1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích và thực tiễn tại tỉnh sơn la

83 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích được hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý xảy ra khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định xâm phạm đến quy

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

PHẠM THÁI PHƯƠNG

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC

VỤ CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH VÀ THỰC TIỄN

TẠI TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 8380103

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đình Nghị

HÀ NỘI - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ, đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích và thực tiễn tại tỉnh Sơn La”, là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các

số liệu, trích dẫn trong Luận văn, đảm bảo trung thực, khách quan

Phạm Thái Phương

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH5 1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích 5

1.2 Đặc điểm và các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích 6

1.2.1 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích 6

1.2.2 Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích 11

1.3 Căn cứ xác định của trách nhiệm bồi thường thiệt haị do hành vi cố ý gây thương tích gây ra 14

1.4 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích 16

1.4.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra 16

1.4.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại 18

1.4.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra 19

1.4.4 Vấn đề lỗi 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

CHƯƠNG 2.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH GÂY RA 24

2.1 Người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hành vi cố ý gây thương tích 24

2.2 Phạm vi bồi thường thiệt hại 25

2.2.1 Đối với trường hợp hai bên tự thỏa thuận được 25

2.2.2 Đối với trường hợp không thỏa thuận được 26

Trang 5

2.3 Xác định thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích theo quy định

của pháp luật 27

2.3.1 Tính toán thiệt hại khi có sự thiệt hại về sức khỏe 27

2.3.2 Tính toán thiệt hại khi có thiệt hại về tính mạng 32

2.4 Mức bồi thường và thay đổi mức bồi thường 35

2.4.1 Bồi thường toàn bộ 35

2.4.2 Giảm mức bồi thường 36

2.4.3 Thay đổi mức bồi thường 39

2.5 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 42

CHƯƠNG 3.THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH GÂY RA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 43

3.1 Khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội, điều kiện tự nhiên của tỉnh Sơn La 43

3.2 Tình hình các vụ việc cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời gian gần đây 43

3.2.1 Địa bàn xảy ra các vụ cố ý gây thương tích 44

3.2.2 Các dạng vụ việc cố ý gây thương tích 45

3.2.3 Chủ thể gây ra các vụ cố ý gây thương tích 46

3.2.4 Thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích 48

3.3 Thực tiễn giải quyết, xử lý về bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời gian ba năm qua 49

3.3.1 Bồi thường thiệt hại trong giai đoạn điều tra, xử lý vi phạm hành chính của cơ quan Công an 49

3.3.2 Bồi thường thiệt hại theo quyết định của Tòa án 53

3.4 Một số tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết, xử lý về bồi thường thiệt hại trong các cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời gian ba năm qua 54

Trang 6

3.4.1 Bồi thường thiệt hại trong giai đoạn điều tra, xử lý vi phạm hành chính

của Cơ quan công an 54

3.4.2 Bồi thường thiệt hại theo quyết định của Tòa án 55

3.4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc bồi thường trong các vụ cố ý gây thương tích 59

3.5 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích gây ra 62

3.5.1 Về vấn đề lỗi của người gây ra hành vi cố ý gây thương tích 62

3.5.2 Về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng 62

3.5.3 Một số vấn đề khác 63

KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

Trách nhiêm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong

Bộ Luật dân sự năm 2015 và các văn bản có liên quan Bộ luật Dân sự năm

2015 với mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm hại do hành vi cố ý gây thương tích gây ra Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích được hiểu là một loại trách nhiệm pháp

lý xảy ra khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hình thành giữa các chủ thể, trong đó người có hành vi trái với quy định của pháp luật nói chung mà gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Ở các quốc gia khác nhau, qua các thời kỳ lịch

sử, quy định về bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích cũng có

sự khác nhau về cách thức bồi thường, mức độ bồi thường, cách xác định thiệt hại cũng như việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khác nhau Tuy nhiên trên thực tế để xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi gây thiệt hại là rất khó khăn, nó liên quan nhiều đến các căn

cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích, xác định thiệt hại, đặc biệt việc xác định thiệt hại về tinh thần, xác định lỗi của người gây thiệt hại Bộ luật Dân sự còn có nhiều cách hiểu khác nhau

về lỗi, có quan điểm cho rằng cần giữ nguyên yếu tố lỗi như hiện nay, nhưng cũng có quan điểm cho rằng không cần đến yếu tố lỗi khi xem xét bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề này, tôi chọn đề tài:

"Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích và thực

tiễn tại tỉnh Sơn La" làm Luận văn Thạc sĩ luật học của mình Mong rằng

Trang 8

những đóng góp của Luận văn giúp làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích gây ra theo pháp luật Việt Nam hiện hành trên địa bàn tỉnh Sơn La, trên

cơ sở đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ việc cố ý gây thương tích

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy liên quan đến đề tài của mình đã có một số những công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố và thể hiện ở những hình thức khác nhau:

Dưới hình thức luận văn thạc sĩ, có những công trình nghiên cứu sau: Luận văn thạc sĩ Luật học (1997), Trường Đại học Luật Hà Nội của tác giả Lê Mai Anh: "Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự" Luận văn này nghiên cứu nhiều vấn đề, trong đó có những nội dung lien quan đến đề tài nghiên cứu như: tiếp cận vấn

đề trách nhiệm dân sự, khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và đặc điểm pháp lý

Về giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, bình luận khoa học, có thể

kể đến những công trình tiêu biểu TS Đỗ Văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội - 2010; TS Phùng Trung Tập, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, Nxb Hà Nội, Hà Nội – 2009;…

Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí như: Phạm

Kim Anh, Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng trong Bộ luật Dân sự 2005 thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí

Khoa học pháp lý, số 6/2009; Phạm Văn Bằng, Chế định bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm

2005, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4/2013; TS Phùng Trung Tập "Cần hoàn thiện chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2005;…

Trang 9

Mỗi tác giả đều có một cách khám phá, tiếp cận và khai thác đề tài ở một góc độ khác nhau Những vấn đề mà các công trình nghiên cứu, các bài viết

đã kể trên tuy có đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt do hành vi của con người gây ra, nhưng chỉ giới hạn ở một số vấn đề cụ thể hoặc dưới góc độ nguyên tắc Vì vậy, công trình nghiên cứu này không bị trùng lắp với công trình nghiên cứu khác

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của Luận văn này là:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do hành vi cố ý gây thương tích gây ra

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích gây ra

- Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích gây ra trên địa vàn tỉnh Sơn

La, từ đó đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu trên, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Sơn La theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015

4 Các phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của mình, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp phân tích, đánh giá số liệu: Người nghiên cứu sử dụng xử

lý số liệu phổ biến là thống kê, phân tích số liệu thu được từ để thể hiện kết quả của quá trình nghiên cứu

Ngoài ra, để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu đã sử dụng một số phương pháp khác nhau như: phương pháp thống kê, phương pháp suy luận, phương pháp khảo sát, thu thập và tham khảo dữ liệu,…

Trang 10

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học của đề tài:

Đề tài nhận thức sâu sắc về mặt lý luận và pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ cố ý gây thương tích Bên cạnh đó, có được hiểu biết sâu rộng hơn về thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do hành vi cố ý gây thương tích gây ra trên địa bàn tỉnh Sơn La Từ đó, đề tài giúp nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc hiểu để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích gây ra trên đia bàn tỉnh Sơn La

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn đã nêu, những kết quả mang lại góp phần giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm của nhà nước và nhân dân ta trong việc học hỏi để hiểu biết các quy định của pháp luật hiện hành Đồng thời, các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác

áp dụng pháp luật nói chung và pháp luật về bồi thường thiệt hại trong vụ cố ý gây thương tích hiện nay

6 Kết cấu của Luận văn

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trong phạm vi nghiên cứu đã được xác định, đề tài được kết cầu theo ba chương sau đây:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích gây ra

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích gây ra trên đia bàn tỉnh Sơn La và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích

Nói về khái niệm cố ý gây thương tích, có rất nhiều quan điểm khác nhau Trong Luật hình sự Việt Nam – Quyển 1, TS Phạm Văn Beo có định

nghĩa thứ nhất cho rằng: “Cố ý gây thương tích là hành vi của một người cố ý

làm người khác bị thương”, cách định nghĩa thứ hai là: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác”

Hiểu một cách đơn giản, có thể thấy cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe Cũng có quan điểm cho rằng, cố ý gây thương tích là hành vi của một người hoặc nhiều người, một nhóm người

cố ý gây thương tích cho một người hay nhiều người bị hại, hành vi này có thể phải bồi thường cho người bị hại và có thể bị tòa án xét xử về tội cố ý gây thương tích Tuy nhiên, các khái niệm này đều mang đặc điểm chung là có lỗi

cố ý của một người hoặc nhóm người, gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác Khi có hành vi cố ý gây thương tích, sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người có hành vi cố ý gây thiệt hại đó, buộc người này phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra

Từ khái niệm này, có thể thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại. do hành

vi cố ý gây thương tích là trách nhiệm dân sự của người gây thiệt hại, phải bồi thường những tổn thất về sức khỏe, tinh thần của người khác do chính hành vi trái pháp luật, cố ý gây thương tích của mình

Trang 12

Về mặt lý luận, khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì tìm hiểu về khái niệm và những đặc điểm nổi bật của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một việc làm cần thiết phải được coi trọng

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…

Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra

Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại

Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ cố ý gây thương tích là một loại trách nhiệm mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình (người gây thiệt hại) gây tổn hại cho người khác (người bị thiệt hại) phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra

1.2 Đặc điểm và các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích

1.2.1 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích

Quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người, việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người không chỉ đơn thuần là gây tổn thất cho chính người đó mà còn gây những tác động xấu về tinh thần cũng như vật chất cho những người thân

Trang 13

thích của người bị thiệt hại và xa hơn là những tác động xấu về mọi mặt đối với xã hội Vì vậy, người nào xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác không những phải chịu những chế tài nghiêm khắc của luật hình sự mà còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự Khoản 1 Điều 584, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Như vậy, có thể thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng con người là một trong những trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe có đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đó là: Về cơ sở phát sinh trách nhiệm; về điều kiện phát sinh trách nhiệm; về chủ thể chịu trách nhiệm và về mức bồi thường

Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn có một số đặc thù nhất định, cụ thể:

- Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác là hành vi trái pháp luật: Quyền bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể là quyền nhân thân được pháp luật dân sự ghi nhận, bảo vệ cho mỗi cá nhân, mọi chủ thể đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền đó, không ai có quyền xâm phạm

Do đó hành vi cố ý gây thương tích là xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của

cá nhân là hành vi trái pháp luật, có thể bị xử lý về trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở trách nhiệm của người phạm tội trước Nhà nước phải chịu những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong luật hình sự do Tòa

án áp dụng theo một trình tự tố tụng nhất định1

Trang 14

- Thiệt hại xảy ra khi bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe bao gồm cả thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần: Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác, người gây thiệt hại thường chỉ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác do hành vi cố ý gây thương tích phải chịu trách nhiệm cả vật chất, tinh thần, cả thiệt hại trực tiếp lẫn gián tiếp Bên cạnh đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người nhằm mục đích bảo vệ cho tính mạng, sức khỏe của cá nhân không thể bị xâm phạm Đồng thời, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, phòng ngừa các hành vi vi phạm khác Để đạt được mục đích này, pháp luật hiện hành yêu cầu việc bồi thường phải kịp thời, nhanh chóng và bồi thường toàn bộ Trong quá trình bồi thường có thể giảm mức bồi thường khi đáp ứng đủ điều kiện luật định; có thể thay đổi mức bồi thường nếu không còn phù hợp với thực tế

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe không phát sinh đối với chủ thể là pháp nhân

Điều này xuất phát từ các đặc điểm bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người nên trong quan hệ này, chủ thể là pháp nhân chỉ có thể đóng vai trò là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không thể là chủ thể được bồi thường thiệt hại

- Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại là quyền nhân thân gắn liền với người bị thiệt hại và không thể chuyển giao cho người khác

Với tính chất là một trong số các quyền nhân thân liên quan đến cơ thể con người, quyền đối với tính mạng, sức khỏe có đầy đủ các đặc điểm của quyền nhân thân liên quan đến cơ thể con người, các quyền này được bảo hộ

vô thời hạn và có thể được bảo hộ không phụ thuộc đơn yêu cầu Việc khôi phục lại đối tượng của quyền là những giá trị nhân thân khi bị xâm phạm có

có thể thực hiện như danh dự cá nhân Danh dự cá nhân là sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân đó, dựa trên những giá trị đạo đức, phẩm chất tốt

Trang 15

đẹp; nhân phẩm cá nhân là những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó; uy tín cá nhân thể hiện sự tín nhiệm, miễn phục của cộng đồng hoặc một

bộ phận dân cư đối với cá nhân đó Các hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể kể đến là hành vi làm nhục, vu khống,…2

Và trong mối quan hệ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe không thể thay đổi chủ thể Điều này được quy định tại Điều 365, BLDS năm 2015, cụ thể:

“1 Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thoả thuận, trừ những trường hợp sau đây:

a) Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín…”

Điều này cũng xuất phát từ việc quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe là các quyền nhân thân cơ bản của con người, gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác

Bên cạnh đó, nội dung mà hầu hết mọi người đều quan tâm đến khi nghiên cứu về chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng con người là quy định về xác định thiệt hại

Bộ luật dân sự năm 2015 xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, sức khỏe bị đe dọa như sau:

Về thiệt hại do sức khỏe bị đe dọa, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 xác định thiệt hai bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân

Trang 16

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm

cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

- Thiệt hại khác do luật quy định

- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khoẻ của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

Về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, Điều 591 Bộ luật dân sự năm

2015 xác định thiệt hại bao gồm:

- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015;

- Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Thiệt hại khác do luật quy định

- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

Trang 17

Như vậy, về cơ bản, việc xác định thiệt hại về sức khỏe và tính mạng của

Bộ luật dân sự năm 2015 tương tự như việc xác định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe quy định tại Điều 609 và Điều 610 của Bộ luật dân sự năm

2005 Nhưng trong Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể hơn, hợp lý hơn về cách xác định thiệt hại và mức bồi thường, đó là:

- Bộ luật dân sự năm 2015 đã nâng mức bồi thường tối đa cho một người

có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định; mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định Việc nâng mức bồi thường lên là phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội hiện nay

- Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định thiệt hại do xâm phạm tính mạng bao gồm cả “thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”, khắc phục, hạn chế được tình trạng thương tâm hiện nay trong một số vụ án tai nạn giao thông, tài xế

cố tình đâm chết nạn nhân để mức bồi thường ít so với việc xâm phạm sức khỏe của nạn nhân Bởi vì theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, trên thực tế xảy ra nhiều trường gây thiệt hại về sức khỏe khi xác định thiệt hại lớn hơn xác định thiệt hại về tính mạng Khi gây thiệt hại về sức khỏe người chịu trách nhiệm bồi thường sẽ phải chịu cả trách nhiệm cứu chữa, hồi phục sức khỏe, chăm sóc, chi phí bồi thường nuôi sống cho nạn nhân mất khả năng lao động

1.2.2 Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích

a Trách nhiệm BTTH vật chất và trách nhiệm BTTH về tinh thần

Đối với hành vi cố ý gây thương tích, căn cứ vào lợi ích bị xâm phạm và những thiệt hại xảy ra mà trách nhiệm BTTH được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ cố ý gây thương tích về vật chất và trách nhiệm

bù đắp tổn thất về tinh thần

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bồi thường tổn thất vật chất thực tế được tính thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm

Trang 18

tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được hiểu là người gây thiệt hại cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại như sự buồn rầu, lòng đau thương…

Việc phân biệt hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa vụ chứng minh và mức bồi thường: Về nguyên tắc, người bị thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xảy ra và mức bồi thường sẽ bằng mức thiệt hại Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp đó

là trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất còn trong trường hợp bồi thường thiệt hại về tinh thần thì những tổn thất về tinh thần là những tổn thất không thể nhìn thấy, khó tính toán và chứng minh được Chính vì vậy, trong trường hợp này pháp luật cần quy định một mức nhất định để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong trường hợp một người có hành vi xâm phạm đến các quyền nhân thân của người khác

b Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra được hiểu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi của con người gây ra Trường hợp này người gây thiệt hại đã thực hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động và hành

vi đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại

c Trách nhiệm do nhiều người cùng gây ra và trách nhiệm độc lập

Căn cứ vào yếu tố lỗi và mức độ lỗi của cả người gây thiệt hại và người

bị thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được phân thành trách nhiệm do nhiều người cùng gây ra và trách nhiệm độc lập

Trang 19

Trách nhiệm do nhiều người cùng gây ra là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó có nhiều người gây thiệt hại mà người bị thiệt hại là người hoàn toàn không có lỗi

Trách nhiệm độc lập là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà người bị thiệt hại là người hoàn toàn không có lỗi

Việc phân biệt hai loại trách nhiệm này sẽ có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm bồi thường và mức thiệt hại vì theo quy định Điều 587 Bộ luật Dân sự thì khi người bị thiệt hại do nhiều người cùng gây ra, những người đó

sẽ phải cùng có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại và phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau

d Trách nhiệm bồi thường của cá nhân, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi thường Nhà nước

Căn cứ vào chủ thể chịu trách nhiệm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân loại thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi thường Nhà nước

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được hiểu là trách nhiệm mà theo đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân người gây thiệt hại hoặc đại diện theo pháp luật của người đó như cha mẹ, người giám hộ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại pháp nhân và các tổ chức khác được hiểu là trách nhiệm phát sinh cho pháp nhân hoặc các tổ chức khác trong trường hợp người của pháp nhân và các tổ chức gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ pháp nhân hoặc tổ chức giao cho

Trách nhiệm bồi thường Nhà nước được hiểu là khi cán bộ, công chức gây thiệt hại thuộc phạm vi bồi thường Nhà nước thì Nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại chứ không phải chính cán bộ công chức hay cơ quan quản lý cán bộ công chức phải bồi thường

Trang 20

Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể phải bồi thường và việc xác định nghĩa vụ hoàn lại: Đối với trường hợp người của pháp nhân hoặc tổ chức gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao, do đó hành vi của họ được hiểu là hành vi của pháp nhân thì trách nhiệm trước hết thuộc về pháp nhân, tổ chức Sau khi người có trách nhiệm bồi thường đã thực hiện xong thì nếu người gây thiệt hại có lỗi sẽ làm phát sinh nghĩa vụ hoàn lại của người có hành vi gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức đó

Việc phân loại này còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm bồi thường, trình tự, thủ tục bồi thường… bởi lẽ nếu là trách nhiệm Nhà nước thì

sẽ bị giới hạn phạm vi áp dụng do đặc thù Nhà nước là một chủ thể đặc biệt thực hiện việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; tiền bồi thường thuộc ngân sách Nhà nước do đó việc thực hiện trình tự, thủ tục bồi thường cũng không giống với trách nhiệm bồi thường thiệt hại thông thường

Ngoài ra, nếu căn cứ vào lĩnh vực bồi thường thì trách nhiệm BTTH có thể được phân loại thành bồi thường trong lĩnh vực hành chính, hình sự, tố tụng hình sự…; căn cứ vào số lượng chủ thể chịu trách nhiệm có thể phân trách nhiệm BTTH thành trách nhiệm một người và trách nhiệm nhiều người; căn cứ các yếu tố có liên quan đến pháp luật nước ngoài hay không có thể phân trách nhiệm BTTH thành trách nhiệm BTTH trong nước và trách nhiệm BTTH có yếu tố nước ngoài …

1.3 Căn cứ xác định của trách nhiệm bồi thường thiệt haị do hành

vi cố ý gây thương tích gây ra

Từ khái niệm, đặc điểm đã nêu ở trên, có thể thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích có những căn cứ xác định sau đây:

- Thứ nhất, người gây thiệt hại phải có hành vi trái pháp luật tác động đến thân thể của người khác

Trang 21

- Thứ hai, hành vi trái pháp luật đó để lại hậu quả làm cho người khác bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ Các hành vi cố ý gây thương tích về hình thức cũng giống hành vi của tội giết người, nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn nên nó chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không làm cho nạn nhân bị chết Nạn nhân phải bị thương tích hoặc

bị tổn thương đến sức khoẻ Nếu thương tích không đáng kể thì chưa phải là tội phạm Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 lấy tỉ

lệ thương tật của nạn nhân làm căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự và

định khung hình phạt đối với người phạm tội: “1 Người nào cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể

từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm… 2 Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm….”3

- Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Đây là một trong những đặc điểm quan trọng làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Hành vi gây thiệt hại phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới thiệt hại đó Và hậu quả là thiệt hại xảy ra phải bắt nguồn trực tiếp

từ hành vi trái pháp luật này

- Thứ tư, nhận thức của người cố ý gây thương tích là thấy rõ hành vi của mình nhất định hoặc có thể gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác; mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra So với tội giết người, thì sự cố ý trong trường hợp gây thương tích mức độ nguy hiểm có thấp hơn, vì người phạm tội chỉ mong muốn hoặc để mặc cho nạn nhân bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không muốn nạn nhân chết

3

Điều 134, Bộ luật Hình sự năm 2015

Trang 22

1.4 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ cố ý gây thương tích

Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, BLDS 2015 đã được sửa đổi

và có sự tiến bộ so với BLDS 2005 Cụ thể, khoản 1 Điều 584 quy định:

“Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,

uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”

Như vậy, trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH là

“hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại” Theo quy định trước đây tại Điều 604 BLDS 2005, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý” Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại Theo đó, trách nhiệm BTTH phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

BLDS 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Nếu như BLDS 2005 quy định đối với cá nhân có phạm vi áp dụng trách nhiệm rất rộng còn đối với pháp nhân, BLDS 2005 chỉ liệt kê ba đối tượng bị xâm phạm là “danh dự, uy tín, tài sản (khoản 1 Điều 604) thì tại Điều 584 BLDS 2015 quy định đối tượng bị xâm phạm làm phát sinh trách nhiệm BTTH của cá nhân và pháp nhân bao gồm “tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác”

1.4.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra

Trang 23

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi được áp dụng là nhằm khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại nên thiệt hại là yếu tố không thể thiếu được trong việc áp dụng trách nhiệm này Chỉ có thiệt hại mới phải bồi thường, chỉ khi nào biết được thiệt hại là bao nhiêu mới có thể ấn định người gây thiệt hại phải bồi thường bao nhiêu Vì vậy, muốn áp dụng trách nhiệm này thì việc đầu tiên là phải xem xét có thiệt hại xảy ra hay không và phải xác định được thiệt hại là bao nhiêu

Theo nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thiệt hại bao gồm thiệt hại vật chất

và thiệt hại do tổn thất về tinh thần:

“ a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy

định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.”

Thiệt hại về tài sản là những tổn thất vật chất thực tế được tính thành tiền

mà người có hành vi trái pháp luật đã gây ra cho người khác; thiệt hại về thể chất là sự giảm sút về sức khoẻ, mất mát về tính mạng, hình thể của người bị thiệt hại; thiệt hại về tinh thần là sự ảnh hưởng xẩu đến danh dự, nhân phẩm,

uy tín hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của người bị thiệt hại Để có cơ sở cho

Trang 24

việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các thiệt hại do xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm cũng phải được xác định thành một khoản tiền cụ thể Vì vậy, thiệt hại là những tổn thất xảy ra được tính thành tiền bao gồm những mất mát, hư hỏng, huỷ hoại về tài sản, nguồn thu nhập bị mất, chi phí nhàm ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tinh thần

Có thể chia thành hai loại thiệt hại sau đây:

Thiệt hại trực tiếp: Là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan,

thực tế và có cơ sở chắc chắn để xác định, bao gồm mất mát, hư hỏng về tài sản, các chi phí cho việc ngăn chặn, khắc phục các thiệt hại

Thiệt hại gián tiếp: Là những thiệt hại mà phải dựa trên sự suy đoán

khoa học mới có thể xác định được thiệt hại Thiệt hại này còn được gọi là thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất Đối với loại thiệt hại này nếu chỉ mang tính giả định, không có

cơ sở khoa học chắc chắn để xác định thì không được đưa vào khoản thiệt hại

để áp dụng trách nhiệm bồi thường

1.4.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại

Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức Theo đó, Điều 33 Bộ luật dân sự

năm 2015 quy định: “1 Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về

tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.” Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó

của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào “ xâm phạm” đến các quyền đó Bởi vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm Việc “ xâm phạm” mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư…

Trang 25

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định (yêu cầu) của pháp luật Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật là những hành vi xâm hại tới tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và đa phần được thể hiện dưới dạng hành động Tuy nhiên, những hành vi gây thiệt hại do xâm phạm các yếu tố trên nhưng được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật sẽ không bị coi là hành vi trái pháp luật và vì vậy, người thực hiện hành

vi đó không phải bồi thường thiệt hại Chẳng hạn, hành vi gây thiệt hại trong giới hạn của phòng vệ chính đáng hoặc gây thiệt hại đúng với yêu cầu của tình thế cấp thiết

1.4.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra

Quá trình phát sinh, phát triển và chấm dứt giữa các sự vật và hiện tượng bao giờ cũng có mối liên hệ nội tại, trong đó, sự vật, hiện tượng này là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng kia Có thể một sự vật, hiện tượng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhiều sự vật, hiện tượng khác, có thể nhiều sự vật, hiện tượng cùng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng khác Vì vậy, để xác định chính xác người phải bồi thường thiệt hại cần phải dựa vào cặp phạm trù: Nguyên nhân - kết quả và tìm

ra mối liên hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, trong đó, thiệt hại xảy ra phải là kết quả tẩt yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại

Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành

vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra Điều này được quy định tại các điều của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự quy định dưới dạng: “ Người nào … xâm phạm… mà gây thiệt hại … thì phải bồi thường” Ở đây chúng ta có thể thấy hành vi đó

Trang 26

Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn Do đó cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại

đó không phải bồi thường Người gây thiệt phải chứng minh được là mình hoàn toàn không có lỗi, mà lỗi hoàn toàn thuộc về phía người bị gây thiệt hại Mối quan hệ nhân qủa giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra luôn xác định được trong một thiệt hại cụ thể Nhưng trách nhiệm pháp lý có phát sinh

ở người có hành vi gây thiệt hại hay không còn tùy thuộc vào sự kiện xảy ra hoàn toàn hay không hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại để có cơ sở quy trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đối với người có hành vi gây thiệt hại Nếu người gây thiệt hại cũng có lỗi thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ lỗi của mình

Lỗi không tự nó có vị trí độc lập với các yếu tố khác trong việc xác định trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Hình thức lỗi cũng không phải là không thể xác định Theo nguyên tắc chung của trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì hình thức lỗi nếu xét về người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại không ảnh hưởng tới mức độ và trách nhiệm bồi thường của người đó Người gây thiệt hại dù có lỗi cố ý hay

có lỗi vô ý khi gây thiệt hại cho người khác thì người đó cũng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi có lỗi của mình gây ra Không vì người gây thiệt hại có lỗi vô ý hoặc cố ý trong khi gây thiệt hại mà mức bồi thường tăng hay

Trang 27

giảm tương ứng Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt có điều kiện luật định, thì người gây thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được miễn giảm mức bồi thường (do Tòa án xem xét quyết định) Những trường hợp phổ biến trong việc miễn giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại thường phát sinh trong các trường hợp sau đây: Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng phải bồi thương cho người bị thiệt hại (Điều 594); Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại (Điều 595);…

Lỗi phản ánh yếu tố tâm lý của con người, có tác động trực tiếp đến hành vi của người đó và thiệt hại xảy ra do hành vi vô ý vì cẩu thả, vô ý vì quá tự tin mà gây ra thiệt hại đã phản ánh yếu tố tâm lý chủ quan của người

đó Việc xác định trách nhiệm hỗn hợp căn cứ vào mức độ lỗi của mỗi bên đã

có tính thuyết phục, bởi tính hợp lý của cách xác định đó Qua phân tích trên,

đã loại trừ trường hợp cả người bị thiệt hại và người gây thiệt hại đều có lỗi

cố ý trong việc gây thiệt hại, mong muốn thiệt hại xảy ra cho nhau và cho chính bản thân mình

Đến đây có thể hiểu như thế nào về trường hợp người bị thiệt hoàn toàn

có lỗi, và lỗi đó là lỗi vô ý hay cố ý Mối liên hệ giữa lỗi vô ý của người gây thiệt hại và lỗi cố ý của người bị thiệt hại có ảnh hưởng như thế nào đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên? Giải đáp những vấn đề nêu ra ở trên, cần tuân theo những nguyên tắc sau đây:

+ Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi

đó là vô ý hay cố ý, mà người gây thiệt hại hoàn toàn không có lỗi thì người gây thiệt hại không phải bồi thường

+ Người gây thiệt hại có lỗi vô ý và người bị thiệt hại cũng có lỗi vô ý trong việc gây ra thiệt hại thì trách nhiệm này là trách nhiệm hỗn hợp

Trang 28

Như vậy, thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đó có ở hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay mức độ khác thì người gây thiệt hại không có trách nhiệm bồi thường

Khi xác định trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải xác định yếu tố lỗi để có căn cứ qui trách nhiệm cho người có hành

vi trái pháp luật, người có hành vi có lỗi phải bồi thường thiệt hại Bên cạnh

đó, cũng cần phải phân biệt những trách nhiệm dân sự liên quan đến những quan hệ dân sự và những chủ thể nhất định của quan hệ dân sự đó và trách nhiệm dân sự của chủ thể, Như vậy, không cần thiết phải đưa ra quan điểm trong việc nhận thức về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là do suy đoán Theo tác giả, quan điểm đó không chuẩn xác

về mặt khoa học, bởi vì lỗi, hình thức lỗi đã được qui định rất rõ và đầy đủ tại Điều 364 Bộ luật dân sự năm 2015 Những suy diễn ngoài nội dung Điều 364

Bộ luật dân sự năm 2015 không cần thiết và cũng không đúng

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua những phân tích trên, chương 1 giúp chúng ta hiểu thế nào là cố ý gây thương tích và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích

Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu trách nhiệm dân sự trong vụ cố ý gây thương tích mà cụ thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tại chương này tác giả đã nghiên cứu về đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích, điều kiện phát sinh trách nhiệm Ngoài ra, phạm vi bồi thường thiệt hại, các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng đã được phân tích tại chương 1 này Góp phần xây dựng nên cơ sở lý luận giúp xác định các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nói chung và đối với các vụ cố ý gây thương tích nói riêng

Trang 30

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

GÂY RA

2.1 Người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hành vi

cố ý gây thương tích

Người gây ra thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân,

cơ quan nhà nước Nhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người khác có

"khả năng" bồi thường và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc

dù hành vi gây ra thiệt hại có thể không do chính họ thực hiện Bộ luật Dân

sự quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân mà không quy định về năng lực bồi thường của các chủ thể khác Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân, pháp nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, Bộ luật Dân sự quy định năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân, pháp nhân cụ thể như sau:

1 Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường

2 Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha,

mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó

để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật dân sự 2015

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình

3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi

Trang 31

thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường

Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra:

Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau

4 Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý:

Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản

lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra

Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra

Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản

2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường4

2.2 Phạm vi bồi thường thiệt hại

2.2.1 Đối với trường hợp hai bên tự thỏa thuận được

Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Trang 32

Trường hợp mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường

2.2.2 Đối với trường hợp không thỏa thuận được

Mức bồi thường trong một số trường hợp các bên không thỏa thuận được

về mức bồi thường như sau:

- Trường hợp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở

do Nhà nước quy định (Điều 590 Bộ luật dân sự 2015);

- Trường hợp bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thân cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại là tối đa không quá 100 lần mức lương

cơ sở do Nhà nước quy định (Điều 591 Bộ luật dân sự 2015);

- Trường hợp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại tối

đa không quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (Điều 592 Bộ luật dân sự 2015);

Mức lương cơ sở trong trường hợp làm căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại

Bộ luật dân sự 2015 không còn sử dụng cụm từ “mức lương tối thiểu” như Bộ luật dân sự 2005 mà sử dụng cụm từ “mức lương cơ sở” nên mức bồi thường thiệt hại không thể xác định theo các mức lương tối thiểu đối với các đối tượng và vùng khác nhau

Mức lương cơ sở được nhà nước quy định cụ thể, không phụ thuộc vào vùng

- Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 72/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày

15 tháng 05 năm 2018 quy định về mức lương cơ sở cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang thì mức lương cơ sở áp dụng từ ngày 01 tháng 07 năm 2018 là 1.390.000 đồng/tháng

Trang 33

2.3 Xác định thiệt hại trong các vụ cố ý gây thương tích theo quy định của pháp luật

Quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người, việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người không chỉ đơn thuần là gây tổn thất cho chính người đó mà còn gây những tác động xấu về tinh thần cũng như vật chất cho những người thân thích của người bị thiệt hại và xa hơn là những tác động xấu về mọi mặt đối với xã hội Vì vậy, người nào xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác không những phải chịu những chế tài nghiêm khắc của luật hình sự mà còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự

Khoản 1 Điều 584, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người nào có

hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”

Như vậy, có thể thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng con người là một trong những trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe có đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đó là: Về cơ sở phát sinh trách nhiệm; về điều kiện phát sinh trách nhiệm; về chủ thể chịu trách nhiệm và về mức bồi thường

2.3.1 Tính toán thiệt hại khi có sự thiệt hại về sức khỏe

Để xác định thiệt hại xảy ra trong các vụ cố ý gây thương tích ta xác định dựa theo phần II Xác định thiệt hại, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

+ Chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe:

Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:

- Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế

Trang 34

- Chi phí điều trị, tiền thuốc và tiền mua các thiết bị ý tế, chi phí chiếu chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, môt, truyền máu, vật lý trị liệu, theo chỉ định của bác sỹ, tiền viện phí

Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, trong đó bao gồm:

- Tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ;

- Chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp đặt chân giả, tay giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể

bị mất hoặc bị giảm sút cho người bị thiệt hại (nếu có)

- Chi phí cho việc bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe cho nạn nhân để giúp cho người bị thiệt hại nhanh chóng bình phục, gọi là tiền bồi dưỡng cho nạn nhân Về mức bồi thường: Luật không quy định cụ thể nhưng trên thực tế xét

xử nhiều vụ việc thì việc xác định mức bồi thường căn cứ vào mức độ, tinh chất của thương tích cũng như dựa trên mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi nạn nhân đang điều trị thương tích Tùy từng trường hợp cụ thể

mà Tòa án xác định khoản tiền bồi dưỡng phù hợp với tính chất của vụ việc nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ

Tất cả những chi phí nói trên đều được dựa trên cơ sở hóa đơn chứng từ hợp lệ theo chỉ dẫn của bác sỹ hoặc yêu cầu của bệnh viện, cơ quan trực tiếp cứu chữa cho nạn nhân Đối với những trường hợp do điều kiện, hoàn cảnh khách quan việc cứu chữa của nạn nhân cần nhanh chóng kịp thời mà phải điều trị cứu chữa tại chỗ thì mọi chi phí cũng cần phải có sự xác nhận của chính người trực tiếp cứu chữa cho nạn nhân

Mặt khác, chi phí điều trị hợp lý là những chi phí cần thiết theo mức độ thông thường đảm bảo được khả năng cứu chữa và phục hồi sức khỏe cho nạn nhân còn những trường hợp điều trị không theo sự hướng dẫn của bác sỹ, dùng thuốc để điều trị bệnh khác, nằm điều trị ở những phòng dịch vụ đắt tiền thì những chi phí này không được coi là hợp lý

Trang 35

Nếu như trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế mà họ bị mất hoặc bị giảm sút đó

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của nạn nhân

Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, nguời bị thiệt hại có thu nhập

ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn

cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại

Thu nhập thực tế bị mất = thời gian điều trị x tiền công (tiền lương)/tháng

- Nếu như trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khỏe bị xâm hại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại

Thu nhập thực tế bị mất = thời gian điều trị x tiền thu nhập bình quân/tháng

- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm hại, người bị thiệt hại có thu nhập thực

tế nhưng không ổn định và không xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại

Thu nhập thực tế bị mất = thời gian điều trị x tiền thu nhập trung bình của lao động cùng loại/ tháng

- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc

và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm

b khoản 1 Điều 609 BLDS

Trang 36

Phương pháp xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sú của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:

Bước một: xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu

Bước hai: lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn nói trên Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người

bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất

Ví dụ 1: A là thợ may, thu nhập thực tế của A trước khi sức khỏe bị

xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 3 triệu đồng Do sức khỏe bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào Trong trường hợp này thì thu nhập thực tế của A bị mất Cách tính thu nhập bị mất 3.000.000 đồng

Ví dụ 2: B làm công cho một doanh nghiệp Thu nhập thực tế của B

trước khi sức khỏe bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 6 triệu đồng trên tháng Do sức khỏe bị xâm phạm nên B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 3 triệu đồng Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 3 triệu đồng

Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 2 triệu 500

ngàn đồng Do sức khỏe bị xâm phạm nên C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất

+ Chi phí hợp lý và thu nhập bị mất, bị giảm sút của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị

Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa

Trang 37

phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người

bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập bị mất

Thu nhập thực tế bị mất = thời gian chăm sóc x tiền lương(tiền công)/ tháng

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất

Thu nhập thực tế bị mất = thời gian chăm sóc x tiền thu nhập bình quân/tháng

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú

- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường

+ Trong trường hợp sau khi điều trị người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không

còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù 2 mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị

Trang 38

suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại Cụ thể như sau:

Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại

Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc cho người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động

+ Tiền bù đắp tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm

Ngoài thiệt hại về vật chất, người gây thiệt hại còn phải bồi thường một

số tiền bù đắp về tinh thần cho người bị thiệt hại Tiền tổn thất về tinh thần được bồi thường cho chính người bị thiệt hại Mức tiền tổn thất về tinh thần được bồi thường xác định trên nhiều yếu tố: vị trí vết thương trên cơ thể, mức

độ ảnh hưởng đối với cuộc sống, sinh hoạt, giao tiếp xã hội, nghề nghiệp, thẩm mỹ,… Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết việc bồi thường

2.3.2 Tính toán thiệt hại khi có thiệt hại về tính mạng

Tính toán thiệt hại về tính mạng được quy định trong tiểu mục 2 phần II của nghị quyết số 03/2006 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tóm tắt như sau:

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi

dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và thu nhập thực tế bị

Trang 39

mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại đã được nêu trong phần xác định khi có thiệt hại về sức khỏe

+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng

Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ…

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng

Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm

Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng:

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa

vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

Trang 40

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động, không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng

mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

+ Tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những người thân thích của nạn nhân

Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị

Ngày đăng: 16/02/2021, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w