1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố sơn la

81 354 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 717,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông tại địa bàn thành phố Sơn La” với mục đích xác định bản chấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TÔ XUÂN HOÀNG

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Tuyết

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ, đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Sơn La”, là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu, trích dẫn trong Luận văn, đảm bảo trung thực, khách quan

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 ĐẶC ĐIỂM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 6 1.1 Một số vấn đề lý luận về tai nạn giao thông đường bộ 6 1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 16 1.3 Phạm vi bồi thường và cơ sở để xác định mức bồi thường thiệt hại 22 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ GÂY

RA 30 2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 30 2.2 Xác định thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật 34 2.3 Người phải bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ 42 Chương 3 TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA TRONG BA NĂM GẦN ĐÂY, XỬ LÝ

VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG

BỘ GÂY RA 50 3.1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Sơn La trong ba năm gần đây 50

Trang 4

3.2 Thực tiễn giải quyết, xử lý về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Sơn La trong thời gian ba năm qua 55 3.3 Một số tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết, xử lý về bồi

thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn

Thành phố Sơn La trong thời gian ba năm qua ……….60 3.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ gây ra ……….69 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Khi thiệt hại xảy ra do tai nạn thì vấn đề khắc phục hậu quả về mặt vật chất luôn được đặt ra nhằm tháo gỡ khó khăn và ổn định cuộc sống cho người bị tai nạn và gia đình của người đó Tai nạn luôn tiềm ẩn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống thường ngày Ở nước ta, giao thông vận tải đường bộ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân nhưng tai nạn xảy ra trong quá trình hoạt động giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay đang được coi là một vấn nạn vì liên tục xảy ra và con số người bị tử nạn do tai nạn giao thông gây ra còn nhiều hơn so với dịch bệnh, đại dịch bệnh Ngoài ra, tai nạn giao thông đường bộ còn mang đến tổn thất nặng nề vật chất cho toàn xã hội nói chung Vì vậy, công cuộc phòng chống tai nạn giao thông là nhiệm vụ cấp bách, thiết thực thuộc chương trình hành động quốc gia Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã tương đối cụ thể và đầy đủ Tuy nhiên, việc áp dụng quy định của pháp luật để giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trong thực tế còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm Chẳng hạn, thế nào là tai nạn, tai nạn giao thông đường bộ; áp dụng loại trách nhiệm nào để giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong từng vụ tai nạn giao thông cụ thể; ai là người phải bồi thường thiệt hại…là những vấn đề còn nhiều tranh cãi Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ được đặt ra khi có đủ bốn điều kiện: Có thiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại trái pháp luật; lỗi; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ có thể không cần đến

yếu tố lỗi Lựa chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Sơn La” để nghiên cứu về

các loại trách nhiệm được áp dụng khi giải quyết các vụ tai nạn giao thông đường bộ nhằm góp phần giải quyết tồn tại nói trên

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 6

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được nhiều người nghiên cứu với nhiều công trình khoa học đã được công bố Chúng tôi xin điểm qua một số công trình khoa học đã được công bố sau đây:

- Công trình khoa học là luận văn: Luận văn thạc sỹ luật học của Lê Mai

Anh “Những vấn đề cơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”; Luận văn thạc sỹ luật học của Lê Thị Bích Lan “Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và

uy tín”; Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Minh Châu “Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, một số vấn đề lý luận

và thực tiễn” Những luận văn này chỉ nghiên cứu chung về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng

- Công trình khoa học là luận án: Luận án tiến sĩ luật học của Phạm Kim

Anh “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Thanh Hồng “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ”; Luận án tiến sĩ của Phạm

Kim Anh nghiên cứu một cách hệ thống về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung; Luận án của Nguyễn thanh Hồng nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trong

phạm vi toàn quốc

- Công trình là sách chuyên khảo: “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản, sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm”

- Ngoài ra, có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật liên

quan đến đề tài như “Bàn về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của TS.Phùng Trung Tập (Tạp chí Luật học số 10/2004); hay “Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” của Hoàng Đạo, Vũ Thị Lan Hương (Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp số 13/2013)…

Với tình hình trên, đề tài mà học viên lựa chọn để thực hiện luận văn thạc

sĩ luật học của mình nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông trong phạm vị một địa giới hẹp là một đề tài độc lập

Trang 7

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông tại địa bàn thành phố Sơn La” với mục đích xác định bản chất của

tai nạn giao thông; xác định các loại trách nhiệm bồi thường trong tai nạn giao thông; xác định trách nhiệm được áp dụng để giải quyết các vụ tai nạn giao thông đường bộ; tìm hiểu, thống kê tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Sơn La và thực tế áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn thành phố Sơn La trong ba năm gần đây nhất Qua đó, nêu quan điểm của mình trong việc áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết việc bồi thường trong các

vụ tai nạn giao thông đường bộ Xác định sự phù hợp cũng như tìm ra các bất cập trong quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và nêu hướng hoàn thiện đối với các bất cập, hạn chế đó

Với mục đích trên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và việc vận dụng quy định đó để giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

4 Các phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh đối chiếu, tổng hợp để xem xét đưa ra cách hiểu thống nhất và khoa học về những quy định của pháp luật có liên quan đến các vấn đề mà đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu Tác giả cũng sử dụng số liệu thống kê của các cơ quan chuyên môn để xác định tình hình thực tế về tai nạn giao thông trên địa bàn được xác định theo đề tài và thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt khoa học, trên cơ sở phân tích lý luận khoa học, đề tài đã đưa ra nhiều khái niệm mang tính học thuật như: Khái niệm về tai nạn; tai nạn giao thông đường bộ; trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trách

Trang 8

nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông; phương tiện giao thông đường bộ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ; xác định các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan đến tai nạn giao thông đường bộ

Về mặt thực tiễn, trên cơ sở khoa học đã được phân tích, đề tài đã xác định một cách cụ thể trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ thì trường hợp nào

áp dụng trách nhiệm bồi thường do hành vi của con người gây ra, trường hợp nào áp dụng trách nhiệm bồi thường thiêt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây

ra Qua đó, đề tài cũng xác định cụ thể về người phải bồi thường thiệt hại theo từng trường hợp cụ thể

6 Kết cấu của đề tài

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trong phạm vi nghiên cứu đã được xác định, đề tài được kết cầu theo ba chương sau đây:

Chương 3

TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA TRONG BA NĂM GẦN ĐÂY, XỬ LÝ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG

BỘ GÂY RA

Trang 9

Chương này nhằm tổng hợp, đánh giá tình hình thực tế về tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Sơn la và thực tế xử lý về bồi thường thiệt hại Đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các bất cập trong quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

KẾT LUẬN

Trang 10

Chương 1

ĐẶC ĐIỂM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 Một số vấn đề lý luận về tai nạn giao thông đường bộ

1.1.1 Khái niệm về tai nạn giao thông đường bộ

Tai nạn luôn là một rủi ro tiềm ẩn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, thiệt hại từ tai nạn luôn là hậu quả nằm ngoài mong muốn của con người, không thể lường trước và ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống

Trong thực tế, tùy theo từng lĩnh vực tai nạn xảy ra mà tai nạn có tên gọi khác nhau Những tai nạn xảy ra liên quan đến quá trình tham gia giao đường

bộ thường được gọi là tai nạn giao thông đường bộ Tuy nhiên, cũng có rất nhiều vụ tai nạn liên quan đến hoạt động giao thông đường bộ nhưng về bản chất, không phải là tai nạn giao thông đường bộ Vì thế, qua việc xác định khái niệm về tai nạn giao thông đường bộ, tác giả luận văn muốn làm sáng tỏ

sự khác nhau giữa các vụ tai nạn liên quan đến hoạt động giao thông đường

bộ

Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ có thể do hành vi của con người như hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông, hành vi cản trở giao thông đường bộ; có thể do các nguyên nhân khác như sự trục trặc của phương tiện giao thông, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, do động vật hoang dã hoặc súc vật băng qua đường bất ngờ, thiên tai… Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn là cơ sở quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường, ai phải bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ Chẳng hạn, nếu tai nạn xảy ra do hành vi trái pháp luật của người tham gia giao thông thì chính người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu tai nạn xảy ra do phương tiện giao thông bị trục trặc thì chủ phương tiện phải chịu trách nhiệm bồi thường, nếu tai nạn xảy ra do kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ (cầu sập, đường lún bất ngờ) thì trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ công trình…

Vào thời điểm này, chưa có một văn bản pháp luật nào xác định khái niệm

về tai nạn giao thông đường bộ Tuy nhiên, đã có khá nhiều định nghĩa về tai

Trang 11

nạn giao thông đường bộ được nêu ra trong các công trình nghiên cứu khoa

học đã được công bố Chẳng hạn, “Tai nạn giao thông là tai nạn xảy ra khi các đối tượng tham gia trên đường giao thông công cộng gây nên: - Thiệt hại

về sức khỏe, tính mạng con người - Thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản” hoặc “Tai nạn là sự việc xảy ra bất ngờ do người tham gia giao thông hoặc vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông hoặc gặp phải tình huống, sự cố đột xuất không kịp xử lý, có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, thiệt hại về tài sản” hoặc “Tai nạn giao thông là

sự kiện bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người Nó xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông nhưng do chủ quan,

vi phạm các quy tắc về an toàn giao thông hoặc do gặp phải các sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản của Nhà nước và nhân dân” hoặc “Tai nạn giao thông đường bộ là một sự kiện do hành vi của con người vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ, do sự cố đột xuất hoặc do các trường hợp bất khả kháng gây ra trong quá trình tham gia giao thông của con người gây thiệt hại về tính mạng, về sức khỏe, về tinh thần của con người hoặc thiệt hại về tài sản”

Trong các định nghĩa về tai nạn giao thông đường bộ nêu trên, có định nghĩa không nêu, có định nghĩa nêu nguyên nhân dẫn đến tai nạn nhưng đều

có điểm chung khi xác định tai nạn giao thông đường bộ luôn luôn liên quan đến hoạt động tham gia giao thông và nêu ra các loại thiệt hại

Theo từ điển tiếng Việt thì tai nạn là “Việc không may bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và của” hoặc là “Việc rủi ro bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn cho con người” 1

Chúng tôi cho rằng, tai nạn là rủi ro xảy ra gây nên thiệt hại ngoài ý muốn của con người bất kể thiệt hại đó là lớn hay nhỏ, bất kể đó là thiệt hại gì Một rủi ro nhưng không có thiệt hại thì không phải là tai nạn Chẳng hạn, hai người điều khiển xe máy không may va quyệt nhau (vẫn là một rủi ro) nhưng

1

Từ điển tiếng việt, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/

Trang 12

không có thiệt hại gì về người cũng như xe máy thì không coi đó là một vụ tai nạn giao thông Có lẽ từ khái niệm về tai nạn theo từ điển tiếng Việt là phải

“gây ra thiệt hại lớn” nên trong thực tế, cơ quan có chức năng giải quyết các

vụ tai nạn giao thông đường bộ thường có quan điểm cho rằng những rủi ro

gây ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người mới là tai nạn còn rủi ro

gây ra thiệt hại nhỏ về tài sản, thậm chí thiệt hại lớn nhưng chỉ là thiệt hại về

tài sản thì được coi là va quệt

Tai nạn giao thông đường bộ có thể vẫn phát sinh trách nhiệm hình sự nhưng thiệt hại luôn là hậu quả nằm ngoài mong muốn chủ quan của con người Chẳng hạn, tai nạn giao thông xảy ra do hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng dù thiệt hại xảy ra là ngoài mong muốn của người người gây thiệt hại thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự năm 2000) Tuy nhiên, nếu thiệt hại xảy ra trong hoạt động giao thông đường bộ không phải là yếu tố rủi ro mà là mong muốn

cố ý của người gây ra thiệt hại thì sẽ luôn luôn hình thành trách nhiệm hình

sự Chẳng hạn, một vụ tai nạn xảy ra trong hoạt động giao thông đường bộ nhưng do người tham gia giao thông cố ý gây ra thiệt hại về tính mạng cho người khác thì cấu thành tội giết người và người đó phải chịu trách nhiệm hình sự

Tai nạn xảy ra trong lĩnh vực nào thì có tên gọi kèm theo một cách cụ thể Chẳng hạn, tai nạn xảy ra trong hoạt động thể thao là tai nạn thể thao, tai nạn xảy ra trong trường học là tai nạn học đường, tai nạn xảy ra trong hoạt động tham gia giao thông là tai nạn giao thông Cần thấy rằng trong các loại tai nạn (theo lĩnh vực nêu trên) có thể được xác định là tai nạn ngoài lao động; có thể

là tai nạn lao động Chẳng hạn như trong các vụ tai nạn giao thông mà giữa người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và người bị thiệt hại có mối quan hệ lao động và tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, trong đó, người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chủ sử dụng lao động, người bị thiệt hại là người lao động Khi đã xác định là tai nạn lao động thì trách nhiệm bồi thường được xác định theo quy

Trang 13

định của pháp luật lao động (được quy định tại Điều 144 và Điều 15 của Bộ luật lao động năm 2012) Mặt khác, tai nạn lao động chỉ xác định về thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng con người mà không xác định các loại thiệt hại

khác “Tai nạn lao động là tai nạn gây thương tổn cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm

vụ lao động” (Điều 142 Bộ luật lao động năm 2012) Ví dụ: A là chủ sử dụng

lao động, B là người lao động (lái xe cho A) B bị tai nạn khi đang lái xe chở hàng đi giao cho khách hàng theo điều động của A Do xe bị nổ và bốc cháy

vì trục trặc kỹ thuật gây ra thiệt hại về sức khỏe cho B (bị thương) và gây ra thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho C (người điều khiển xe máy trên đường giao thông) Trong vụ tai nạn giao thông này thì thiệt hại của B là tai nan lao động và trách nhiệm của A đối với B được xác định theo quy định của pháp luật lao động Thiệt hại của C là tai nạn giao thông đường bộ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho C được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng không cần xét đến hậu quả của tai nạn là loại thiệt hại gì, thiệt hại lớn hay nhỏ, bao nhiêu loại thiệt hại (vì mỗi một vụ tại nạn xảy ra có một thiệt hại nhất định và khác nhau trong các trường hợp), mặt khác, cũng không cần xác định nguyên nhân gây tai nạn (vì mỗi vụ tai nạn xảy ra với các nguyên nhân khác nhau) Vì vậy, nên xác định rằng sẽ luôn luôn được coi là tai nạn giao thông đường bộ khi có hai yếu tố: (1) Có thiệt hại xảy ra và thiệt hại là rủi ro nằm ngoài mong muốn của con người; (2) Có liên quan đến hoạt động giao thông đường bộ

Từ trên, có thể đưa ra khái niệm về tai nạn giao thông đường bộ một cách ngắn gọn như sau:

Tai nạn giao thông đường bộ là những rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động giao thông đường bộ gây ra một thiệt hại nhất định mà sự thiệt hại đó nằm ngoài ý chí của con người

1.1.2 Đặc điểm của tai nạn giao thông đường bộ

Trang 14

Từ những phân tích và khái niệm về tai nạn giao thông đường bộ ở phần trên có thể rút ra một số đặc điểm về loại tai nạn này như sau:

- Tai nạn giao thông có thể gây ra một hoặc nhiều loại thiệt hại khác nhau

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung bao gồm nhiều loại thiệt hại khác nhau Tuy nhiên, tùy từng nguyên nhân mục đích gây thiệt hại trong mỗi trường hợp cụ thể mà thiệt hại chỉ là tài sản hoặc chỉ là sức khỏe, hoặc chỉ là tính mạng Khi nguyên nhân gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật với lỗi cố ý thì thiệt hại thường chỉ là hậu quả gắn liền với mục đích của hành vi Chẳng hạn, hậu quả của hành vi cố ý xâm phạm tài sản của người khác thì chỉ có thiệt hại về tài sản xảy ra, đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của người khác thì hậu quả chỉ là thiệt hại về sức khỏe Mặc dù cũng là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng hành vi gây

ra các vụ tai nạn giao thông đường bộ luôn là hành vi vô ý về hậu quả và cũng chính vì thế mà thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ thường đa dạng, gồm nhiều loại thiệt hại khác nhau

Tai nạn giao thông đường bộ có thể chỉ gây ra thiệt hại về tài sản, có thể chỉ gây ra thiệt hại về con người (sức khỏe hoặc tính mạng) nhưng thông thường vừa gây ra thiệt hại về tài sản vừa gây ra thiệt hại về con người Vì vậy, đối với các vụ tai nạn giao thông đường bộ, người có thẩm quyền giải quyết cần xem xét có những loại thiệt hại nào xảy ra làm cơ sở để xác định các thiệt hại: thiệt hại về tài sản; thiệt hại về sức khỏe; thiệt hại về tính mạng; tổn thất tinh thần

- Tai nạn giao thông xảy ra từ nhiều nguyên nhân khác nhau

Thực tế cho thấy có rất nhiều yếu tố dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ Các yếu tố này có thể là từ hành vi của con người như: Hành vi của người tham gia giao thông, hành vi cản trở giao thông người của người khác, có thể

là từ phương tiện tham gia giao thông như sự hỏng hóc, trục trặc cấu tạo của phương tiện giao thông, có thể là từ kết cấu hạ tầng giao thông như đường lún nứt, cầu cống bị sập, hệ thống chỉ huy giao thông không đảm bảo an toàn, có

Trang 15

thể là từ sự quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ và cũng

có thể do các yếu tố khác như thiên tai, bão lụt

Trong quá trình hình thành của các sự vật và hiện tượng bao giờ cũng có mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng là nguyên nhân, điều kiện với sự vật, hiện tượng là kết quả Tai nạn giao thông là một hiện tượng phát sinh do nhiều sự vật, hiện tượng là nguyên nhân trước đó Trong các yếu tố dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ, có yếu tố chỉ là điều kiện, có yếu tố là nguyên nhân chính của tai nạn Vì thế, việc xác định tai nạn giao thông đường bộ xảy ra do nguyên nhân gì, yếu tố nào là nguyên nhân chính của tai nạn có ý nghĩa rất thiết thực trong việc xác định trách nhiệm pháp lý Chẳng hạn, một vụ tai nạn giao thông xảy ra gây thiệt hại về tính mạng cho người khác nhưng do trục trặc thiết bị của phương tiện giao thông (bất ngờ nổ lốp trước) mà người lái xe hoàn toàn không vi phạm luật an toàn giao thông đường bộ thì không đặt ra trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, nếu tai nạn xảy ra do lỗi vi phạm của người lái xe thì người lái xe đó phải chịu trách nhiệm hình sự

Mặt khác, xác định yếu tố nào là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông còn có ý nghĩa thiết thực trong việc xác định người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Chẳng hạn, một vụ tai nạn giao thông xảy ra nhưng hành vi mang lỗi cố ý của người bị thiệt hại là nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn

đó thì người gây ra tai nạn không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Hoặc một vụ tai nạn giao thông xảy ra vừa do người tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (chạy xe quá tốc độ cho phép) vừa do hành vi cản trở giao thông của người khác (đỗ xe trái phép trên đường giao thông) thì cả hai người này đều phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và thiệt hại và phần bồi thường được xác định theo mức độ lỗi của mỗi người

Với ý nghĩa trên, chúng tôi chia các yếu tố dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ thành ba nguyên nhân sau đây:

+ Nguyên nhân từ hành vi của con người

Trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ thì hành vi của con người là nguyên nhân mang tính phổ biến Nói cách khác, hầu như tất cả các vụ tai nạn

Trang 16

giao thông đường bộ đều liên quan đến hành vi của con người Chẳng hạn, một vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra có thể có nguyên nhân chính là do

sự hư hỏng bất ngờ của phương tiện giao thông mà người lái xe hoàn toàn không có lỗi trong quá trình tham gia giao thông nhưng tai nạn đó cũng chỉ có thể xảy ra khi có sự tác động bởi hành vi của con người (chỉ xảy ra tai nạn giao thông đường bộ khi xe tham gia hoạt động giao thông đường bộ dưới sự điều khiển của con người)

Hành vi của con người là nguyên nhân của các vụ tai nạn giao thông đường bộ bao gồm: Hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, hành vi của người tham gia giao thông đường bộ khác (người đi bộ, người băng qua đường), hành vi cản trở giao thông đường bộ (đậu đỗ xe trái quy định, chiếm dụng lòng lề đường trái quy định)

+ Nguyên nhân từ phương tiện giao thông đường bộ

Thực tế cho thấy có rất nhiệu vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra dù có liên quan đến hành vi của con người nhưng nguyên nhân chính của vụ tai nạn lại là do phương tiện giao thông bị hư hỏng bất ngờ Chẳng hạn: nổ lốp trước khi xe đang chạy trong phạm vi tốc độ cho phép; mất phanh khi xe đang xuống dốc; xe đang chạy bị phát nổ, bốc cháy Trong những trường hợp này thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định là trách nhiệm bồi thường

do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Tuy nhiên, chỉ áp dụng loại trách nhiệm

này để xác định việc bồi thường thiệt hại khi có hai yếu tố sau: (1) Phương tiện giao thông đường bộ là loại phương tiện được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật Tại Điều 623 và Điều 601 Bộ luật

dân sự 2005 đều quy định: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định” Mặt khác, theo khoản 18, Điều 3,

Luật Giao thông đường bộ thì “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau

đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.” và khoản 19, Điều 3 của

Trang 17

Luật Giao thông đường bộ thì: “Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau

đây gọi là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự.” Vì vậy, phương tiện giao thông đường bộ bao gồm nhiều loại nhưng chỉ tai nạn nào do phương tiện giao thông đường bộ là phương tiện giao thông cơ giới (ô tô; máy kéo; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) gây ra mới được xác định theo loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ

gây ra (2) Nguyên nhân chính của tai nạn là do sự cố của phương tiện giao thông Như đã nói, các vụ tai nạn giao thông đường bộ do phương tiện giao

thông gây ra luôn liên quan đến hành vi của người điều khiển phương tiện đó

Vì vậy, cần xác định nguyên nhân chính xảy ra tai nạn là hành vi của người điều khiển phương tiện hay do sự cố của phương tiện Nếu phương tiện bị sự

cố trong điều kiện người điều khiển phương tiện đó có hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ thì nguyên nhân chính được xác định là do hành vi của người tham gia giao thông (người điều khiển phương tiện giao thông đó) Nếu phương tiện bị sự cố trong điều kiện người tham gia giao thông không có hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ thì nguyên nhân chính được xác định là do sự cố của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

+ Nguyên nhân từ các sự kiện ngoại lai

Bên cạnh hành vi của người tham gia giao thông, người cản trở giao thông; phương tiện tham gia giao thông thì tai nạn giao thông đường bộ cũng có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác Có thể kể ra một số nguyên nhân ngoại lai sau: Súc vật, thú hoang dã băng qua đường bất ngờ, giông tố, mưa bão, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ bị sự cố bất ngờ

Với các sự kiện trên, những sự kiện nào mang yếu tố bất ngờ làm cho tai xảy ra nằm ngoài khả năng dự đoán của con người sẽ được coi là tai nạn do sự kiện bất khả kháng và không đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ gây ra Tuy nhiên, có thể phát sinh một loại trách nhiệm khác để xác định người phải bồi thường cho người bị thiệt hại Chẳng hạn, tai nạn do cầu bị sập thì chủ công trình có thể phải bồi thường theo trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra

Trang 18

Nếu các sự kiện trên không mang yếu tố bất ngờ (như súc vật; động vật hoang dã băng qua nơi đã có biển cảnh báo; đường lún nhưng đã được cắm biển cảnh báo…) thì hành vi của người gây ra tai nạn sẽ bị coi là nguyên nhân chính và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ sẽ được đặt ra

- Có thể phát sinh nhiều trách nhiệm pháp lý

Trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, tùy theo nguyên nhân và tính chất, mức độ của nguyên nhân gây ra thiệt hại, mối quan hệ giữa người bị thiệt hại và người phải bồi thường mà có thể có một hoặc nhiều trách nhiệm pháp lý hình thành và được áp dụng Trong một vụ tai nạn có thể chỉ áp dụng một trách nhiệm pháp lý nhất định và được gọi là trách nhiệm đơn, có thể áp dụng nhiều trách nhiệm pháp lý khác nhau và được gọi là trách nhiệm kép Chẳng hạn, trong một vụ tai nạn có thể vừa phạt hành chính đối với hành vi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới không có giấy phép lái xe hợp lệ, vừa truy tố hình sự về tội vi phạm quy định an toàn về giao thông đường bộ, vừa buộc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại trong vụ tai nạn

Các trách nhiệm pháp lý có thể được áp dụng trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ bao gồm:

+ Trách nhiệm hành chính

Trách nhiệm hành chính (phạt hành chính) có thể được áp dụng trong các

vụ tai nạn giao thông đường bộ có liên quan đến hành vi điều khiển phương tiện giao thông không giấy phép, giấy phép không hợp lệ hoặc hành vi vi phạm khác về an toàn giao thông đường bộ

+ Trách nhiệm lao động

Trách nhiệm lao động (bồi thường tai nạn lao động) được áp dụng trong các vụ giao thông đường bộ mà giữa người được bồi thường với người phải bồi thường có mối quan hệ lao động và tai nạn xảy ra liên quan trực tiếp đến quá trình người lao động đang thực hiện công việc được người sử dụng lao động giao, nhiệm vụ lao động

+ Trách nhiệm dân sự

Trang 19

Là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Luôn được áp dụng trong trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, trừ thiệt hại đã bồi thường theo trách nhiệm lao động Trách nhiệm dân sự trong bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ có thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, có thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

+ Trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự được áp dụng trong các vụ tai nạn giao thông đường

bộ nếu nguyên nhân chính gây ra thiệt hại là hành vi của con người Theo đó, người có hành vi trái pháp luật gây ra tai nạn giao thông phải gánh chịu trách nhiệm hình sự theo tội danh đã cấu thành

- Hành vi gây tai nạn luôn là hành vi vô ý về hậu quả

Hành vi trái pháp luật gây tai nạn giao thông đường bộ có thể được thực hiện với lỗi cố ý (biết hành vi đó là vi phạm an toàn về giao thông đường bộ nhưng vẫn thực hiện) có thể là lỗi vô ý (do sơ suất dẫn đến vi phạm) Lỗi cố ý hay vô ý trong tai nạn giao thông đường bộ là hình thức lỗi của hành vi Vì thế, dù lỗi vô ý hay cố ý thì người gây ra tai nạn đều phải bồi thường thiệt hại Bên cạnh việc xác định cố ý hay vô ý về hành vi thì việc xác định cố ý hay

vô ý về hậu quả cũng là một vấn đề hết sức quan trọng để xác định người đó phải chịu trách nhiệm hình sự hay không

Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình

sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Vì thế, dù là lỗi cố ý về hành vi nhưng người gây thiệt hại vẫn có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu có đủ yếu tố để xác định họ vô ý về hậu quả Ngược lại, trong mọi trường hợp, nếu tai nạn xảy ra trong quá trình hoạt động giao thông đường bộ mà người gây tai nạn cố ý về hậu quả thì

Trang 20

không được coi là tai nạn giao thông nữa mà phải xác định là hành vi phạm tội và phải xử lý bằng trách nhiệm hình sự với tội danh được cấu thành: Tội giết người; tội cố gây thương tích, tội cố ý hủy hoại tài sản…

Như vậy, chỉ được coi là tai nạn giao thông đường bộ nếu người gây ra tai

nạn vô ý đối với hậu quả xảy ra

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông là một loại cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Bộ luật dân sự sử dụng rất nhiều các thuật ngữ khác nhau như: “nghĩa vụ dân sự”, “trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự”; “trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ dân sự”; “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” để chỉ về nghĩa vụ, trách nhiệm trong các trường hợp

khác nhau

“Trước hết, “nghĩa vụ” hay “trách nhiệm” đều là các thuật ngữ chỉ về các trường hợp một bên phải làm một công việc đối với bên kia Theo cách hiểu này thì từ đối lập với từ “nghĩa vụ”/ “trách nhiệm” là “quyền lợi” Đây là

nghĩa thông thường của từ “nghĩa vụ” và “đó là một mối liên hệ gắn kết ít nhất giữa hai người được cá thể hóa cho phép một người trong số họ đòi hỏi người kia một điều gì đó” 2 Như vậy, ở nghĩa chung nhất thì “nghĩa vụ” hay

“trách nhiệm” đều được hiểu là một quan hệ pháp luật/sự ràng buộc pháp lý giữa hai bên, trong đó một bên phải làm một công việc và bên kia có quyền yêu cầu bên này thực hiện công việc đó 3.Tuy nhiên:

Trong các quan hệ nghĩa vụ dân sự hình thành từ sự thỏa thuận (quan hệ hợp đồng) thì “nghĩa vụ” được hình thành từ thời điểm quan hệ đó được pháp luật thừa nhận (thời điểm có hiệu lực của hợp đồng) nhưng “trách nhiệm” chỉ hình thành từ thời điểm có sự vi phạm “nghĩa vụ” đó

Trang 21

Trong các quan hệ nghĩa vụ hình thành từ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại ngoài hợp đồng thì “nghĩa vụ” và “trách nhiệm” phát sinh đồng thời vào cùng một thời điểm Tuy nhiên, trong đó, “nghĩa vụ” được hiểu với góc độ là nội dung của quan hệ và “trách nhiệm” được hiểu là hậu quả pháp lý mà bên

có hành vi trái pháp luật phải gánh chịu Nói cách khác, khi một bên thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho bên kia thì phát sinh quan hệ pháp luật, trong đó, người gây thiệt hại phải thực hiện việc bồi thường xuất phát từ nguyên tắc của pháp luật và không liên quan đến nghĩa vụ/hợp đồng nên được gọi là “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hình thức cụ thể của trách nhiệm dân sự Nếu trách nhiệm dân sự nói chung được phát sinh ngay sau khi có hành vi vi phạm pháp luật thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh chừng nào hành vi vi phạm pháp luật đã gây ra trong thực tế một

thiệt hại

Điều 604 , Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc

vô ý xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm đến uy tín tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa người do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác với người bị thiệt hại, theo đó, người gây thiệt hại phải bồi thường phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho người bị thiệt hại

Từ khái niệm về tai nạn giao thông đường bộ và khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, có thể rút ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ như sau:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ là trách nhiệm dân sự trong đó, một bên là người phải bồi thường thiệt hại do tai nạn liên quan đến quá trình hoạt động giao thông đường bộ gây ra thiệt

Trang 22

hại đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác, bên được bồi thường là bên bị thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra

Như vậy, là một dạng cụ thể của trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên trách nhiệm bồi thường thiệt do tai nạn giao thông gây ra, về nguyên tắc, chỉ phát sinh khi có đủ bốn điều kiện sau: (1) Có thiệt hại xảy ra; (2) Có việc gây thiệt hại (có thể là hành vi trái pháp luật, có thể là

do phương tiện giao thông đường bộ); (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra ; (4) Có lỗi (trong trường hợp trong trường hợp tai nạn xảy ra do hành vi của con người) hoặc không cần lỗi (trong trường hợp tai nạn xảy ra do hư hỏng bất ngờ của phương tiên giao thông cơ giới)

1.2.2 Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Như đã phân tích trong các phần trên, tai nạn giao thông đường bộ luôn liên quan đến hành vi của con người Tuy nhiên, trong từng vụ tai nạn, việc xác định hành vi của người tham gia giao thông là nguyên nhân chính hay sự kiện khác là nguyên nhân chính có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn đó là loại trách nhiệm gì Đồng thời, xác định loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong từng vụ tai nạn giao thông đường bộ là cơ sở để xem xét ai phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trong thực tế, bởi tất cả các vụ tai nạn có liên quan đến phương tiện giao thông cơ giới trong quá trình tham gia giao thông đều xuất phát từ hành vi của người điều khiển phương tiện nên đều được coi là trách nhiệm thuộc về người điều khiển phương tiện giao thông đã gây ra tai nạn Sự đánh đồng này vô hình chung đã gây nên tình trạng “trăm dâu đổ đầu tằm”

Để tránh tình trạng trên, khi áp dụng pháp luật để giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, cần phải xác định hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại sau đây:

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người gây ra

Trách nhiệm này được áp dụng trong các vụ tai nạn giao thông mà trong

Trang 23

đó, nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn là do hành vi trái pháp luật của con người Hành vi trái pháp luật là xử sự bằng hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật

Hành vi trái pháp luật gây ra tai nạn giao thông đường bộ có thể là hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông không tuân thủ các quy định về

an toàn giao thông khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; có thể là người tham gia giao thông khác (người đi bộ hoặc sử dụng phương tiện giao thông thô sơ); có thể là hành vi cản trở giao thông; có thể là hành vi vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông (chẳng hạn, chủ công trình giao thông đường bộ không cắm biển cảnh báo khi công trình bị hư hỏng có nguy

cơ gây tai nạn nếu không được cảnh báo)

Khi xác định tai nạn giao thông đường bộ là do hành vi của con người gây

ra, cần xác định cả bốn điều kiện phát sinh: (1) Có hành vi trái pháp luật; (2)

Có thiệt hại xảy ra; (3) Có lỗi của người thực hiện hành vi; (4) Có mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Theo đó, người phải bồi thường thiệt hại (hoặc phải gánh chịu thiệt hại) có thể là người điều khiển phương tiện giao thông, có thể là người tham gia giao thông khác, có thể là người có hành vi cản trở giao thông, có thể là người có hành vi vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông đường bộ

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Nguồn nguy hiểm cao độ được quy định khác nhau trong pháp luật của mỗi nước Điều 347, Bộ luật dân sự Thái Lan xác định nguồn nguy hiểm cao

độ gồm “bất cứ sự vận chuyển nào được kéo, đẩy bằng máy móc, những vật

có thể gây nguy hiểm bởi tính chất, mục đích hoặc sự vận hành cơ khí của chúng”; Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định: “Các nhà máy chế tạo, nơi khai thác khoáng sản dễ gây cháy, nổ, độc hại, phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ” Ở nước ta, nguồn nguy hiểm cao độ được liệt kê theo khoản 1, Điều 623, Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy,

Trang 24

chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định

Theo liệt kê trên, có thể thấy rằng dù pháp luật các nước đều không có định nghĩa về nguồn nguy hiểm cao độ và có sự khác nhau trong liệt kê về các loại nguồn nguy hiểm cao độ nhưng đều có điểm chung ở chỗ xác định tính chất của nguồn nguy hiểm cao độ với các thuộc tính : (1) Chứa đựng rủi ro khách quan; (2) Tiềm ẩn rủi ro luôn ở tần suất lớn; (3) Thiệt hại xảy ra là cái không thể lường trước Từ các thuộc tính này có thể xác định khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ như sau: Nguồn nguy hiểm cao độ là những sự vật

mà do cấu tạo hoặc tính chất của chúng nên quá trình chiếm hữu, sử dụng chúng luôn chứa đựng tiểm ẩn một sự nguy hiểm khách quan ở một mức độ lớn

Và cũng chính vì thế nên dù pháp luật không quy định cụ thể, chúng ta vẫn phải xác định rằng phương tiện giao thông vận tải cơ giới chỉ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi chúng đang hoạt động và thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra trong khi chúng đang hoạt động mới được coi là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Những thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ gây ra khi chúng không hoạt động được coi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản nói chung gây ra Chẳng hạn, một chiếc xe vận tải đã tắt máy và đỗ trong sân một trường học, không may xe bị đổ vì gẫy trục và đè phải một em học sinh đi ngang qua thì hoàn toàn không phải là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Mặt khác, phương tiện giao thông cơ giới bao gồm: phương tiện giao thông đường không, phương tiện giao thông cơ giới đường thủy, phương tiện giao thông cơ giới đường sắt và phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Như vậy, từ những phân tích trên, chúng ta khẳng định rằng; phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đang hoạt động được pháp luật xác định là một trong các nguồn nguy hiểm cao độ bởi trong quá trình vận hành chúng luôn chứa đựng tiềm ẩn một rủi ro khách quan ở mức độ lớn Tai nạn có xảy ra hay không, xảy ra lúc nào, thiệt hại là lớn hay nhỏ hoàn toàn là yếu tố rủi ro nằm ngoài sự tính toán của con người

Trang 25

Tuy nhiên, chỉ được coi là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nếu tai nạn xảy ra là do hư hỏng của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là

hư hỏng bất ngờ và người điều khiển không có hành vi vi phạm quy định về

an toàn giao thông khi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

Trách nhiệm này được áp dụng để giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông mà trong đó nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn là do hư hỏng bất ngờ của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Cần xác định đây là loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nên không có hành vi trái pháp luật mà thay vào đó là có việc gây thiệt hại từ tài sản Mặt khác, vì không có hành vi trái pháp luật của con người nên trách nhiệm này phát sinh ngay cả khi không có yếu tố lỗi

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nên

về nguyên tắc, “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” 4 Vì vậy, người nào là chủ sở hữu hoặc đang chiếm hữu tài sản đó trong thời gian tài sản gây ra thiệt hại thì người đó chịu trách nhiệm bồi

thường kể cả khi không có lỗi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Từ việc phân tích trên, có thể nói rằng, cũng là việc áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết vấn đề bồi thường trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ nhưng nếu áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra phải cần đủ cả bốn điều kiện phát sinh là: (1) Có hành vi trái pháp luật; (2) Có thiệt hại xảy ra; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra; (4) Có lỗi Trái lại, nếu áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì chỉ cần ba điều kiện phát sinh là: (1) Có việc gây thiệt hại; (2) Có thiệt hại xảy ra; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra Nghĩa là theo nguyên tắc chung chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy

4

Điều 165, Bộ luật dân sự năm 2005, Hà Nội

Trang 26

hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác

Đồng thời, khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra thì người gánh chịu việc bồi thường chính là người có hành

vi gây ra thiệt hại (Mặc dù theo quy định của pháp luật, có thể pháp nhân, chủ làm công, chủ dạy nghề có trách nhiệm bồi thường trước nhưng người gây thiệt hại phải hoàn lại khoản tiền mà pháp nhân, chủ làm công hoặc chủ dạy nghề đã bồi thường cho người bị thiệt hại) Ngược lại khi xác định là trách nhiệm do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và áp dụng trách nhiệm này để giải quyết việc bồi thường thiệt hại thì người phải bồi thường thiệt hại là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ

1.3 Phạm vi bồi thường và cơ sở để xác định mức bồi thường thiệt hại

Để bảo đảm tính công bằng cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong việc bồi thường thiệt hại từ tai nạn giao thông đường bộ thì việc căn cứ vào tính thực

tế của từng vụ tai nạn để xác định mức bồi thường thiệt hại là công việc cần thiết và quan trọng Tuy nhiên, trước khi xác định mức bồi thường, cơ quan áp dụng pháp luật cần xác định phạm vi bồi thường, bởi qua phạm vi bồi thường mới có thể xác định được mức bồi thường nào là vượt quá khả năng của người phải bồi thường thiệt hại

1.3.1 Phạm vi bồi thường thiệt hại

Về nguyên tắc, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, nói cách khác thì thiệt hại bao nhiêu, bồi thường bấy nhiêu Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ thường là trách nhiệm dân sự đã được bảo hiểm (trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới) nên phạm vi bồi thường đối với người gây ra thiệt hại cần được xác định theo hai trường hợp sau đây:

- Đối với trường hợp được bảo hiểm

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là loại hình bảo hiểm bắt buộc nên tất

cả các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đều được mua trách nhiệm bảo hiểm này Vì thế, khi xảy ra tai nạn là sự kiện bảo hiểm thì dù là do hành

Trang 27

vi của người điều khiển hay do sự cố hư hỏng của phương tiện gây ra, đều được bên nhận bảo hiểm chi trả tiền bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm thì bên nhận bảo hiểm chỉ phải chi trả tiền bồi thường thiệt hại trong phạm vi mức bảo bảo hiểm và trách nhiệm bảo hiểm Theo đó, nếu thiệt hại xảy ra nhỏ hơn hoặc bằng mức bảo hiểm thì bên nhận bảo hiểm phải chi trả toàn bộ thiệt hại cho người được bồi thường Với trường hợp này, có thể nói rằng phạm vi bồi thường của người gây ra tai nạn bằng không (0) bởi trách nhiệm bồi thường của họ đã được chuyển dịch toàn bộ sang bên nhận bảo hiểm Nếu thiệt hại thực tế xảy ra lớn hơn mức bảo hiểm thì bên nhận bảo hiểm chỉ bồi thường thiệt hại trong phạm vi mức bảo hiểm đã được xác định, phần vượt quá thuộc về trách nhiệm bồi thường của người gây ra tai nạn giao thông Với trường hợp này thì phạm vi bồi thường thiệt hại của người gây ra tai nạn được xác định là phần thiệt hại vượt quá so với mức bảo hiểm Chẳng hạn, A mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe cơ giới với mức trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba là: Về người: 70 triệu đồng/1người/1vụ; về tài sản: 70/triệu đồng/1vụ Nếu tai nạn giao thông xảy ra làm bị thương một người và thiệt hại tài sản của người đó cũng như của những người khác nhưng tổng thiệt hại thực tế được xác định là bằng hoặc thấp hơn 140 triệu đồng thì phạm vi bồi thường của A là (0) đồng Nếu thiệt hại thực tế được xác định là 200 triệu đồng thì phạm vi bồi thường là 60 triệu đồng

- Đối với trường hợp không được bảo hiểm

Mặc dù bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là bảo hiểm bắt buộc nhưng trong thực tế, có rất nhiều vụ tai nạn giao thông xảy ra mà không được bảo hiểm do nhiều lý do khác nhau Có thể liệt kê một số lý do phổ biến của việc tai nạn giao thông không được bảo hiểm: Chủ xe cơ giới không mua bảo hiểm; tai nạn xảy ra khi thời hạn bảo hiểm đã kết thúc mà người tham gia bảo hiểm chưa kịp mua bảo hiểm mới; tai nạn xảy ra không thuộc phạm vi bảo hiểm

Tai nạn giao thông xảy ra mà không được bảo hiểm thì phạm vi bồi thường

là toàn bộ thiệt hại đã xảy ra bao gồm các thiệt hại về tài sản; các thiệt hại liên

Trang 28

quan đến sức khỏe; các thiệt hại liên quan đến tính mạng được tính toán theo nguyên tắc xác định thiệt hại mà pháp luật đã quy định

Như vậy, phạm vi bồi thường thiệt hại mà người gây thiệt hại phải thực hiện có thể là tổng thiệt hại, có thể là thấp hơn tổng thiệt hại

1.3.2 Cơ sở xác định mức bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ là một trường hợp cụ thể trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên khi giải quyết việc bồi thường cần phải tuân theo nguyên tắc chung đã được qui định tại chương II của Bộ luật dân sự năm 2005 Theo nguyên tắc cơ bản

và đặc trưng của pháp luật dân sự thì các chủ thể trong quan hệ dân sự có quyền tự thoả thuận khi tham gia và thực hiện các quan hệ dân sự nếu sự thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, (Điều 4, Bộ luật dân sự năm 2005) Vì thế, khi giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, đặc biệt, khi giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, cơ quan áp dụng pháp luật thường cho các bên thỏa thuận về việc bồi thường theo phương pháp hòa giải, chỉ khi hòa giải không thành, cơ quan áp dụng pháp luật mới xác định mức bồi thường và giải quyết việc bồi thường thiệt hại

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người gây thiệt hại trong việc bồi thường cũng như bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại và tăng cường tính khả thi của bản án, quyết định của cơ quan áp dụng pháp luật, Điều 605, Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

“1 Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác

2 Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý

mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình

Trang 29

3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.”

Trên cơ sở xác định tổng thiệt hại và phạm vi bồi thường, cơ quan có thẩm quyền áp dụng luật để giải quyết việc bồi thường căn cứ vào tình hình thực tế của từng vụ việc để xác định các mức bồi thường thiệt hại dựa trên các căn cứ sau đây:

- Hình thức lỗi

Vấn đề còn gây nhiều tranh cãi trong giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ là việc xác định lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại là đối với hành vi hay đối với hậu quả của hành vi bởi thực

tế, các vụ tai nạn giao thông đều vô ý về hậu quả dù có thể cố ý về hành vi Chẳng hạn, cố ý lái xe vào đường cấm nhưng vô ý đối với hậu quả xảy ra Vì vậy, việc áp dụng mức bồi thường toàn bộ hay một phần chưa đạt được sự thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Khoản 2, Điều 308, Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định: “Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.”

Theo quy định này thì pháp luật dân sự xác định hình thức lỗi của người gây thiệt hại trên cơ sở căn cứ vào nhận thức, thái độ, tâm lý của người đó đối hậu quả của hành vi Bị coi là lỗi cố ý nếu người gây thiệt hại nhận thức được

thiệt hại sẽ xảy ra khi thực hiện hành vi đó cùng với thái độ là “mong muốn” hoặc “bỏ mặc” cho thiệt hại xảy ra

Chỉ được coi là vô ý nếu người gây thiệt hại không nhận thức (“không thấy trước”) được hành vi của mình sẽ gây thiệt hại hoặc nhận thức được hành vi

Trang 30

của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng với tâm lý “cho rằng” thiệt hại sẽ

không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Với quy định trên, đa phần các cơ quan có thẩm quyền đều cho rằng xác định lỗi cố ý hay vô ý của người gây ra thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ là đối với thiệt hại xảy ra Trong khi, vô ý về hậu quả được coi là thuộc tính của tai nạn giao thông đường bộ nên việc áp dụng mức bồi thường một phần, hoàn toàn phụ thuộc vào cảm tính của người có thẩm quyền giải quyết Trong thực tế, nếu không đạt được sự thỏa thuận giữa hai bên thì việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ thường được áp dụng theo mức bồi thường toàn bộ Việc giải quyết này phù hợp với thực tế nhưng vô hình chung lại trái quy định của pháp luật nếu xác định hình thức lỗi của người gây thiệt hại theo cách hiểu trên

Trong khoa học hình sự, hành vi là biểu hiện của mặt khách quan tội phạm, lỗi là biểu hiện mặt chủ quan của tội phạm nhưng luôn gắn liền với hành vi cụ thể và hành vi đó làm phát sinh một hậu quả nhất định nên khoa học luật hình sự cũng xác định các trường hợp cố ý về hành vi nhưng vô ý về hậu quả trong việc xác định tội danh Chẳng hạn, hành vi hiếp dâm dẫn đến hậu quả chết người là trường hợp cố ý về hành vi nhưng vô ý đối với hậu quả chết người nên người thực hiện hành vi này chỉ bị truy tố về tội hiếp dâm Chúng tôi cho rằng việc xác định hình thức lỗi của người có hành vi gây thiệt hại theo điều luật trên của Bộ luật dân sự năm 2005 là xác định lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung Vì vậy, khi xác định lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ cần chú ý đến tính đặc thù của tai nạn giao thông đường bộ là luôn vô ý về hậu quả nên hình thức lỗi phải xác định theo hành vi Theo đó, cần xác định hành vi vi phạm an toàn giao thông là hành vi cố ý hay vô ý để xác định mức bồi thường Chẳng hạn, một người lái xe chạy quá tốc độ cho phép trên trên đường giao thông tỉnh có thể là hành vi vô ý do sơ ý không quan sát biển quy định tốc độ Tuy nhiên, sẽ luôn bị coi là hành vi cố ý vi phạm nếu điều khiển xe chạy quá tốc độ trên đường giao thông đô thị

Trang 31

Như vậy, căn cứ đầu tiên để xác định mức bồi thường mà người gây ra thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ phải thực hiện là hình thức lỗi của người đó Nếu hành vi vi phạm được thực hiện với lỗi cố ý thì mức bồi thường luôn được xác định là bồi thường toàn bộ Nếu hành vi vi phạm được thực hiện với lỗi vô ý thì mức bồi thường có thể là bồi thường một phần (nếu

có đủ các điều kiện khác kèm theo)

- Khả năng kinh tế của người phải bồi thường so với phạm vi bồi thường

Thực tế cho thấy việc bồi thường thiệt hại chỉ có thể được thực hiện nếu người phải bồi thường có khả năng kinh tế để bồi thường Chẳng hạn, người phải bồi thường thiệt hại trong một vụ tai nạn giao thông đường bộ có toàn bộ tài sản chỉ khoảng hai mươi triệu đồng, trong khi phạm vi bồi thường là 3 tỷ đồng Nếu buộc họ bồi thường với mức toàn bộ thì việc bồi thường đó khó có thể thực hiện và quyết định của cơ quan có thẩm quyền sẽ rơi vào tình trạng bất khả thi và đẩy họ vào tình trạng đưa hết tài sản để bồi thường vẫn mang

nợ suốt đời khó trả gây cho họ sự chây ỳ trong bồi thường và chán nản trong cuộc sống

Để phù hợp với hoàn cảnh thực tế của người gây ra thiệt hại, khoản 2, Điều

605, Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định: “Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”

Như vậy, khả năng kinh tế của người phải bồi thường so với phạm vi bồi thường là một trong các căn cứ để xác định mức bồi thường Nếu phạm vi bồi thường quá lớn so với khả năng kinh tế của người phải bồi thường thì mức bồi thường có thể được xác định là bồi thường một phần

1.3.3 Mức bồi thường và thay đổi mức bồi thường

Mức bồi thường thiệt hại là phần thiệt hại mà người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo phán quyết của Tòa án trong trường hợp các bên không đạt được sự thỏa thuận Mức bồi thường thiệt hại có thể là toàn bộ phạm vi bồi thường, có thể là một

phần của phạm vi bồi thường và được gọi là Bồi thường toàn bộ hay Bồi thường một phần

Trang 32

- Bồi thường toàn bộ

Là mức bồi thường mà theo đó, người gây thiệt hại phải bồi thường toàn

bộ thiệt hại xảy ra theo phạm vi bồi thường Nói cụ thể hơn, nếu áp dụng mức bồi thường toàn bộ thì người gây tai nạn giao thông đường bộ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra trong trường hợp tai nạn giao thông không được bảo hiểm Đối với các vụ tai nạn giao thông được bảo hiểm thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ phần thiệt hại vượt quá phần thiệt hại mà bên nhận bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường trong phạm vi mức bảo hiểm

Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (từ đây xin được viết tắt là Nghị quyết số

03/2006) có hướng dẫn:“Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần chú ý:

Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của BLDS quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.”

Như vậy, về nguyên tắc thì mức bồi thường thiệt hại luôn được xác định là toàn bộ và vì vậy, mức bồi thường toàn bộ được áp dụng để giải quyết việc bồi thường trong các trường hợp: Người gây thiệt hại có lỗi cố ý; người gây thiệt hại có lỗi vô ý nhưng họ có khả năng để thực hiện việc bồi thường; người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh

tế trước mắt của họ nhưng về lâu dài họ lại có khả năng kinh tế để thực hiện việc bồi thường

- Giảm mức bồi thường

Là mức bồi thường mà theo đó, người gây ra thiệt hại chỉ phải bồi thường một phần thiệt hại nhỏ hơn phạm vi bồi thường Mức bồi thường một phần được áp dụng theo nguyên tắc người gây thiệt hại được giảm mức bồi thường Nghị quyết số 03/2006 đã hướng đẫn:

Trang 33

“Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện sau đây:

- Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại;

- Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại.” Vì

vậy, chỉ áp dụng bồi thường một phần khi có đủ các yếu tố: Lỗi của người gây

ra thiệt hại là lỗi vô ý; phạm vi bồi thường quá lớn so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt và lâu dài của người phải bồi thường thiệt hại

- Thay đổi mức bồi thường

Mức bồi thường đã được xác định theo của các bên hoặc theo quyết định của Toà án có thể sẽ không còn phù hợp với thực tế sau một thời gian nhất định Theo Nghị quyết số 03/2006 thì được coi là mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế nếu có sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội,

sự biến động về giá cả mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại…

Nếu mức bồi thường đó không còn phù hợp với thực tế thì Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có thể thay đổi mức bồi thường khi có yêu cầu của một trong các bên đương sự Để việc thay đổi mức bồi thường được phù hợp, Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác phải xem xét điều kiện thực tế của các bên, xem xét về thời giá thị trường v.v Chẳng hạn, người được bồi thường có thu nhập trở lại hoặc đã tăng thu nhập, người phải

bồi thường quá khó khăn về kinh tế

Trang 34

Chương 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ GÂY RA 2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Căn cứ vào quy định tại điều 604, Bộ luật dân sự năm 2005 và hướng dẫn của Nghị quyết số 03/2006 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có đủ các yếu tố sau: (1) Phải có thiệt hại xảy ra; (2) Phải

có hành vi trái pháp luật; (3) Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra; (4) Phải có lỗi vô ý hoặc cố ý của người gây thiệt hại

Mặt khác, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ giao thông có thể

là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra, có thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Vì vậy, xem xét các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ là việc xem xét các yếu tố sau đây:

2.1.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra

Áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục hậu quả vật chất cho người bị thiệt hại nên thiệt hại là yếu tố đầu tiên cần phải xem xét để xác định có phát sinh trách nhiệm bồi thường hay không Chỉ có thiệt hại mới phải bồi thường và chỉ khi nào xác định được thiệt hại mới có thể ấn định

người gây thiệt hại phải bồi thường bao nhiêu

Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút thực tế về tài sản, thể chất hoặc tinh

thần Bao gồm: Thiệt hại về tài sản là những tổn thất vật chất thực tế được tính thành tiền mà người có hành vi trái pháp luật đã gây ra cho người khác; thiệt hại về thể chất là sự giảm sút về sức khỏe, mất mát về tính mạng, hình thể của người bị thiệt hại; thiệt hại về tinh thần là sự ảnh hưởng xấu đến danh

dự, nhân phẩm, uy tín hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của người bị thiệt hại Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 03/2006 thì thiệt hại bao gồm:

- Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 Bộ luật dân sự; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại

Trang 35

khoản 1 Điều 609 Bộ luật dân sự; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 Bộ luật dân sự; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự

- Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền

bù đắp tổn thất mà họ phải chịu

- Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin…

vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất

mà tổ chức phải chịu

Tuy nhiên, thiệt hại về tinh thần trong các vụ tai nạn giao thông không bao gồm danh dự, nhân phẩm mà chỉ có các tổn thất tinh thần do sự thiệt hại về sức khỏe, tính mạng

Vì vậy, thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông là những tổn thất xẩy ra được tính thành tiền bao gồm những mất mát, hư hỏng, hủy hoại về tài sản, nguồn thu nhập bị mất, chi phí nhằm ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu về tài sản, sức khỏe, tính mạng, và các tổn thất tinh thần

2.1.2 Có việc gây ra thiệt hại trái pháp luật

Yếu tố này trong Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung được gọi là: “Có hành vi trái pháp luật” Tuy nhiên, vì thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông có thể là do hành vi trái pháp luật, có thể là do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nên chúng tôi gọi gộp là “Có việc gây ra thiệt hại”

Hành vi trái pháp luật trong tai nạn giao trong đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ khi điều khiển phương tiện giao thông và các hoạt động khác khi tham gia giao thông; hành vi cản trở giao

Trang 36

thông; hành vi vi phạm quy tắc an toàn của các chủ công trình giao thông đường bộ

Ngoài hành vi trái pháp luật, tai nạn giao thông đường bộ còn có thể do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, nên nếu trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ không có hành vi trái pháp luật thì cần xét đến yếu tố “nguồn nguy hiểm cao độ” để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Tuy nhiên, những hành vi hoặc nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại về tài sản; sức khỏe, tính mạng sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu xảy ra trong các trường hợp đã được pháp luật loại trừ trách nhiệm Bao gồm: hành vi gây thiệt hại trong giới hạn của phòng vệ chính đáng hoặc gây thiệt hại đúng với yêu cầu của tình thế cấp thiết; thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng

Nghị quyết số 03/2006 đã hướng dẫn: “Về nguyên tắc chung chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

- Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại

Ví dụ: Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật, thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương nặng hoặc bị chết Trong trường hợp này chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó không phải bồi thường thiệt hại

do nguồn nguy hiểm cao độ (xe ô tô) gây ra

- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Cần chú ý là trong trường hợp pháp luật có quy định khác về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.”

2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa việc gây thiệt hại và thiệt hại xảy

ra

Trang 37

Quá trình hình thành và phát triển của các sự vật, hiện tượng luôn có mối liên hệ nội tại, trong đó, sự vật hiện tượng này là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng kia Có thể, nhiều sự vật, hiện tượng cùng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng khác Vì vậy, để xác định chính xác người phải bồi thường thiệt hại cần phải dựa vào mối liên hệ nội tại giữa việc gây thiệt hại (nguyên nhân) và thiệt hại xảy ra (kết quả) Trong đó, thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của việc gây thiệt hại và ngược lại, việc gây thiệt hại phải là là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại

2.1.4 Vấn đề lỗi

Lỗi được xem xét trên cơ sở nhận thức, thái độ tâm lý của chủ thể có hành

vi gây thiệt hại đối với hành vi và hậu quả của hành vi đó Khi một người có

đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi Người bị coi là có lỗi cố ý nếu họ đã nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi

đó Nếu người này mong muốn thiệt hiệt hại xảy ra từ việc thực hiện hành vi thì lỗi của họ là lỗi cố ý trực tiếp Nếu họ không mong muốn thiệt hại xẩy ra nhưng để mặc cho thiệt hại xẩy ra thì lỗi của họ là lỗi cố ý gián tiếp “Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra” 5 Người bị coi là có lỗi vô ý nếu họ không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù họ

họ phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xẩy ra khi họ thực hiện hành vi

đó Nếu người này cho rằng thiệt hại không xẩy ra thì lỗi của họ được xác định là lỗi vô ý cẩu thả, nếu họ cho rằng có thể ngăn chặn được thiệt hại thì lỗi của họ là lỗi vô ý vì quá tự tin “Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của

5

Xem tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần 1, Nghị quyết 03/2006

Trang 38

mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc

có thể ngăn chặn được” 6

Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện

2.2 Xác định thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật

Khi có cơ sở để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với một chủ thể nhất định thì xác định thiệt hại có vai trò quan trọng trong việc tính toán tổng giá trị vật chất mà bên gây thiệt hại phải bồi thường cho bên bị thiệt hại Các thiệt hại xảy ra trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ hết sức đa dạng

và ở nhiều lĩnh vực khác nhau: Có thể đó là những thiệt hại về tài sản nhưng cũng có thể đó là sự thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và có thể bao gồm tất cả

Để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại và tính công bằng trong việc

áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cơ quan áp dụng luật phải xác định toàn bộ thiệt hại một cách chính xác Để chính xác thì việc xác định thiệt hại phải dựa vào tình tiết khách quan của từng vụ tai nạn giao thông cũng như cần căn cứ vào thời giá thị trường tại địa điểm và thời điểm xác định thiệt hại Vì vậy, thiệt hại được xác định theo từng vấn đề sau đây:

2.2.1 Thiệt hại về tài sản

Trong các vụ tai nạn giao thông có gây thiệt hại đối với tài sản, cần phải tính tổng thiệt hại thành một khoản tiền cụ thể (trừ trường hợp có thể bồi thường bằng hiện vật) thông qua việc xác định các khoản thiệt hại sau đây:

- Tài sản bị hủy hoại:

Đối với tài sản là vật khi bị hủy hoại toàn bộ mà vẫn còn mới, chức năng

sử dụng chưa suy giảm đáng kể thì thiệt hại được xác định là toàn bộ giá trị của vật nhưng được tính tương đương với giá của hàng hóa cùng loại, cùng chất lượng trên thị trường tại nơi xảy ra thiệt hại và tại thời điểm giải quyết vụ

án (thời điểm xét xử sơ thẩm)

6

Xem tiểu mục 1.2 Mục 1, Phần 1, Nghị quyết 03/2006

Trang 39

Đối với tài sản là vật đã qua quá trình sử dụng và đã có khấu hao đáng kể

thì thiệt hại được xác định là giá trị còn lại của vật đã trừ khấu hao Thông qua

việc xác định giá trị của tài sản tại thời điểm xẩy ra thiệt hại để xác định thành một khoản tiền theo thời giá thị trường vào thời điểm xét xử sơ thẩm lần đầu

- Tài sản bị hư hỏng: Trong các vụ tai nạn giao thông có thiệt hại về tài

sản nhưng chỉ là hư hỏng vẫn có thể khôi phục lại tính năng của nó thông qua việc sửa chữa thì xác định mức chênh lệch về trị giá của tài sản trước và sau khi bị thiệt hại hoặc các chi phí thực tế đã bỏ ra để khắc phục hư hỏng của tài sản

- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản: Là thiệt hại do hoa

lợi, lợi tức đáng đáng lẽ chắc chắn thu được từ tài sản nhưng không thu được

do tài sản bị thiệt hại Việc tính toán khoản thiệt hại này phải dựa trên các cơ

sở chắc chắn mà không được phép suy diễn Chẳng hạn, nếu tài sản bị thiệt hại là một chiếc xe ô tô nhưng nếu không phải là tài sản đang cho thuê thì không thể xác định được nguồn lợi tức bị mất là bao nhiêu Ngược lại, nếu xe

ô tô đó đang cho thuê thì khoản lợi tức bị mất chính là khoản tiền thuê xe ô tô được xác định theo hợp đồng thuê xe mà bên cho thuê không thu nhập được

do xe bị tai nạn

- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại: Bao gồm

các khoản vật chất mà người bị thiệt hại phải bỏ ra nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hoặc khôi phục tài sản bị thiệt hại Tất cả các khoản tiền này được chỉ coi là hợp lý khi đã chi một cách thực tế và trong tình trạng cần thiết phải chi Chẳng hạn, chi phí vật liệu thay thế chỉ được coi là hợp lý nếu buộc phải có vật liệu đó để sửa chữa tài sản, giá tiền vật liệu đó phải thấp hơn hoặc ngang bằng với giá tiền của vật liệu, phụ tùng được thay thế

2.2.2 Thiệt hại liên quan đến sức khỏe, tính mạng

Sức khỏe, tính mạng của con người là vô giá, không thể xác định ngang giá bằng tiền Vì vậy, xác định thiệt hại khi có sự thiệt hại về sức khỏe, tính mạng thực chất là tính toán các tổn thất liên quan phát sinh, khi có thiệt hại về sức khỏe, tính mạng thành một khoản tiền cụ thể, với ý nghĩa tạo điều kiện

Trang 40

cho nạn nhân hoặc gia đình họ đỡ khó khăn trong việc cứu chữa cũng như trong cuộc sống về sau này

- Tính toán thiệt hại khi có sự thiệt hại về sức khỏe

Khi có thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại sẽ được tính toán theo các khoản sau đây:

+ Chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe:

Là tất cả các khoản chi phí phải bỏ ra để cứu chữa và phục hồi sức khỏe của người bị nạn Bao gồm tiền thuốc, tiền viện phí, tiền tàu xe đưa bệnh nhân đến nơi điều trị và từ nơi đó về nhà, tiền chi cho các dịch vụ y tế khác, tiền công chăm sóc nạn nhân, tiền làm các bộ phận giả trên cơ thể Các khoản tiền trên chỉ được tính nếu có và phải là những khoản chi hợp lý Vì vậy, ngoài việc phải dựa vào hóa đơn chứng từ, để bảo đảm tính thực tế còn phải dựa vào tính cần thiết khi chi thực tế các khoản này Chẳng hạn, trong trường hợp gia đình nạn nhân đã yêu cầu cơ sở chữa bệnh chữa trị với chế độ đặc biệt (nằm phòng đặc biệt, biện pháp điều trị đặc biệt .) trong khi với chế độ chữa trị thông thường vẫn đảm bảo cứu chữa và phục hồi được sức khỏe cho nạn nhân một cách bình thường thì chi phí đó không được coi là hợp lý nên chi phí này chỉ được tính ngang bằng khoản tiền chi phí cho chế độ chữa trị thông thường Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần 1, Nghị quyết số 03/2006 đã hướng dẫn:

“ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm,

mổ, truyền máu, vật lý trị liệu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có)”

Ngày đăng: 24/03/2018, 22:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Mai Anh (1997), Những vấn đề cơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật dân sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật dân sự
Tác giả: Lê Mai Anh
Năm: 1997
2. Phạm Kim Anh (1997), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Kim Anh
Năm: 1997
3. Nguyễn Minh Châu (2006), Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 2006
4. Hoàng Đạo (2013), Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Tác giả: Hoàng Đạo
Năm: 2013
5. Nguyễn Thanh Hồng (2001), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
Tác giả: Nguyễn Thanh Hồng
Năm: 2001
7. Lê Thị Bích Lan (1999), Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín
Tác giả: Lê Thị Bích Lan
Năm: 1999
12. Phùng Trung Tập (2004), Bàn về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tạp chí Luật học số 10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi "thường" thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả: Phùng Trung Tập
Năm: 2004
13. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2015), Hướng dẫn môn học Luật dân sự, Sách hướng dẫn, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn môn học Luật dân sự
Tác giả: Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2015
14. Trường Đại học Luật hà nội (2012), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, NXB CAND, Hà Nội.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật hà nội
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 2012
15. Từ điển tiếng việt, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
6. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2006), Nghị quyết số Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w