1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh bắc giang

121 373 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết số 03/2006/NĐ-CP ngày 08/07/2006 của Chính Phủ hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có phần đề cập đến bồi thườ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THANH NHÀN

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI

NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THANH NHÀN

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI

NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:TS MAI VĂN THẮNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG 1

1.1.Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1

1.1.2.Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 5

1.1.3.Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7

1.2 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông 12

1.2.1.Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông 12

1.2.2.Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông 18

1.3.Khái luận pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông 28

CHƯƠNG 2 33

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 33

Trang 4

2.1.Tổng quan pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông 33 2.1.1.Thực trạng pháp luật về những vấn đề chung của trách nhiệm bồi thường thiệt trong các vụ tai nạn giao thông 36 2.1.3.Thực Trạng quy định của pháp luật về việc xác định thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông 58 2.2 Khái quát về điều kiện của tỉnh Bắc Giang liên quan đến trật tự an toàn giao thông và bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông 66 2.3.Thực tiễn áp dụng pháp luật BTTH do các vụ TNGT tại Bắc Giang 73 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG 84 3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thiệt hại quan hệ ngoài hợp đồng nói chung và thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông nói riêng 84

3.2 Hoàn thiện các quy đi ̣nh về bồi thường thiê ̣t ha ̣i trong các vu ̣ tai na ̣n giao

thông 86 3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng giải quyết về bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tính mạng, tài sản bị xâm phạm trong các vụ tai nạn giao thông tại tỉnh Bắc Giang 94 KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 5

BẢNG CHÚ GIẢI TỪ NGỮ

BCA : Bộ Công An

BLDS : Bộ luật dân sự

BTTH : Bồi thường thiệt hại

BTTHNHD : Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng GTVT : Giao thông vận tải

TNDS : Trách nhiệm dân sự

TNGT : Tai nạn giao thông

TNGTDB : Tai nạn giao thông đường bộ

DNBH : Doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, năm 2016 cả nước

có 21.589 vụ tai na ̣n giao thông , làm chết 8.685 người và làm bị thương 19.280 người; trong đó tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên xảy ra 10.167 vụ, làm chết 8.671 người, bị thương 5.984 người [36]

Rõ ràng, tai nạn giao thông và những thiệt hại mà nó gây ra đã và đang là vấn đề rất nhức nhối, cần sự chung tay của cả cộng đồng để giảm thiểu tối đa thiệt hại TNGT không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà trong nhiều vụ việc còn là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tinh thần đối với người bị tai nạn cũng như gia đình, người thân của họ Vì thế, thiệt hại do tai nạn giao thông trong nhiều vụ việc là không thể tính toán, đong đếm và bù đắp được theo thuyết “ngang giá” Các quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp này mang ý nghĩa bù đắp tổn thất, làm giảm tối đa hậu quả mà người bị tai nạn và gia đình của họ phải chịu chứ không có ý nghĩa đảm bảo sự công bằng như trong một số trường hợp bồi thường thiệt hại khác

Việc áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại (BTTH) trong các vụ tai nạn giao thông hiện nay còn gặp nhiều vướng mắc và thiếu sự thống nhất Khi các

vụ tai nạn giao thông xảy ra, các bên thường thỏa thuận với nhau về mức bồi thường, phương thức bồi thường Sự thỏa thuận đó thường rất cảm tính, ít dựa trên các quy định của pháp luật nên thường không chính xác do thiếu căn cứ hoặc không đúng trình tự

Thực tiễn công tác giải quyết việc BTTH ngoài hợp đồng nói chung, BTTH trong các vụ TNGT nói riêng cho thấy còn có nhiều vướng mắc, thiếu thống nhất

Trang 7

trong việc xác định thiệt hại, tính toán mức thiệt hại, nhất là trong việc tính toán thiệt hại về mặt tinh thần; xác định mối quan hệ nhân quả không thống nhất, chưa chính xác Đặc biệt, trong các vụ TNGT chưa phân biệt rõ giữa việc phải chịu trách nhiệm hình sự của người có lỗi gây ra tai nạn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả xảy ra; vấn đề xác định trách nhiệm, giới hạn bồi thường, việc chuyển giao quyền yêu cầu giữa cơ quan bảo hiểm với chủ xe, lái, phụ xe trong việc thực hiện bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm TNDS của chủ xe

cơ giới Các vấn đề như biện pháp bảo đảm thi hành BTTH, bồi thường trong trường hợp người thành niên gây tai nạn mà không có tài sản riêng để bồi thường, trách nhiệm bồi thường của người hành động trong tình thế cấp thiết chưa được quy định cụ thể, thế nhưng cũng chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành Trong phần lớn các vụ TNGT các bên tự thỏa thuận với nhau về việc BTTH trong đó có nhiều trường hợp việc thỏa thuận không tuân theo hoặc tuân theo không đầy đủ nguyên tắc trình tự, cách tính toán thiệt hại, mức BTTH nên sau đó xảy ra nhiều khiếu kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết

Mặt khác, các quy định về bồi thường thiệt hại hiện nay vẫn là quy định chung, chưa có quy định riêng cho trường hợp bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông mặc dù nó có những đặc thù và dễ gây nhầm lẫn Nghị quyết số 03/2006/NĐ-CP ngày 08/07/2006 của Chính Phủ hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có phần

đề cập đến bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhưng chưa dự liệu được một số vấn đề như: chuyển giao quyền yêu cầu giữa cơ quan bảo hiểm với chủ xe, lái xe trong việc thực hiện bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; bồi thường thiệt hại trong trường hợp người gây tai nạn là người chưa thành niên không có tài sản riêng để bồi thường; các biện pháp bảo đảm thi hành trách nhiệm bồi thường thiệt hại… [23]

Trang 8

Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông là một nội dung rất quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam.Tuy nhiên, các quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 chỉ là những vấn đề chung nhất, rất khó xác định đầy đủ chủ thể có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, đồng thời tạo ra khả năng bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại một cách kịp thời và đầy đủ nhất Trong khi đó, nghiên cứu sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông lại là một vấn đề đặc thù, vừa mang tính lý luận, lại đòi hỏi rất nhiều về thực tiễn trong cuộc sống Đây là một vấn đề mới, khó về lý luận và phức tạp trong thực tiễn áp dụng

Chính vì những lý do trên nên tôi chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường

thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông - thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” là công trình khoa học nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ Hi vọng đề

tài nhằm giải quyết một cách tương đối có hệ thống những vấn đề có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông; thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về vấn đề này tại tỉnh Bắc Giang; đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề này về mặt lý luận cũng như thực tiễn, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân trong các vụ tai nạn giao thông

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế định BTTH ngoài hợp đồng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý trong

và ngoài nước nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau Các công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra gồm có:

Luận văn thạc sĩ luật học của Lê Mai Anh về “Những vấn đề vơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự” năm 1997, luận văn thạc sỹ luật học của Lê Thị Bích Lan “Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín” năm 1999; Luận

Trang 9

văn thạc sĩ luật học Hoàng Quảng Lực “Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khoẻ bị xâm phạm khi người bị thiệt hại có hành vi trái pháp luật; Luận văn Thạc

sĩ luật học của Nguyễn Quỳnh Anh – Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm

2011 về đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái luật gây ra theo Bộ luật dân sự 2005"; Luận văn Thạc sĩ luật học của Trần Thị Thu Hiền về đề tài "Những nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong luật dân sự Việt Nam"; Luận án Thạc sĩ luật học của Lê Kim Loan về đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Hương về “Bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe theo pháp luật Việt Nam” năm 2014…

Ngoài ra, cũng có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học của TS Ngô Huy Cương về “Trách nhiệm dân sự - So sánh và phê phán” năm 2009; Ths

Đinh Văn Quế, “Một số ý kiến về khoản tiền bù đắp về tinh thần do bị xâm phạm

về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín quy định tại Bộ luật dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20-2009; Đỗ Văn Chỉnh, “Bàn về bồi thường do tính mạng bị xâm phạm quy định tại điều 610 Bộ luật dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 22-2009; “Bàn về lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

của TS Phùng Trung Tập -Trường Đại học Luật Hà Nội (Tạp chí Luật học Số

10/2004); sách chuyên khảo của tác giả, TS Phùng Trung Tập “BTTH ngoài hợp đồng do tài sản, sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm” do NXB Hà Nội xuất bản năm

2009 Nguyễn Văn Hợi, “Những hạn chế và bất cập trong việc xác định thiệt hại khi sức khoẻ bị xâm phạm theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” năm 2011, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14-2011; Phùng Thị Tuyết Trinh,

“Quyền bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể trong pháp luật dân sự Việt Nam” năm 2011; Nhà pháp luật Việt – Pháp, Tọa đàm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng năm 2011; Nguyễn Công Huy, “Bình luận cơ sở phát

Trang 10

sinh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” năm 2012, một số bài viết của Nguyễn

Đức Giao, Thạc sĩ Nguyễn Đức Mai về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Dân chủ và pháp luật cũng như các giáo trình Luật dân sự đề cập vấn đề này.……

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở mức độ chung nhất hoặc chỉ đề cập ở phạm vi hẹp trong nội dung nghiên cứu về các vấn đề khác nhau, mà chưa có tác giả nào nghiên cứu đầy đủ có hệ thống trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để trên cơ sở đó nghiên cứu một trường hợp cụ thể của loại trách nhiệm này - trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, một đề tài đang cần được làm rõ về mặt lý luận và rất cấp bách

về mặt thực tiễn

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông nói riêng; căn cứ pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại và thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

Luận văn nghiên cứu các vấn đề phát sinh trong thực tiễn giải quyết các vụ việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông như: việc chịu trách nhiệm bồi thường trong các vụ TNGT, chuyển giao trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người chưa thành niên không có tài sản riêng

Trang 11

gây tai nạn; chủ xe cho thuê hoặc cho mượn xe không kèm theo người lái xe bị trưng dụng theo mệnh lệnh của cơ quan có thẩm quyền……

Phạm vi nghiên cứu

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông là một vấn

đề phức tạp không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn Vì vậy luận văn chỉ giới hạn ở phạm vi nghiên cứu một số vấn đề cơ bản dưới góc độ điều tra xã hội học và Luật dân sự, ví dụ như: làm rõ khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT, nguyên nhân điều kiện và tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2014-2016, các nguyên tắc cơ bản và cơ sở pháp lý của việc bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT; trên cơ sở đó đưa ra một

số biện pháp cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn dưới góc độ của Luật dân sự Vì TNGT là một phạm trù rất lớn, bao gồm tai nạn giao thông đường bộ, đường biển, đường hàng không,…do vậy, tôi xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ tai nạn giao thông và thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Bắc Giang, luận văn nghiên cứu dưới góc độ khái quát hơn, sâu hơn; từ đó có những đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện khung hành lang pháp lý cũng như hạn chế những tồn tại, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong các

vụ tai nạn giao thông tại tỉnh Bắc Giang

Trang 12

và Bắc Giang nói riêng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật, về phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; những thành tựu của các khoa học: triết học, logic học, luật dân sự, tâm lý học Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật dân sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật dân sự, các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân các cấp, các tài liệu của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt thuộc Bộ Công an, các tài liệu pháp lý trong và ngoài nước

Phương pháp nghiên cứu Đi từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát đến

cụ thể dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

Trang 13

nghĩa duy vật lịch sử - tác giả đặc biệt coi trọng phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp logic pháp lý, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp dự báo

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Là một trong những công trình nghiên cứu khoa học hiếm hoi ở Việt Nam khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ đó nghiên cứu một loại trách nhiệm cụ thể "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông" Luận văn đóng góp vào lý luận trách nhiệm bồi thường thiệt hai ngoài hợp đồng các khái niệm TNGT theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp; khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT Trong hoàn cảnh vấn đề an toàn trong hoạt động không còn là vấn

đề của một quốc gia, nhất là ở nước ta do sự mất cân đối giữa kết cấu hạ tầng, sự gia tăng của phương tiện, ý thức chấp hành các quy định về trật tự an toàn giao thông; thiếu các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; sự yếu kém trong quản lý của các cơ quan nhà nước nên tình hình TNGT diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng gây thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe của con người, gây thiệt hại lớn về tài sản, gây mất an toàn xã hội; do đó, luận văn góp phàn tìm ra những nguyên nhân, điều kiện của các vụ TNGT, dự báo tình hình TNGT trong những năm tới Đồng thời, luận văn góp phàn giải quyết một cách có

hệ thống những vướng mắc xung quanh chế định BTTH ngoài hợp đồng nói chung, BTTH trong các vụ TNGT nói riêng

- Trên cơ sở lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, luận văn đã làm rõ về mặt lý luận cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ tại nạn giao thông

Trang 14

- Xuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn gắn với việc nghiên cứu hoàn chỉnh về mặt lý luận, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật, của BLDS hiện hành, luận văn đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

về BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trong các vụ TNGT nói riêng Xác định được mối quan hệ giữa việc BTTH với việc phòng ngừa và đấu tranh làm giảm tai nạn, mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại với các trách nhiệm pháp lý khác là một trong những cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông Những kiến nghị, giải pháp này có thể tham khảo trong việc xây dựng luật giao thông, xây dựng các văn bản hướng dẫn việc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trong các vụ TNGT nói riêng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước

- Một đóng góp mới khác của luận văn đó là từ việc tổng kết thực tiễn vấn đề BTTH trong các vụ TNGT, trong luận văn đã có những kiến nghị về các biện pháp bảo đảm việc BTTH trong các vụ án TNGT

6 Bố cu ̣c của luâ ̣n văn

Ngoài phần mở đầu, kết luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , nô ̣i dung luâ ̣n văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 15

Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG

1.1.Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của nghĩa vụ không căn cứ vào ý chí của đương sự, tức là nguồn gốc bất hợp pháp; vì vậy trách nhiệm dân sự làm phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đối với người đã làm một hành vi trái luật gây tổn thiệt cho một người khác [42, tr 431]

Có học giả cho rằng, việc phân biệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm pháp lý cũng không ít quan điểm khác nhau, tuy nhiên nhiều ý kiến đồng nhất về

các đặc điểm của trách nhiệm dân sự như sau: Thứ nhất, trách nhiệm dân sự là

quan hệ luật tư giữa hai chủ thể độc lập có địa vị pháp lý bình đẳng, và bên vi phạm phải gánh chịu trực tiếp trước bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chứ không phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước hoặc người khác, trừ trường hợp

chế tài vô hiệu hợp đồng do chống lại trật tự công cộng và đạo đức xã hội; Thứ hai, trách nhiệm dân sự chủ yếu là trách nhiệm tài sản; Thứ ba, trách nhiệm dân sự

được áp dụng đối với bên vi phạm phải tương xứng với hậu quả của hành vi vi phạm, tức là tương xứng với mức độ tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà người

thiệt hại phải gánh chịu; Thứ tư, trách nhiệm dân sự phải được áp dụng thống nhất

và như nhau đối với các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự [30, tr.347- 350]

Trang 17

Ngày nay, về học thuật người ta bàn tới việc hợp nhất lý thuyết về trách nhiệm hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng Theo pháp luật dân sự Pháp, các trách nhiệm này đều có các thành tố giống nhau, tuy nhiên khác nhau về nguồn gốc phát sinh, nên cũng khác nhau về nghĩa vụ chứng minh

Ở Common Law, người ta quan niệm luật hợp đồng liên quan tới các thoả thuận bị ràng buộc Vấn đề phát sinh từ đâu và ràng buộc là gì Ràng buộc có nghĩa là nếu một bên trong quan hệ hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thì toà án, khi bên bị vi phạm yêu cầu, ấn định các điều kiện đối với bên vi phạm

Và các điều kiện này có mục đích định ra một chế tài, nhưng không phải là một hình phạt đối với bên vi phạm Trong luật hợp đồng các chế tài được thiết kế để bồi thường, không phải để phạt Trách nhiệm dân sự (civil liability) được các luật gia thuộc Common Law coi là sự chịu trách nhiệm trước tố quyền dân sự đối lập với tố quyền hình sự; tìm kiếm các chế tài tư hoặc thi hành các quyền đối nhân trên cơ sở hợp đồng, vi phạm ngoài hợp đồng (tort) [49] Chính vì vậy, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng trách nhiệm pháp lý hay còn được coi

là một dạng của trách nhiệm dân sự Nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại là

đề cập đến một loại trách nhiệm pháp lý mang tính cưỡng chế, buộc chủ thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường

Dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại [27]

Trang 18

Trong khi đó, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đây

là một chế định quan trọng, được ghi nhận từ sớm trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì lại rất hiếm hoi Ngay giáo trình Luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng không định nghĩa về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, BLDS 2015 hiện hành của Việt nam cũng chỉ quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường, mà chưa có một điều luật nào giải nghĩa về vấn đề khái niệm này [25] Xuất phát từ các quy định của BLDS cũng như thực tiễn cuộc sống, xin được đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được phát sinh khi chủ thể nào đó có trách nhiệm liên quan tới việc để xảy ra sự kiện làm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại.”

Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình liên quan tới việc để xảy ra sự kiện gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất được sinh ra từ sự kiện gây tổn hại đó Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước… thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có những đặc điểm riêng sau đây:

Trang 19

(1) Căn cứ phát sinh trách nhiệm đồng thời là căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Khác với việc BTTH trong hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về việc bồi thường hoặc trong trường hợp nếu các bên không có thỏa thuận thì việc bồi thường thiệt hại tuân thủ theo quy định của pháp luật hợp đồng Trong khi đó, nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoàn toàn do luật định:

cơ sở phát sinh, chủ thể chịu trách nhiệm, cách thức bồi thường, mức bồi thường

… được pháp luật quy định sẵn mà không phụ thuộc vào thỏa thuận trước của các bên Có thể so sánh việc BTTH ngòai hợp đồng với việc phạt vi phạm trong hợp đồng Các bên cũng không giới hạn được trách nhiệm như trong quan hệ hợp đồng

Tuy nhiên, không phải nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nào cũng được phát sinh dựa trên duy nhất căn cứ phát sinh trách nhiệm Trong một số trường hợp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã được thống nhất và thỏa thuận trước về nghĩa

vụ bồi thường sẽ thuộc về ai Trường hợp này được điều chỉnh bởi quan hệ bảo hiểm trách nhiệm dân sự Quan hệ bảo hiểm này là sự thỏa thuận thống nhất về việc xác định nghĩa vụ đối với trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng phát sinh trong tương lại, bao gồm cả trách nhiệm bồi thường do các vụ tai nạn giao thông gây ra giữa người bảo hiểm (DNBH) và người gây thiệt hại (Người được bảo hiểm) cho người thứ ba đang chịu thiệt hại Khi phát sinh sự cố được bảo hiểm, hoặc xảy ra tai nạn giao thông, người được bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho bên thứ

ba (Người chịu thiệt hại) theo quy định về trách nhiệm dân sự còn DNBH có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận của HĐBH Cũng có trường hợp theo pháp luật hoặc thoả thuận của HĐBH, DNBH bồi thường trực tiếp cho bên thứ ba.

(2) Khi thiệt hại xảy ra, chủ thể có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cả thiệt hại vật chất lẫn thiệt hại do tổn thất về tinh thần, cả thiệt hại trực tiếp lẫn thiệt hại gián tiếp: BLDS 2015 [Mục 2 Chương XX] và văn bản hướng dẫn có quy

Trang 20

định rõ về việc chủ thể có nghĩa vụ phải bồi thường: (i) các thiệt hại vật chất, đây

là các thiệt hại chủ yếu và ban đầu; (ii) thiệt hại do tổn thất về tinh thần: trong nhiều trường hợp đây là loại thiệt hại thứ phát và không tồn tại trong mọi trường hợp (thiệt hại về tài sản không làm phát sinh thiệt hại do tổn thất về tinh thần) Mặt khác, thiệt hại được bồi thường không chỉ là các thiệt hại hiện hữu vào thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại mà còn có các thiệt hại trong tuơng lai có quan

hệ nhân quả với hành vi gây thiệt hại Hơn nữa, người có nghĩa vụ bồi thường không chỉ phải bồi thường các thiệt hại xảy ra trực tiếp cho người bị thiệt hại mà cho cả các chủ thể có liên quan (chẳng hạn bồi thường thu nhập giảm sút cho người chăm sóc người phải nằm bệnh viện, hoặc việc bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người thân của người bị thiệt hại về tính mạng)

1.1.2.Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong các luật cổ của Việt Nam và trên thế giới đều đề cập đến bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng với ý nghĩa đền bù Điều đó có thể thấy rõ qua “chế độ phục cừu”, “chế độ phục kim” của Luật La Mã cổ đại Chế độ phục cừu đề cập đến nguyên tắc trả thù, đền bù ngang giá: máu trả máu, mắt trả mắt, răng trả răng, tính mạng trả tính mạng… Ngoài chế

độ phục cừu, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn tuân theo những nguyên tắc pháp luật ấn định trước như “chế độ phục kim” (bồi thường bằng tiền).[36, tr 11]

Theo quy định chung của pháp luật thì công dân và pháp nhân có quyền được bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp… Trong Hiến Pháp 2013 (Đạo luật cơ bản của Nhà nước) đối với tài sản của công dân đã được ghi nhận cụ thể: " Quyền

sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.[20, Điều 32] Như vậy, khi tài sản của pháp nhân, của Nhà nước, hoặc tài sản, tính mệnh, sức khoẻ, danh

Trang 21

dự nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại, Nhà nước sẽ áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhất định đối với người có hành vi xâm hại trái pháp luật nhằm mục đích khắc phục những hậu quả xấu về tài sản và tinh thần, khôi phục lại tình trạng vốn có ban đầu cho người bị thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng là một quan hệ pháp luật dân sự, theo đó chủ thể có nghĩa vụ bồi thường trong những điều kiện mà pháp luật quy định phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật của chính mình hoặc người gây thiệt hại liên quan gây ra Trong quan hệ nghĩa vụ này bên bị thiệt hại được coi là người có quyền và có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại là người có nghĩa vụ phải bồi thường những thiệt hại đã xảy ra

Trong đời sống thực tế hiê ̣n nay bên cạnh những thiệt hại do hành vi của con người gây ra, có nhiều thiệt hại do tài sản là các phương tiện giao thông , máy móc, công trình xây dựng, súc vật gây ra Vấn đề xác định trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu , người sử dụng tài sản , tài sản khi có hành vi vi pha ̣m pháp luâ ̣t gây thiê ̣t ha ̣i cho người khác; hoă ̣c trách nhiê ̣m của chủ sở hữu đối với các thiệt hại do tài sản, tài sản thuô ̣c sở hữu của người đó gây ra cho con người , cho xã hội ngày càng có ý nghĩa thực tế quan trọng

Nói cách khác, bồi thường thiệt hại nói chung trong đó có bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mang ý nghĩa bù đắp những tổn thất, khắc phục những thiệt hại đã xảy ra là hậu quả của hành vi trái pháp luật Mặt khác, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn mang ý nghĩa là chế tài của pháp luật bắt buộc người có hành

vi trái pháp luật phải thực hiện Vì vậy, dưới góc độ pháp luật, nó có tính răn đe, giúp hạn chế các vi phạm pháp luật, góp phần ổn định xã hội

Trang 22

Tuy nhiên, với các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật Việt Nam hiện nay thì các nguyên tắc bồi thường thiệt hại nhiều khi không đạt được, những khoản tiền bồi thường chưa thật sự tương xứng với thiệt hại trong nhiều trường hợp Chính vì vậy, bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng chưa đạt được ý nghĩa thật sự như mong muốn

1.1.3.Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Kết quả nghiên cứu cho thấy về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có nhiều ý kiến khác nhau Theo pháp luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp, để xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải căn cứ vào ba điều kiện:

có thiệt hại; xuất hiện một sự kiện; mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và sự kiện Người gây thiệt hại phải BTTH, nếu có đầy đủ cả ba điều kiện này

Theo Luật dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải có đủ bốn điều kiện: phải có hành vi vi phạm pháp luật; phải có lỗi của người có hành vi vi phạm pháp luật; phải có thiệt hại xảy ra, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra

Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định về sự tổn hại trái vụ hay là những

"dân sự phạm" cùng "bán dân sự phạm" (theo tác giả thực chất là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) chỉ quy định "Người nào gây ra thiệt hại đến ai bởi lỗi của mình thì người đó buộc phải đền sự thiệt hại ấy" [9] Theo quan điểm này chỉ cần xác định ba điều kiện: thiệt hại, lỗi và quan hệ nhân quả Ở đây, hành

Trang 23

vi chỉ quy định là gây thiệt hại, không quy định bắt buộc là hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật

Trong sách "Dân luật tu trị" - xuất bản tại Sài Gòn 1961 - tác giả Phan Văn Thiết đã đưa ra năm điều kiện phát sinh trách nhiệm về sự làm thiệt hại cho người khác (Dân luật tu trị dựa trên nền tảng của dân luật Nam Kỳ 1931)[34, 12] Năm điều kiện đó là: lỗi, sự thiệt hại, sự liên quan giữa thiệt hại và lỗi, sự bắt chịu trách nhiệm, xác định lỗi của người bị thiệt hại Ba điều kiện đầu cũng giống như luật của chúng ta hiện nay, tuy nhiên ở mức độ hiểu sơ sài hơn Điều kiện thứ tư nói rằng nếu tự do làm mới phải chịu trách nhiệm, còn nếu là ngẫu nhiên hay bất khả kháng thì không phát sinh trách nhiệm Điều kiện thứ năm nói rằng chỉ có trách nhiệm bồi thường nếu người bị thiệt hại không có lỗi hoặc lỗi nhẹ

Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 chỉ xác định có ba điều kiện: sự tồn tại thiệt hại, lỗi, tương quan nhân quả lại có quan điểm cho rằng đã gây thiệt hại thì phải bồi thường Yếu tố hành vi trái pháp luật không được đề cập đến.[10]

Theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành thì căn cứ làm phát sinh TNDS nói chung cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng bao gồm BTTH ngoài hợp đồng và sẽ được phân tích sâu trong Chương II của luận văn Bốn điều kiện (bốn yếu tố): có hành vi trái pháp luật; có thiệt hại xảy ra; có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Bốn điều kiện (bốn yếu tố) này chính là cơ sở pháp lý của trách nhiệm.[15]

Tuy nhiên, có trường hợp ngoại lệ, đó là trong những trường hợp thiệt hại

do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì người chủ sở hữu phương tiện hoặc người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường

Trang 24

dù rằng họ không có lỗi, trừ các trường hợp do pháp luật quy định (Điều 601 BLDS) Hoặc trong trường hợp, trẻ vị thành niên gây thiệt hại, cha mẹ sẽ trở thành chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con (Điều 599 BLDS)[15]

Phân tích "khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt ngoài hợp đồng" trong giáo trình Luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Chương V Phần thứ ba BLDS phát sinh chủ yếu do hành vi vi phạm đến các quyền tuyệt đối của các chủ thể khác, có nghĩa là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh từ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại

Xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như vậy có lẽ là chưa đủ Theo quy định tại Điều 8 BLDS thì căn cứ xác lập quyền

và nghĩa vụ dân sự bao gồm: Hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương; quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; sự kiện pháp lý theo quy định của pháp luật; sáng tạo giá trị tinh thần là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ; chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật; gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; thực hiện công việc không có ủy quyền; chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi tài sản không có căn cứ pháp luật; các căn cứ khác do pháp luật quy định Theo đó, trong các căn cứ nêu trên, ngoài căn cứ "hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương” hợp pháp, thì tất cả các căn cứ khác có thể sẽ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng và nếu vi phạm sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Để có thể xác định rõ hơn được và làm sáng tỏ các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này, việc tìm hiểu các nguyên nhân xâu xa và các yếu tố tác động đến sự việc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường là yêu cầu tất yếu Mối quan hệ nhân quả là sự liên hệ giữa hai hiện tượng

Trang 25

trong đó một là nguyên nhân, một là kết quả Trong đó, hành vi vi phạm là nguyên nhân phải có trước kết quả (thiệt hại xảy ra) Giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy

ra phải có mối liên hệ tất nhiên Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại Người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu thiệt hại xảy ra đúng là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật của họ Trên thực tế viê ̣c xác đi ̣nh mối quan hê ̣ nhân quả giữa hành vi trái pháp luâ ̣t và thiê ̣t ha ̣i rất khó khăn (đă ̣c biê ̣t trong các vu ̣ mà do nhiều người có lỗi, chịu trách nhiệm liên đới) Tuy nhiên, cần phải xác đi ̣nh rõ mối quan hê ̣ này thì m ới có thể xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ thể

có hành vi vi phạm

Xác định đúng quan hệ nhân quả là rất khó khăn, phức tạp và có ý nghĩa rất quan trọng Do vậy, việc đánh giá nguyên nhân của các vụ TNGT gây thiệt hại phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

- Khi xem xét mối quan hê ̣ nhân quả giữa hành vi vi pha ̣m và thiê ̣t ha ̣i xảy

ra yêu cầu đầu tiên là phải đảm bảo tính khách quan, không được xác đi ̣nh theo lối nhâ ̣n xét, diễn di ̣ch chủ quan Nghĩa là mối qua n hê ̣ phải là sự tồn ta ̣i khách quan không phu ̣ thuô ̣c vào ý chí của cá nhân

- Phải phân biệt nguyên nhân trực tiếp và các yếu tố ảnh hưởng đến hâ ̣u quả, là xúc tác để kết quả xảy ra Trong thực tiễn , rất nhiều trường hợp viê ̣c xác

đi ̣nh sai nguyên nhân trực tiếp và các yêu tố ảnh hưởng đến hâ ̣u quả dân đến viê ̣c xác định sai chủ thể phải chịu trách nhiệm Nguyên nhân giữ vai trò có tính chất quyết đi ̣nh trong viê ̣c phát sinh ra kết quả , nếu khô ng có nguyên nhân này thì không gây ra hâ ̣u quả trong thực tế Mă ̣t khác mă ̣c dù trong thực tế có nhiều hành

vi vi pha ̣m không gây hâ ̣u quả nếu không có những yếu tố ảnh hưởng tác đô ̣ng

Trang 26

Như vâ ̣y trong mối liên hê ̣ nhân quả , thì nguyên nhân là yếu tố quyết đi ̣nh , yếu tố ảnh hưởng là các yêu tố quan trọng đưa tới kết quả

Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng trong mối quan hệ nhân quả có thể là một hiện tượng hay tổng hợp các hiện tượng nhưng sự khác nhau giữa chúng là ở mối quan hệ với hậu quả xảy ra Nguyên nhân là cái nếu không có nó thì không bao giờ xảy ra một hâ ̣u quả nào khác (gọi là kết quả) và cũng không tồn tại điều kiện Ngược lại, trong nhiều trường hợp, có nguyên nhân nhưng cũng sẽ không có kết quả nếu không có các yếu tố ảnh hưởng Chính do sự quan hệ đan xen , tác động đa chiều như vậy nên trong nhiều vụ TNGT việc xác định nguyên nhân và điều kiện là rất khó khăn , dễ lẫn lộn giữa nguyên nhân với các yếu tố ảnh hưởng này Về nguyên tắc, không có việc hiện tượng này chỉ là nguyên nhân và hiện tượng kia chỉ là các yếu tố tác đô ̣ng Để xác định chính xác hiện tượng nào là nguyên nhân, hiện tượng nào là các yếu tố tác đô ̣ng trong các vụ TNGT thì phải căn cứ vào diễn biến cụ thể của từng vụ tai nạn mà có kết luận

- Phải phân biệt nguyên nhân trực tiếp với nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc phát sinh ra kết quả Đặc trưng của mối quan hệ nhân quả về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là phải có thiệt hại Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, sự thiệt hại không phải chỉ đơn thuần do một nguyên nhân gây ra, mà thường

là do nhiều nguyên nhân Các nguyên nhân này không tồn tại độc lập mà kết hợp với nhau quyết định phát sinh ra hậu quả, nếu thiếu một trong các nguyên nhân đó thì kết quả sẽ không xảy ra Tuy nhiên, sự tác động của từng nguyên nhân đối với kết quả xảy ra có thể khác nhau về mức độ và tính chất Sự khác nhau đó tạo nên vai trò chủ yếu, thứ yếu của từng nguyên nhân Không thể căn cứ thứ tự trước sau của hành vi mà xác định là nguyên nhân chủ yếu hay thứ yếu được, nhất là trong trường hợp hành vi của nhiều người cùng gây thiệt hại

Trang 27

Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng trên thực tế, việc xem xét và đánh giá mối quan

hệ nhân quả bảo đảm khách quan và toàn diện để rút ra những kết luận chính xác

là rất phức tạp và khó khăn

1.2 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ tai nạn giao thông

1.2.1.Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

a Tai nạn giao thông

Thuật ngữ "tai nạn" xuất hiện trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống cong người Tuỳ từng trường hợp tai nạn xảy ra mà có các tên gọi cho mỗi một loại tai nạn đó Ví dụ: nếu tai nạn xảy ra trong quan hệ lao động thì được gọi là tai nạn lao động; nếu tai nạn xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, thì được gọi là Tai nạn giao thông; nếu tai nạn xảy ra trong trường học thì được gọi là tai nạn học đường

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tai nạn hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là " việc không may bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và của"[29, tr.142] Còn theo

từ điển Tiếng việt thì tai nạn là " việc rủi ro bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn cho con người".[40, tr 868]

Các định nghĩa trên chỉ mới đưa ra tai nạn là các sự kiện xảy ra gây thiệt hại cho con người về tính mạng, sức khoẻ, tài sản mà chưa làm rõ được nguyên nhân của tai nạn Thực tiễn cuộc sống chứng minh rằng tai nạn do nhiều nguyên nhân khác nhau Những nguyên nhân này có thể là do hành vi của con người hoặc có

Trang 28

thể do các tác nhân tự nhiên khác Thiệt hại xảy ra có thể là thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về sức khoẻ và thiệt hại về tinh thần của con người hay là thiệt hại về tài sản

Trong lĩnh vực pháp luật, chưa có một định nghĩa chính thức về tai nạn nói chung Tuy nhiên, trong một số quy phạm pháp luật của một số ngành luật và trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý, đã có một số khái niệm về tai nạn trong từng lĩnh vực cụ thể

Bộ Luật lao động 2012 quy định : " Tai nạn lao động là tai nạn gây thương tổn cho bất kì bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc và nhiệm vụ lao động".[35]

Trong nghiên cứu khoa học thì khái niệm "tai nạn" , khái niệm "tai nạn giao

thông" đã được một số học giả đề cập tới "Tai nạn là sự việc xảy ra bất ngờ do người tham gia giao thông hoặc vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông hoặc gặp phải tình huống, sự cố đột xuất, không kịp xử lý, có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, thiệt hại về tài sản" – Theo ông Vũ Mạnh Thắng [41, tr 76] Còn theo ông Đào Công Hải thì có thể hiểu "Tai nạn giao thông là tai nạn xảy ra khi các đối tượng tham gia trên đường giao thông công cộng gây nên:

- Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người - Thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản"[3, tr 82], Ngoài ra thuật ngữ trên cũng có thể được hiểu rằng "Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người Nó xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc về an toàn giao thông hoặc do gặp phải các sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây thiệt hại

Trang 29

nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản của Nhà nước và nhân dân" Theo ý kiến của ông Đỗ Đình Hòa [3, tr 20]

Ba khái niệm trên, đều nêu được TNGT là một sự kiện gây nên thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và TNGT là một sự kiện với hai vấn đề lớn của nó Vấn đề thứ nhất, tác nhân, hoàn cảnh, điều kiện nào làm cho TNGT (sự kiện) xảy

ra hay nói cách khác nguyên nhân của TNGT Về mặt này nguyên nhân của TNGT có thể: do vi phạm các quy định về an toàn GTVT; do những hành vi cản trở GTVT; do đưa vào sử dụng các phương tiện GTVT không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện GTVT; do gặp

sự cố đột xuất không thể xử lý được hoặc do các trường hợp bất khả kháng Vấn

đề thứ hai đó là TNGT (sự kiện) đã gây ra cái gì hay nói cách khác hậu quả của sự kiện đó

Từ sự phân tích trên khái niệm có thể diễn giải hết được ý nghĩa của tai nạn giao thông đã được tiến sĩ Nguyễn Thanh Hồng nêu ra như sau:

Tai nạn giao thông là một sự kiện do hành vi của con người vi phạm các quy định về an toàn giao thông, do sự cố đột xuất hoặc do các trường hợp bất khả khảng gây ra trong quả trình tham gia giao thông của con người gây thiệt hại về tính mạng, về sức khỏe, về tinh thần của con người hoặc thiệt hại về tài sản.[28]

Thiệt hại trong Tai nạn Giao thông được phát sinh chủ yếu từ nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao thông vận tải cơ giới

Mọi hiện tượng sự vật trên thế giới đều có liên hệ với nhau, ràng buộc lẫn nhau, tồn tại một cách khách quan ngoài ý thức con người "Sự liên hệ nhân quả của các hiện tượng với tính cách là một hình thức đặc thù của sự ràng buộc của các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, biểu hiện ở chỗ bất cứ một hiện tượng

Trang 30

riêng biệt nào hay tổng hợp các hiện tượng tác động lẫn nhau trong tự nhiên và xã hội đều đẻ ra, sản sinh ra một hiện tượng khác và ngược lại, bất cứ một hiện tượng riêng biệt nào cũng là do một hiện tượng hay một nhóm các hiện tượng khác gây

ra, sản sinh ra"[44]

Do vậy, Tai nạn giao thông cũng có thể được sản sinh ra bởi nhiều nguyên nhân Trước hết, nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tai nạn giao thông phục thuộc rất nhiều vào ý thức của người tham gia giao thông Có thể nói hành vi vi phạm pháp luật của người tham gia giao thông đường bộ là nguyên nhân, điều kiện trực tiếp của TNGTĐB Hành vi vi phạm pháp luật của người tham gia giao thông đường

bộ có thể là: vi phạm các quy định về an toàn GTVT; hành vi cản trở GTVT; đưa vào sử dụng các phương tiện GTVT không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện GTVT Qua phân tích 5.956 vụ TNGTĐB nói chung xảy ra trong những năm qua cho thấy có tới 76,7% số vụ tai nạn là do ý thức chủ quan của con người Theo Tiến sĩ, Thượng tá Hà Hữu Diên - Phó cục trưởng Cục quản lý xe máy, Tổng cục kỹ thuật, Bộ Quốc phòng thì khi phân tích tình hình TNGT xe máy quân sự cho thấy nguyên nhân chủ quan do người điều khiển phương tiện gây ra chiếm từ 65-70% tổng số vụ TNGT [3, tr 47]

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông, tuy nhiên trong thời đại hiện nay, sự phát triển của công nghiệp vận tải cũng như sự phát triển của kinh

tế thị trường, sự bùng nổ của các phương tiện giao thông vận tại đang ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là phương tiện giao thông vận tải cơ giới Trên thực tế, số vụ tai nạn giao thông thường xảy ra với sự xuất hiện và tác động của các phương tiện giao thông cơ giới Phương tiện giao thông vận tải cơ giới cũng được xem là nguồn nguy hiểm cao độ Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định phương tiện GTVT cơ giới nói chung và phương tiện GTVT cơ giới đường

bộ nói riêng là nguồn nguy hiểm cao độ Theo Báo cáo của Ủy ban an toàn giao

Trang 31

thông quốc gia Việt Nam, năm 2016 cả nước có 21.589 vụ tai na ̣n giao thông, làm chết 8.685 người và làm bị thương 19.280 người; trong đó ai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên xảy ra 10.167 vụ, làm chết 8.671 người, bị thương 5.984 người [39]

Theo quy định tại Mục 3 Chương XX Phần thứ ba của BLDS2015 thì một trong những trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều 601) Trong đó có liệt kê đến nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao thông cơ giới.[15]

Ở một số nước, cụ thể như Theo Điều 437 BLDS và thương mại Thái Lan, thì nguồn nguy hiểm cao độ là "bất cứ sự vận chuyển nào được kéo, đẩy bằng máy móc, những vật có thể gây nguy hiểm bởi tính chất, mục đích hoặc sự vận hành cơ khí của chúng" [45, tr 115] Luật dân sự Nhật Bản cũng quy định: "Các nhà máy chế tạo, nơi khai thác khoáng sản dễ gây cháy, nổ, độc hại, phương tiện GTVT cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ".[28]

Theo các quy định trong BLDS của nước ta, có thể hiểu khái quát nguồn nguy hiểm cao độ chính là những đối tượng mà khi sử dụng, bảo quản, cất giữ, trông coi tiềm ẩn sự nguy hiểm, sự rủi ro cao độ đối với tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người Tính nguy hiểm của nguồn nguy hiểm cao độ tồn tại trong tính chất, đặc điểm lý, hóa, trong yêu cầu kỹ thuật và các điều kiện an toàn khi sử dụng các đối tượng đó Có những loại đối tượng rất dễ nhận ra tính nguy hiểm cao độ của chúng, chẳng hạn như thú dữ, chất độc, chất dễ cháy Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác cần phải có các tiêu chuẩn chung để xác định một đối tượng có phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay không Các tiêu chuẩn đó bao gồm:

Trang 32

- Hoạt động của các đối tượng mang tính chất nguy hiểm cao độ hợp pháp, chỉ khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mới bị coi là bất hợp pháp

- Hoạt động của đối tượng được coi là không thể giám sát được một cách chặt chẽ và toàn diện

b Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

Đứng trên phương diện tổng quan, hậu quả của TNGT có thể là: thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại về tinh thần, thiệt hại về tài sản (có thể một hoặc hai hoặc ba, có thể là tất cả các loại thiệt hại này trong một TNGT) Do vậy, trách nhiệm đối với thiệt hại này có thể được xác định dựa trên hậu quả và sự tác động của hành vi gây hậu quả như đã nêu trên

Theo quy định tại Điều 584 BLDS2015, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh trong trường hợp người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại Tuy nhiên, cần phân biệt là không phải mọi trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác trong khi tham gia giao thông đều gọi là TNGT Chỉ gọi là TNGT nếu hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ là do lỗi vô ý của người gây thiệt hại Trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong quá trình tham gia giao thông được thực hiện do lỗi cố ý, thì không thể gọi là TNGT mà tùy từng trường hợp có tên gọi tương ứng.[28]

Trong thực tiễn luâ ̣t thực đi ̣nh pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam hiê ̣n chưa có mô ̣t quy

đi ̣nh thống nhất nhất về bồi thường thiê ̣t ha ̣i trong các vu ̣ tai na ̣n giao thông , do

đó, ta có thể hiểu trách nhiê ̣m bồi thường thiê ̣t ha ̣i trong các vu ̣ tai na ̣ n giao thông

Trang 33

là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trên cơ sở đó, có thể thấy cho thấy trong các nguồn ho ̣c thuâ ̣t khác khi nghiên cứu về trách nhiê ̣m bồi thường thiê ̣t ha ̣i cũng chưa đưa ra được mô ̣t khái niê ̣m thố ng nhất về trách nhiê ̣m bồi thường thiê ̣t ha ̣i ngoài hợp đồng

Vậy nên, có thể đưa ra một khai niệm: trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông là một loại trách nhiệm Dân sự

mà theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình liên quan tới việc để xảy ra tai nạn giao thông làm tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất được sinh ra từ sự kiện gây tổn hại đó theo quy định của pháp luật

1.2.2.Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

a) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một dạng trách nhiệm dân sự

Dựa vào những phân tích về tai nạn giao thông, thiệt hại trong tai nạn giao thông, trách nhiệm bồi thường trong các vụ TNGT, có thể nhận thấy rằng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp này bao gồm bốn điều kiện sau đây:

Thứ nhất, Có thiệt hại xảy ra Trên thực tế, trong một vụ tai nạn giao thông xảy ra, luôn luôn xuất hiện những thiệt hại nhất định Đó có thể là thiệt hại về vật chất (tài sản) nhưng cũng có thể là thiệt hại về tinh thần (sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm,… ) Đây cũng là căn cứ bắt buộc và lá yếu tố quyết định xem trách nhiệm bồi thường của người gây hậu quả có được xác định hay không

và xác định như thế nào Bởi sự trách nhiệm bồi thường nhằm mục đích bù đắp những thiệt hại, nên phải xuất hiện thiệt hại mới có thể yêu cầu bồi thường

Trang 34

Thứ hai, Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật Thiệt hại được gây ra bởi sự tác động của các tác nhân gây ra tai nạn giao thông và tạo nên thiệt hại Những hành vi được xác định là hành vi trái luật khi nó không tuân thủ theo những quy tắc mà pháp luật đã đề ra Pháp luật thông thường có vai trò như một màng chắn bảo vệ quyền và lợi ích của con người khỏi các sự xâm hại bằng việc rằng buộc sự tuân thủ lên các chủ thể Do đó, khi có sự phạm quy, thiệt hại sẽ xảy ra, do đó, trái luật có thể là căn cứ làm phát sinh các tai nạn giao thông nói riêng và thiệt hại nói chung

Thứ ba, Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy

ra Sự tác động qua lại giữa tác nhân gây tai nạn giao thông và các thiệt hại là yếu

tố cần thiết Khi một thiệt hại xảy ra, ắt hẳn sẽ có một hoặc một số tác nhân tạo nên thiệt hại đó Và trong các vụ tai nạn giao thông, để xuất hiện, đương nhiên phải có những tác nhân gây ra tai nạn, đó là các hành vi trái luật Khi những hành

vi này được thực hiện, nó gây rà sự kiện tai nạn giao thông, từ đó thiệt hại phát sinh và thiệt hại này được xem như là hậu quả pháp lý mà hành vi trái luật gây nên Nếu như hành vi trái luật tồn tại nhưng không gây thiệt hại, khi đó không có căn cứ để yêu cầu và xác nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó, xuất hiện thiệt hại trong tai nạn giao thông nhưng không xác định được hành vi gây thiệt hại, khi đó cũng không thể xác định được các yếu tố chủ quan, khách quan trong ý chí gây ra tai nạn giao thông này Do đó, mối quan hệ qua lại giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại là đương nhiên phải tồn tại

Thứ tư, người gây ra thiệt hại phải có lỗi Một hành vi gây thiệt hại trong một vụ tai nạn giao thông cần được xem xét dưới góc độ sự tham gia của chủ thể trong việc tạo ra hành vi trái luật Pháp luật ra đời ràng buộc các nghĩa vụ lên hành

vi của con người, do đó, khi có sự phạm quy, tức là có sự tồn tại bong dáng con người trong việc để xuất hiện và duy trì sự phạm quy này Sự phạm quy được xem

Trang 35

như một hành vi lệch chuẩn, bởi vậy, khi nó được thực hiện luôn dựa vào ý chỉ chủ quan của con người có cố ý không tuân thủ luật hay không Nếu có sự duy ý trí, yếu tố lỗi xuất hiện Khi yếu tố lỗi xuất hiện, trách nhiệm của người gây thiệt hại sẽ được xác nhận trong mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả thiệt hại Yếu tố lỗi được phân định thành lỗi vô ý và lỗi cố ý

b) Thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông là đa dạng

Như đã được phân tích trong khái niệm về “tai nạn giao thông” ở Mục 1.2.1

ở trên, một điểm chung về thiệt hại và tổn thất mà các tác giả đều đưa ra khi nói về tai nạn giao thông bao gồm tổn thất về Vật chất và Tinh thần Do đó có thể hiểu, khi một vụ TNGT xảy ra, không chỉ tồn tại riêng một thiệt hại vật chất mà nó còn xuất hiện cả những thiệt hại về tinh thần, và đương nhiên, người có trách nhiệm bồi thường sẽ phải bù đắp cả những thiệt hại về tinh lần lẫn vật chất được phát sinh từ tai nạn giao thông Trên thực tế, khi tai nạn giao thông xảy ra, thiệt hại về vật chất là tinh thần là vô cùng lớn, kèm theo đó, sự tổn thất của 2 dạng tổn thất này cũng xuất hiện song song, bởi một thực tế, tai nạn giao thông thường xảy ra với trường hợp có người điều khiển các phương tiện giao thông vận tải, do đó, khi tai nạn xuất hiện, sự góp mặt của cả con người và vật chất (người điều khiển va phương tiện) hiển nhiên sẽ tạo nên sự tổn thất cho cả người điều khiển và phương tiện giao thông

Tổn thất về vật chất nhìn nhận trên thực tế được hiểu là những thiệt hại mà con người phải chịu được tính thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất

về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực

tế bị mất hoặc giảm sút Tổn thất về vật chất trong tai nạn giao thông do đó cũng được nhiểu rằng những thiệt hại về tài sản do hành vi gây tai nạn giao thông tạo nên khiến cho tài sản này bị hủy hoại hoàn toàn hoặc hư hỏng khiến giảm sút giá

Trang 36

trị Những tổn thất này là phổ biến và dễ nhận biết và có thể dễ dàng xác định được khi quy đổi thành giá trị tiền Do đó, để bồi thường và bù đắp tổn thất về vật chất do tai nạn giao thông gây ra, người có nghĩa vụ bồi thường chỉ có thể và phải bồi thường bằng tiền tương đương với giá trị hoặc phần giá trị bị thiệt hại của tài sản thiệt hại theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Tổn thất về tinh thần được hiểu là những tổn thất mà con người phải chịu do

sự xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó tạo nên những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại như sự buồn rầu, lòng đau thương… Do vậy, Tổn thất về tinh thần được tạo ra bởi hành vi gây tai nạn giao thông là những thiệt hại phi vật chất, hay cụ thể hơn là các thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín mà người gây tai nạn tạo ra Thông thường để bồi thường cho thiệt hại này, người có nghĩa vụ bồi thường buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp Như vật, cách để bù đắp những tổn thất do tai nạn giao thông gây ra về tinh thần không chỉ thực hiện bằng một biện pháp bồi thường tiền thông thường, người có nghĩa vụ còn phải thực hiện các biện pháp vừa nhằm khôi phục và bù đắp thiệt hại này Bởi có thể nhận thấy, thiệt hại về tinh thần (trừ thiệt hại về tính mạng) có thể được khôi phục và bù đắp được một phần nào đó do vậy, pháp luật luôn quy định phương thức bồi thường về tinh thần ngoài bù đắp tiền còn có các phương thức khác Khác với tổn thất về Vật chất đơn thuần, sự phức tạp của tổn thất về tinh thần khó khăn xác định hơn rất nhiều so với tổn thất của tài sản Việc xác định một mức chuẩn chung trong bồi thường thiệt hại về tinh thần bằng tiền đôi khi cũng tạo ra những khó khăn khi áp dụng Tuy nhiên, đây vẫn được coi là phương pháp hữu hiệu và thực tế nhất để bù đắp những tổn hại về tinh thần thông qua giá trị vật chất

Trang 37

Thông thường người bị thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xảy

ra và mức bồi thường sẽ bằng mức thiệt hại Tuy nhiên, điều này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp đó là trách nhiệm BTTH về vật chất còn trong trường hợp BTTH về tinh thần thì rõ ràng những tổn thất về tinh thần là những tổn thất không thể nhìn thấy, không thể tính toán và không thể chứng minh được Chính vì vậy, trong trường hợp này pháp luật cần quy định một mức nhất định để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong trường hợp một người có hành vi xâm phạm đến các quyền nhân thân của người khác

c) Tồn tại nhiều dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một vụ tai nạn giao thông

Khi các thiệt hại phát sinh từ hành vi gây tai nạn giao thông, trách nhiệm bù đắng tổn thất và thiệt hại cũng đương nhiên xuất hiện Tùy vào từng tiêu chí khác nhau mà sự phân biệt trách nhiệm bồi thường cũng được nhìn nhận dưới các góc

độ khác nhau Do đó, có thể nhận thấy, có nhiều cách để phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

- Phân loại dựa vào loại thiệt hại: (1) trách nhiệm vật chất và (2) trách nhiệm tinh thần

- Phân loại dựa vào hành vi gây thiệt hại: (1) Trách nhiệm trực tiếp và (2) trách nhiệm gián tiếp

- Phân loại dựa vào phương thức bồi thường: (1) Bồi thường tiền và (2) Thực hiện các biện pháp khôi phục hậu quả ( cái chính thông tin, công khai xin lỗi, …) …

Giống như sự tồn tại song song của các loại thiệt hại, các dạng trách nhiệm bồi thường cũng phụ thuộc vào các loại thiệt hại mà có thể tồn tại với một hoặc

Trang 38

nhiều phương thức Đối với việc phân loại bằng thiệt hại và phương thức bồi thường, đặc điểm của khía cạnh này là phân biệt dựa vào sự xuất hiện cả thiệt hại được tạo ra, do đó, cả hai cách phân loại này dường như không có sự khác biệt, tuy nhiên, sự khác biệt được nhận ra khi chúng ta đặt chúng dưới các tiêu chí đánh giá khác nhau Đối với việc phân loại dựa vào loại thiệt hại, phân loại trực tiếp dựa trên hệ quả của hành vi gây tai nạn giao thông Do đó, khi hệ quả của hành vi trên tác động vào điều gì, trách nhiệm của của người có nghĩa vụ sẽ được xác định trên mục tiêu đó Còn đối với việc phân loại dựa vào phương thức bồi thường, chúng ta cần nhìn nhận nó dưới góc độ các biện pháp mà người có nghĩa vụ có thể hoặc buộc phải thực hiện để bù đắp thiệt hại mà người gây thiệt hại đã tạo ra

Ngoài ra, khi phân loại dựa trên tiêu chí hành vi gây thiệt hại, ta nhận biết được loại trách nhiệm bồi thường này được xác định bởi sự liên kết giữa hành vi gây thiệt hại đối với người có nghĩa vụ bồi thường, Hay nói cách khác, mối quan

hệ giữa người thực hiện bồi thường và hậu quả để lại có sự liên kết như thế nào Nếu như người có nghĩa vụ là người thực hiện hành vi gây tai nạn giao thông, đó

là loại trách nhiệm trực tiếp bới chính người này đã tạo ra những thiệt hại Trường hợp còn lại, người có nghĩa vụ không trực tiếp gây ra thiệt hại nhưng người hoặc tác nhân gây ra thiệt hại lại thuộc sự quản lý, chiếm hữu hay sở hữu của người này

mà tác nhân gây thiệt hại không đủ điều kiện nhận trách nhiệm bồi thường thì người có nghĩa vụ này thực hiện bồi thường và đây được gọi là trách nhiệm gián tiếp

Tuy nhiên, sự phân loại cũng chỉ mang tính chất tương đối và tham khảo, bởi những trách nhiệm đối với thiệt hại đã được pháp luật quy định cụ thể Bất kỳ một thiệt hại nào cũng đều được bù đắp và bồi thường bằng một trong số các biện pháp mà pháp luật đã đưa ra, hoặc dựa vào sự thỏa thuận của các bên

Trang 39

d) Trách nhiệm bồi thường phát sinh ngay cả trong trường hợp không có lỗi của người có nghĩa vụ bồi thường

Yếu tố lỗi luôn được coi là căn cứ xác định trách nhiệm trong rất nhiều các ngành luật Sự tồn tại của yếu tố lỗi là căn cứ xác định nguồn gốc của tác nhân gây thiện hại hoặc sự tác động của hành vi gây thiệt hại lên sự vật hiện tượng chịu thiệt hại có phải do sự điều khiển của lý trí con người hay không Trong yếu tố lỗi được phân loại rõ ràng thành lỗi vô ý và lỗi cố ý Đối với lỗi cố ý hay vô ý, trách nhiệm với thiệt hại đương nhiên được xác định một cách rõ ràng dựa vào vào trò của chủ thể có lỗi trong quan hệ bồi thường thiệt hại Một lẽ hiển nhiên rằng, tất cá các hành vi chứa yếu tố lỗi thông thường luôn được coi là hành vi trái luật, do đó, khi sự phạm quy xuất hiện, hệ quả pháp lý của nó chính là trách nhiệm bồi thường

do hành vi trái luật gây ra

Do vậy đối với trách nhiệm bồi thường dân sự nói chung và bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra không phải đương nhiên phụ thuộc vào yếu tố lỗi Trong một số trường hợp, người gây thiệt hại không đủ điều kiện cũng như năng lực để thực hiện trách nhiệm bồi thường, những người có trách nhiệm liên đới buộc phải chịu những trách nhiệm này Bởi pháp luật dự liệu những trường hợp, người gây thiệt hại là trẻ vị thành niên, chưa đủ năng lực hành vi dân sự; tác nhân gây hại không được đặt dưới sự kiểm soát đúng tiêu chuẩn của chủ thể có nghĩa vụ

… Nếu như không xác định trách nhiệm liên đới lên những người có nghĩa vụ liên quan này, hậu quả của thiệt hại được tạo ra không có ai bù đắp cũng như việc yêu cầu chặt chẽ đối với nghĩa vụ của người liên quan đến tác nhân gây thiệt hại

Để tránh nhầm lẫn, cần phải hiểu rõ rằng trách nhiệm bồi thường đôi khi không do người có nghĩa vụ bồi thường mà được phát sinh do yếu tố lỗi của người gây thiệt hại Thật vậy, trong các trường hợp người chịu trách nhiệm không phải là

Trang 40

người gây thiệt hại, trách nhiệm ấy thực chất suy cho cùng cũng phát sinh từ lỗi của người gây thiệt hại chứ không phải lỗi của người chịu trách nhiệm bồi thường Khi người gây thiệt hại không có đủ điều kiện, năng lực để gánh vác trách nhiệm

do mình gây ra và người có nghĩa vụ bồi thường có trách nhiệm liên quan đến hành vi của người gây thiệt hại (theo luật định) Do đó, cũng cần phân biệt rõ địa

vị pháp lý của người gây thiệt hại và người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

e) Người có nghĩa vụ bồi thường không đương nhiên là người gây ra thiệt hại

Thông thường, trách nhiệm dân sự được phát sinh dựa trên sự tham gia của người có trách nhiệm vào trong quan hệ dân sự Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do TNGT gây ra cũng vậy, sự tham gia của người nào đó vào việc gây ra thiệt hại đương nhiên tạo nên trách nhiệm bồi thường đối với chủ thể này Đây được coi như một hậu quả pháp lý mà người này phải chịu cho hành

vi mà mình đã thực hiện Tuy nhiên, trong một số trường hợp, trách nhiệm bồi thường không áp đặt lên người thực hiện hành vi gây thiệt hại mà lại được xác định lên người khác Điều này được xác định trong các quy định của pháp luật đối với chủ thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc sử dụng các nguồn nguy hiểm cáo độ Là người giám hộ, người đại diện theo pháp luật trong trường hợp là người

vi phạm là trẻ vị thành niên Hoặc trong trường hợp người có nghĩa vụ bồi thường thay cho người học việc Trường hợp này người có nghĩa vụ bồi thường là người

có trách nhiệm trong việc quản lý giáo dục người gây ra thiệt hại

Điều này đương nhiên đúng Đối với trường hợp là trẻ vị thành niên, năng lực dân sự của chủ thể này chưa đầy đủ, do đó, việc xác định các trách nhiệm bồi thường lên chủ thể này dường như không hợp lý và để lại những hệ quả lớn cho tương lai Do đó, trách nhiệm được xác định lên người giám hộ, bên cạnh đó,

Ngày đăng: 15/01/2018, 12:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bắc Giang: Điểm giao thông quan trọng vận chuyển ở phía Bắc, bacgiang.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm giao thông quan trọng vận chuyển ở phía Bắc
3. Bộ Công An (1997) “Tai nạn giao thông, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, tr.82, tr.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tai nạn giao thông, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
29. Nguyễn Nhƣ Ý, Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
31. Nguyễn Quang Thắng, Lê triều hình luật- Luật Hồng Đức, NXB Văn hóa Thông tin,1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê triều hình luật- Luật Hồng Đức
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
34. Phan Văn Thiết, "Dân luật tu trị", Sài Gòn, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân luật tu trị
38. Toàn án nhân dân tối cao, Thông tư 03-TATC 1983, Hướng dẫn giải quyết một số vấn đề về bồi thường thiệt hại trong tai nạn ô tô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 03-TATC 1983
40. Tri Thức Việt, Từ Điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
42. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước
44. Bo-lum-bec và Suslop (1995), Nguyên nhân và kết quả, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân và kết quả
Tác giả: Bo-lum-bec và Suslop
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
1. Bàn về quy định trách nhiệm liên đới tại Điều 616 Bộ luật dân sự 2005, toanan.gov.vn Khác
4. Bộ Công An, Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA(C11), Quyết định ban hành quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộ Khác
7. Bộ Công An, Thông tƣ 76/2011/TT-BCA, Thông tƣ quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông của Lực lƣợng Cảnh sát nhân dân Khác
8. Bộ Công An, Thông tƣ 38/2010/TT-BCA, Thông tƣ quy định việc thông báo người có hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông Khác
9. Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 10. Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 Khác
13. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Bộ Luật Dân sự, 1995 14. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Bộ Luật Dân sự, 2005 Khác
15. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Bộ Luật Dân sự, 2015 Khác
16. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Luâ ̣t giao thông đường bô ̣, 2008 17. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Đường sắt, 2005 Khác
21. Http://tuanhsl.blogspot.com/2011/03/luat-sa-lich-salic-law.html, Bộ Luật Xalic Khác
23. Hô ̣i đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số Khác
24. Kiều Thị Thanh (2004), Trách nhiệm dân sự trong Quốc triều hình luật , Quốc triều hình luật lịch sử hình thành nội dung và giá trị, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 363 -382 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w