Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ xemxét TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng Từ những sự phân tích và nhận định nêu trên, tác giả xin đưa ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC ÁNH
Trách nhiệm bồi thờng thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đờng bộ và thực tiễn
thực hiện tại thành phố Hải Phòng
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyờn ngành : Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số : 60 38 01 04 Người hướng dẫn khoa học: TS …………
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lậpcủa tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
Hà Nội, tháng … năm 2017
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Tên tác giả
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội Để hoàn thành
được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá
nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Đình Nghị đã
hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại
cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại
học, Khoa Pháp luật Dân sự, Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá
trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình
Hà Nội, tháng … năm 2017
Trang 4BTTH - Bồi thường thiệt hại
TNBTTH - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
TNGT - Tai nạn giao thông
TNGTĐB - Tai nạn giao thông đường bộ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang 51 Bảng 1 Mức độ tổng quan tuyệt đối của tình hình Tội vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành
phố Hải Phòng từ năm 2005 đến năm 2014;
2 Bảng 2: Cơ cấu xét theo số người chết do TGTĐB trong các vụ án đãxét xử theo Điều 202 BLHS 1999 và số người chết do TNGTĐB
(không khởi tố hình sự) trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2005
đến năm 2014
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 5 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG
BỘ 5
1.2 KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 8
1.3 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO
THÔNG ĐƯỜNG BỘ 21
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH 27
2.1 CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 27
2.2 XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ 33
2.3 XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 44
2.4 CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI, GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAINẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 48
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
Trang 7BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 52
3.1 TÌNH HÌNH TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊNĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THỜI GIAN QUA 52
3.2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
Trang 81 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tai nạn giao thông đường bộ là một trong những nguyên nhân gây tử vong
cao hàng đầu cho người tại Việt Nam, trung bình mỗi năm ở nước ta có gần
13.000 người chết vì TNGTĐB và hàng chục nghìn người khác bị thương Cùngvới đó là những thiệt hại khổng lồ khác về kinh tế như: thiệt hại về phương tiệngiao thông, hạ tầng giao thông, chi phí khắc phục điều tra các vụ tai nạn giaothông, chi phí y tế chăm sóc sức khoẻ cho những nạn nhân… Mặt khác,
TNGTĐB cũng ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần trước mắt cũng như lâu dài cho
họ TNGTĐB xảy ra đã xâm phạm tới tính mạng, sức khoẻ, tài sản và các quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong xã hội được pháp luật bảo vệ, do đó cầnphải được đền bù một cách đầy đủ, kịp thời và toàn diện Tuy nhiên, trong thựctiễn giải quyết các vụ TNGTĐB, không phải lúc nào quyền và lợi ích hợp phápcủa các chủ thể cũng được đảm bảo một cách đầy đủ, nguyên nhân là do các quyđịnh của pháp luật còn có nhiều vướng mắc gây khó khăn cho việc áp dụng phápluật Mặt khác, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ
TNGTĐB là hết sức phức tạp, khó khăn cả trong lí luận và thực tiễn
Xuất phát từ thực trạng đó, cùng với việc tìm hiểu, phân tích thực tiễn áp
dụng pháp luật về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB trên địa bàn thành phố Hải
Phòng, học viên đã quyết định lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hải Phòng” cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu về bồi thường thiệt hại trong các vụ
tai nạn giao thông đường bộ đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm
nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Đã có rất nhiều những bài viết, các
Trang 9công trình khác nhau nghiên cứu về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như bàiviết “Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án Vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” của tác giả Bùi Huy Hưngđăng tải trên Tạp chí Toà án nhân dân số 02 năm 2016, “Một số vướng mắc trongthực tiễn giải quyết các vụ án về trật tự an toàn giao thông đường bộ” của tác giảNguyễn Đức Mai đăng tải trên Tạp chí Toà án nhân dân số 22 năm 2009… Một
số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ chuyên ngành luật đề cập đến TNBTTH trongcác vụ TNGTĐB như học viên Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ tại thành phố Huế từnăm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội-Viện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội; học viên Nguyễn Thanh Hồng (2001)Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông, luận án tiến sĩ,Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Trên cơ sở tìm hiểu các tác phẩm nêu trên chúngtôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về TNBTTH hại trongcác vụ TNGTĐB dưới góc độ lý luận và thực tiễn thì chưa được thể hiện ở cáccông trình này, đặc biệt là sau khi BLDS 2005 ra đời Với đề tài “Trách nhiệmbồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thựchiện tại thành phố Hải Phòng” chúng tôi mong muốn đây sẽ là công trình nghiêncứu một cách tổng thể và cơ bản về tất cả các khía cạnh pháp lý của TNBTTHtrong các vụ TNGTĐB
3 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận chung về
TNBTTH ngoài hợp đồng trong các vụ TNGTĐB; căn cứ pháp lý của TNBTTH
và thực tiễn giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB tại địa bàn thành phố HảiPhòng và của toàn quốc
Trang 10* Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, mục đích của việc nghiên cứu đề tài
được xác định: Phân tích làm rõ các nội dung lý luận về TNBTTH trong các vụTNGTĐB, phân tích các quy định của pháp luật thực định về TNBTTH trong các
vụ TNGTĐB và thực tiễn vận dụng từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luậttrong lĩnh vực tương ứng
* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Luận văn được hoàn thành thực hiện được các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm của TNGTĐB;
- Làm rõ khái niệm về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB và phân loại
TNBTTH trong các vụ TNGTĐB;
- Tìm hiểu lịch sử hình thành các quy định pháp luật về BTTH trong các vụ
TNGTĐB;
- Phân tích các căn cứ phát sinh TNBTTH, xác định thiệt hại, TNBTTH và
các trường hợp miễn trừ trách nhiệm bồi thường, giảm mức bồi thường trong các
vụ TNGTĐB của BLDS 2005 và so sánh với BLDS 2015;
- Tìm hiểu tình hình TNGTĐB và thực tiễn vận dụng các quy định của pháp
luật BTTH trong các vụ TNGTĐB trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chỉ ranhững bất cập của các quy định pháp luật về BTTH trong các vụ TNGTĐB vàhướng hoàn thiện pháp luật về BTTH trong các vụ TNGTĐB
4 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, tác giả sửdụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Tổng hợp, phân tích,thống kê… để làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung nghiên cứu
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Trang 11Các kết quả nghiên cứu và kiến nghị của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học, các cơ quan xây dựng
luật để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB
Đồng thời các kết quả nghiên cứu cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ
quan, tổ chức hữu quan, người làm công tác giải quyết việc BTTH trong các vụ
TNGTĐB
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ
Chương 2: Nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ theo pháp luật dân sự hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ tại thành phố Hải Phòng và những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao
thông đường bộ
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
Trang 12TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1.1 Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ
Tai nạn giao thông hay tai nạn giao thông đường bộ đã có từ rất lâu
trong lịch sử loài người dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, hiện tại vẫn
chưa có một định nghĩa nào thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của
nó Khi nghiên cứu về TNGT, đã có rất nhiều khái niệm về tai nạn giao thông
khác nhau được đưa ra:
Theo Wikipedia tiếng Việt định nghĩa về TNGT: “Tai nạn giao thông là
sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện
giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an
toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng
tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản.”
Cũng theo Wikipedia, TNGTĐB được định nghĩa là: “Tai nạn giao thông
đường bộ là TNGT xảy ra đối với những phương tiện giao thông đang tham gia
giao thông trên các tuyến đường bộ hay trên đường chuyên dùng và đối với
người đi bộ.”
Theo tác giả Đỗ Đình Hoà định nghĩa: “Tai nạn giao thông là sự kiện bất
ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham
gia giao thông trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các
địa bàn giao thông công cộng, nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc an toàn
giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng
tránh đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khoẻ con người
hoặc tài sản của Nhà nước và nhân dân”1
Theo tác giả Đào Công Hải, thì "Tai nạn giao thông là tai nạn xảy ra khi
các đối tượng tham gia trên đường giao thông công cộng gây nên: - Thiệt hại về
Trang 13sức khỏe, tính mạng con người - Thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại đặc biệtnghiêm trọng về tài sản".2
Theo tác giả Vũ Mạnh Thắng: “Tai nạn giao thông là sự việc xảy ra bất
ngờ do người tham gia giao thông hoặc vi phạm các quy định về trật tự an toàngiao thông hoặc gặp phải tình huống, sự cố đột xuất, không kịp xử lý, có thiệt hại
về tính mạng, sức khoẻ con người, thiệt hại về tài sản”3
Một định nghĩa khác ngắn gọn hơn đó là: “Tai nạn giao thông đường bộ làmột sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn của người điều khiển các phương tiệngiao thông đường bộ khi đang tham gia giao thông.”
Mỗi khái niệm, định nghĩa trên đều có một cách diễn giải khác nhau về
TNGT và TNGTĐB tuy nhiên tổng hợp các điểm chung nhất từ các khái niệmnêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm chung về TNGTĐB như sau:
TNGTĐB là một sự kiện xảy ra bất ngờ do hành vi của con người vi
phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ hoặc do sự cố đột xuất, docác trường hợp bất khả kháng gây ra trong quá trình tham gia giao thông đường
bộ của con người gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho conngười
1.1.2 Đặc điểm của tai nạn giao thông đường bộ
Dựa vào khái niệm về TNGTĐB đã nêu trên và từ các nhận xét, đánh giá
trong thực tế, có thể thấy TNGTĐB có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, TNGTĐB là một sự kiện xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn do hành
vi của vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ của con người, do
sự cố đột xuất hoặc do các trường hợp bất khả kháng gây nên khi đang tham giagiao thông đường bộ
Đây là đặc điểm nổi bật, dễ nhận thấy nhất của các vụ TNGTĐB Pháp
luật luôn đặt ra các quy định về an toàn giao thông đường bộ để buộc người thamgia giao thông phải chấp hành Khi người tham gia giao thông không tuân thủ
Trang 14các quy định về an toàn giao thông đường bộ (vượt đèn đỏ, điều khiển xe vượtquá tốc độ cho phép…) sẽ tạo điều kiện cho TNGTĐB xảy ra, tuy nhiên khôngphải cứ có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ thì sẽgây nên TNGTĐB TNGTĐB phải là một “sự kiện xảy ra bất ngờ”, người thamgia giao thông không thể nhìn thấy trước được hậu quả hoặc không thể nhận thứckhả năng gây hậu quả của hành vi của mình và do người tham gia giao thông viphạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ và do các sự cố đột xuất,trường hợp bất khả kháng gây nên
Thứ hai, TNGTĐB không gây ra thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và uy tín
mà nó chỉ gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản
Danh dự cá nhân là sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân đó,
dựa trên những giá trị tinh thần, đạo đức tốt đẹp; nhân phẩm của cá nhân lànhững phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó còn uy tín cá nhân thể hiện
ở sự tín nhiệm và mến phục của cộng đồng hoặc một bộ phận dân cư đối với cánhân đó4 Các hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín có thể kể đến là:làm nhục, vu khống, Tuy pháp luật không quy định cụ thể các hành vi nào làhành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân nhưng có thể khẳngđịnh rằng hành vi của con người vi phạm các quy định về an toàn giao thôngđường bộ hoặc do sự cố đột xuất, do các trường hợp bất khả kháng gây ra trongquá trình tham gia giao thông đường bộ của con người chỉ xâm phạm đến tínhmạng, sức khoẻ và tài sản cho các nạn nhân và người thân của họ chứ không thểlàm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của những người đó
Thứ ba, các vụ TNGTĐB khi xảy ra rất khó xác định lỗi của các bên và
nguyên nhân gây thiệt hại
Các vụ TNGTĐB thường xảy ra bất ngờ, nhanh chóng, nếu là ban đêm thì
ít khi có người làm chứng, nếu là ban ngày thì người đi đường khó chứng kiến
Trang 15đầy đủ diễn biến của nó; hoặc nếu có chứng kiến rõ chăng nữa thì ít người dừnglại để đứng chờ khai báo sự việc với cơ quan Công an đặc biệt là ở những khuvực hẻo lánh, ít dân cư Các bên trong vụ TNGTĐB thường cố tình đưa ra lờikhai có lợi cho mình, gây khó khăn cho việc xác định phần lỗi và trách nhiệm bồithường của từng bên Việc dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra cũng chỉmang tính tương đối.
Thứ tư, chỉ được gọi là TNGTĐB nếu hành vi vi phạm các quy định về an
toàn giao thông đường bộ là do lỗi có lỗi vô ý hoặc không có lỗi
Trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong quá trình tham gia giao thông
được thực hiện do lỗi cố ý hoặc không có lỗi do đây là một sự kiện bất ngờ nằmngoài ý chí chủ quan của của những người tham gia giao thông Trường hợpngười gây tai nạn mong muốn thiệt hại xảy ra thì không thể gọi là TNGTĐB màtùy từng trường hợp sẽ có tên gọi tương ứng
Ví dụ 1: Do có mâu thuẫn trong làm ăn nên nhân lúc A đang đi bộ sang
đường, B đã cố tình điều khiển xe ôtô đâm thẳng vào A, hậu quả làm ông A thiệtmạng tại chỗ Đây là một vụ Giết người chứ không phải là một vụ TNGTĐB dohành vi của A là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác
Ví dụ 2: C vốn là người không ưa gì D nên luôn tìm cách “chọc tức” D
Khi D đang dựng xe máy uống nước bên bờ sông, thì C bèn giả vờ điều khiển xemáy đi vào “ổ gà” gần đó làm xe mất lái rồi đâm vào xe máy của D làm xe máycủa D rơi xuống sông Trong trường hợp này hành vi của C là một hành vi huỷhoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
1.2 KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 15
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
Trước hết, cần khẳng định: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là
Trang 16nguồn nguy hiểm cao độ.
Khoản 19 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có quy định:
“Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc
sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô babánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.”
Còn Khoản 1 Điều 623 BLDS 2005 liệt kê những nguồn nguy hiểm cao
độ trong thực tế: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vậntải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất
nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độkhác do pháp luật quy định” Theo điểm b Mục 1 Phần III Nghị
quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phánTòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 vềbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì: “Để xác định nguồn nguy hiểm cao độcần phải căn cứ vào khoản 1 Điều 623 BLDS và văn bản quy phạm pháp luậtkhác có liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnhvực cụ thể đó”
Như vậy có thể hiểu, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là một hình
thức của phương tiện giao thông vận tải cơ giới và phương tiện giao thông cơgiới đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ Ngoài ra, phương tiện giao thông cơgiới đường bộ còn đáp ứng đặc điểm là nguồn nguy hiểm cao độ là bởi hoạt động
“tự thân” của chúng luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho môi trường vànhững người xung quanh (ví dụ: xe ôtô mất phanh gây tai nạn…)
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ, do
vậy khi vận hành, đưa phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vào hoạt độngtrên đường bộ thì có thể gây nguy hiểm cao độ cho tính mạng, sức khỏe và tàisản của con người do vậy pháp luật có những quy định nghiêm ngặt trong việc
Trang 17trông giữ, vận hành, sử dụng… phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, cụ thể
ở đây là các quy định về an toàn giao thông đường bộ để tránh cho thiệt hại xảy ra.Các vụ TNGTĐB chỉ có thể xảy ra nếu con người có hành vi vi phạm
các quy định về an toàn giao thông đường bộ mà gây ra TNGTĐB làm thiệt hạiđến tính mạng, sức khỏe và tài sản cho con người (không thể gây thiệt hại vềdanh dự, nhân phẩm, uy tín như đã phân tích ở trên) thì sẽ phát sinh TNBTTH,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác TNBTTH trong các vụ TNGTĐB baogồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi
thường ngoài hợp đồng Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ xemxét TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng
Từ những sự phân tích và nhận định nêu trên, tác giả xin đưa ra khái
niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như sau:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường
bộ là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được phát sinhkhi người nào có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộgây ra gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho con người
1.2.2 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
được chia làm 2 loại gồm: TNBTTH do hành vi trái pháp luật của con người gây
ra TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1.2.2.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người gây ra
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con
người gây ra, có 2 trường hợp đáng chú ý đó là: BTTH trong trường hợp người bịhại có lỗi và BTTH trong trường hợp có lỗi của nhiều người
1.2.2.1.1 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị hại có lỗi
Trang 18Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi được quy
định tại Điều 617 BLDS 2005: "Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gâythiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với
mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại
thì người gây thiệt hại không phải bồi thường."
Khi thiệt hại xảy ra mà người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra
thiệt hại, thì họ phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của mình Thực
chất, trong trường hợp này người bị thiệt hại xác định rõ mức độ lỗi của mỗi bên
để ấn định trách nhiệm bồi thường Vì người bị thiệt hại cũng có lỗi, nhưng họ lại
là người bị thiệt hại, do vậy, họ không phải “bồi thường” cho mình Trong trường
hợp này, trách nhiệm bồi thường không phải là trách nhiệm liên đới Người gây
thiệt hại chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình Tuy
nhiên, việc xác định mức độ lỗi của người gây thiệt hại gặp rất nhiều khó khăn
Trong trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, tức là
người gây ra thiệt hại không có lỗi thì họ không phải bồi thường thiệt hại Ví dụ:
Một người cố ý lao vào ô tô để tự tử 5
1.2.2.1.2 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp có lỗi của nhiều người
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp do nhiều người gây ra được quy định tại Điều
616 BLDS 2005, cụ thể như sau: " Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệthại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của từng người cùng gây thiệt hại được xác định
tương ứng với mức độ lỗi của từng người; nếu không xác định được mức độ lỗi
thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau."
Theo quy định trên đây thì trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cũng
là một loại nghĩa vụ liên đới; các chủ thể trong trách nhiệm liên đới là những chủ
thể cùng gây thiệt hại cho phía người bị hại Điều 616 BLDS chỉ quy định cụ thể
thế nào là "cùng gây thiệt hại" Điều đó đã dẫn đến có hai cách hiểu khác nhau
Trang 19trong thực tiễn nhận thức và áp dụng pháp luật Một trường hợp thực tiễn cụ thể
như sau: A là người điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường Quốc lộ 1A phía
sau chở B, do chạy quá tốc độ, vượt ẩu, A đã chạy xe ra gần giữa đường và đâm
vào chắn bùn bánh xe bên trái xe ô tô do C điều khiển đang lưu thông ngược
chiều gây tai nạn làm B bị thương nặng Qua kết quả khám nghiệm hiện trường
và các chứng cứ khác cho thấy C đã không giảm tốc độ khi tránh xe ngược chiều,
chạy lấn sang phấn đường bên trái 15 cm so với tim đường, Tòa án kết luận cả A
và C đều có lỗi đối với thiệt hại về sức khỏe của B, cả A và C đều phải chịu
TNBTTH cho B Tuy nhiên, việc áp dụng điều luật của BLDS để giải quyết việc
bồi thường trong trường hợp này đã có hai ý kiến khác nhau:
Ý kiến thứ nhất cho rằng, cần áp dụng Điều 616 BLDS để buộc A và C
phải liên đới bồi thường thiệt hại vì cho rằng, trong trường hợp này cả A và C
đều có lỗi đối với thiệt hại của B, hay nói cách hành vi trái pháp luật của A và
hành vi trái pháp luật của C là nguyên nhân gây ra là hậu quả thiệt hại về sức
khỏe của B; mặt khác Điều 616 BLDS chỉ quy định chung chung là "cùng gây
thiệt hại" chứ không trực tiếp chỉ rõ là "cố ý" hay "vô ý" nên tráchnhiệm liên đới
bồi thường thiệt hại vẫn đặt ra đối với trường hợp trên
Ý kiến thứ hai cho rằng, trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại chỉ phát
sinh trong trường hợp những người có hành vi trái pháp luật đều "cùng cố ý" gây
ra thiệt hại, hoặc những trường hợp khác do pháp luật quy định Trong trường
hợp trên, tuy xét về mặt khách quan thì hành vi của A và hành vi của C xảy ra
đồng thời, đều đóng vai trò là nguyên nhân gây ra thiệt hại đối với B, nhưng giữa
A và B không có sự "cùng cố ý", do vậy, trường hợp trên không thể áp dụng Điều
Quan điểm của chúng tôi đồng ý với cách hiểu thứ hai, trách nhiệm liên
đới bồi thường thiệt hại chỉ xảy ra khi các chủ thể gây thiệt hại cùng có lỗi cố ý,
hay nói cách khác họ phải cùng cố ý gây thiệt hại "Cùng cố ý" vừa thể hiện cả về
Trang 20mặt khách quan và chủ quan Về khách quan, "cùng cố ý" có nghĩa là các chủ thể
gây thiệt hại cùng thực hiện hành vi trái pháp luật Hành vi của họ có thể là cùng
loại hoặc không, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện, tiền đề
của nhau hoặc hành vi của người này là hậu quả của hành vi người kia Về chủ
quan, các chủ thể hành vi trái pháp luật đều nhận thức được tính trái pháp luật
của hành vi của mình cũng như tính trái pháp luật của hành vi của người khác
cùng thực hiện với mình và họ đều thấy trước được hậu quả thiệt hại của hành vi
của mình cũng như hành vi của người cùng thực hiện với mình, cùng mong muốn
hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả (thiệt hại) xảy ra
Trong các vụ TNGTĐB, hành vi vi phạm các các quy định về an toàn giao
thông đường bộ chỉ có lỗi vô ý, nhiều người cùng có lỗi gây ra thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ, tài sản cho người khác thì không thể coi là “cố ý cùng gây thiệt
hại” mà chỉ coi là cùng gây ra hậu quả với lỗi vô ý Điều 616 BLDS 2005 bên
cạnh việc quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt
hại còn quy định phương pháp xác định mức bồi thường thiệt hại của các chủ thể
căn cứ vào mức độ lỗi của mỗi người, nếu không các định được mức độ lỗi thì họ
phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau Do vậy, nếu có nhiều người cùng
gây hậu quả với lỗi vô ý thì họ sẽ BTTH theo mức độ lỗi của mỗi người, nghĩa là
chia tách hậu quả theo mức độ lỗi tương ứng, nếu không xác định được mức độ
lỗi thì phải bồi thường theo phần bằng nhau Về mặt thực tiễn xét xử các vụ
TNGTĐB do lỗi của nhiều người cùng gây ra cho thấy toà án đều buộc các bị cáo
chịu trách nhiệm về hình sự cũng như dân sự phần hậu quả chung của vụ án,
chưa có trường hợp nào chia tách hậu quả của vụ án.7
7 Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông
đường bộ tại thành phố Huế từ năm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoahọc xã
hội-Viện khoa học xã hội Việt Nam, trang 48
Trang 211.2.2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
một loại TNBTTH trong các vụ TNGTĐB
Về mặt thực tiễn xét xử các vụ TNGTĐB do lỗi của nhiều người cùng gây
ra cho thấy toà án đều buộc các bị cáo chịu trách nhiệm về hình sự cũng như dân
sự phần hậu quả chung của vụ án, chưa có trường hợp nào chia tách hậu quả của
vụ án.8
1.2.2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
một loại TNBTTH trong các vụ TNGTĐB TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra là loại trách nhiệm do tài sản gây ra, thiệt hại xảy ra không phải do
hành vi và do lỗi của con người mà do hoạt động “tự thân” của nguồn nguy hiểm
cao độ luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho môi trường và những người xung
quanh Mặc dù chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ có thể
không có lỗi đối với thiệt hại nhưng để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người bị
thiệt hại, pháp luật vẫn buộc họ có trách nhiệm bồi thường
* Các điều kiện phát sinh TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
- Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ
Tính nguy hiểm của nguồn nguy hiểm cao độ còn thể hiện ở chỗ con
người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt hại Đối
với nguồn nguy hiểm cao độ, pháp luật thường có những quy định nghiêm ngặt
trong việc trông giữ, vận hành, sử dụng, vận chuyển… chúng để tránh gây thiệt
hại Thiệt hại liên quan đến các loại nguồn nguy hiểm cao độ rất đa dạng và do
8 Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông
Trang 22đường bộ tại thành phố Huế từ năm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoahọc xã
hội-Viện khoa học xã hội Việt Nam, trang 48
nhiều nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, chỉ áp dụng TNBTTH do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau:
Thứ nhất: Những vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải đang trong
tình trạng vận hành, hoạt động như: phương tiện giao thông vận tải cơ giới đang
tham gia giao thông trên đường… Trường hợp thiệt hại xảy ra khi nguồn nguy
hiểm cao độ đang ở trạng thái “tĩnh” – không hoạt động thì không thể coi là thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, ví dụ: xe ô tô dừng đỗ trên đỉnh dốc
nhưng theo quán tính trượt xuống chân dốc gây thiệt hại…
Thứ hai: thiệt hại phải do chính sự tác động của bản thân nguồn nguy
hiểm cao độ hoặc do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm gây ra
Có quan điểm cho rằng các vật là vô tri vô giác, vì vậy chúng không thể
gây thiệt hại nếu không có sự tác động của con người Quan điểm này cho rằng
đằng sau việc gây thiệt hại của một vật bao giờ cũng có sự tác động của con
người Chiếc xe gây tai nạn là do người lái xe làm cho nó chuyển động Quan
điểm này đánh đồng tất cả các thiệt hại đều do con người gây ra, vì vậy các thiệt
hại đều quy về một nguyên tắc bồi thường thiệt hại nói chung Tuy nhiên, không
phải mọi thiệt hại do vật gây ra đều có sự tác động của con người Nhiều trường
hợp, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ nằm ngoài sự kiểm soát, chế ngự
của con người và tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại Việc xác định
thiệt hại là do “tác động của người” hay “tác động của vật” có ý nghĩa vô cùng
quan trọng khi xác định TNBTTH 9
Những trường hợp thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ
nhưng do “tác động của con người”, do hành vi của con người gây ra thì chỉ cần
áp dụng nguyên tắc chung của TNBTTH Hầu hết các vụ tai nạn, thiệt hại đều có
Trang 23sự tham gia của vật với vai trò trung gian như là công cụ, phương tiện mà conngười sử dụng để gây thiệt hại như lái xe phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn…Những trường hợp này thiệt hại hoàn toàn do hành vi có chủ ý của con người chứkhông phải do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại Trường hợp thiệthại xảy ra do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm cao độ, hoàn toàn độc lập
và nằm ngoài sự quản lý, kiểm soát của con người thì sẽ áp dụng TNBTTH donguồn nguy hiểm cao độ gây ra như: xe ô tô đang chạy với tốc độ cao đột nhiênmất phanh, mất lái hoặc nổ lốp gây ra thiệt hại; …
Một điểm cần lưu ý là hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao
độ phải có tính trái pháp luật Pháp luật hiện hành mới chỉ có quy định về “hành
vi trái pháp luật” của con người mà chưa có quy định về tính trái pháp luật khi tàisản nói chung và nguồn nguy hiểm cao độ nói riêng gây thiệt hại Theo tinh thầncủa pháp luật nói chung và BLDS nói riêng, sức khoẻ, tính mạng và tài sản củacông dân được pháp luật bảo vệ do vậy việc gây thiệt hại đến tính mạng, sứckhoẻ, tài sản của người khác bị coi là trái pháp luật, trừ các trường hợp pháp luậtcho phép Do vậy, Điều 623 BLDS 2005 quy định về bồi thường thiệt hại donguồn nguy hiểm cao độ gây ra cần phải hiểu đây là sự kiện gây thiệt hại tráipháp luật, vì vậy TNBTTH được đặt ra
Tóm lại, TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là trách nhiệm đối
với sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ chứ khôngphải thiệt hại do hành vi của con người
- Có thiệt hại xảy ra
Do đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản có khả
năng gây ra thiệt hại trong quá trình vận hành, sử dụng chúng, thiệt hại do nguồnnguy hiểm cao độ gây ra chỉ có thể là những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sứckhỏe Thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm – là những thiệt hại chỉ có thể phátsinh do hành vi của con người nên không thuộc phạm vi tác động của nguồn
Trang 24nguy hiểm cao độ.
Cần phân biệt rõ thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với thiệt hại
do hành vi trái pháp luật của con người gây ra có liên quan đến nguồn nguy hiểmcao độ Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là thiệt hại do “tự thân”nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (ví dụ: Xe ôtô đang vận hành thì bị nổ lốp, mấtphanh…gây thiệt hại cho người tham gia giao thông…; còn thiệt hại có liên quanđến nguồn nguy hiểm cao độ là thiệt do hành vi trái pháp luật của con người khigây thiệt hại nhưng liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ, ví dụ: Lái xe phóngnhanh vượt ẩu, điều khiển phương tiện tham gia giao thông đi không đúng phầnđường dẫn đến tai nạn gây thiệt hại cho người khác)
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của
nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra
Điều kiện này đòi hỏi hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên
nhân tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hạixảy ra là kết quả của hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ Khi xác địnhTNBTTH, cần xem xét thiệt hại đó nguyên nhân nào gây ra, do đâu mà có? Nếukhông xác định chính xác mối quan hệ nhân quả thì sẽ dẫn đến những sai lầm khixác định trách nhiệm bồi thường
Sự khác nhau trong mối quan hệ nhân quả giữa BTTH do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra so với BTTH do hành vi của con người gây ra thể hiện ở chỗ.Nếu trong BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, sự tác động tự thân củanguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân gây thiệt hại (kết quả); thì trong BTTH
do hành vi con người gây ra, hành vi trái pháp luật của con người là nguyên nhângây thiệt hại (kết quả)
* Về vấn đề lỗi
Về nguyên tắc, TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ cần thoả
Trang 25mãn các điều kiện trên đây Điều kiện về lỗi không có ý nghĩa đối với TNBTTH
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, thậm chí kể cả khi chủ sở hữu nguồn nguyhiểm cao độ không có lỗi vẫn phải bồi thường trừ trường hợp do pháp luật quyđịnh tại khoản 3 Điều 623 BLDS 2005
Điều 623 BLDS 2005 quy định TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra chỉ được loại trừ trong trường hợp “thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại”.Quy định như vậy được hiểu là nếu thiệt hại hoàn toàn do lỗi vô ý của người bịthiệt hại thì TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phát sinh
Một điểm quan trọng cần lưu ý là lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu
trong TNBTTH do tài sản (trong đó có nguồn nguy hiểm cao độ) gây ra chỉ cóthể là lỗi vô ý Chủ thể này đã không nhìn thấy trước nguy cơ tài sản có thể gâythiệt hại, điều mà những người chu đáo, cẩn thận sẽ nhận thấy được trong hoàncảnh tương tự Thiệt hại phát sinh khi chủ sở hữu, người quản lý tài sản đã khôngthực hiện sự quan tâm, chu đáo cần thiết khi thực hiện nghĩa vụ quản lý tài sản.Nếu như các trường hợp BTTH thông thường dựa trên sự suy đoán lỗi thì
TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dựa trên sự suy đoán trách nhiệmđối với người có nghĩa vụ quản lý nguồn nguy hiểm cao độ TNBTTH do nguồnnguy hiểm cao độ gây ra chỉ áp dụng khi hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguyhiểm cao độ nằm ngoài khả năng kiểm soát, điều khiển của người chiếm hữu, vậnhành và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn
do lỗi của con người trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểmcao độ thì không áp dụng trách nhiệm này mà sẽ áp dụng TNBTTH nói chung.TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không loại trừ khả năng thiệt
hại cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, trông giữ, bảo quản, vận hànhnguồn nguy hiểm cao độ nhưng hành vi của người trông giữ, vận hành nguồnnguy hiểm cao độ không phải nguyên nhân có tính quyết định đến thiệt hại Chủ
sở hữu, người đang chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ không được miễn trừ
Trang 26trách nhiệm bồi thường kể cả trong trường hợp họ chứng minh được mình không
có lỗi trong việc trông giữ, bảo quản vận hành nguồn nguy hiểm cao độ Bởi lẽ,yếu tố lỗi không phải là một điều kiện tiên quyết làm phát sinh TNBTTH donguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà dấu hiệu quan trọng nhất để xác định tráchnhiệm này là hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ chính là nguyên nhân trựctiếp, là yếu tố quyết định dẫn đến thiệt hại Hoạt động gây thiệt hại của nguồnnguy hiểm cao độ có thể hoàn toàn không có lỗi của con người (như xe đangchạy trên đường bất ngờ nổ lốp trước dẫn đến đổi hướng đột ngột gây thiệt hại)
hoặc cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, điều khiển, tuy nhiên, lỗi ởđây chỉ đóng vai trò thứ yếu đối với thiệt hại (như trước khi xuống dốc, lái xekhông kiểm tra lại phanh; lốp mòn do chủ quan nghĩ rằng xe vẫn vận hành tốt…)Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi, do hành vi của người điều khiển nguồnnguy hiểm cao độ thì không áp dụng trách nhiệm này 10
* Xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra
Căn cứ vào khoản 2 Điều 623 BLDS 2005 và Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP thì chủ thể phải chịu TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra gồmcó: Chủ sở hữu; người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguyhiểm cao độ; người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ.Việc xác định ai trong số các chủ thể này phải chịu TNBTTH do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể
- Chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ
Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu là người có quyền chiếm hữu, sử dụng,định đoạt tài sản theo ý chí của mình Việc thực hiện quyền sở hữu của chủ sởhữu không được gây tổn hại tới lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác Vì vậy, nếu nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người khác
Trang 27trong trường hợp chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểmcao độ thì TNBTTH thuộc về chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ.
- Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu, sử
dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải BTTH donguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người đượcgiao chiếm hữu, sử dụng có thoả thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hộihoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường (có thể là thoả thuận cùng nhau liênđới bồi thường thiệt hại; có thể là thoả thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hạitrước, sau đó người được giao chiếm hữu sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu; cóthể là thoả thuận chủ sở hữu bồi thường toàn bộ…)
Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người
khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không theo đúng quy định củapháp luật mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải BTTH Ví dụ: Chủ sở hữu biếtngười đó không có bằng lái xe ôtô, nhưng vẫn giao quyền chiếm hữu, sử dụngcho họ mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải BTTH
- Về nguyên tắc chung, chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm
hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại donguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau thiệthại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại và thiệt hại xảy ra trongtrường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết
- Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải
BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, nếu chủ sở hữu, người được chủ sởhữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp không có lỗi trong việc để nguồn nguyhiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (đã tuân thủ các quy định vềbảo quản, trong giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng cácquy định của pháp luật)
Trang 28Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp
pháp có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng tráipháp luật (không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định về bảo quản,trong giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy địnhcủa pháp luật) thì phải liên đới cùng với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luậtBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
- Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao
độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp cụ thể đóngười được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm hữu, sử dụngnguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai có TNBTTH
Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ôtô đã giao xe ôtô đó cho B B lái xe ôtô tham
gia giao thông đã gây ra tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt :
+ Nếu B chỉ được A thuê lái xe ôtô và được trả tiền công, có nghĩa, B
không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ôtô đó mà A vẫn chiếm hữu, sửdụng; do đó, A phải BTTH
+ Nếu B được A giao xe ôtô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa là,
A không còn chiếm hữu, sử dụng xe ôtô đó mà B là người chiếm hữu, sử dụnghợp pháp; do đó, B phải BTTH Nếu trong trường hợp này được sự đồng ý của
A, B giao xe ôtô cho C thông qua hợp đồng cho thuê tài sản, thì C là người chiếmhữu, sử dụng hợp pháp xe ôtô đó; do đó, C phải BTTH 11
1.3 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠNGIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Trong lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam, chế định TNBTTH ngoài
hợp đồng nói chung và bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB nói riêng, đãtrải qua một thời gian dài hình thành và phát triển
Bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đã được manh nha hình thành và
Trang 29được ghi nhận rất sớm trong lịch sử pháp luật Việt Nam tại Hoàng Việt luật lệ,
bộ luật chính thức của Việt Nam thời đầu nhà Nguyễn: "Ở thôn quê, nếu vô cớ
quất ngựa chạy lung tung nơi đồng vắng không người phải nhân đó làm bị
thương người ta, không đến đỗi chết thì không nói; nếu làm chết người thì phạt
100 trượng, xử như vừa nói, cấp cho người ta 10 lạng bạc lo chôn cất Nếu vì
công vụ khẩn cấp, cho ngựa phi nhanh, làm bị thương người thì xử tội sai lầm, đi
theo luật chuộc đền cho nạn nhân" 12 Theo đó, điều luật trên quy định trách
nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có hành vi “điều
khiển ngựa” gây thiệt hại Cụ thể, trường hợp làm nạn nhân chết thì phải chịu
11 Phạm Vũ Ngọc Quang (2012), Cần có thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về bồithường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra / Phạm Vũ Ngọc Quang ,Tạp chí Kiểm sát, (7)
12 Hoàng Việt luật lệ, tập 4, (1994), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.717
phạt 100 trượng và đền bù 10 lạng bạc, trường hợp nạn nhân không chết hoặc do
thực hiện công vụ khẩn cấp thì chỉ phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân Điều
luật cũng quy định rõ người có hành vi gây thiệt hại chỉ phải đền bù trong trường
hợp là do “vô cớ”, tức là lỗi vô ý
Thời kỳ Pháp thuộc, tại điều 711 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 763 Dân luật
Trung Kỳ có quy định:
“Người ta phải chịu trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà
cả về sự tổn hại do những người mà mình phải bảo lãnh hay do những vật mà
mình phải trông coi nữa
Phàm vật vô hồn mà làm nên tổn hại thì người trông coi vật ấy cho là có
lỗi vào đó, không phân biệt vật đó có tay người động đến hay không, muốn phá
sự phỏng đoán đó thì phải có bằng chứng trái lại mới được
Bấy nhiêu trường hợp như trên để có trách nhiệm cả, trừ khi người chịu
trách nhiệm đó có bằng chứng rằng cái việc sinh ra trách nhiệm ấy mình không
Trang 30thể ngăn cấm được”
Hai điều luật trên quy định TNBTTH của người trông coi “vật vô hồn”
trong hai trường hợp:
- Thiệt hại do người đó tự gây ra
- Thiệt hại do “vật vô hồn” mà người đó trông coi gây ra, không phụ thuộc
vật đó có sự tác động của con người hay không
Trường hợp người có TNBTTH nếu có bằng chứng chứng minh được “cái
việc sinh ra trách nhiệm” mà người đó “không thể ngăn cấm được” thì người đóđược miễn BTTH, hiểu một cách đơn giản đây là gây thiệt hại trong trường hợpbất khả kháng thì sẽ được miễn trừ TNBTTH
“Vật vô hồn” ở đây có thể hiểu gần giống như những nguồn nguy hiểm
cao độ, là những vật “vô tri, vô giác” nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại chocon người, một trong số đó có thể kể đến là các phương tiện giao thông cơ giớiđường bộ Trong thời kì Pháp thuộc, thực dân Pháp đã xây dựng hàng ngàn cây sốđường liên huyện, liên tỉnh, liên vùng, liên miền và cho nhập về rất nhiều các loại xeôtô, cơ giới phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa Năm 1926, chỉ tính riêng tạimiền Nam, có đến 7000 xe du lịch, 1150 xe vận chuyển hàng, 450 xe môtô, đó làchưa kể đến số lượng xe ôtô cá nhân của tầng lớp cầm quyền, người giàu có và cácloại xe chuyên dụng khác; thậm chí thời điểm đó còn có sự phát triển của các hãngvận tải ôtô công cộng trên cả 3 miền đất nước 13 Chính vì thế, pháp luật thời kì đó
đã dự liệu trước khả năng gây thiệt hại của những “vật vô hồn” này và đã quy địnhTNBTTH do những vật này gây ra cho những người trông coi, sử dụng chúng Đây
có thể coi là quy định ghi nhận TNBTTH trong các vụ TNGTĐB nói chung vàTNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nói riêng trong thời kì Pháp thuộc.Đến năm 1972, văn bản mang tính quy phạm pháp luật đầu tiên, hoàn
chỉnh của Nhà nước ta quy định cụ thể TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung và
Trang 31TNBTTH nói riêng được ra đời Đó là Thông tư số 173- UBTP "Hướng dẫn xét
xử về BTTH ngoài hợp đồng" Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 23-3- 1972
Thông tư số 173-UBTP là sự tổng kết kinh nghiệm thực thực tiễn xét xử của các
Tòa án nhân dân, nội dung chính của Thông tư số 173-UBTP bao gồm 04 phần:
hướng dẫn đường lối chung về BTTH ngoài hợp đồng, hướng dẫn việc xác định
TNBTTH ngoài hợp đồng, hướng dẫn việc ấn định mức BTTH và hướng dẫn
người được hưởng BTTH
Vào thời điểm ban hành Thông tư 173-UBTP, tại Việt Nam các loại xe ôtô
chỉ thuộc sở hữu Nhà nước Sau đó, nhất là tới thời kỳ mở cửa và hội nhập của
Việt Nam, xe ôtô không chỉ thuộc sở hữu nhà nước mà còn cả thuộc sở hữu tư
nhân, cùng với đó là số lượng xe ôtô ngày một gia tăng dẫn đến các quan hệ phát
sinh ngày càng phức tạp, nhiều vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể hơn Nhằm
đáp ứng yêu cầu cấp thiết này, sau khi rút kinh nghiệm và trao đổi thống nhất với
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Giao thông vận tải, ngày 5/4/1983 Thông
tư số 03-TATC của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề bồi thường
13 A.A.Pouyanne (1989), Các công trình giao thông công chính Đông Dương, In lần thứ 2, NguyễnTrọng Giai dịch, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, tr.19 – 20
thiệt hại trong tai nạn ôtô đã được ban hành Nội dung của Thông tư số 03-TATC
quy định khá đầy đủ và chi tiết về việc bồi thường thiệt hại trong tai nạn ôtô :
- Phần I: Cơ sở của việc bồi thường thiệt hại trong tai nạn ôtô Ngoài 4
điều kiện của trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng là cơ sở để xác định việc
bồi thường trong tai nạn ôtô, Thông tư số 03-TATC cũng nêu rõ: “Hoạt động
của ô tô là một nguồn nguy hiểm cao độ cho nên phía ô tô có trách nhiệm bồi
thường cho người thiệt hại, kể cả trường hợp tai nạn xảy ra vì cấu tạo của máy
móc, vật liệu (tai nạn rủi ro).” Đây cũng là điểm đặc trưng của TNBTTH trong
tai nạn ôtô, nhằm đề cao ý thức trách nhiệm quản lý của người được giao chiếm
hữu, sử dụng ôtô Ngoài ra Thông tư số 03-TATC đã quy định khá cụ thể về lỗi
Trang 32của từng chủ thể (lỗi của phía ôtô, lỗi của nạn nhân, lỗi của người thứ 3 cũng đưa
ra hướng xử lý đối với từng trường hợp cụ thể: khi ôtô va chạm mà gây thiệt hại
và chỉ có 1 bên có lỗi thì bên có lỗi phải BTTH còn nếu cả 2 bên có lỗi thì xácđịnh trách nhiệm liên đới Nếu trong trường hợp tự thân hoạt động của ôtô màgây thiệt hại thì phía ôtô phải bồi thường Trong trường hợp bất khả kháng như:
do cây đổ, đá lở, sét đánh,…thì phía ôtô không phải bồi thường
- Phần II: Những thiệt hại phải bồi thường và mức độ bồi thường Cụ thể
hoá Thông tư 173-UBTP, Thông tư 03-TATC cũng đã liệt kê cụ thể thiệt hại vềsức khoẻ, tính mạng của nạn nhân, thiệt hại về tài sản (phương tiện, hàng hoá,các công trình hạ tầng) và nguyên tắc phải bồi thường thiệt hại toàn bộ trong các
vụ tai nạn ôtô
- Phần III: Người phải bồi thường Người phải BTTH cũng được xác định
tương đối cụ thể trong Thông tư 03-TATC Theo đó, người chiếm hữu phươngtiện phải bồi thường những thiệt hại gây ra cho người xung quanh mà khôngphân biệt việc người lái xe đang làm nhiệm vụ được giao hay không được giaonhiệm vụ nhưng đã lợi dụng hoặc sử dụng để làm việc riêng Quy định này xuấtphát từ thực tiễn xét xử cho thấy rằng những người lái xe thường không có khảnăng bồi thường khi thi hành án khiến quyền lợi của người bị thiệt hại khôngđược đảm bảo, ngoài ra quy định này có tác dụng làm cho người chiếm hữuphương tiện phải giáo dục và quản lý chặt chẽ những người lái xe Thông tư nàycòn xác định người chủ xe là người chiếm hữu xe trừ khi xe đã được chuyển giaocho người khác thông qua hợp đồng cho mượn, cho thuê không kèm theo ngườilái, xe bị trưng dụng theo mệnh lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi
xe chuyển giao thì người được chuyển giao phải chịu trách nhiệm bồi thường.Nếu xe bị huy động phục vụ các nhu cầu của nhà nước như: chống bão lụt, dịchbệnh…thì chủ phường tiện vẫn phải BTTH nếu xe gây thiệt hại vì chủ phương
Trang 33tiện vẫn được coi là thực hiện kế hoạch Nhà nước, được Nhà nước cung cấp cho
kinh phí, nhiên liệu…
Ngày 1/7/1996, văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất
quy định về BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trong các vụ TNGTĐB nói
riêng là Bộ luật dân sự năm 1995 chính thức có hiệu lực "TNBTTH ngoài hợp
đồng" đã được ghi nhận trong một chương riêng (Chương V) ở Phần thứ ba:
"Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự" bao gồm ba mục với 25 điều Các quy địnhtrong chương V này đã pháp điển hóa các hướng dẫn trong Thông tư số 173/UBTP
ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao một cách cụ thể, rõ ràng và chính
xác hơn Cụ thể là các quy định về TNBTTH; các căn cứ làm phát sinh TNBTTH;
nguyên tắc BTTH; năng lực chịu TNBTTH của cá nhân; việc xác định thiệt hại do
tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín và tài sản bị xâm phạm; cũng như
vấn đề BTTH trong một số trường hợp cụ thể
Ngày 28/4/2004 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng
một số quy định của BLDS năm 1995 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao được ban hành Đây có thể coi là
một trong những điểm bổ sung góp phần hoàn thiện các quy định về TNBTTH
ngoài hợp đồng nói chung và TNBTH trong các vụ TNGTĐB nói riêng Mặc dù
vậy, Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót, ví dụ như
tại quy định về cách tính thiệt hại tinh thần của nghị quyết còn nhiều bất cập
Ngày 14/6/2005 Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành thay thế cho
BLDS 1995 đã bị lạc hậu so với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế
và các giao lưu trong đời sống xã hội Với kết cấu ba mục với 27 điều, các quy
định trong Chương XXI về TNBTTH ngoài hợp đồng được quy định khá tương
đồng nhưng cụ thể, hoàn thiện hơn so với các quy định của BLDS năm 1995, bổ
sung thêm thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và một số trường hợp
BTTH trong Mục 3: “Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể” Cũng
Trang 34trong giai đoạn này, ngày 8/7/2006 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hộiđồng thẩm phán Toà án dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định củaBLDS năm 2005 về BTTH ngoài hợp đồng đã được ban hành với những sửa đổi
bổ sung nhất định góp phần hoàn thiện chế định về TNBTTH ngoài hợp đồng nóichung và TNBTTH trong các vụ TNGTĐB nói riêng
Mới đây, Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua vào ngày
24/11/2015 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 và thay thế cho BLDS năm 2005.Nằm tại chương XX với 25 điều, các quy định về TNBTTH ngoài hợp đồng đãtiếp tục được bổ sung, hoàn thiện hơn nhằm giải quyết được những vướng mắctrong thực tiễn 10 năm thi hành của BLDS năm 2005 Trong số các quy địnhđược thay đổi so với BLDS năm 2005 phải kể đến các quy định về căn cứ phátsinh TNBTTH, nguyên tắc BTTH, năng lực chịu TNBTTH của cá nhân, thiệt hại
do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm, thiệt hại do tínhmạng bị xâm phạm, thời hạn hưởng BTTH do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm,
sự thay đổi của các quy định này sẽ liên quan trực tiếp đến việc giải quyết BTTHtrong các vụ TNGTĐB Với những bổ sung, thay đổi này, việc giải quyết BTTHtrong các vụ án TNGTĐB hứa hẹn sẽ có hiệu quả hơn, đảm bảo hơn tốt quyền vàlợi ích của các bên chủ thể
Trang 35CHƯƠNG 2
NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO
PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH
2.1 CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Căn cứ phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng được thể hiện tại Điều 604
BLDS năm 2005:
"1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân,xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệthại thì phải bồi thường
2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi
thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."
Từ quy định này có thể thấy TNBTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ
Trang 36bốn điều kiện sau đây:
- Phải có thiệt hại xảy ra;
- Phải có hành vi trái pháp luật;
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp
luật;
- Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại
TNBTTH trong các vụ án TNGTĐB là một trường hợp của TNBTTH
ngoài hợp đồng được quy định tại Chương XXI của BLDS Do vậy các các căn
cứ phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng cũng chính là các căn cứ phát sinh
TNBTTH trong các vụ TNGTĐB nhưng được cụ thể hóa trong từng điều kiệnnhư sau:
2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra
Phải có thiệt hại xảy ra là một điều kiện tiên quyết của TNBTTH ngoài
hợp đồng Trong TNBTTH ngoài hợp đồng, bên bị thiệt hại bắt buộc phải chứngminh được thiệt hại xảy ra, nếu không có thiệt hại thì mặc dù có hành vi vi phạmpháp luật cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường, mặc dù có thể phát sinhnhững trách nhiệm pháp lý khác như: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hànhchính Thiệt hại là sự giảm sút về lợi ích vật chất của người bị thiệt hại mà họ đã
có hoặc sự mất mát lợi ích vật chất mà chắc chắn họ sẽ có Bồi thường chính lànhằm khôi phục lại toàn bộ hoặc một phần tình trạng tài sản trước khi xảy ra thiệthại hoặc bù đắp những tổn thất do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự bịxâm phạm, nên thiệt hại được coi là điều kiện có ý nghĩa quan trọng
Như đã trình bày ở chương I, thiệt hại trong các vụ TNGTĐB chỉ có thể là
những thiệt hại do tài sản, tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, không thể có thiệthại do danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm
Thiệt hại trong các vụ TNGTĐB bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại
Trang 37do tổn thất về tinh thần.
* Thiệt hại về vật chất bao gồm:
- Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm, theo quy định tại khoản 1 Điều 609
BLDS 2005 gồm có: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sứckhoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bịmất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; chi phí hợp lý và phần thu nhập thực
tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người
bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thìthiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, theo quy định tại khoản 1 Điều 610
BLDS 2005 gồm có: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sócngười bị thiệt hại trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡngcho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng
* Thiệt hại do tổn thất về tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 609 và
khoản 2 Điều 610 BLDS 2005 Theo đó, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinhthần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá
ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định trong trường hợp sức khoẻ
bị xâm phạm và không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy địnhtrong trường hợp tính mạng bị xâm phạm
2.1.2 Phải có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thực
hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái pháp luật xâm phạm đếntính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi íchcủa chủ thể khác được pháp luật bảo vệ
Các hành vi trái pháp luật gây thiệt hại sẽ phát sinh TNBTTH Nếu hành
vi gây thiệt hại mà pháp luật không cấm thực hiện (ví dụ: gây tai nạn trongtrường hợp bất khả kháng) hoặc hành vi trái pháp luật mà không gây thiệt hại (ví
Trang 38dụ: chạy quá tốc độ nhưng không gây tai nạn) thì người thực hiện hành vi khôngphải bồi thường.
Trong các vụ TNGTĐB, các hành vi trái pháp luật sau đây mà gây thiệt
hại thì đều phải bồi thường:
- Hành vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Các hành vi
đó có thể là: đi quá tốc độ; chở quá trọng tải quy định; tránh, vượt trái phép;không đi đúng tuyến đường hoặc phần đường và các hành vi khác vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ do cơ quan có thẩm quyềnban hành
- Hành vi cản trở giao thông đường bộ Các hành vi này có thể là: đào,
khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt trái phép chướngngại vật gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sailệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đườngbộ; lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; lấn chiếm hành lang bảo vệđường bộ; vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trênđường bộ và các hành vi khác gây cản trở giao thông đường bộ
- Hành vi đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ,
xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giaothông Đây là hành vi của người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều độnghoặc về tình trạng kỹ thuật Hành vi đó được thể hiện bằng việc cho phép đưavào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ rõ ràng không đảm bảo an toàn kỹthuật mà gây thiệt hại
- Hành vi điều động hoặc giao người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện tham gia giao thông đường bộ Các hành vi này thường là điều độnghoặc giao cho người không có giấy phép hay bằng lái hoặc không đủ các điềukiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông
Trang 39đường bộ mà gây thiệt hại.
- Hành vi tổ chức đua xe trái phép và đua xe trái phép
- Hành vi vi phạm quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình
giao thông Các hành vi này có thể là hành động như duy tu, sửa chữa khôngđúng quy định (không có biển báo, để nguyên vật liệu không đúng quy định )cũng có thể là không hành động, như phải tiến hành duy tu, sửa chữa và có đủcác điều kiện duy tu, sửa chữa, nhưng không tiến hành 14
2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây thiệt
hại và thiệt hại xảy ra
Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật
gây thiệt hại, nghĩa là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản phải là kết quả tấtyếu của hành hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ gâythiệt hại và ngược lại hành vi trái pháp luật đó phải là nguyên nhân trực tiếp gây
ra thiệt hại thì người gây thiệt hại mới phải BTTH cho người bị thiệt hại
Tuy nhiên, trong các vụ TNGTĐB, việc xác định mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khókhăn Xác định đúng quan hệ nhân quả tuy rất khó khăn, phức tạp nhưng ý nghĩarất quan trọng trong việc xác định TNBTTH Khi đánh giá, xác định nguyênnhân của các vụ TNGTĐB gây thiệt hại cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Cần phải phân biệt nguyên nhân với điều kiện Nguyên nhân giữ vai trò
có tính chất quyết định trong việc phát sinh ra kết quả, còn điều kiện chỉ là sựxúc tác để thúc đẩy kết quả xảy ra Ví dụ: A điều khiển xe chạy quá tốc độ Khi
xe đi qua “ổ gà” thì bị mất lái đâm vào B làm B thiệt mạng Trong trường hợpnày hành vi điều khiển xe quá tốc độ mới là nguyên nhân, việc đi xe chạy vào “ổgà” mất lái chỉ là xúc tác làm cho hậu quả là B bị thiệt mạng xảy ra
- Cần phải phân biệt nguyên nhân chủ yếu với nguyên nhân thứ yếu dẫn
đến thiệt hại xảy ra Sự thiệt hại không phải chỉ đơn thuần do một nguyên nhân
Trang 40gây ra, mà thường là do nhiều nguyên nhân Các nguyên nhân này không tồn tạiđộc lập mà kết hợp với nhau quyết định phát sinh ra thiệt hại, nếu thiếu một trongcác nguyên nhân đó thì kết quả sẽ không xảy ra Sự tác động của từng nguyênnhân đối với kết quả xảy ra có thể khác nhau về mức độ tuy nhiên cần xác địnhnguyên nhân nào là nguyên nhân chủ, nguyên nhân nào là thứ yếu để làm căn cứxác định TNBTTH Ví dụ: A điều khiển xe máy chở B, A đội mũ bảo hiểm còn Bthì không đội A điều khiển xe máy chạy với tốc độ cao đi lấn làn nên đâm vào
xe ôtô đang chạy ngược chiều Hậu quả, B tử vong do “nứt vỡ hộp sọ, đa chấnthương” còn A do đội mũ bảo hiểm nên dù bị thương rất nặng nhưng vẫn giữđược tính mạng Trong trường hợp này, hành vi “không đội mũ bảo hiểm” của Btuy là hành vi vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông nhưng đây chỉ lànguyên nhân thứ yếu, không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cái chết của B,nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc B bị thiệt mạng là hành vi “điều khiển xe máychạy quá tốc độ, lấn làn” của A
Như vậy, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây thiệt hại
và thiệt hại xảy ra phải xác định được đúng nguyên nhân và kết quả; phân biệt đượcđâu là nguyên nhân và đâu là điều kiện; phân biệt được nguyên nhân nào là chủ yếunguyên nhân nào là thứ yếu, nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp Cónhư vậy mới TNBTTH trong các vụ TNGTĐB mới được xác định một cách
chính xác
2.1.4 Người gây ra thiệt hại phải có lỗi
Trong các vụ TNGTĐB, lỗi của người gây thiệt hại chỉ có thể là lỗi vô ý
hoặc người gây thiệt hại không có lỗi Khi tham gia giao thông, người điều khiểnphương tiện giao thông cơ giới đường bộ phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyđịnh về an toàn giao thông đường bộ theo đó họ sẽ phải biết hoặc có thể biết
trước các hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ có thể