì người bị thiệt hại cũng có lỗi nhưng họ lại là người bị thiệt hại, do vậy, họ không phải tự bồi thường cho mình Trong trường hợp này, việc xác định mức độ lỗi của người gây thiệt hại gặp rất nhiều khó khăn

Trang 22

Trong trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường Ví dụ: Anh A đang lái xe ô tô trên đường với vận tốc cho phép phù hợp với quy định của pháp luật, đang đi thì anh C lao vào ô tô của anh A với mục đích tự tử Hậu quả anh C bị ô tô cán chết Trong trường hợp này lỗi hoàn toàn thuộc về anh C, anh A không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do TNGT đường bộ gây nên

Hai là, bồi thường thiệt hại trong trường hợp có lỗi của nhiều người

Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của từng người, nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau

1.2.3.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cũng như bù đắp những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra ngay cả khi không có lỗi

Theo quy định của Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất chay, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định Trong đó, phương tiện vận tải cơ giới bao gồm phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, được trang bị và hoạt đông bằng máy móc Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT

Trang 23

đường bộ gây ra chủ yếu bởi phương tiện vận tải đường bộ (xe ô tô, máy kéo,

rơ mooc hoặc sơ mi rơ mooc được kéo bởi xe oto, xe mô tô hai bánh, xe mô

tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự bao gồm cả xe cơ giới dành cho người tàn tật) là một loại bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mang những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một

loại bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do đó mang những đặc điểm chung của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: phát sinh giữa các chủ thể không có

quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng những việc gây ra thiệt hại không nằm trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của hợp đồng

Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao

độ gây ra cho người xung quanh, có hoạt động gây thiệt hại trái phát luật của nguồn nguy hiểm cao độ, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hoạt động gât thiệt hại Nghĩa là sự tự thân gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phả hành vi vi phạm nghĩa vụ mà các bên cam kết

Về chủ thể chịu trách nhiệm: Về nguyên tắc, do chủ sở hữu hoặc người

được giao chiếm hữu sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường

Hai là, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mang

những đặc điểm riêng biệt

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh có thể không cần yếu tố lỗi Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, thiệt hại xảy ra là do tự thân nguồn nguy

Trang 24

hiểm cao độ gây ra, do đó trách nhiệm này phát sinh khi thỏa mãn ba điều kiện: có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cho người xung quanh,

có hoạt động gây ra thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ, có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và tài sản không bao gồm thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư Bởi lẽ thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị nhân thân gắn liền với một cá nhân, tổ chức cụ thể, chúng chỉ bị thiệt hại thông qua hành động, lời nói, chữ viết của con người nhằm mục đích xuyên tạc, bôi nhọ làm tổn thất tinh thần cho chủ thể bị thiệt hại Mà trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì thiệt hại này do phương tiện giao thông vận tài cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất độc, chất cháy, thú dữ gây ra

Do vậy, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không có thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín mà chỉ có thiệt hại về tính mang, sức khỏe con người và tài sản

1.3 Phạm vi bồi thường và cơ sở xác định mức bồi thường thiệt hại 1.3.1 Phạm vi bồi thường thiệt hại

Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là một loại bảo hiểm bắt buộc theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010 Theo đó, phạm vi bồi thường thiệt hại của người gây tai nạn trong trường hợp được bảo hiểm và không được bảo hiểm trách nhiệm dân sự là khác nhau

Trang 25

Thứ nhất, đối với trường hợp được bảo hiểm

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cơ quan bảo hiểm là đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ Khi TNGT xảy ra, cơ quan bảo hiểm tham gia giải quyết hậu quả tai nạn trên nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường giữa cơ quan bảo hiểm, chủ sở hữu phương tiện và người điều khiển phương tiện Chủ xe là người chịu trách nhiệm dân sự trước nhà nước về hoạt động của phương tiện, là người có nghĩa

vụ tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba Khi xe gây tai nạn làm thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của người khác cơ quan bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường Điều này cho thấy, trong quan hệ bảo hiểm có hai loại quan hệ:

Một là, mối quan hệ giữa cơ quan bảo hiểm và chủ sở hữu phương tiện:

Đây là mối quan hệ làm cơ sở cho việc phát sinh nghĩa vụ bồi thường thay cho chủ xe của cơ quan bảo hiểm Nghĩa là chủ phương tiện mua bảo hiểm trước đó và khi có tai nạn xảy ra thì cơ quan bảo hiểm sẽ đại diện chủ sở hữu phương tiện tiến hành bồi thường cho người bị thiệt hại

Hai là, mối quan hệ giữa cơ quan bảo hiểm và người bị thiệt hại là quan

hệ thực tế trong bồi thường Bên bị thiệt hại sẽ nhận trực tiếp khoản tiền bồi thường từ cơ quan bảo hiểm Tuy nhiên, người bị thiệt hại không phải là người được hưởng bồi thường từ cơ quan bảo hiểm vì họ không có quan hệ hợp đồng với nhau Mà người được hưởng bảo hiểm là chủ sở hữu phương tiện Tuy nhiên để giải quyết linh hoạt nhanh chóng, phù hợp với nguyên tắc bồi thường kịp thời thì việc người bị thiệt hại trực tiếp nhận khoản tiền bồi thường thiệt hại từ cơ quan bảo hiểm là sự linh hoạt đơn giản về mặt thủ tục Góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí cho quá trình giải quyết bồi thường

Nguyên tắc bồi thường

Trang 26

Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới

đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và nguyên tắc bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ gây ra nói riêng, Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định khá rõ ràng Cụ thể bao gồm các nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, bồi thường toàn bộ và kịp thời Về nguyên tắc, người gây thiệt

hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Bồi thường toàn bộ nghĩa là hành vi gây thiệt hại này không phải lỗi cố ý, không nằm trong trường hợp bất khả kháng cũng không có lỗi của người thứ ba Mà vụ TNGT xảy ra hoàn toàn do hành vi vi phạm của người gây tai nạn và họ có lỗi vô ý trong vụ tai nạn đó Việc đặt ra nguyên tắc này để nhằm mục đích khắc phục những tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu kkhi có hành vi gây thiệt hại hoặc có sự kiện gây thiệt hại

Thứ hai, giảm mức bồi thường Việc giảm mức bồi thường được đặt ra

đối với người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi mà thiệt hại lớn hơn

so với khả năng kinh tế của của người chịu trách nhiệm bồi thường Tuy vậy, việc giảm mức bồi thường thiệt hại sẽ được xem xét khi đáp ứng các điều

Trang 27

đất,…), hoặc các sự kiện như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, biểu tình,…

Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa đến lợi ích của người khác mà không còn cách nào khác là phải hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn

Ba là, người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại gây ra là quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đảm bảo tính công bằng xã hội đối với tất cả mọi người Việc xác định khả năng kinh tế góp phần xem xét rằng mức bồi thường

đó đã hợp tình, hợp lý hay chưa? Khả năng của người gây thiệt hại đối với mức bồi thường đó Ví dụ: chị B là góa phụ, phải tự mình nuôi hai con nhỏ Ngôi nhà chị ở là nhà tranh nằm bên bờ song Nhìn vào ai cũng thấy thương hoàn cảnh của gia đình chị, bởi quần áo không đủ ấm, cơm bữa có bữa không Chẳng may chị gây tai nạn, bé N nằm viện điều trị một tuần Gia đình bé N yêu cầu bồi thường 10 triệu Số tiền này nằm ngoài khả năng của chị B cũng như viện phí không hề tới mức đó Việc quy định phải xem xét khả năng kinh

tế của đã tạo nên tính nhân văn, linh hoạt trong việc bồi thường thiệt hại

Thứ ba, thay đổi mức bồi thường Khi mức bồi thường không còn phù

hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định mức bồi thường phù hợp với thiệt hại thực tế xảy ra Thông thường, người bị thiệt hại thường mong muốn mức bồi thường cao nhất, quyền lợi của mình phải đạt được tối

đa Có những trường hợp họ đưa ra yêu cầu bồi thường quá cao so với thiệt hại thực tế Nếu người gây thiệt hại phát hiện có sự lừa dối trong lời khai, có chứng cứ chứng minh yêu cầu bồi thường này là quá cao so với thiệt hại thực

tế đã xảy ra thì có quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường Và ngược lại,

Trang 28

người gây thiệt hại chấp nhận một mức bồi thường quá thấp so với thiệt hại thực tế xảy ra thì người bị thiệt hại có quyền đưa ra chứng cứ chứng minh và yêu cầu thay đổi mức bồi thường

Trường hợp chủ xe cơ giới chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại

Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả tai nạn

Mức bồi thường bảo hiểm

Một là, mức bồi thường cụ thể cho từng loại thương tật, thiệt hại về

người được xác định theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này hoặc theo thoả thuận (nếu có) giữa chủ xe cơ giới và người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại đã chết) nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục 6 Thông tư 22/2016/TT-BTC ngày 16/02/2016 của Bộ Tài chính Trường hợp có quyết định của toà án thì căn cứ vào quyết định của toà án nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này Trường hợp nhiều xe cơ giới gây tai nạn dẫn đến các thiệt hại về người, mức bồi thường được xác định theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng tổng mức bồi thường không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm

Đối với vụ tai nạn được cơ quan có thẩm quyền xác định nguyên nhân

do lỗi hoàn toàn của bên thứ ba thì mức bồi thường bảo hiểm về người đối với các đối tượng thuộc bên thứ ba bằng 50% mức bồi thường quy định Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này

Trang 29

Hai là, mức bồi thường cụ thể đối với thiệt hại về tài sản trên một vụ tai

nạn được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường phần vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại Phụ lục 6 Thông tư 22/2016/TT-BTC ngày 16/02/2016 của Bộ Tài chính

Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước

Thứ hai, đối với trường hợp không được bảo hiểm

Trong thực tế, có những trường hợp chủ sở hữu phương tiện đóng bảo hiểm nhưng vẫn không được bảo hiểm trong các trường hợp sau:

Một là, hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe hoặc của người bị thiệt hại

Hai là, lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân

sự của chủ xe, lái xe cơ giới

Ba là, lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe Trường hợp lái

xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc không thời hạn thì được coi là không có Giấy phép lái xe

Bốn là, thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại

Năm là, thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn Sáu là, chiến tranh, khủng bố, động đất

Bảy là, thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt

Trang 30

Khi những trường hợp trên xảy ra, người gây tai nạn (chủ sở hữu phương tiện) bồi thường toàn bộ cho người bị thiệt hại

1.3.2 Cơ sở xác định mức bồi thường thiệt hại

Thứ nhất, hình thức lỗi

Trong trường hợp có xảy ra tai nạn giao thông , việc xem xét đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ căn cứ vào yếu tố lỗi , bên nào có lỗi trong việc gây ra tai nạn thì bên đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc gây tai nạn của mình Do tính chất của quan hệ dân sự, việc bồi thường thiệt hại căn

cứ vào thiệt hại thực tế xảy ra, nên dù cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác thì đều phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Lỗi mặc dù là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường nhưng hình thức lỗi không mang ý nghĩa quyết định trong việc xác định trách nhiệm bồi thường Việc xác định trách nhiệm bồi thường thực hiện theo nguyên tắc sau đây:

Một là, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các

bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, bảo hộ quyền của mỗi công dân, đảm bảo tính công bằng dân chủ Khi một người có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác thì phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Và việc bồi thường đó phải toàn bộ, nghĩa là sau khi xác định mức độ thiệt hại thực tế xảy

ra, người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ sự thiệt hại đó Và bồi thường kịp thời, trong một thời gian sau khi gây ra thiệt hại, người gây thiệt hại phải bồi thường nhằm khôi phục nguyên trạng tài sản, sức khỏe tính mạng và bù đắp những tổn thất tinh thần mà người bị thiệt hại phải chịu

Trang 31

Hai là, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm

mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình

Ba là, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt

hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường Đây là một nguyên tắc nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của bên bị thiệt hại được bồi thường đúng với thiệt hại thực tế xảy Đồng thời cũng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của người gây thiệt hại, đảm bảo nghĩa vụ bồi thường nằm trong khả năng của họ

Bốn là, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được

bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra

Năm là, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu

thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình Nhưng việc xác định lỗi của các bên mang ý nghĩa là cơ sở quan trọng để ấn định mức bồi thường và xác định người gây thiệt hại phải bồi thường hay không bồi thường

Sau khi xác định lỗi trong vụ TNGT thì người gây TNGT đường bộ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu có lỗi cố ý, bên cạnh đó người gây ra thiệt hại còn phải bồi thường thiệt hại Trong trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn

là lỗi vô ý thì bồi thường thiệt hại trong phạm vi lỗi của mình Đối với thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết thì được giảm mức bồi thường thiệt hại Trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường

Thứ hai, khả năng kinh tế của người phải bồi thường so với phạm vi bồi thường

Trang 32

Ngoài yếu tố lỗi, việc bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ xem xét đến khả năng kinh tế của người gây ra thiệt hại Khả năng kinh tế là một khái niệm tương đối trừu tượng, là một yếu tố quan trọng để quyết định giảm hay không giảm mức bồi thường thiệt hại Khả năng kinh tế phụ thuộc vào nhiều tiêu chí: thu nhập thực tế, hoàn cảnh gia đình,…Việc xác định chính xác khả năng kinh tế sẽ bảo vệ hiệu quả quyền lợi của các bên, đồng thời đảm bảo tính công bằng xã hội, tránh sự gian lận hoặc lợi dụng để trốn trách trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua những phân tích trên, chương 1 giúp chúng ta hiểu thế nào là tai nạn giao thông đường bộ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ Có thể khái quát lại như sau:

TNGT đường bộ là một sự việc gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông hoặc sự kiện bất khả kháng xảy ra trong quá trình tham gia giao thông đường

bộ Việc gây ra TNGT đường bộ có thể phát sinh nhiều trách nhiệm pháp lý khác nhau như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân

sự Trong phạm vi luận văn này, chúng ta nghiên cứu trách nhiệm dân sự trong vụ TNGT đường bộ mà cụ thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ là gì? Trách nhiệm này mang những đặc điểm gì và điều kiện phát sinh trách nhiệm Ngoài ra, phạm vi bồi thường thiệt hại, các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng đã được phân tích tại chương 1 này Góp phần xây dựng nên cơ sở lý luận giúp xác định các quy định của pháp luật hiện hành của nước Việt Nam có phù hợp hay không

Trang 34

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ GÂY

RA

2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ tai nạn giao thông đường bộ

Như đã phân tích tại chương 1, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Do vậy, để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ cần thỏa mãn các điều kiện luật định tại điều 584 BLDS 2015 Theo

đó, bao gồm ba điều kiện sau:

2.1.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra

Có thể thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường

bộ khác với trách nhiệm hình sự vì trách nhiệm hình sự được đặt ra do tính chất nguy hiểm của hành vi có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội, còn đối với trách nhiệm bồi thường trong các vụ TNGT đường bộ thì chỉ cần có thiệt hại, dù là nghiêm trọng hay không nghiêm trong, nếu người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường thì người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường Trong các vụ TNGT đường bộ thiệt hại được hiểu là sự giảm sút về giá trị vật chất cũng như tinh thần của một người do sự kiện TNGT đường bộ gây nên, bao thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và thiệt hại về tài sản

Thiệt hại là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ Bởi lẽ, mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục tình trạng như ban đầu hoặc bù

Trang 35

đắp những tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại Do đó, phải có thiệt hại thực tế xảy ra thì mục đích của việc bồi thường thiệt hại mới đạt được

2.1.2 Có việc gây thiệt hại trái pháp luật

Một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung là có hành vi vi phạm pháp luật Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là hành vi của con người dưới dạng hành động hoặc không hành động xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người và tài sản, các quyền và lợi ích khác được pháp luật bảo vệ

Trong các vụ TNGT đường bộ, các hành vi trái pháp luật sau đây mà gây

ra thiệt hại sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với chủ thể có hành vi trái pháp luật:

Thứ nhất, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ,

bao gồm: Điều khiển phương tiện giao thông quá tốc độ; chở quá trọng tải quy định; không di chuyển đúng tuyến đường, làn đường; điều khiển phương tiện giao thông trong tình trạng nồng độ cồn quá mức cho phép;…

Thứ hai, hành vi cản trở giao thông đường bộ, bao gồm: Đào, khoan, xẻ

trái pháp luật các công trình giao thông đường bộ; đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, thiết bị an toàn giao thông đường bộ; lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ; vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ và các hành vi gây cản trở giao thông đường bộ khác

Thứ ba, hành vi đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông Đây là hành vi của người trực tiếp về việc điều động

hoặc về tình trạng kỹ thuật Hành vi đó thể hiện bằng việc cho phép đưa vào

Trang 36

sử dụng phương tiện giao thông rõ ràng không đảm bảo an toàn kỹ thuật mà gây thiệt hại

Thứ tư, hành vi tổ chức, tham gia đua xe trái pháp luật

Thứ năm, hành vi vi phạm quy định về tu sửa, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông Các hành vi này có thể là hành động như không có

biển báo, không để nguyên vật liệu đúng nơi quy định trong quá trình sửa chữa,…

2.1.3 Có quan hệ nhân quả giữa việc gây thiệt hại và thiệt hại thực

Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hai và thiệt hại thực tế,

có nghĩa là trong vụ TNGT đường bộ những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và tài sản là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm gây thiệt hại và những hành vi mà người gây thiệt hại hành động hoặc không hành động là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản

Ví dụ: anh A điều khiển xe máy trên đường với tốc độ 80km trong khi mức tối đa cho phép chạy trên đoạn đường đó là 50km/h Anh A đi quá nhanh

và không kịp thắng phanh đã đâm vào cụ già đang dắt xe đạp sang đường, khiến cụ bị thương nặng phải cấp cứu ở bệnh viện Vậy trong vụ TNGT này,

Trang 37

hành vi điều khiển phương tiện quá tốc độ cho phép của anh A là nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông Có thể nói rằng, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế

2.2 Xác định thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật

2.2.1 Thiệt hại về tài sản

Căn cứ theo quy định tại điều 589 BLDS 2015, xác định thiệt hại về tài sản bao gồm thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp

Thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại có thể xác định cụ thể khi tài sản bị xâm phạm (thiệt hại về giá trị tài sản bị xâm phạm) Đây là những loại thiệt hại có thể tính toán bằng các đơn vị đo lường ngay tại thời điểm xảy ra thiệt hại Loại thiệt hại này có thể bao gồm giá trị còn lại của tài sản tại thời điểm gây thiệt hại (khi tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng mà không thể sửa chữa), hoặc đó chính là chi phí sửa chữa, phục hồi công dụng của tài sản (đối với trường hợp tài sản bị hư hỏng nhưng có thể sửa chữa)

Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại gắn liền với việc khai thác công dụng của tài sản, những chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại Quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tố chức và các chủ thể khác được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Bởi vậy, trong một vụ TNGT đường bộ khi tài sản của chủ sở hữu bị xâm phạm thì người gây tai nạn phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại sau:

Thứ nhất, tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng

Tài sản bị mất là trường hợp tài sản rời khỏi chủ sở hữu mà không tìm

lại được Đây là trường hợp tài sản bị thiệt hại hoàn toàn, không thể khắc phục được, do đó người gây TNGT đường bộ phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản Đối với trường hợp này cần xác định giá trị thực tế của tài sản để

Trang 38

người gây tai nạn bồi thường toàn bộ Thông thường, việc xác định giá trị thực tế của tài sản được xác định theo giá của tài sản cùng loại trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường Tuy nhiên, nếu tài sản bị mất là vật đặc định thì nghĩa là trên thị trường không có loại tài sản đó Lúc này việc xác định giá trị thực tế của tài sản là vật đặc định bị mất phải được tiến hành bởi

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc định giá tài sản Khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị mất cũng cần xem xét đến yếu tố

cũ, mới, độ hao mòn của tài sản Nếu tài sản bị mất là tài sản còn mới thì thiệt hại được bồi thường toàn bộ giá trị của tài sản; còn trường hợp tài sản bị mất

đã cũ, đã hao mòn, đã được sử dụng thì việc bồi thường phải trừ đi phần giá trị tài sản đã hao mòn

Tài sản bị hủy hoại là những tài sản bị thiệt hại nặng, không thể phục hồi

chức năng như ban đầu, cho nên chủ sở hữu không thể khai thác tính năng, công dụng của tài sản Việc xác định thiệt hại đối với tài sản bị hủy hoại giống như trường hợp tài sản bị mất Tức là người gây TNGT đường bộ dẫn đến tài sản bị hủy hoại phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản cho chủ sở hữu tài sản bị hủy hoại theo giá thị trường vào thời điểm giải quyết bồi thường

Tài sản bị hư hỏng là nhũng tài sản bị hỏng hóc một hay nhiều bộ phận

làm giảm hay mất khả năng sử dụng tài sản Tuy nhiên, tài sản bị hư hỏng vẫn

có khả năng sửa chữa, phục hồi lại tính năng sử dụng Việc bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị hư hỏng được xác định theo hai trường hợp: Thứ nhất, nếu như tài sản bị hư hỏng có thể khôi phục, sửa chữa lại được thì thiệt hại được xác định là chi phí cần thiết, hợp lý bỏ ra để khôi phục, sửa chữa tài sản Những chi phí này được tính theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường Thứ hai, trường hợp tài sản bị hư hỏng đến mức không thể sửa chữa, khôi phục được thì thiệt hại được xác định với trường hợp tài sản bị mất

Trang 39

Thứ hai, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút Trong thực tế có thể thấy, việc khai thác, sử dụng tài sản đem lại

cho chủ sở hữu những hoa lợi, lợi tức nhất định Tuy nhiên, do vụ TNGT đường bộ gây thiệt hại về tài sản mà chủ sở hữu mất đi hoa lợi, lợi tức đó thì người gây tại nạn phải bồi thường lợi ích gắn liền với việc khai thác, sử dụng tài sản trong trường hợp chủ sở hữu tài sản yêu cầu

Ví dụ: Mới đây, một người phụ nữ lái xe ô tô hiệu BMW đâm thẳng vào cửa hàng bán chè nhà chị H Hành vi này không chỉ làm cho cánh cửa bị phá hỏng, hàng quán lộn xộn mà còn làm cho chị H phải đóng cửa quán một tuần

để sửa chữa Như vậy, đối với vụ tai nạn này, chị H không những có quyền yêu cầu người phụ nữ bồi thường thiệt hại về chi phí tu sửa cửa hàng mà còn

có quyền yêu cầu bồi thường một khoản tiền hợp lý lẽ ra chị thu được từ hoạt động bán chè nếu cửa hàng không phải đóng cửa

Thứ ba, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại Trước

nguy cơ thiệt hại xảy ra đối với tài sản thì người bị thiệt hại có thể phải bỏ ra chi phí để ngăn chặn; khi thiệt hại đó đang xảy ra đối với tài sản thì ngườ bị thiệt hại phải bỏ ra chi phí để không cho thiệt hại tiếp tục xảy ra; khi đã xảy ra thiệt hại đối với tài sản thì người bị thiệt hại phải bỏ ra chi phí để khắc phục thiệt hại Đây cũng là những khoản mà người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây TNGT đường bộ xâm phạm đến tài sản bồi thường nếu người bị thiệt hại chứng minh được tính xác thực của những chi phí này Ngoài ra còn

có thiệt hại khác

2.2.2 Thiệt hại liên quan đến sức khỏe, tính mạng

Thứ nhất, tính toán thiệt hại khi có thiệt hại về sức khỏe theo quy định tại điều 590 BLDS 2015 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được hiểu là

những tổn thất, mất mát về mặt vật chất cũng như tinh thần mà người có hành

vi gây thiệt hại gây ra cho người bị thiệt hại

Trang 40

Thiệt hại về vật chất là những thiệt hại xảy ra trên thực tế mà có thể tính toán được một cách cụ thể bằng các đơn vị đo lường Về nguyên tắc, chỉ những thiệt hại thực tế mới được bồi thường nên khi yêu cầu bồi thường thiệt hại, người bị thiệt hại phải đưa ra những bằng chứng chứng minh các thiệt hại thực tế đã phát sinh Theo quy định tại khoản 1 Điều 590 BLDS 2015, thiệt hại vật chất bao gồm các thiệt hại sau:

Một là, chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe

và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại Những chi phí này

bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp Xquang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu,…theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ,…để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có)

Hai là, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại

Thu nhập thực tế bị mất được hiểu là những khoản thu nhập mà người bị thiệt hại không được hưởng trong thời gian điều trị Còn thu nhập bị giảm sút là khoản thu nhập bị giảm so với thu nhập thực tế trước đó của người bị thiệt hại Như vậy, để xác định mức thu nhập bị mất hay thu nhập thực tế bị giảm sút cần dựa vào việc so sánh mức thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trước

và sau khi bị xâm phạm đến sức khỏe, được xác định như sau:

Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức tiền lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm đến sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại

Ngày đăng: 02/08/2019, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Mai Anh (1997), Những vấn đề cơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật dân sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật dân sự
Tác giả: Lê Mai Anh
Năm: 1997
2. Phạm Kim Anh (1997), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Kim Anh
Năm: 1997
3. Nguyễn Minh Châu (2006), Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 2006
4. Đỗ Văn Đại (2010), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận bản án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
5. Hoàng Đạo (2013), Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Tác giả: Hoàng Đạo
Năm: 2013
8. Lê Thị Bích Lan (1999), Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín
Tác giả: Lê Thị Bích Lan
Năm: 1999
13. Phùng Trung Tập (2004), Bàn về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tạp chí Luật học số 10/2004; Phùng Trung Tập (2009), Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi "thường" thiệt hại ngoài hợp đồng", Tạp chí Luật học số 10/2004; Phùng Trung Tập (2009)
Tác giả: Phùng Trung Tập (2004), Bàn về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tạp chí Luật học số 10/2004; Phùng Trung Tập
Năm: 2009
14. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2015), Hướng dẫn môn học Luật dân sự, Sách hướng dẫn, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn môn học Luật dân sự
Tác giả: Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2015
15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, NXB CAND, Hà Nội.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 2012
16. Từ điển tiếng việt, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
6. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2006), Nghị quyết số Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w