1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn

92 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 5,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại TNBTTH ngoài hợp đồng đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự BLDS năm 2015; tuy nhiên, pháp luật liên quan đến TNBTTH trong các vụ TNGTĐB còn bộc lộ một s

Trang 1

HỨA THÁI SƠN

TR¸CH NHIÖM BåI TH¦êNG THIÖT H¹I

TRONG C¸C Vô TAI N¹N GIAO TH¤NG §¦êNG Bé

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HỨA THÁI SƠN

TR¸CH NHIÖM BåI TH¦êNG THIÖT H¹I TRONG C¸C Vô TAI N¹N GIAO TH¤NG §¦êNG Bé

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số : 8 38 01 03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Huệ

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hứa Thái Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI

THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO

1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai

1.3 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH

NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI

2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ

2.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn tai

Chương 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG GIAO

3.1 Khái quát chung về huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn và tình hình

Trang 5

3.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong các

3.3 Hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây tại nước ta, tai nạn giao thông (TNGT) nói chung và tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) nói riêng đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Tỷ lệ thương tật và tử vong do TNGTĐB ở Việt Nam ở mức báo động Khi các vụ TNGT xảy ra thì việc bồi thường thiệt hại (BTTH) cả về vật chất lẫn tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân của họ

là vấn đề quan trọng hàng đầu

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (TNBTTH) ngoài hợp đồng đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015; tuy nhiên, pháp luật liên quan đến TNBTTH trong các vụ TNGTĐB còn bộc lộ một số hạn chế như: chưa quy định cụ thể các phương tiện giao thông vận tải cơ giới (PTGTVTCG) được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ; mức BTTH còn chưa phù hợp với thực tế;… Bên cạnh những điểm hạn chế của pháp luật thì thực tiễn giải quyết các vụ việc về BTTH trong các vụ TNGTĐB tại các Tòa án trên cả nước nói chung và huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn nói riêng còn bộc lộ những bất cập như: một số Tòa án khi xét xử còn nhầm lẫn giữa TNBTTH trong các vụ TNGT do hành vi con người gây ra với trường hợp do nguồn nguy hiểm cao

độ gây ra; mức bồi thường về tổn thất tinh thần do các Tòa án đưa ra còn cảm tính; cùng mức độ và tính chất thiệt hại trong các vụ TNGTĐB nhưng các Tòa

án đưa ra mức bù đắp tổn thất tinh thần chênh lệch nhau quá lớn Trước tình hình TNGTĐB thường xuyên xảy ra tại nước ta nhưng cơ chế giải quyết bồi thường vẫn còn bộc lộ nhiều điểm chưa phù hợp cả ở góc độ pháp lý và thực tiễn thì việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật cũng như tăng cường hiệu quả trong công tác giải quyết bồi thường là hoàn toàn cần thiết

Nằm trong thực trạng nhức nhối về tình hình TNGTĐB trong cả nước, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn là một trong những huyện thường xuyên xảy

ra các vụ TNGTĐB nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về người và của Đây

Trang 8

chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn" làm công trình nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và TNBTTH trong các

vụ TNGTĐB nói riêng là vấn đề thu hút được sự quan tâm lớn của xã hội cũng như những nhà khoa học pháp lý Điều này xuất phát từ tính chất thực tiễn của vấn đề cũng như các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này còn tồn tại bất cập và hạn chế Tính đến thời điểm hiện nay, có một số công trình khoa học có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài nghiên cứu có thể lược qua như:

- Khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án

(i) Luận án tiến sĩ luật học: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong

các vụ tai nạn giao thông đường bộ" của Nguyễn Thanh Hồng (2001) Đây là

công trình khoa học nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB Tại chương 1 của luận án, tác giả Nguyễn Thanh Hồng đã giải quyết các vấn đề lý luận về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như khái niệm TNGTĐB, TNBTTH trong các vụ TNGTĐB, đặc điểm pháp lý ; tại chương 2 của luận án, tác giả phân tích thực thực trạng pháp luật về TNBTTH trong các

vụ TNGTĐB; thực hiện áp dụng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB được tác giả trình bày tại chương 3 của luận án

(ii) Luận án tiến sĩ luật học: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại - Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Phạm Kim Anh Công trình này không

nghiên cứu về TNBTTH trong các vụ TNGT nói riêng mà nghiên cứu chung

về loại TNBTTH Thực chất, TNBTTH trong các vụ TNGTĐB là một trong những loại TNBTTH; do vậy, các kết quả nghiên cứu trong luận án là cơ sở nền để học viên vận dụng trong việc nghiên cứu đề tài của mình

(iii) Luận văn thạc sĩ luật học: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Sơn La" của

Tô Xuân Hoàng, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016 Công trình trình bày

Trang 9

những vấn đề lý luận về TNBTTH trong tai TNGTĐB; phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về BTTH do tai TNGTĐB gây ra; đánh giá tình hình tai TNGTĐB trên địa bàn thành phố Sơn La và thực tế xử lí về BTTH, từ

đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

(iv) Luận văn thạc sĩ luật học: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hải Phòng" của Nguyễn Ngọc Đại (2016) Luận văn trình bày những vấn đề

lý luận về TNBTTH trong các vụ tai TNGTĐB Phân tích nội dung TNBTTH trong các vụ tai TNGTĐB theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hải Phòng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

(v) Khóa luận tốt nghiệp: "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khám

nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông trên địa bàn quận Cầu Giấy"

của Ngô Thị Anh Thơ (2012) Khám nghiệm hiện trường là giai đoạn quan trọng để xác định lỗi của bên vi phạm, qua đó kết quả khám nghiệm hiện trường

là cơ sở quan trọng trong việc giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB

- Bài đăng trên các tạp chí:

(i) Ngô Đức Thịnh: "Cần có giải pháp giải quyết vướng mắc trong

việc thực hiện Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA(C11) của Bộ trưởng Bộ Công

an về quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ", Tạp chí

Kiểm sát, số 7/2010, tr 36-37 Bài viết tập trung phân tích các hạn chế, bất cập khiến việc điều tra, giải quyết TNGTĐB còn kéo dài, chưa nhanh gọn, hiệu quả; qua đó, tác giả bài viết đưa ra một số góp ý hoàn thiện cho quyết định;

(ii) Trần Hữu Tráng: "Cần hình sự hóa hành vi đã sử dụng rượu, bia

hoặc các chất kích thích khác mà vẫn điều khiển các phương tiện giao thông để phòng ngừa tai nạn", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 16/2012, tr 18-22 Trong

bài viết, tác giả đã trình bày giải pháp hạn chế TNGT bằng việc thắt chặt hình phạt đối với hành vi sử dụng rượu, bia gây tai nạn

(iii) Trần Văn Thư: "Để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra việc xử

lý vi phạm hành chính và điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ",

Trang 10

Tạp chí Thanh tra, số 12/2009, tr 23-25 Bài viết đưa ra các giải pháp trong việc xử lý hành chính đối với các hành vi vi phạm an toàn GTĐB; đồng thời, bài viết cũng đóng góp một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác điều tra, giải quyết TNGTĐB

(iv) Lê Thị Thu Dung: "Tăng cường công tác quản lý, kiểm định xe giải

pháp giảm thiểu tai nạn giao thông", Tạp chí Kiểm sát, số 16/2015, tr 33-35, 51

Bài viết nêu thực trạng quản lý, kiểm định xe ô tô, xe mô tô hiện nay còn lỏng lẻo nên dẫn đến nhiều tai nạn đáng tiếc; đề ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu TNGT: Quản lý chặt công tác đăng kiểm, theo dõi quản lý chất lượng

xe, hỗ trợ công tác giải quyết các vụ án vi phạm quy định giao thông đường

bộ (GTĐB) của các cơ quan tư pháp tránh oan sai

(v) Nguyễn Thị Thu Hồng: "Trao đổi về việc xác định lỗi trong các vụ

án tai nạn giao thông", Tạp chí Kiểm sát, số 7/2005, tr 34 Bài viết đưa ra

cách thức xác định yếu tố lỗi của bên gây TNGT và bên bị thiệt hại trong các

vụ TNGTĐB

(vi) Nguyễn Thanh Hồng: "Vấn đề bồi thường khoản tiền cấp dưỡng

trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ theo Luật Dân sự Việt Nam", Tạp

chí Luật học, số 4/2000, tr 24-28 Bài viết trình bày đối tượng, thời hạn và mức độ cấp dưỡng trong trường hợp BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trong các vụ tai TNGTĐB được quy định trong luật dân sự Việt Nam

Trong các công trình khoa học kể trên, có công trình nghiên cứu toàn diện về vấn đề BTTH trong các vụ TNGTĐB, có công trình nghiên cứu về một số khía cạnh TNBTTH trong các vụ TNGTBĐ Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay chưa có bất cứ một công trình khoa học nào nghiên cứu riêng, độc lập về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về BTTH trong các vụ TNGTĐB ở Việt Nam, qua đó, tác giả nghiên cứu về TNBTTH trong

Trang 11

các vụ TNGTĐB tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; đồng thời đưa ra những kiến nghị cụ thể để sửa đổi, bổ sung các qui định còn bất cập, thiếu sót trong pháp luật hiện hành, hoàn thiện cơ chế pháp lý BTTH theo xu hướng hiện đại

và hội nhập, qua đó nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về BTTH trong các vụ TNGTĐB

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, làm rõ khái niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB, đặc

điểm của loại trách nhiệm này, phân loại trách nhiệm

Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật hiện hành về TNBTTH trong

các vụ TNGTĐB Các nội dung được tác giả trọng tâm nghiên cứu như: điều kiện phát sinh TNBTTH trong các vụ TNGTĐB, chủ thể chịu TNBT, xác định thiệt hại,

Thứ ba, nghiên cứu sơ lược về tình hình TNGT xảy ra trên địa bàn

huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Đồng thời, tác giả nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết TNBTTH trong các vụ TNGTĐB xảy ra trên địa bàn Từ thực trạng pháp luật mà tác giả nghiên cứu tại chương 2 và thực tiễn

áp dụng pháp luật tại địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; đề xuất những kiến nghị, giải pháp pháp lý cụ thể trong việc sửa đổi, bổ sung các qui định pháp luật Việt Nam hiện hành về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tập trung nghiên cứu những quy định BTTH trong tai TNGTĐB ở BLDS 2015, và pháp luật chuyên ngành: bảo hiểm, lao động, luật GTĐB, luật hình sự, Nhưng không chỉ dừng lại ở phạm vi những quy định ở BLDS 2015 mà còn nghiên cứu ở những quy định trước khi BLDS

2015 có hiệu lực, và những văn bản hướng dẫn luật để có thể đào sâu hơn vấn

đề mà tác giả đang nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng TNGTĐB xảy ra trên địa bài tỉnh Lạng Sơn nói chung và huyện Bắc Sơn nói riêng Đồng thời, tác giả nghiên cứu các

Trang 12

bản án về giải quyết tranh chấp TNBTTH trong các vụ TNGTĐB xảy ra trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu trong đề tài bao gồm: Phương pháp logic pháp lý, phương pháp tổng hợp, so sánh luật học, phương pháp kết hợp giữa

lý luận và thực tiễn Các phương pháp này được sử dụng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin

6 Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu có hệ thống về các vấn đề pháp lý liên quan tới BTTH, đưa ra những định hướng và đề xuất các kiến nghị cụ thể mà kết quả của nó sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây và hoàn thiện pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng ở Việt Nam, góp phần tăng cường hiệu quả điều chỉnh của pháp luật BTTH ngoài hợp đồng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, trong xu hướng hội nhập quốc tế của hệ thống pháp luật nói riêng và của đất nước Việt Nam nói chung, vào trào lưu chung của thế giới Góp phần làm hoàn thiện pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng cũng là góp phần vào việc bảo đảm cho các quan hệ giữa các chủ thể ở Việt Nam được ổn định, an toàn pháp lý và tránh được các rủi ro cho các bên chủ thể, bảo đảm quyền lợi tối

đa, quyền được pháp luật bảo vệ và lợi ích chính đáng của các bên

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về bồi

thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn và và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

1.1.1 Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ

Tai nạn giao thông là những tai nạn luôn tiềm ẩn trong quá trình các

cá nhân tham gia giao thông; đây là những sự kiện bất ngờ ngoài ý muốn chủ quan của người gây tai nạn và người bị thiệt hại

Theo Wikipedia tiếng Việt định nghĩa về TNGT: "Tai nạn giao thông

là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản"1 Định nghĩa này đã giới hạn rõ TNGT phải là những sự việc xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông (PTGT);

do đó, những tai nạn xảy ra do sự cố ý của người điều khiển PTGT thì không được xác định là tai nạn Nguyên nhân gây ra tai nạn có thể xuất phát từ sự vi phạm các quy tắc an toàn của người tham gia giao thông hoặc do những sự kiện khác không thuộc về lỗi của người tham gia giao thông như xe đang đi bị

nổ lốp, mất phanh…

Còn theo tác giả Đỗ Đình Hóa: "Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ

nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng, nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc

an toàn giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp

1 https://vi.wikipedia.org/wiki/Tai_n%E1%BA%A1n_giao_th%C3%B4ng

Trang 14

tránh đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản của nhà nước và nhân dân"2 Về cơ bản định nghĩa này cũng tương đối thống nhất với định nghĩa trên như: (i) TNGT phải là sự kiện bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người; (ii) Nguyên nhân xảy ra tai nạn là sự chủ quan, vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải các tình huống khách quan khác So với định nghĩa trên Wikipedia, tác giả Đỗ Đình Hòa đã liệt kê cụ thể các thiệt hại do TNGT gây ra gồm: thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về sức khỏe và thiệt hại về tài sản

Dưới góc độ pháp lý, tại tiểu mục 1901 mục 19 - Trật tự, an toàn xã hội và tư pháp, phần phụ lục của Nghị định số 97/2016/NĐ-CP, ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống

chỉ tiêu thống kê quốc gia qui định: "Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ,

nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng (gọi là mạng lưới giao thông: Đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không), nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản"; còn Bộ Y tế đưa ra

định nghĩa như sau: "Tai nạn giao thông là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý

muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn công cộng nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phanh, tránh, gây thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe" Dưới góc độ pháp lý, định nghĩa về TNGT được

xây dựng từ các đặc điểm như: TNGT là sự việc hoặc sự cố giao thông nằm ngoài mong muốn của người tham gia giao thông; nguyên nhân của TNGT là

2 Đỗ Đình Hóa: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông", Tạp chí Kiểm sát, số

8/2007, tr 15-21

Trang 15

do người tham gia giao thông vi phạm các qui định về trật tự, an toàn GTĐB hay gặp phải sự cố bất ngờ; TNGT gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Tai nạn giao thông không chỉ là vấn đề nóng ở Việt Nam mà đây còn

là thực trạng chung của nhiều quốc gia trên thế giới Do đó, trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đưa ra khái niệm về TNGT

Tại Nhật Bản tại khoản 1, mục 1, Điều 2 Luật GTĐB định nghĩa: "Tai nạn

giao thông là các sự vụ phát sinh gây tử vong hoặc bị thương do tai nạn giao thông được phát sinh bởi phương tiện giao thông cơ giới hoặc phương tiện đường sắt"

Tại Liên bang Nga, mục 1.2 giải thích từ ngữ của Luật GTĐB định

nghĩa: "Tai nạn giao thông là sự kiện phát sinh trong quá trình phương tiện

giao thông di chuyển trên đường dẫn đến làm chết, ị thương người, làm hỏng phương tiện giao thông, công trình, hàng hóa hay là nguyên nhân gây

là loại hình giao thông cơ bản và quan trọng bậc nhất

Theo tác giả Vũ Mạnh Thắng: "Tai nạn giao thông đường bộ là một

sự việc bất ngờ xảy tra ngoài ý muốn của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông đường bộ"3 Định nghĩa này đã giải thích một cách khái quát về TNGTĐB, lỗi của người điều khiển PTGT và thời điểm xảy ra TNGT

Dưới góc độ pháp lý, tại Điều 5 Thông tư số 58/2009/TTBCA ngày 28/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Công an qui định và hướng dẫn, tổng hợp, xây

dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin TNGT đường bộ qui định: "Tai nạn

3 Vũ Mạnh Thắng: "Bàn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ",

Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6/2005, tr 25-32

Trang 16

giao thông đường bộ là sự việc xảy ra do người tham gia giao thông đang hoạt động trên mạng lưới giao thông đường bộ vi phạm các qui định về trật

tự, an toàn giao thông đường bộ hay gặp phải sự cố bất ngờ gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc tài sản của

cơ quan, tổ chức, cá nhân" Về cơ bản định nghĩa TNGTĐB được xây dựng

trên cơ sở định nghĩa TNGT nói chung và xây dựng định nghĩa gắn riêng với mạng lưới GTĐB để cá biệt hóa với các TNGT xảy ra ở đường sắt, đường biển, đường hàng không

Còn theo Tiêu chuẩn thống kê giao thông của Châu Âu, 2009, TNGT

được định nghĩa như sau: "Tai nạn giao thông là va chạm giao thông đường

bộ, và có nghĩa là: va chạm hoặc vụ việc có liên quan đến ít nhất là một phương tiện giao thông đường bộ đang di chuyển, trên đường của nhà nước hoặc đường tư nhân mà công chúng có quyền tiếp cận Bao gồm: va chạm giữa các phương tiện giao thông đường bộ; giữa phương tiện và người đi ộ; giữa phương tiện và thú vật hoặc các chướng ngại cố định và với một phương tiện khác không có người Thuật ngữ này cũng bao gồm va chạm giữa các phương tiện đường bộ và đường sắt Những vụ va chạm liên quan đến nhiều phương tiện được coi là một vụ va chạm với điều kiện là những va chạm tiếp theo xảy

ra liên tiếp trong khoảng thời gian rất ngắn" Định nghĩa này mô tả khá chi

tiết về các TNGTĐB, đưa ra các khả năng xảy ra đối với các vụ TNGTĐB

Mặc dù hiện nay tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm TNGTĐB nhưng tựa chung lại, các định nghĩa đưa ra đều có các điểm tương đồng sau:

+ Tai nạn GTĐB là vụ va chạm xảy ra trên mạng lưới GTĐB công cộng + Tai nạn GTĐB là vụ va chạm có liên quan đến ít nhất một PTGT, và PTGT đó đang di chuyển trên đường

+ Tai nạn GTĐB gây ra thiệt hại về người và tài sản cho người, phương tiện tham gia giao thông, công trình giao thông

Ngoài ra, "tùy từng nước, Luật Giao thông đường bộ có thể quy định

các trường hợp được xem là tai nạn giao thông (như ở Châu Âu) hoặc qui

Trang 17

định các trường hợp tuy có các dấu hiệu như trong khái niệm tai nạn giao thông nhưng không ị coi là tai nạn giao thông và phải đưa vào áo cáo thống kê" 4 Như trong Luật GTĐB của Nhật Bản, qui định các trường hợp không phải đưa vào cơ sở dữ liệu và báo cáo gồm có: (i) Sử dụng xe để tự sát; (ii) Các vụ giết người bằng cách cố tình dùng xe để đâm vào xe của đối phương và đâm vào người khác, các vụ gây thương tích và các vụ tấn công; (iii) Các vụ tai nạn do vật rơi từ trên không, từ trên các tòa nhà vào xe và người đang lưu thông trên đường; (iv) Xe bị mắc kẹt do lở đất và lún đường; (v) Tai nạn do động đất hoặc sóng thần

Từ các phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm TNGTĐB như sau: Tai

nạn giao thông đường bộ là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn của con người

do vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ hoặc sự do những sự

cố đột xuất xảy ra mà không kịp phòng tránh trong khi tham gia giao thông đường bộ gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho của con người

1.1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Khi xảy ra tai TNGTĐB mà có đủ căn cứ phát sinh TNBTTH thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại

Trách nhiệm được hiểu là những hậu quả pháp lý bất lợi mà một bên phải gánh chịu do xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Các trách nhiệm pháp lý nói chung và TNBTTH ngoài hợp đồng nói riêng chỉ phát sinh dựa trên các quy định của pháp luật BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm chung về BTTH nói chung, bao quát cả trường hợp BTTH trong các vụ

TNGTĐB: "Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,

nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác" Như vậy, theo quy định này, TNBTTH ngoài hợp

đồng nói chung phát sinh khi: (i) Có thiệt hại xảy ra: đây là những thiệt hại về

4 Trung tá, TS Lê Huy Trí, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu an toàn giao thông - Học viện Cảnh sát

nhân dân: "Bàn về khái niệm tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam",

http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/2789/Ban-ve-khai-niem-tai-nan-giao-thong-duong-bo-o-Viet-Nam, ngày truy cập 15/3/2018

Trang 18

tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác; (ii) Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra Quy định này không

tái ghi nhận yếu tố lỗi như trong Điều 604 BLDS năm 2005: "Người nào do

lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường" Việc không quy định yếu tố lỗi trong Điều 584 BLDS năm 2015

không đồng nghĩa với việc các nhà lập pháp đưa yếu tố lỗi ra khỏi các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường Với tư duy lập pháp mới, một người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho chủ thể khác thì bị suy đoán là có lỗi trong việc gây ra thiệt hại Nếu người gây thiệt hại muốn khẳng định họ không

có lỗi trong việc gây thiệt hại thì họ là chủ thể có trách nhiệm chứng minh

Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh theo nhiều nguyên nhân khác nhau; có thể là TNBTTH phát sinh do hành vi con người hoặc TNBTTH phát sinh do tài sản gây ra TNBTTH trong các vụ TNGTĐB là loại trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình các cá nhân tham gia giao thông và gây thiệt hại cho chủ thể khác hoặc gây ra thiệt hại cho các công trình giao thông công cộng

Từ định nghĩa về TNGTĐB và TNBTTH đã được nghiên cứu ở trên, tác giả rút ra khái niệm về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như sau:

THBTTH trong các vụ TNGTĐB là một loại cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà một bên trong quan hệ phải bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác trong quá trình tham gia giao thông đường bộ

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng; do đó, TNBTTH trong các vụ TNGTĐB mang đầy đủ các đặc điểm chung của TNBTTH ngoài hợp đồng:

Trang 19

- Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT đường bộ phát sinh giữa các

chủ thể không có quan hệ hợp đồng hoặc giữa các chủ thể có quan hệ hợp đồng nhưng sự kiện gây thiệt hại không thuộc nội dung trong hợp đồng;

- Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB là hậu quả pháp lý bất lợi mà người gây thiệt hại hoặc người có trách nhiệm bồi thường phải gánh chịu

- Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện theo quy định của luật: có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi gây thiệt hại; có lỗi của người gây thiệt hại

Ngoài những đặc điểm chung, TNBTTH trong các vụ TNGTĐB còn mang những đặc điểm riêng sau đây:

(i) Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB phát sinh trong quá trình các bên tham gia GTĐB Thiệt hại phát sinh bao bao gồm thiệt hại với người bị gây tai nạn hoặc với chính người gây ra tai nạn

Hiện nay nước ta tồn tại nhiều mạng lưới giao thông khác nhau như mạng lưới GTĐB, đường sắt, đường thủy, đường hàng không Gắn với mỗi loại hình giao thông khác nhau sẽ có các loại TNGT tương ứng như: TNGTĐB, TNGT đường sắt, TNGT đường biển, TNGT đường hàng không Đối với TNBTTH trong các vụ TNGTĐB thì loại trách nhiệm này gắn với sự tham gia giao thông của các PTGT trên các tuyến đường bộ như đường quốc

lộ, đường liên tỉnh, liên xã, đường bộ ở thôn xóm

(ii) Nguyên nhân gây ra TNGTĐB có thể do sự chủ quan, vi phạm của người tham gia giao thông hoặc do một sự kiện khách quan nằm ngoài ý chí con người Nguyên nhân chính gây nên các vụ TNGTĐB do sự chủ quan, lơ

là của người tham gia giao thông Các lỗi phổ biến của người tham gia giao thông mà qua đó khiến TNGT phát sinh có thể kể đến như: sử dụng rượu, bia trong quá trình tham gia giao thông; phóng nhanh, vượt ẩu; không quan sát khi tham gia giao thông

Đối với trường hợp một người cố ý lái xe gây thương tích hoặc đâm chết người - tức trường hợp xâm phạm sức khỏe, tính mạng con người một

Trang 20

cách cố ý thì không thể nào được coi là "tai nạn" Do đó, phương thức giải

quyết với các trường hợp điều khiển PTGT cố ý gây ra tai nạn nhằm phá hoại tài sản, gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng bị người hại sẽ khác với trường hợp BTTH trong các vụ TNGT

(iii) Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB gồm cả TNBTTH do hành vi con người gây ra và TNBTTH do tài sản gây ra (do PTGTVTCG gây ra) Do đó, TNBTTH trong các vụ TNGTĐB là tổng hợp của hai loại trách nhiệm gồm TNBTTH do hành vi con người gây ra và TNBTTH do tài sản gây ra

Đối với các vụ TNGT do hành vi con người gây ra như phóng nhanh, vượt ẩu, sử dụng rượu bia gây tai nạn, không quan sát khi điều khiển PTGT, vượt đèn đỏ, đi ngược đường thì đây là trường hợp BTTH do hành vi con người gây ra

Đối với các vụ TNGT do PTGTVTCG gây ra như đang tham gia giao thông xe bị nổ lốp, mất phanh hoặc một lỗi kĩ thuật nào đó thì đây là trường hợp BTTH do tài sản gây ra, cụ thể là BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Trong quá trình giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB thì vấn đề quan trọng đầu tiên là tòa án phải xác định chính xác nguyên nhân gây ra tai nạn do hành vi con người hoặc do PTGTVT cơ giới gây ra để từ đó quy trách nhiệm bồi thường cho người có hành vi gây tai nạn hoặc cho chủ sở hữu tài sản, người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản

(iv) Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB là loại trách nhiệm pháp lý phát sinh mà trong đó luôn liên quan đến người tham gia giao thông (bên điều khiển PTGT và người tham gia giao thông khác) và PTGT đường

bộ như ô tô, xe máy,

Tai nạn GTĐB có thể phát sinh giữa nhiều người cùng tham gia giao thông hoặc giữa người tham gia giao thông với người không tham gia giao thông (ví dụ trường hợp xe ô tô đang tham gia giao thông đâm vào người ngồi trong nhà, trong hàng quán, ven đường)

Trang 21

1.3 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Dựa trên nguyên nhân làm phát sinh thiệt hại trong các vụ TNGTĐB

mà TNBTTH trong các vụ TNGTĐB gồm: (i) TNBTTH do hành vi trái pháp luật của con người gây ra; (ii) TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1.3.1 Trách niệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông do hành vi con người gây ra

Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT đường bộ do hành vi con người gây ra được hiểu chính là những trường hợp hành vi con người là nguyên nhân gây ra thiệt hại Điều này được hiểu, nếu không có hành vi của con người thì TNGTĐB cũng sẽ không xảy ra Các hành vi của con người gây

ra TNGT rất phong phú, đa dạng như phóng nhanh, vượt ẩu, vượt đèn đỏ, Cần lưu ý thêm, đối với các vụ TNGTĐB do hành vi con người gây ra thì PTGT không được coi là nguyên nhân gây ra thiệt hại, mà chỉ là vật chịu sự chi phối của hành vi con người

Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB do hành vi trái pháp luật của con người gây ra bao gồm trường hợp người gây thiệt hại có lỗi, người bị thiệt hại có lỗi và người gây thiệt hại, người bị thiệt hại cùng có lỗi

1.3.1.1 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người gây thiệt hại có lỗi

Trách nhiệm BTTH do người gây thiệt hại gây ra là trường hợp mà người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại Hành vi trái pháp luật trong các vụ TNGTĐB được hiểu là hành vi vi phạm các quy định về an toàn GTĐB khi điều khiển PTGT và các hoạt động khác khi tham gia giao thông như: hành vi cản trở giao thông, hành vi vi phạm các quy tắc an toàn của các chủ công trình GTĐB… Nguyên nhân chính gây ra tai nạn là hành vi trái pháp luật của chính người gây thiệt hại, hành vi này thuộc về ý chí của chủ thể gây thiệt hại nên lỗi ở đây lỗi cố ý về hành vi nhưng vô ý thiệt hại

Điểm đáng chú ý trong trường hợp người gây thiệt hại có lỗi chính là phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường, đây được gọi là trường hợp có lỗi

Trang 22

của nhiều người Trường hợp này được quy định điều 587 BLDS năm 2015:

"Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau"

Khi nhiều người cùng gây thiệt hại thì phải liên đới BTTH cho người

bị hại Người bị hại có quyền yêu cầu một trong những người gây thiệt hại bồi thường toàn bộ thiệt hại Khi xác định trách nhiệm liên đới của nhiều người cần phải xem xét các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, có hành vi gây thiệt hại của nhiều người: nghĩa là bên gây

thiệt hại phải là nhiều người và hành vi đó phải trái pháp luật, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại

Thứ hai, những người gây ra hậu quả phải có sự thống nhất ý chí và

cùng gây ra hậu quả Sự thống nhất ý chí thể hiện những người gây thiệt hại thực hiện hành vi với mục đích là gây tổn hại cho đối phương

1.3.1.2 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người ị thiệt hại có lỗi

Việc BTTH trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi được quy định

tại khoản 2 Điều 584 BLDS năm 2015: "Người gây thiệt hại không phải chịu

trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hoàn toàn do lỗi của bên thiệt hại", và khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015: "khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra"

Trường hợp này trách nhiệm bồi thường không thuộc về bên gây ra thiệt hại mà thuộc về người bị thiệt hại, người bị gây thiệt hại gây ra lỗi nhưng

họ cũng là người bị thiệt hại do vậy họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường,

trừ những người hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Ví dụ: A

đang lái xe trên đường thì B lao vào xe của A để tự tử hoặc trường hợp theo luật định ví dụ tàu hỏa cán phải người đang ngủ trên đường ray,

Trang 23

1.3.1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người gây thiệt hại và người bị thiệt hại có lỗi

Theo qui định tại Điều 585 BLDS năm 2015, trách nhiệm của người

bị thiệt hại và người gây thiệt hại đều có lỗi đối với thiệt hại, thì trách nhiệm của cả hai bên là trách nhiệm hỗn hợp Mức độ lỗi của mỗi bên trong việc gây thiệt hại là căn cứ để xác định trách nhiệm theo phần của hành vi gây thiệt hại

1.3.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra

Điều 601 BLDS năm 2015 quy định: "Nguồn nguy hiểm cao độ bao

gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định" Theo quy

định này, PTGTVTCG đang hoạt động được xác định là một trong các nguồn nguy hiểm cao độ

Khoản 18 Điều 3 Luật GTĐB số: 23/2008/QH12 ngày 13 tháng 11

năm 2008 (Sau đây gọi là "LGTĐB năm 2008") quy định: "Phương tiện giao

thông cơ giới (sau đây gọi là xe cơ giới) đường bộ gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh;

xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự" Quy định

PTGTVTCG đường bộ để phân biệt với các PTGT thô sơ đường bộ bao gồm:

"xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự" (khoản 19 Điều 3 LGTĐB năm 2008)

PTGTVTCG có thể hiểu các loại PTGTVT có gắn động cơ và hoạt động bằng động cơ mà không phải bằng sức người, do con người điều khiển tuân theo những điều kiện an toàn nhưng khi tham gia giao thông có thể gây nguy hiểm cao độ đối với tính mạng, sức khỏe của con người, cũng như có thể gây thiệt hại lớn đối với tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân

Phương tiện giao thông vận tải cơ giới là một trong các loại nguồn nguy hiểm cao độ phổ biến nhất trong xã hội, được sử dụng ở khắp mọi nơi, mọi loại hình giao thông do tính ưu việt và những tiện ích do chúng mang lại,

Trang 24

chính vì vậy chúng luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại PTGTVTCG gây thiệt hại phải được hiểu là chính sự hoạt động tự thân (tự tại) của phương tiện

gây ra, mà không có sự tác động bởi hành vi có lỗi của con người Ví dụ: Xe ô

tô đang vận hành thì bị chết máy, nổ lốp, mất phanh, gãy trục, gãy cầu đã gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác Sự kiện gây thiệt

hại của nguồn nguy hiểm cao độ theo cơ chế "tự gây thiệt hại", hoàn toàn

không có sự tác động của con người

1.4 Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB đã được manh nha hình thành và được ghi nhận rất sớm trong lịch sử pháp luật Việt Nam Trong Bộ

Hoàng Việt Luật lệ - Bộ luật thời nhà Nguyễn quy định: "Ở thôn quê, nếu vô

cớ quất ngựa chạy lung tung nơi đồng vắng không người phải nhân đó làm ị thương người ta, không đến nỗi chết thì không nói; nếu làm chết người thì phạt 100 trượng, xử như vừa nói, cấp cho người ta 10 lạng bạc lo chôn cất Nếu vì công vụ khẩn cấp, cho ngựa phi nhanh, làm bị thương người thì xử tội sai lầm, định theo luật chuộc đền cho nạn nhân" Theo quy định của luật dưới

triều Nguyễn thì việc ngựa gây thiệt hại cho người khác buộc chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm cả hình sự lẫn BTTH, cụ thể nếu làm chết người thì chủ nhân của ngựa sẽ phải chịu 100 trượng và bị phạt 10 lạng bạc, nếu không làm chết người thì phải chuộc đền cho nạn nhân Chú thích thêm dưới thời phong kiến ngựa là phương tiện chủ yếu của người dân thời đó bên cạnh đó còn có

trâu bò cũng được coi là phương tiện tham gia "giao thông đường bộ"

Thời kỳ Pháp thuộc, tại Điều 771 của Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 763

của Bộ Dân luật Trung kỳ quy định rằng: "Phàm những vật vô hồn mà tổn hại

thì người trông coi vật ấy cho là có lỗi vào đó, không phân iệt vật đó có tay người động đến hay không, muốn phá hỏng sự đoán đó thì phải có bằng chứng trái lại mới được" Điều luật này đều quy định TNBTTH của người

trông coi vật vô hồn trong trường hợp: Thiệt hại do người đó tự gây ra và thiệt

Trang 25

hại do vật vô hồn mà người đó trông coi gây ra không phụ thuộc vật đó có sự tác động của con người gây ra hay không

Trong thời kỳ Pháp thuộc, Pháp đã xây dựng hàng ngàn cây số đường

bộ liên huyện liên tỉnh, liên vùng, liên miền và cho nhập rất nhiều loại xe ô tô,

cơ giới phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa Năm 1926, chỉ tính riêng tại miền Nam có đến 7.000 xe du lịch, 1.150 xe vận chuyển hàng, 450 xe mô

tô, thậm chí thời đó còn phát triển của các hãng vận tải ô tô công cộng trên ba miền đất nước1 Chính vì vậy pháp luật của thời Pháp thuộc đã dự liệu được trường hợp các PTGTVTCG đường bộ sẽ gây thiệt hại Đây được coi là TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do pháp luật thời Pháp thuộc đã quy định

Đến năm 1972, văn bản mang tính quy phạm đầu tiên, hoàn chỉnh của Nhà nước ta quy định cụ thể TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung và TNBTTH

trong các vụ TNGTĐB nói riêng được ra đời, Thông tư số 173-UBTP "Hướng

dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" ngày 23/3/1972, bao gồm

04 phần: Hướng dẫn đường lối chung về BTTH ngoài hợp đồng, hướng dẫn việc xác định TNBTTH ngoài hợp đồng, hướng dẫn định mức BTTH và hướng dẫn người được hưởng BTTH

Ngày 5/04/1983, trước việc mở cửa thị thường, Thông tư 03-TATC đã

ra đời quy định về việc BTTH trong tai nạn đường bộ Nội dung cơ bản của thông tư như sau:

- Phần I: Cơ sở của việc BTTH trong TNGT Ngoài điều kiện trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng là cơ sở xác định việc bồi thường trong tai

nạn ô tô Thông tư nêu rõ: "Hoạt động của ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ

cho nên phía ô tô có trách nhiệm bồi thường cho người thiệt hại, kể cả trường hợp tai nạn xảy ra vì cấu tạo của máy móc vật liệu (tai nạn rủi ro)" Đây là

điểm đặc trưng của TNBTTH trong tai nạn ô tô, nhằm đề cao ý thức trách nhiệm quản lý của người được giao chiếm hữu, sử dụng ô tô Ngoài ra, thông tư còn quy định khá cụ thể về lỗi của từng chủ thể, lỗi của người thứ ba cũng đưa ra hướng xử lý đối với từng trường hợp cụ thể: Khi ô tô va chạm mà gây thiệt hại và chỉ có một bên có lỗi thì bên có lỗi phải thực hiện BTTH còn nếu hai

Trang 26

bên có lỗi thì xác định trách nhiệm liên đới Nếu trong trường hợp tự thân hoạt động của ô tô mà gây thiệt hại thì phía ô tô phải bồi thường… Trường hợp bất khả kháng như: do thời tiết, sét đánh,… thì phía ô tô không phải bồi thường

- Phần II: Những thiệt hại bồi thường và mức độ bồi thường, cụ thể hóa thông tư 173 - UBTP, thông tư 03 - TATC cũng đã liệt kê cụ thể thiệt hại

về sức khỏe tính mạng của nạn nhân, thiệt hại về tài sản (Phương tiện, hàng hóa, các công trình hạ tầng) và nguyên tắc phải BTTH toàn bộ trong các vụ tai nạn ô tô

- Phần III: Người phải bồi thường cũng được xác định tương đối cụ thể, theo đó người chiếm hữu phương tiện phải bồi thường những thiệt hại gây ra cho ngưởi xung quanh mà không phân biệt việc người lái xe đang làm nhiệm vụ được giao hay không được giao nhiệm vụ nhưng đã lợi dụng hoặc

sử dụng để làm việc riêng Quy định này xuất phát từ thực tiễn xét xử cho thấy rằng những người lái xe thường không có khả năng bồi thường khi thi hành án khiến quyền lợi của người bị thiệt hại không được bảo đảm, người ra quy định này còn có tác dụng làm cho người chiếm hữu phương tiện phải giáo dục và quản lý chặt chẽ những người lái xe Thông tư này còn xác định người chủ xe là người chiếm hữu xe trừ khi xe đã được chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng cho mượn, cho thuê không kèm theo người lái, xe bị trưng dụng theo mệnh lệnh của cơ quan nhà nước Khi xe chuyển giao thì người được chuyển giao phải chịu trách nhiệm bồi thường Nếu xe bị huy động phục vụ các nhu cầu của nhà nước như: lũ lụt, dịch bệnh thì chủ phương tiện vẫn phải BTTH nếu xe gây thiệt hại vì chủ phương tiện vẫn được coi là thực hiện kế hoạch nhà nước, được nhà nước cung cấp cho kinh phí, nhiên liệu

Ngày 01/07/1996, BLDS năm 1995 chính thức có hiệu lực, trong đó quy định một chương riêng về TNBTTH ngoài hợp đồng với các nội dung như điều kiện phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, chủ thể bồi thường, xác định thiệt hại Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng được áp dụng để giải quyết TNBTTH trong các vụ TNGTĐB

Trang 27

Ngày 28/04/2004, Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số qu định của BLDS năm 1995 về BTTH ngoài hợp đồng của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành Đây có thể được coi là một trong những điểm bổ sung góp phần hoàn thiệt các quy định về TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung và TNBTH trong các vụ TNGTĐB nói riêng

Ngày 01/01/2006, BLDS năm 2005 chính thức có hiệu lực Kế thừa và pháp điển hóa các quy định về BTTH trước đây, BLDS năm 2005 đã quy định

cụ thể hơn vấn đề BTTH về tinh thần, quy định mức tối đa trong các trường hợp do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, tính mạng, sức khỏe làm cơ sở pháp lý cho việc yêu cầu BTTH và giải quyết tranh chấp của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2005, PTGTVTCG là nguồn nguy hiểm cao độ

Ngày 01/01/2017 BLDS năm 2015 chính thức có hiệu lực, nhìn chung Bộ luật vẫn kế thừa các quy định về BTTH ngoài hợp đồng được ghi nhận trong BLDS năm 2005 Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung để khắc phục các lỗ hổng và điểm hạn chế trong BLDS năm

2005 về TNBTTH ngoài hợp đồng

Tiểu kết chương 1

Trong Chương 1 của luận văn, tác giả đã tập trung làm rõ những lý luận về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB Các vấn đề được tác giả tập trung nghiên cứu gồm:

- Khái niệm TNGTĐB: trong nội dung này, tác giả đã nghiên cứu dưới góc độ khoa học, góc độ pháp lý Đồng thời, tác giả cũng tham khảo một số định nghĩa được ghi nhận trong BLDS Nhật Bản và Liên Bang Nga

- Khái niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB: trong nội dung này, tác giả đã nghiên cứu dưới góc độ khoa học, góc độ pháp lý Trước hết, để nghiên cứu khái niệm này, tác giả đã phân tích, bình luận định nghĩa về TNBTTH nói chung Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu những đặc điểm riêng về TNBTTH trong các vụ TNGT đường bộ

Trang 28

- Đặc điểm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB: TNBTTH trong các vụ TNGTĐB là một loại trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Bên cạnh

đó, tác giả trọng tâm phân tích các đặc điểm riêng của loại trách nhiệm này

- Phân loại TNBTTH trong các vụ TNGTĐB: TNBTTH trong các vụ TNGTĐB gồm TNBTTH do hành vi con người gây ra và TNBTTH do tài sản gây ra (PTGTVTCG - một loại nguồn nguy hiểm cao độ gây ra)

- Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam về TNBTTH trong các vụ tai nạn TNGTĐB

Trang 29

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ tai nạn giao thông đường bộ

Căn cứ phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng được quy định tại khoản 1

Điều 584 BLDS năm 2015: "Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức

khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác" Từ quy định tại Điều 584 BLDS năm

2015 có thể thấy TNBTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây:

(i) Có thiệt hại xảy ra;

(ii) Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật;

(iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra;

(iv) Có lỗi của người gây ra thiệt hại Mặc dù khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015 không quy định về yếu tố lỗi giống như khoản 1 Điều 604

BLDS năm 2005: "Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng,

sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường" Tuy nhiên, lỗi vẫn là yếu tố được

xem xét khi giải quyết TNBTTH ngoài hợp đồng: khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì họ bị suy đoán là có lỗi, người bị thiệt hại không phải chứng minh Ngược lại, nếu người gây thiệt hại khẳng định họ không có lỗi trong việc gây thiệt hại thì họ có nghĩa vụ phải chứng minh

Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB là một trong các trường hợp của TNBTTH ngoài hợp đồng và được quy định tại chương XX của

Trang 30

BLDS năm 2015 Vì vậy, các căn cứ phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng cũng chính là căn cứ phát sinh TNBTTH trong các vụ TNGTĐB

2.1.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ tai nạn giao thông đường bộ do hành vi con người gây ra

Thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại xảy ra là tiền đề, là điều kiện tiên quyết của TNBTTH bởi mục đích của loại trách nhiệm này là nhằm khắc phục thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, khôi phục lại tình trạng như ban đầu cho chủ thể bị vi phạm Thiệt hại được hiểu là những tổn thất, mất mát về mặt vật chất hoặc tinh thần mà người có hành vi gây thiệt hại đã gây ra đối với chính người bị thiệt hại hay cả với những người thân thích của họ Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong TNBTTH ngoài hợp đồng nên không có thiệt hại thì không phải bồi thường Thiệt hại xảy ra bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về vật chất được hiểu là những mất mát về mặt tài sản mà người bị thiệt hại phải gánh chịu Còn thiệt hại về tình thần là

sự tổn thất về giá trị tinh thần, tình cảm hoặc sự suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân Hình thức biểu hiện thiệt hại về tinh thần rất đa dạng như: Sự suy sụp tâm lý của người bị thiệt hại sau khi sức khỏe bị xâm phạm; những người thân thích của người bị xâm phạm tính mạng suy sụp, hoang mang, lo lắng, đau buồn… Trong khi việc xác định thiệt hại vật chất khá rõ ràng, chi tiết, cụ thể thì việc xác định thiệt hại tinh thần phức tạp và khó khăn hơn vì thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không có tiêu chí chung

để xác định cho mọi cá nhân bởi điều kiện, hoàn cảnh của từng cá nhân là không giống nhau5

Đối với các vụ TNGTĐB thì các thiệt hại có thể phát sinh gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị thiệt mạng Thiệt hại phát sinh trong các vụ TNGTĐB không bao gồm thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín

5 TS Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên): "Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015", NXB Tư pháp, 2016,

tr 818-819

Trang 31

Thứ hai, có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại

Đối với TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do hành vi con người gây ra thì điều kiện phát sinh trách nhiệm là có hành vi trái pháp luật của con người gây ra thiệt hại

Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hành động hoặc không hành động Hành động gây thiệt hại có thể tác động trực tiếp vào người bị thiệt hại hoặc tác động gián tiếp thông qua công cụ, phương tiện gây thiệt hại Không hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định bắt buộc phải làm mặc dù có đầy đủ điều kiện làm việc đó6

Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại trong các vụ TNGTĐB được hiểu

là những hành vi vi phạm các quy định về an toàn GTĐB khi điều khiển PTGT và các hoạt động khác khi tham gia giao thông; hành vi gây cản trở giao thông; hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông của các công trình GTĐB

Không phải trong mọi trường hợp hành vi gây thiệt hại trong các vụ TNGTĐB đều là hành vi trái pháp luật mà hành vi gây thiệt hại có thể là hành

vi hợp pháp nếu người điều khiển PTGTVTCG được xác định gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 594 BLDS năm 2015), trong tình thế cấp thiết (khoản 2 Điều 595 BLDS năm 2015) hoặc trong trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại

Thứ a, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại phát sinh

Đối với TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do hành vi con người gây ra thì điều kiện để phát sinh TNBT gồm có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân trực tiếp hoặc có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra Việc xác định đúng mối quan hệ nhân quả

6 TS Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên): Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb Tư pháp, 2016, tr 819

Trang 32

có ý nghĩa pháp lý trong việc áp dụng pháp luật, xác định đúng trách nhiệm của cá nhân, tổ chức vi phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bị thiệt

hại và đảm bảo công bằng xã hội Ví dụ: A phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn

cho người đi đường thì nguyên nhân gây thiệt hại là hành vi phóng nhanh, vượt ẩu của A; còn thiệt hại xảy ra là người đi đường ị tai nạn

Thứ tư, có lỗi của người gây ra thiệt hại

Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu của hành vi mà họ đã thực hiện được Lỗi được thể hiện dưới hai dạng là lỗi cố ý và lỗi vô ý

+ Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra

+ Lỗi vô ý là trường hợp một người không thể thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết trước hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Theo quy định theo quy định tại Điều 584 BLDS năm 2015 thì lỗi của người điều khiển PTGTVTCG gây ra tai nạn được xác định theo nguyên tắc suy đoán lỗi Điều này được hiểu, khi một người điều khiển PTGTVTCG gây

ra tai nạn cho chủ thể khác thì ngay lập tức họ được suy đoán là có lỗi

Trong các vụ TNGTĐB thì tình trạng hỗn hợp lỗi xảy ra rất phổ biến trên thực tế Hỗn hợp lỗi là trường hợp mà người gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi

2.1.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra

Thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra

Đối với trường hợp BTTH trong các vụ TNGTĐB do hành vi con người gây ra hay do PTGTVTCG gây ra thì điều kiện về thiệt hại luôn là điều kiện tiên quyết để làm phát sinh TNBTTH Nội dung này đã được tác giả

phân tích ở mục 2.1.1

Trang 33

Thứ hai, có hoạt động tự thân của PTGTVTCG đường bộ gây ra thiệt hại

Đối với TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do PTGTVTCG (nguồn nguy hiểm cao độ) gây ra thì điều kiện phát sinh trách nhiệm phải do hoạt động tự thân của chính PTGTVTCG gây ra thiệt hại Điều kiện này được hiểu như sau:

(i) PTGTVTCG phải đang vận hành, hoạt động, tức là phương tiện đó phải đang tham gia giao thông thì mới được xác định là nguồn nguy hiểm cao

độ Như vậy, đối với PTGTVT ở trạng thái "tĩnh" - có nghĩa là không hoạt

động thì không được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ Trong trường hợp những PTGTVT đang ở trạng thái không hoạt động mà gây ra thiệt hại thì cần phải tìm hiểu nguyên nhân chính xác mà không thể áp dụng Điều 601 BLDS

năm 2015 Ví dụ: Ô tô đang đậu trong ãi đỗ xe đột ngột phát nổ, gây thiệt

hại cho các xe khác đang đỗ trong khu vực lân cận thì không thể áp dụng trách nhiệm ồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

(ii) Thiệt hại phải do chính tự bản thân của PTGTVTCG gây thiệt hại

Đối với TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do PTGTVTCG cần phải xác định

rõ ràng để tránh nhầm lẫn với TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do hành vi của người điều khiển PTGTVTCG gây ra Các PTGTVTCG phải gây thiệt hại

khi đang hoạt động và phải do tự bản thân nó gây thiệt hại Ví dụ: Ô tô, xe

máy đang chạy trên đường thì nổ lốp và đâm vào người người đi đường được xác định là thiệt hại do PTGTVTCG gây ra

Để xác định rõ TNBTTH trong các vụ TNGTĐB thì cần phân biệt trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi của người điều khiển PTGTVTCG và thiệt hại xảy ra do PTGTVTCG gây ra Thiệt hại do PTGTVT cơ giới gây ra

là thiệt hại do tự bản thân phương tiện đang hoạt động, vận hành gây ra thiệt hại như xe ô tô đang vận hành thì bị nổ lốp, mất phanh…gây thiệt hại Còn đối với thiệt hại do hành vi con người điều khiển PTGTVTCG gây ra là trường hợp hành vi của con người gây ra tai TNGTĐB do họ vi phạm những quy định về điểu khiển PTGT đường hoặc các hoạt động khác khi tham gia giao thông như vi phạm các hành vi cản trở giao thông, hành vi vi phạm quy

tắc an toàn của chủ công trình GTĐB

Trang 34

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa sự hoạt động "tự thân" gây thiệt hại của PTGTVTCG với thiệt hại xảy ra

Để có thể phát sinh TNBTTH do PTGTVTCG gây ra thì thiệt hại xảy

ra phải trực tiếp do bản thân chính PTGTVTCG gây ra hại Ví dụ: A lái xe

máy trên đường, đột ngột xe mất phanh lao lên đâm vào B đang đứng trên vỉa

hè làm B ị gãy chân phải đi ệnh viện Để hoạt động của PTGTVTCG là

nguyên nhân gây ra thiệt hại thì sự hoạt động của phương tiện phải diễn ra trước về mặt thời gian so với thiệt hại thực tế xảy ra Nếu như thiệt hại thực tế

có trước khi việc hoạt động gây ra thiệt hại của phương tiện GTVT cơ giới thì

không đặt ra trách nhiệm bồi thường Ví dụ: A lái xe đâm vào một xác chết

(xác của một người ị một nhóm người giết rồi vứt ra đường) dẫn tới nát phần đùi ên trái của xác chết, thì việc đâm phải xác chết này không được coi

là xâm phậm đến tính mạng, sức khỏe của người chết được

Nếu thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người gây ra mà có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ thì không áp dụng Điều 601 BLDS năm

2015 để giải quyết mà đây là trường hợp BTTH ngoài hợp đồng thông thường

do hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài

sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác gây ra Ví dụ: H điều khiển

xe ôtô khi nồng độ cồn trong máu vượt quá quy định cho phép, lạng lách đánh võng đâm vào K làm nạn nhân chết ngay tại chỗ thì hành vi của H là trái pháp luật hình sự và trách nhiệm ồi thường ở đây là trường hợp ồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật gây ra

Thứ tư, về yếu tố lỗi

Về nguyên tắc, TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ cần thỏa mãn ba điều kiện đã được phân tích ở trên Điều kiện về lỗi không có ý nghĩa đối với TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nói chung và TNBTTH do PTGTVTCG nói riêng, thậm chí kể cả khi chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không có lỗi vẫn phải bồi thường trừ trường hợp do pháp luật qui định (khoản 3, Điều 601 BLDS năm 2015)

Trang 35

Đối với TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do hành vi con người gây ra thì lỗi được hiểu là lỗi của người gây thiệt hại đối với thiệt hại phát sinh Còn đối TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do PTGTVTCG gây ra thì không tồn tại yếu tố lỗi đối với thiệt hại phát sinh mà thực chất là lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng trong việc chiếm hữu, quản lý, sử dụng PTGTVTCG Những chủ thể này đã không nhìn thấy trước nguy cơ tài sản có thể gây thiệt hại - điều mà những người chu đáo, cẩn thận sẽ nhận thấy được trong hoàn cảnh tương tự

2.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

2.2.1 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ do hành vi con người gây ra

Thứ nhất, người điều khiển PTGT gây thiệt hại

Chủ thể chịu TNBTTH trong các vụ TNGTĐB chính là người gây ra thiệt hại Đây là người có hành vi vi phạm quy định về an toàn GTĐB khi điều khiển PTGT và các hoạt động khác khi tham gia giao thông như hành vi gây cản trở giao, hành vi vi phạm các quy tắc an toàn của các chủ công trình GTĐB

Người điều khiển PTGT ở đây có thể là chủ sở hữu phương tiện hoặc người được đang chiếm hữu, sử dụng PTGT Khi những chủ thể này điều khiển PTGT mà gây ra thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường

Khi xác định TNBTTH của người điều khiển PTGTVTCG thì cần xét đến năng lực của các chủ thể khi tham gia điều khiển phương tiện GTĐB Tại

Điều 58 Luật GTĐB năm 2008 quy định: "Người lái xe tham gia giao thông

phải đủ độ tuổi, sức khỏe theo quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp" Theo đó, Tại Điều 60 Luật GTĐB quy định về độ tuổi, sức

khỏe lái xe tham gia giao thông quy định:

+ Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3

;

Trang 36

+ Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe

ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi;

+ Người đủ 21 tuổi trở lên được lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ 3.500 kg trở lên; lái xe hạng B2 kéo rơ moóc (FB2);

+ Người đủ 24 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi; lái xe hạng C kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc (FC);

+ Người đủ 27 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi; lái xe hạng D kéo rơ moóc (FD);

Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi là 50 tuổi đối với nữ và 55 tuổi đối với nam

Người lái xe phải có sức khỏe phù hợp với loại xe, công dụng của xe

Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe, việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô và quy định về cơ sở y tế khám sức khỏe của người lái xe

Khi xem xét TNBTTH của người điều khiển PTGTVT thì cần căn cứ vào năng lực chịu TNBTTH được quy định tại Điều 586 BLDS năm 2015, cụ thể:

(i) Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên điều khiển PTGTVT gây ra thiệt hại thì họ phải tự chịu trách nhiệm, trừ trường hợp họ bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

(ii) Đối với người chưa thành niên điều khiển PTGTVT gây ra thiệt hại thì chủ thể có TNBT được xác định như sau:

+ Nếu người điều khiển PTGTVT dưới 15 tuổi thì người chịu trách nhiệm bồi thường là cha mẹ của người đó, trong trường hợp tài sản của cha

mẹ không đủ để bồi thường mà người con đã gây ra thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của con để bồi thường phần còn thiếu;

+ Nếu người điều khiển PTGTVT đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì người gây thiệt hại phải BTTH bằng tài sản của mình Nếu tài sản không đủ

để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu

Trang 37

(iii) Đối với những người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi điều khiển PTGTVTCG gây thiệt hại thì người giám hộ dùng tài sản của chính những người này để bồi thường Nếu người gây thiệt hại không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường, trừ trường hợp họ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ

Thứ hai, người thứ ba có lỗi gây ra tai TNGTĐB

Đây được hiểu là những người có lỗi trong việc gây ra TNGT mà họ không phải là người điều khiển PTGTVTCG Trong thực tế, họ có thể là người tham gia giao thông khác, người cản trở GTĐB, chủ công trình hạ tầng GTĐB Trong các vụ tai TNGTĐB do lỗi của người thứ ba cần xác định người chịu TNBTTH theo hai trường hợp:

+ Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người thứ ba thì người thứ

ba phải chịu toàn bộ trách nhiệm;

+ Nếu thiệt hại xảy ra mà nguyên nhân chính là do lỗi của người thứ

ba nhưng người điều khiển phương tiện GTĐB cũng có lỗi thì cả hai cùng chịu trách nhiệm bồi thường, trong đó phần bồi thường được xác định tương

ứng với mức độ lỗi của mỗi người Ví dụ: A đang điều khiển PTGT lai B phía

sau Khi đang điều khiển phương tiện, vì đùa nghịch A nên B lấy tay che mắt A khiến A lao xe lên vỉa hè và đâm vào chị M là người đang đi ộ Trường hợp này người điều khiển PTGT là A nhưng người có lỗi để A gây ra tai nạn là B nên B phải chịu trách nhiệm BTTH trong tình huống này

Thứ a, người bị thiệt hại tự chịu trách nhiệm do có lỗi để tai nạn giao thông xảy ra với mình

Đây là những trường hợp TNGT xảy ra do chính lỗi của người bị thiệt hại Trong trường hợp này, người điểu khiển PTGTVTCG không phải bồi thường mà do người bị thiệt hại tự chịu trách nhiệm Điều này được thể hiện

qua khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015: "Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc

gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra" Đối với trường hợp người bị thiệt hại có một phần lỗi thì họ không được

Trang 38

BTTH phần tương đương với mức độ lỗi của họ Trường hợp người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi thì họ phải tự chịu trách nhiệm toàn bộ mà không được

yêu cầu người gây tai nạn bồi thường Ví dụ: A điều khiển xe máy trên đường,

đúng làn đường, tốc độ và các quy định an toàn giao thông khác B là người

đi ộ, vì không quan sát kĩ nên B chạy ngang qua đường (nơi không có vạch sang đường cho người đi ộ) Vì quá bất ngờ, A không kịp xử lý nên đâm vào

B khiến B ngã ra đường, bị gẫy tay Trong trường hợp này, A là người điều khiển PTGTVT nhưng A hoàn toàn không có lỗi mà lỗi thuộc về người bị thiệt hại là B.Trong trường hợp này do A là người sử dụng, điều khiển nguồn nguy

hiểm cao độ nên A phải có TNBTTH cho B

Ngoài ra, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình Đây là quy định mới được bổ sung trong BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 Nguyên tắc này nâng cao trách nhiệm của bên bị thiệt hạị, nhằm hạn chế thấp nhất các trường hợp bên

bị thiệt hại để mặc cho thiệt hại xảy ra nhằm được hưởng bồi thường

2.2.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra

Theo quy định tại khoản 1 Điều 601 BLDS năm 2015 thì chủ thể chịu TNBTTH trong các vụ TNGTĐB do PTGTVTCG gây ra gồm: (i) Chủ sở hữu PTGTVTCG; (ii) người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng PTGTVTCG;

(3) người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật PTGTVTCG

Thứ nhất, chủ sở hữu PTGTVTCG

Chủ sở hữu PTGTVTCG phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật Trường hợp chủ sở hữu không tuân thủ theo đúng các quy định về vận hành,

sử dụng PTGTVTCG mà khiến PTGTVTCG gây thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường Điều này được thể hiện tại khoản 2 Điều 601 BLDS

năm 2015: "Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do

nguồn nguy hiểm cao độ gây ra"

Trang 39

Khi chủ sở hữu đang chiếm hữu, sử dụng PTGTVTCG là đang thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý, vận hành, khai thác công dụng của PTGTVTCG nên khi PTGTVTCG gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi trong việc gây ra tai nạn

Chủ sở hữu PTGTVTCG không phải BTTH nếu chứng minh được PTGTVTCG gây thiệt hại trong các trường hợp sau: chủ sở hữu PTGTVTCG

đã chuyển giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng (nếu không có thỏa thuận khác); xảy ra một trong các căn cứ loại trừ TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao

độ gây ra (gồm sự kiện bất khả kháng, thiệt hại xảy ra do lỗi hoàn toàn của người bị thiệt hại); chủ sở hữu không có lỗi trong việc PTGTVTCG bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại

Thứ hai, người được chủ sở hữu PTGTVTCG giao chiếm hữu, sử dụng PTGTVTCG

Người được chủ sở hữu PTGTVTCG giao chiếm hữu, sử dụng PTGTVTCG phải BTTH do PTGTVTCG gây ra, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng có thỏa thuận khác

Liên quan đến trách nhiệm bồi thường của người được chủ sở hữu PTGTVTCG giao chiếm hữu, sử dụng PTGTVTCG thì tác giả có bàn luận sau đây:

Người được giao chiếm hữu, sử dụng PTGTVTCG có thể là người được giao thông qua một giao dịch dân sự, hoặc có thể thông qua một quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, quyết định của người sử dụng lao động, Vấn đề đặt ra là người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn PTGTVTCG theo căn cứ nào thì phải BTTH khi PTGTVTCG gây thiệt hại BLDS 2005 và BLDS 2015 đều không quy định cụ thể, nhưng Nghị quyết: 03/2006/NQ -HĐTP có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này Theo hướng dẫn tại điểm đ tiểu mục 2 mục III Nghị quyết này, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao

độ gây ra phải là người được giao thông qua một giao dịch Theo tác giả, hướng dẫn của HĐTP là phù hợp vì khi được chuyển giao, những chủ thể này

Trang 40

được quản lý, sử dụng PTGTVTCG theo ý chí của mình thì họ mới phải chịu trách nhiệm BTTH Mà người được quản lý, sử dụng PTGTVTCG theo ý chí của mình chỉ khi họ có quyền thông qua giao dịch dân sự Còn trường hợp người được giao quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ thông qua một quyết định của cơ quan Nhà nước hoặc người sử dụng lao động sẽ không phải chịu TNBTTH vì việc quản lý, sử dụng của họ trong trường hợp này phải tuân theo quy định của cơ quan, tổ chức đã giao quyền quản lý, sử dụng được quản lý,

sử dụng PTGTVTCG theo ý chí của mình thì họ mới phải chịu trách nhiệm BTTH đó.Trường hợp người được cơ quan, tổ chức, pháp nhân giao cho điều khiển PTGTVTCG đường bộ khi gây tai nạn thì pháp nhân vẫn phải bồi thường

Về nguyên tắc chung chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

+ Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

+ Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết Cần lưu ý thêm, không phải trường hợp nào chủ sở hữu giao PTGTVTCG cho chủ thể khác chiếm hữu, sử dụng thì chủ thể chiếm hữu, sử

dụng đều phải chịu trách nhiệm bồi thường Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã

giao xe ô tô đó cho B B lái xe ô tô tham gia giao thông đã gây ra tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt:

+ Nếu B chỉ được A thuê lái xe ô tô và được trả tiền công, có nghĩa B không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà A vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, A phải BTTH

+ Nếu B được A giao xe ô tô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa A không còn chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà B là người chiếm hữu,

sử dụng hợp pháp; do đó, B phải BTTH Nếu trong trường hợp này được sự đồng ý của A, B giao xe ô tô cho C thông qua hợp đồng cho thuê lại tài sản, thì C là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó; do đó, C phải BTTH 7

7 Điểm 2 mục III Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Ngày đăng: 02/08/2019, 18:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w