HẠI TRONG CÁC v ụ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn gia
Trang 2NGUYỄN THANH HỔNG
TRÁCH NHIÊM BỒI THƯỜNG THIẾT HAI ■ ■ ■
TRONG CÁC VU TAI NAN GIAO THỐNG DƯỜNG Bố■ ■ ■
Chuyên ngành : Luật dân sự và tô tụng dân sự
THƯVIỆN GiÁO VIÊN
LUÂN ÁN TIẾN S ĩ LUÂT HOC • • •
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Đinh Văn Thanh
2 TS Đặng Quang Phương
HÀ NỘI - 2001
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sô' liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thanh Hồng
Trang 41 BLDS : Bộ luật dân sự
2 BTTH : Bồi thường thiệt hại
3 GTVT : Giao thông vận tải
4 GTVTĐB : Giao thông vận tải đường bộ
5 TNBTTH : Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
6 TNDS : Trách nhiệm dân sự
7 TNGT : Tai nạn giao thông
8 TNGTĐB : Tai nạn giao thông đường bộ
Trang 5HẠI TRONG CÁC v ụ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
Nguyên nhân, điều kiện của tai nạn giao thông đường bộ
Khái quát lịch sử của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
THIỆT HẠI VÀ VIỆC XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM B ổ i THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC v ụ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG B ộ
Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ
Cơ sở pháp lý của việc xác định thiệl hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
Chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG THỜI GIAN QUA VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC B ổ i THƯỜNG THIỆT HẠI
Đặc điểm tình hình các vụ tai nạn giao thông đường bộ trong thời gian qua
Thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và vấn đềbồi thường thiệt hại trong thời gian qua
Dự báo tình hình tai nạn giao thông đườns bộ trong những năm tới và các biện pháp phòng ngừa
Các biện pháp bảo đảm thực hiện việc bồi thường thiệt hạitrong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU TIỈAM KHẢO
PHẨN PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Giao thông vận tải nói chung, GTVTĐB nói riêng đóng một vị trí quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, bảo đảm an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia Bên cạnh những lợi ích to lớn do GTVT mang lại, trong quá trình sử dụng các phương tiện GTVT cơ giới đường bộ
đã có không ít vụ tai nạn xảy ra gây những thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe của con người và của cải vật chất của xã hội Mỗi năm, trên thế giới có 700.000 người bị chết và trên 10 triệu người bị thương vì TNGT, thiệt hại về kinh tế khoảng 500 tỷ USD (Báo cáo của ủ y ban An toàn giao thông Quốc gia, 2000) Đó là một trong những nhân tố gây ra sự thiếu ổn định, sự mất an toàn trong trật tự chung của xã hội Các nước trên thế giới đều phải đối mặt với tình trạng TNGT gia tăng Để làm giảm đến mức thấp nhất Ihiệt hại do hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ gây ra, bên cạnh việc đầu tư nâng cấp hệ thống đường xá, cầu cống, nghiên cứu sản xuất các phương tiện giao thông đường bộ hiện đại có hệ số an toàn cao, các nước đều quan tâm đến việc xây dựng hoàn chỉnh các quy định về trật
tự an toàn giao thông, các quy định về việc xử lý các hành vi vi phạm trong
đó có các quy định về TNBTTH
Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, GTVT chiếm một vị trí hết sức quan trọng, bởi vì đó là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng tạo động lực phát triển của toàn bộ nền kinh tế Hệ thống GTVTĐB ở nước ta từng bước được đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới; phương tiện vận tải tăng nhanh về số lượng, đa dạng về chủng loại, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế, an ninh quốc phòng và nhu cầu đi lại của nhân dân Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay do sự mất cân đối giữa cầu, đường, phương tiện, người tham gia
Trang 7giao thông và các yếu tố xã hội, tình trạng TNGT đã và đang diễn biến hết sức nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe, về của cải vật chất, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nước ngoài, gây tâm lý lo lắng cho người dân, gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội và đang là mối quan tâm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của mọi tầng lớp nhân dân Theo thống kê, trong thời gian từ năm 1990 đến năm 1999 ở nước ta xảy ra 146.230 vụ TNGTĐB làm chết 49.285 người, làm bị thương 156.270 người, gây thiệt hại lớn về tài sản (Báo cáo của ủ y ban An toàn giao thông Quốc gia, 2000) Riêng trong sáu tháng đầu năm 2000 đã xảy ra 11.560 vụ, làm chết 3.685 người, làm bị thương 12.999 người (Báo cáo của ủ y ban An toàn giao thông Quốc gia, 2000) Nhiều người đã phải thừa nhận rằng: "Chiến tranh đã qua đi, máu trên chiến trường đã ngừng chảy, nhưng máu trên mặt đường đang chảy và tiếp tục gia tăng".
Để làm giảm một cách cơ bản TNGT nói chung và TNGTĐB nói riêng, đòi hỏi phải có một giải pháp đồng bộ mang tính chiến lược và phải
có thời gian Môt măt, phải tăng cường tuyên truyền, giáo duc pháp luât nâng cao ý thức tự giác chấp hành các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, các điều kiện bảo đảm an toàn, năng lực quản lý an toàn giao thông, mặt khác, phải thiết lập kỷ cương trong việc chấp hành pháp luật, áp dụng các biện pháp cưỡng chế một cách đồng
bộ nhằm ngăn chặn tình trạng vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ một cách phổ biến như hiện nay, đồng thời hoàn chỉnh các quy định về TNBTTH do TNGTĐB gây ra để khắc phục kịp thời, toàn bộ thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân và tài sản của Nhà nước, góp phần phòng ngừa tai nạn
Thực tiễn công tác giải quyết việc BTTH ngoài hợp đồng nói chung, BTTH trong các vụ TNGTĐB nói riêng cho thấy còn có nhiều vướng mắc, thiếu thống nhất trong việc xác định thiệt hại, tính toán mức thiệt hại, nhất
Trang 8là trong việc tính toán thiệt hại về mặt tinh thần; xác định mối quan hệ nhân quả không thống nhất, chưa chính xác Đặc biệt, trong các vụ TNGTĐB chưa phân biệt rõ giữa việc phải chịu trách nhiệm hình sự của người có lỗi gây ra tai nạn với TNBTTH, khắc phục hậu quả xảy ra; vấn đề xác định trách nhiệm, giới hạn bồi thường, việc chuyển giao quyền yêu cầu giữa cơ quan bảo hiểm với chủ xe, lái, phụ xe trong việc thực hiện bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới Các vấn đề như biện pháp bảo đảm thi hành BTTH, bồi thường trong trường hợp người thành niên gây tai nạn mà không có tài sản riêng để bồi thường, trách nhiệm bồi thường của người hành động trong tình thế cấp thiết chưa được quy định cụ thể, thế nhưng cũng chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành Trong phần lớn các vụ TNGTĐB các bên tự thỏa thuận với nhau về việc BTTH trong đó có nhiều trường hợp việc thỏa thuận không tuân theo hoặc tuân theo không đầy
đủ nguyên tắc trình tự, cách tính toán thiệt hại, mức BTTH nên sau đó xảy
ra nhiều khiếu kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết
Hiện nay, mặc dù đã có quy định của BLDS, nhưng thực tiễn giải quyết việc BTTH của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn thực hiện theo tinh thần hướng dẫn của Thông tư số 173/UBTP ngày 23-3-1973 "Về việc xét xử các tranh chấp BTTH ngoài hợp đồng" và Thông tư số 03/TATC ngày 5-4-1988 "Hướng dẫn BTTH trong các vụ tai nạn ôtô" của Tòa án nhân dân tối cao Đây là những văn bản được ban hành trong thời kỳ nền kinh tế tập trung, bao cấp, chỉ mang tính định hướng, không cụ thể và không còn đáp ứng được đòi hỏi của điều kiện hiện nay, khi những quan hệ
xã hội trong đó có các quan hệ dân sự bị chi phối bởi quan hệ kinh tế thị trường Cho đến nay đã hơn 4 năm, kể từ ngày BLDS có hiệu lực pháp luật, nhưng vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn các quy định của BLDS về vấn đề BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, bồi thường do tính mạng, sức khỏe, nhân
Trang 9phẩm, danh dự và tài sản bị xâm phạm Thực tiễn công tác của các cơ quan bảo vệ pháp luật cho thấy cần sớm phải có các văn bản quv phạm pháp luật hướng dẫn thi hành về những vấn đề này Tất cả các vấn đề trên đây cho thấy việc nghiên cứu đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ" là hết sức cần thiết.
2 Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, chế định BTTH ngoài hợp đồng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
ở các cấp độ khác nhau
ở Việt Nam, đến nay đã có luận án Thạc sĩ luật học của Phạm Kim
Anh về đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"’, Luận án Thạc sĩ luật học của Lê Mai Anh về đề tài "Những vấn đề cơ bản về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự"; Luận án
Thạc sĩ luật học của Trần Thị Thu Hiền về đề tài "Những nguyên tắc bồi
thường thiệt hại trong luật dân sự Việt Nam") Luận án Thạc sĩ luật học của
Lê Kim Loan về đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
theo Bộ luật dân sự Việt N am ", một số bài viết của Nguyễn Đức Giao, Thạc
sĩ Nguyễn Đức Mai về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Dân chủ và pháp luật cũng như các giáo trình Luật dân sự đề cập vấn đề này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở mức độ chung nhất hoặc chỉ đề cập ở phạm vi hẹp trong nội dung nghiên cứu về các vấn đề khác nhau, mà chưa có tác giả nào nghiên cứu đầy đủ có hệ thống TNBTTH ngoài hợp đồng để trên cơ sở đó nghiên cứu một trường hợp cụ thể của loại trách nhiệm này - trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, một đề tài đang cần được làm rõ về mặt lý luận và rất cấp bách về mặt thực tiễn
Trang 10ớ nước ngoài có các cồng trình của một số tác giả về các vấn đề liên quan đến đề tài này; ví dụ như tác giả: V.T.Mimop, M.M Agarkop, v.p Pobdopylo - Liên Xô (cũ), Palemana - Cộng hòa Pháp, Vicodavarkallo -
Ba Lan Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu việc BTTH ngoài hợp đồng nói chung hay BTTH do ôtô, xe máy gây ra nói riêng ở các nước đó
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, tác giả của luận án đã đưa ra và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Phân tích làm rõ khái niệm, nguyên nhân, điều kiện và đặc điểm tình hình của các vụ TNGTĐB ở Việt Nam
- Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chế định BTTH ngoài hợp đồng nói chung và TNBTTH trong các vụ TNGTĐB trong lịch sử lập pháp Việt Nam; làm rõ những nội dung cụ thể của chế định này, đồng thời
so sánh với quy định của pháp luật một số nước về vấn đề này
- Nghiên cứu, tìm hiểu những quan điểm khoa học xung quanh vấn
đề TNBTTH ngoài hợp đồng để xây dựng lý luận về khái niệm TNBTTH ngoài hợp đồng, từ đó đi sâu nghiên cứu và làm rõ khái niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB
- Tổng kết thực tiễn giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB trong những năm qua gắn với lý luận, căn cứ vào các quy định của BLDS và các
Trang 11quy định khác của pháp luật, đưa ra những kiến nghị có căn cứ khoa học và
thực tiễn về việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho
việc giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB
- Đề xuất các biện pháp phòng ngừa các vụ TNGTĐB cũng như các biện pháp bảo đảm việc BTTH trong các vụ TNGTĐB
Phạm vi nghiên cứu:
TNBTTH trong các vụ TNGTĐB là một vấn đề phức tạp không
những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn Vì vậy luận án chỉ giới hạn ở
phạm vi nghiên cứu một số vấn đề cơ bản dưới góc độ điều tra xã hội học và
Luật dân sự, như: làm rõ khái niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB, nguyên
nhân điều kiện và tình hình của TNGTĐB, các nguyên tắc cơ bản và cơ sở
pháp lý của việc BTTH trong các vụ TNGTĐB; trên cơ sở đó đưa ra một số
biện pháp cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn dưới góc độ của Luật dân sự
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận chung về
TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung và TNBTTH trong các vụ TNGTĐB
nói riêng; căn cứ pháp lý của TNBTTH và thực tiễn giải quyết BTTH trong
các vụ TNGTĐB
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà
nước và Pháp luật, về phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; những thành tựu của các khoa
học: triết học, lôgíc học, luật dân sự, tâm lý học Luận án được trình bày
trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật dân sự, các văn bản hướng dẫn
áp dụng pháp luật dân sự, các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân các
cấp, các tài liệu của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt thuộc Bộ
Công an, các tài liệu pháp lý trong và ngoài nước
Trang 12Phương pháp nghiên cứu: Đi từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát
đến cụ thể dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử - tác giả đặc biệt coi trọng phương pháp
hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp lôgic pháp lý, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp dự báo
5 Những đóng góp mới của luận án
- Là luận án tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận về TNBTTH ngoài hợp đồng từ đó nghiên cứu một loại trách nhiệm cụ thể "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ" Luận án đóng góp vào lý luận trách nhiệm bồi thường thiệt hai ngoài họp đồng các khái niệm TNGTĐB theo nghĩa rộng
và theo nghĩa hẹp; khái niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB trong hoàn cảnh vấn đề an toàn trong hoạt động GTVT nói chung, an toàn GTVTĐB nói riêng không còn là vấn đề của một quốc gia ở nước ta do sự mất cân đối giữa kết cấu hạ tầng, sự gia tăng của phương tiện, ý thức chấp hành các quy định về trật tự an toàn giao thông; thiếu các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; sự yếu kém trong quản lý của các cơ quan nhà nước nên tình hình TNGT đặc biệt là TNGTĐB diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng gây thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe của con người, gây thiệt hại lớn về tài sản, gây mất an toàn xã hội; do đó, luận án góp phần tìm
ra những nguyên nhân, điều kiện của các vụ TNGTĐB, dự báo tình hình TNGTĐB trong những năm tới Đồng thời, luận án góp phần giải quyết một cách có hệ thống những vướng mắc xung quanh chế định BTTH ngoài hợp đồng nói chung, BTTH trong các vụ TNGT nói riêng
- Trên cơ sở lý luận chung về TNBTTH ngoài hợp đồng, luận án đã làm rõ về mặt lý luận cơ sở pháp lý của TNBTTH cũng như việc xác định TNBTTH trong các vụ tại nạn giao thông đường bộ
Trang 13- Xuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn gắn với việc nghiên cứu hoàn chỉnh về mặt lý luận, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật, của BLDS hiện hành, luận án đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trong các vụ TNGTĐB nói riêng Xác định được mối quan hệ giữa việc BTTH với việc phòng ngừa và đấu tranh làm giảm tai nạn, mối quan hệ giữa TNBTTH với các trách nhiệm pháp lý khác là một trong những cơ sở cho việc hoàn thiện
hệ thống các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ Những kiến nghị, giải pháp này có thể tham khảo trong việc xây dựng luật giao thông đường bộ, xây dựng các văn bản hướng dẫn việc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trong các vụ TNGTĐB nói riêng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước
- Một đóng góp mới khác của luận án đó là từ việc tổng kết thực tiễn vấn đề BTTH trong các vụ TNGTĐB, trong luận án đã có những kiến nghị về các biện pháp bảo đảm việc BTTH trong các vụ án TNGTĐB
6 Ý nghĩa của luận án
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có ý nghĩa tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật về chế định BTTH ngoài hợp đồng cũng như trong việc hướng dẫn việc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trong các vụ TNGTĐB nói riêng Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về việc giữ gìn trật tự an toàn giao thông, phòng ngừa, đấu tranh làm giảm tai nạn và làm tài liệu tham khảo trong việc biên soạn giáo trình cũng như giảng dạy tại các cơ sở đào tạo bậc đại học về chuyền ngành luật dân sự và làm tài liệu tham khảo cho các Viện nghiên cứu về khoa học pháp lý
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm có 3 chương, được chia thành 11 mục
Trang 14Chương 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VỂ TRÁCH NHIỆM B ổ i THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1 K H ÁI NIỆM TRÁCH N H IỆM BỚI THƯỜNG TH IỆT H ẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO TH Ô NG ĐƯỜNG BỘ
1.1.1 Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ
Thuật ngữ "tai nạn" xuất hiện trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống của con người Tùy từng trường hợp tai nạn xảy ra mà có các tên gọi cho mỗi một loại tai nạn đó Ví dụ: nếu tai nạn xảy ra trong lao động, thì gọi là tai nạn lao động; nếu tai nạn xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, thì gọi là TNGT; nếu tai nạn xảy ra tại trường học, thì gọi là tai nạn học đường Tuy nhiên, có thể nhận thấy tai nạn xảy ra phổ biến nhất là trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất ra của cải vật chất Tai nạn là một hiện tượng xã hội gây tổn thất về tính mạng, sức khỏe, tài sản Tai nạn là một trong những nguyên nhân làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội, đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt xã hội mà con người luôn phải tìm cách chế ngự, làm giảm và loại trừ ra khỏi đời sống xã hội
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tai nạn hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là
"việc không may bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và của" [33, tr 142] Còn theo Từ điển Tiếng Việt, thì tai nạn là "việc rủi ro bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn cho con người" [78, tr 868]
Theo chúng tôi, các định nghĩa trên chỉ mới đưa ra tai nạn là cái (sự kiện) xảy ra gây thiệt hại cho con người (về tính mạng, sức khỏe, tài sản) mà chưa làm rõ được nguyên nhân của tai nạn Thực tiễn cuộc sống chứng minh rằng tai nạn do nhiều nguyên nhân khác nhau Những nguyên nhân này có thể là do hành vi của con người hoặc có thể do các tác nhân tự nhiên khác Từ
Trang 15những nguyên nhân này gây ra các tai nạn và tai nạn gây ra những hậu quả xấu ngoài mong muốn chủ quan của con người Các tác nhân khác là nguyên nhân của tai nạn cũng có thể một cách gián tiếp do hành vi của con người, cũng có thể do thiên tai hoặc những cái ngoài khả năng chế ngự của con người Thiệt hại xảy ra có thể là thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại về tinh thần của con người hay là thiệt hại về tài sản.
Trong lĩnh vực pháp luật, chưa có một định nghĩa chính thức về tai nạn nói chung Tuy nhiên, trong một số quy phạm pháp luật của một số ngành luật và trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý, đã có một số khái niệm về tai nạn trong từng lĩnh vực cụ thể
Điều 105 Bộ luật lao động quy định: "Tai nạn lao động là tai nạn gây thương tổn cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc và nhiệm vụ lao động"
Trong nghiên cứu khoa học thì khái niệm "tai nạn", khái niệm "tai nạn giao thông đường bộ" đã được một số tác giả đề cập đến
Theo tác giả Vũ mạnh Thắng, "Tai nạn là sự việc xảy ra bất ngờ do người tham gia giao thông hoặc vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông hoặc gặp phải tình huống, sự cố đột xuất, không kịp xử lỷ, có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, thiệt hại về tài sản" [18, tr 76]
Theo tác giả Đào Công Hải, thì "Tai nạn giao thông là tai nạn xảy ra khi các đối tượng tham gia trên đường giao thông công cộng gây nên: - Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người - Thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản" [16, tr 82]
Còn theo Thạc sĩ Đỗ Đình Hòa, thì "Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người Nó xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công
Trang 16cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng nhưng
do chủ quan, vi phạm các quy tắc về an toàn giao thông hoặc do gặp phải các
sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản của Nhà nước và nhân dân" [16, tr 20]
Theo chúng tôi ba khái niệm trên, đều nêu được TNGT là một sự kiện gây nên thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản Riêng khái niệm thứ hai chưa nêu lên được vế íhứ nhất của TNGT như khái niệm thứ nhất và khái niệm thứ ba TNGT là một sự kiện và có hai mặt của nó Mặt thứ nhất
là cái gì làm cho TNGT (sự kiện) xảy ra hay nói cách khác nguyên nhân của TNGT v ề mặt này nguyên nhân của TNGT có thể: do vi phạm các quy định về an toàn GTVT; do những hành vi cản trở GTVT; do đưa vào sử dụng các phương tiện GTVT không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện GTVT; do gặp sự cố đột xuất không thể xử lý được hoặc do các trường hợp bất khả kháng Mặt thứ hai là TNGT (sự kiện) đã gây ra cái gì hay nói cách khác hậu quả của sự kiện đó
Về măt này hậu quả của TNGT có thể là: thiệt hai về tính mang, thiêt hai về sức khỏe, thiệt hại về tinh thần, thiệt hại về tài sản (có thể một hoặc hai hoặc ba, có thể là tất cả các loại thiệt hại này trong một TNGT)
Theo quy định tại Điều 609 BLDS, thì TNBTTH chỉ phát sinh trong trường hợp người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại Tuy nhiên, cần phân biệt là không phải mọi trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác trong khi tham gia giao thông đều gọi là TNGT Chỉ gọi là TNGT nếu hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ là do lỗi cố ý, nhưng thiệt hại do hành vi vi phạm này gây ra trong quá trình tham gia giao thông là do lỗi vô ý Trong trường hợp thiệt hại do
Trang 17hành vi vi phạm này gây ra trong quá trình tham gia giao thông là do lỗi cố
ý, thì không thể gọi là TNGT mà tùy lừng trường hợp có tên gọi tưưng ứng
Ví dụ 1: A có mâu thuẫn với B Biết B đang trên đường đi từ nơi làm việc về nhà, A đã dùng xe ôtô phóng nhanh cố ý đâm vào B với mục đích giết B Hậu quả là B bị chết Trong trường hợp này không thể gọi là TNGT
mà đây là một vụ án giết người
Ví dụ 2: c biết D vừa mua một chiếc xe máy Dream II Do c ghét D
vì hay khoe khoang, nên đã có ý định phá hỏng chiếc xe máy Dream II của D Biết D đi làm thường hay dựng xe máy bên vệ đường giao thông, c đã lấy
xe ôtô leo lên vệ đường đâm vào chiếc xe máy Dream II của D làm cho chiếc xe máy đó hư hỏng nặng Trong trường hợp này cũng không thể gọi là TNGT mà đây là một vụ án cố ý làm hủy hoại tài sản
Từ sự phân tích trên chúng tôi đưa ra khái niệm TNGTĐB theo nghĩa rộng như sau:
TNGTĐB là một sự kiện do hành vi của con người vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ, do sự cô đột xuất hoặc do cấc trường hợp bất khả kháng gây ra trong quá trình tham gia giao thông của con người gây thiệt hại về tính mạng, về sức khỏe, về tinh thần của con người hoặc thiệt hại về tài sản.
Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ chế định TNBTTH trong các vụ TNGTĐB; vì vậy, nếu khái niệm TNGTĐB theo nghĩa rộng như chúng tôi đã đưa ra trên đây thì không phải trong mọi trường hợp (trong mọi vụ TNGTĐB) đều phát sinh TNBTTH
Theo quy định tại Điều 627 BLDS, thì phương tiện GTVT cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ và chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không phải BTTH, nếu thiệt hại xảy
ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy
Trang 18định khác Như vậy, trong các trường hợp này nếu có TNGTĐB xảy ra gây
thiệt hại thì cũng không làm phát sinh TNBTTH
Từ sự phân tích trên chúng tôi đưa ra khái niệm TNGTĐB theo
nghĩa hẹp của nó (khái niệm TNGTĐB trong đó có phát sinh TNBTTH xảy
ra) như sau:
TNGTĐB làm phát sinh TNETTH là một sự kiện do hành vi của con
người vi phạm một cách cố ý hoặc vô ý các quy định về an toàn giao thông
đường bộ gây ra trong quá trình tham gia giao thông của con người, gây
thiệt hại về tính mạng, về sức khỏe, vê' tinh thần của con người hoặc gây
thiệt hại về tài sản.
Trong luận án này, TNGTĐB được hiểu theo khái niệm với nghĩa
hẹp này
1.1.2 Những vấn đề chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
quy định: "Các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều
bình đẳng trước pháp luật Vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ"
(Điều 22); "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để
dành Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công
dân" (Điều 58); "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, danh dự và nhân phẩm" (Điều 71)
Các quyền nêu trên đồng thời là khách thể bảo vệ của nhiều ngành
luật khác nhau Mọi hành vi trái pháp luật, đều bị xử lý theo quy định của
pháp luật Nhà nước quy định những hình thức trách nhiệm pháp lý buộc
những người có hành vi vi phạm pháp luật khấc phục hạu quả do hành vi
trái pháp luât của họ gây ra và phải BTTH (nếu có)
t r ư ờ n g » h ỉ -UĂT h à n o i 1
THƯVIẼN GỉẪo VltỉỊ
Trang 19Nhiệm vụ của Luật dân sự là bảo vệ các quyền và lợi ích nói trên dưới góc độ đặc thù của ngành luật này Điều 1 BLDS Việt Nam quy định:
"Bộ luật dân sự có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức,
cá nhân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy sự phát triển của xã hội"
Nhà nước sử cỉụng nhiều phương thức khác nhau để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khi bị xâm hại bởi những hành vi trái pháp luật Luật dân sự các nước phân chia TNDS đều dựa vào mối quan
hệ với hợp đồng - một hình thức phổ biến, đặc trưng và chủ yếu của giao dịch dân sự Trách nhiệm phải BTTH do các hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến lính mạng, sức khỏe, tài sản, các quyền khác của công dân, tài sản, uy tín, danh dự của các tổ chức (thường được coi là quyền tuyệt đối của các chủ thể) không phát sinh từ một hợp đồng được gọi là TNBTTH ngoài hợp đồng
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đối với người khác làm phát sinh các quan hệ pháp luật dân sự về BTTH Điều 609 BLDS Việt Nam quy định: "Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường" Như vậy, theo quy định trên, người có hành vi gây thiệt hại phải có TNBTTH
Trong giáo trình luật dân sự của các trường đại học luật, cũng như các sách báo pháp lý khác khi đề cập đến vấn đề TNBTTH ngoài hợp đồng chưa đưa ra khái niệm chính thức về TNBTTH ngoài hợp đồng Theo giáo trình Luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật đồng thời cũng là căn cứ phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng được quy
Trang 20định trong Chương V, Phần thứ ba BLDS Như vậy, theo quan điểm này thì
sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật làm phát sinh nghĩa vụ dân
sự, có nghĩa là phát sinh "việc mà theo quy định của pháp luật, thì một hoặc nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hay nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền)" (Điều 285 BLDS) Đồng thời cũng theo quan điểm này, thì sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật làm phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng Theo chúng tôi, nếu cho rằng "Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật" là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, đồng thời cũng là căn cứ làm phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng, thì vô hình chung
đã cho rằng nghĩa vụ dân sự và TNBTTH là hai phạm trù độc lập với nhau không có mối quan hệ với nhau, v ề vấn đề này hiện nay còn có các ý kiến khác nhau Chúng tôi cho rằng, dù muốn hay không thì khi nghiên cứu khoa học về một vấn đề trước hết phải nghiên cứu các chế định của pháp luật về vấn đề đó cũng như thực tiễn áp dụng các chế định đó như thế nào,
đổ từ đó có những kết luận của mình về vấn đề đó
Theo quy định của BLDS thì "gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật" là một trong các căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 13) và cũng là một trong các căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự (Điều 286) Khi đã phát sinh nghĩa vụ dân sự, thì "người có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội" (Điều 288) Nếu "người có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì phải chịu TNDS đối với người có quyền" (khoản 1 Điều 308) Theo tinh thần quy định tại Mục 3 Chương I Phần thứ ba của BLDS, thì TNDS bao gồm: TNBTTH; trách nhiệm
do không thực hiện nghĩa vụ giao vật; trách nhiệm do không thực hiện nghĩa
vụ phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc; trách nhiệm
Trang 21do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự; trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng, nghĩa vụ dân sự
và TNBTTH là hai phạm trù khác nhau, nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau theo cặp phạm trù: "Nguyên nhân - kết quả" Cũng là một trong các căn
cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự, nhưng các căn cứ, như: hợp đồng dân sự; hành vi dân sự đơn phương; chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; thực hiện công việc không có ủy quyền, thì sự phân biệt giữa nghĩa vụ dân sự và TNDS, trong đó có trách nhiệm bồi thường là rõ ràng Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng có "khoảng cách", vi phạm nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu TNDS Đối với căn cứ "gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật", thì khi làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, thì đồng thời làm phát sinh trách nhiệm dân sự (TNBTTH) Nếu xét về mặt lý luận cũng như căn cứ vào các quy định tại các điều 13, 286, 308 và 310 BLDS thì chúng ta phải phân tích như trên Tuy nhiên, việc phân biệt này chỉ là tương đối mà thôi Thực tiễn chứng minh rằng gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, thì có trách nhiệm phải bồi thường Dường như Chươrig V Phần thứ ba của BLDS cũng quy định theo hướng này Có thể thấy rằng về phương diện lý luận, có
sự mâu thuẫn giữa các quy định trong Chương 1 và Chương V Phần thứ ba của BLDS Tuy nhiên, sự phân tích, kết luận trên chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
Hiểu chung nhất về khái niệm TNBTTH ngoài hợp đồng chúng ta cần xuất phát từ các quy định của BLDS cũng như thực tiễn cuộc sống Với mong muốn đó, chúng tôi đưa ra khái niệm TNBTTH ngoài hợp đồng như sau:
TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại TNDS bao gồm TNBTTH về vật chất và TNBTTH về tinh thần được phát sinh khi người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh
dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại.
Trang 221.1.2.2 Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Kết quả nghiên cứu cho thấy về các căn cứ làm phát sinh TNBTTH
ngoài hợp đồng còn có nhiều ý kiến khác nhau Theo pháp luật dân sự của
nước Cộng hòa Pháp, để xem xét TNBTTH của một người có hành vi trái
pháp luật gây thiệt hại thì phải căn cứ vào ba điều kiện: có thiệt hại; xuất
hiện một sự kiện; mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và sự kiện Người
gây thiệt hại phải BTTH, nếu có đầy đủ cả ba điều kiện này
Theo Luật dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì để
làm phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng phải có đủ bốn điều kiện: phải có
hành vi vi phạm pháp luật; phải có lỗi của người có hành vi vi phạm pháp
luật; phải có thiệt hại xảy ra, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi
phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra
Bộ Dân ] uât Bắc Kỳ năm 1931 quy định về sự tổn hại trái vụ hay là
những "dân sự phạm" cùng "bán dân sự phạm" (theo tác giả thực chất là
TNBTTH ngoài hợp đồng) chỉ quy định "Người nào gây ra thiệt hại đến ai
bởi lỗi của mình thì người đó buộc phải đền sự thiệt hại ấy" (Điều 712 -
Dân luật Bắc Kỳ- 1931) Theo quan điểm này chỉ cần xác định ba điều
kiện: thiệt hại, lỗi và quan hệ nhân quả ở đây, hành vi chỉ quy định là gây
thiệt hại, không quy định bắt buộc là hành vi gây thiệt hại phải là hành vi
trái pháp luật
Trong sách "Dân luật tu trị" - xuất bản tại Sài Gòn 1961 - tác giả
Phan Văn Thiết đã đưa ra năm điều kiện phát sinh trách nhiệm về sự làm
thiệt hại cho người khác (Dân luật tu trị dựa trên nền tảng của dân luật Nam
Kỳ 1931) Năm điều kiện đó là: lỗi, sự thiệt hại, sự liên quan giữa thiệt hại
và lỗi, sự bắt chịu trách nhiệm, xác định lỗi của người bị thiệt hại Ba điều
kiện đầu cũng giống như luật của chúng ta hiện nay, tuy nhiên ở mức độ
hiểu sơ sài hơn Điều kiện thứ tư nói rằng nếu tự do làm mới phải chịu trách
Trang 23nhiệm, còn nếu là ngẫu nhiên hay bất khả kháng thì không phát sinh trách nhiệm Điều kiện thứ năm nói rằng chỉ có trách nhiệm bồi thường nếu người bị thiệt hại không có lỗi hoặc lỗi nhẹ.
Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 chỉ xác định có ba điều kiện: sự tồn tại, lỗi, tương quan nhân quả
Lại có quan điểm cho rằng đã gây thiệt hại thì phải bồi thường Yếu
tố hành vi trái pháp luật không được đề cập đến
Theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành thì căn cứ làm phát sinh TNDS nói chung cũng như TNBTTH ngoài hợp đồng nói riêng bao gồm BTTH ngoài hợp đồng và sẽ được phân tích sâu trong Chương II của luận
án Bốn điều kiện (bốn yếu tố): có hành vi trái pháp luật; có thiệt hại xảy ra;
có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật
và thiệt hại xảy ra Bốn điều kiện (bốn yếu tố) này chính là cơ sở pháp lý của trách nhiệm
Tuy nhiên, có trường hợp ngoại lệ, đó là trong những trường hợp thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì người chủ sở hữu phương tiện hoặc người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường dù rằng họ không có lỗi, trừ các trường hợp do pháp luật quy định (Điều 627 BLDS)
Phân tích "khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt ngoài hợp đồng" trong giáo trình Luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì TNBTTH ngoài hợp đồng trong Chương V Phần thứ ba BLDS phát sinh chủ yếu do hành vi vi phạm đến các quyền tuyệt đối của các chủ thể khác, có nghĩa là TNBTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh từ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại
Xác định căn cứ phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng như vậy theo chúng tôi là chưa đú/Theo quy định tại Điều 13 BLDS thì căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự bao gồm: Giao dịch dân sự hợp pháp; quyết định
Trang 24của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; sự kiện pháp lý theo quy định của pháp luật; sáng tạo giá trị tinh thần là đối tượng thuộc quyền
sở hữu trí tuệ; chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật; gây thiệt hại do hành
vi trái pháp luật; thực hiện công việc không có ủy quyền; chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi tài sản không có căn cứ pháp luật; các căn cứ khác do pháp luật quy định Theo chúng tôi, trong các căn cứ neu trên, ngoài căn cứ
"Giao dịch dân sự hợp pháp", thì tất cả các căn cứ khác có thể sẽ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng và nếu vi phạm sẽ làm phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng
Ngoài các quy định về TNBTTH ngoài hợp đồng do hành vi vi phạm các quy định của pháp luật gây thiệt hại tại chương V Phần thứ ba BLDS, còn có các quy định về nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng phát sinh không từ các hành vi vi phạm pháp luật bao gồm các trường hợp:
- Người phát hiện vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu được trở thành chủ sở hữu nếu là động sản, được hưởng khoản tiền thưởng nếu là bất động sản (Điều 274);
- Người tìm thấy vật bị chôn dấu, bị chìm đắm được hưởng khoản tiền thưởng nếu vật tìm thấy là cổ vật, di tích lịch sử, văn hóa; được hưởng 50% giá trị của vật, nếu vật tìm thấy không phải là cổ vật, di tích lịch sử, văn hóa (Điều 248)
- Người nhặt được vật bị đánh rơi, bỏ quên được trở thành chủ sở hữu nếu vật đó có giá trị nhỏ; được hưởng 50% giá trị của vật nếu vật có giá trị lớn; được hưởng một khoản tiền thưởng nếu vật bị đánh rơi, bỏ quên là
cổ vật, di tích lịch sử, văn hóa (Điều 249)
- Người bắt được gia súc, gia cầm bị thất lạc được thanh toán tiền công nuôi, giữ và các chi phí khác, được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc toàn bộ hoa lơi do gia cầm sinh ra và phải BTTH nếu cố ý làm chết gia súc gia cầm (Điều 250 và Điều 251)
Trang 25- Tài sản bị xử lý để Ihực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu (Điều 259);
- Tài sản bị trưng mua, bị tịch thu (Điều 261 và Điều 262)
Trong tất cả các trường hợp nêu trên giữa các chủ thể không tồn tại
nghĩa vụ trước khi xảy ra sự kiện; do vậy, có thể xem đây chính là nghĩa vụ
dân sự ngoài hợp đồng Khi có sự vi phạm các nghĩa vụ nàv sẽ phát sinh
TNDS ngoài hợp đồng, trong đó có TNBTTH ngoài hợp đồng
đồng với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Trong các hình thức của TNDS, thì có thể kết luận rằng TNBTTH (bao
gồm TNBTTH ngoài hợp đồng và TNBTTH trong hợp đồng) là hình thức
chủ yếu nhất Tuy cùng là TNBTTH, nhưng giữa TNBTTH ngoài hợp đồng
và TNBTTH trong họp đồng có sự khác nhau cơ bản về bản chất cũng như
nội dung Việc phân biệt hai dạng của TNBTTH cũng như việc xác định
mối quan hệ giữa chúng là hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn
Đối với TNBTTH trong hợp đồng, thì khi hợp đồng được giao kết,
các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng những cam kết thỏa thuận trong hợp
đồng Việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy
đủ là sự vi phạm hợp đồng Sự vi phạm này dẫn đến không đáp ứng yêu cầu
của bên kia, gây thiệt hại về vật chất và thiệt hại phi vật chất Trách nhiệm
bồi thường do vi phạm hợp đồng là TNDS phát sinh trong trường hợp một
bên do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các điều
khoản đã tự nguyện cam kết trong hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia và
phải bồi thường Các bến có thỏa thuận trước trong hợp đồng về các biện
pháp cưỡng chế, mức bồi thường, mức phạt hoặc các biện pháp bảo đảm
thực hiện việc BTTH do vi phạm hợp đồng gây ra, có nghĩa là TNBTTH này
cũng đã được thỏa thuận trong hợp đồng
Đối với TNBTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi trái
pháp luật và gây thiệt hại, có nghĩa là phát sinh dưới sự tác động trực tiếp
Trang 26của các quy phạm pháp luật, không có sự thỏa thuận trước của các chủ thể
Sự thỏa thuận chỉ có thể có sau khi đã phát sinh TNBTTH
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác thì người thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình Hành vi đó có thể bị xử lý theo pháp luật hành chính nếu xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hành chính bảo vệ; có thể bị xử lý theo pháp luật hình sự nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm; có thể chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo pháp luật dân
sự Tuy nhiên, trong mọi trường hợp nếu hành vi đó gây thiệt hại thì người thực hiện hành vi đó, phải chịu trách nhiệm bồi thường dù rằng họ đã phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự Hậu quả bất lợi là việc người gây thiệt hại buộc phải dùng tài sản của mình để bồi thường, bù đắp những tổn thất mà mình đã gây ra cho người khác Mức độ bồi thường đến đâu phải căn cứ vào khối lượng của sự thiệt hại Nếu mức độ tổn thất càng lớn thì giá trị bồi thường càng nhiều
Xuất phát từ cơ sở phát sinh như đã phân tích trên, TNBTTH ngoài
%hợp đồng và TNBTTH do vi phạm hợp đồng có một số điểm khác nhau như sau:
Thứ nhất, trong TNBTTH do vi phạm hợp đồng, hai bên có thể dự
liệu và thỏa thuận trước về những trường hợp thiệt hại mà mức bồi thường, phương thức thực hiện việc bồi thường, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bồi thường
Điều 401 BLDS quy định các bên có thể thỏa thuận trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng khi giao kết hợp đồng vì trước thời điểm phát sinh trách nhiệm, giữa các bên chủ thể đã tồn tại một quan hệ pháp luật hợp pháp, các bên đã biết rõ về quyền và nghĩa vụ cụ thể của mình Sự thỏa thuận dựa trên
sự tiên liệu những thiệt hại có thể xảy ra khi vi phạm hợp đồng, tùy theo
Trang 27mức độ mà xác định trách nhiệm Thực tế các bên có thể thỏa thuận về phạí
vi phạm hợp đồng, ngay cả khi không cần có thiệt hại xảy ra, nếu một trong các bên có vi phạm các điều khoản mà họ đã tự nguyện thỏa thuận và cam kết thực hiện Do đó, nếu có phát sinh trách nhiệm bồi thường thì chỉ bồi thường những thiệt hại có thể tiên liệu được hoặc do có sự thỏa thuận trước của các bên TNBTTH ngoài hợp đồng không thể có đặc điểm này Trách nhiệm của bên gây thiệt hại là phải bồi thường toàn bộ, cả thiệt hại trực tiếp
và thiệt hại gián tiếp Hai bên chỉ có thể đặt ra vấn đề thỏa thuận khi có thiệt hại, xác định rõ bên gây thiệt hại và bên thiệt hại, lỗi của các bên
Thứ hai, trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ chỉ
liên đới chịu trách nhiệm nếu khi giao kết hợp đồng họ có thỏa thuận trước
về vấn đề chịu trách nhiệm liên đới Trong TNBTTH ngoài hợp đồng, nhiều người cùng gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm liên đới theo các quy định
cụ thể của pháp luật dân sự
Thứ ba, về lỗi: trách nhiệm do vi phạm hợp đồng phát sinh cả khi do
lỗi của người khác, nhưng phải được chứng minh cụ thể, chính xác còn trong TNBTTH ngoài hợp đồng, người có hành vi vi phạm có thể chịu trách nhiệm cả khi không có lỗi nếu pháp luật quy định Chẳng hạn, trong trường hợp thiệt hại do súc vật nuôi gây ra người chủ sở hữu và người trông coi chỉ không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình Chủ sở hữu là người được hưởng lợi ích từ việc nuôi con vật đó; nên suy đoán trách nhiệm bồi thường thuộc về họ
Quan niệm của một số luật gia Sài Gòn cũ cho rằng có thể phân biệt sự khác nhau về mức độ lỗi Họ cho rằng trong trách nhiệm khế ước (TNBTTH do vi phạm hợp đồng) người ta chỉ theo tính chất mức độ trầm trọng của lỗi mà phân biệt thành lỗi nặng, lỗi nhẹ và rất nhẹ, nhiều khi con nợ chỉ phải chịu trách nhiệm về lỗi nặng mà thôi Còn trách nhiệm
Trang 28bán dân sự phạm (TNBTTH ngoài hợp đồng) tất cả mọi lỗi đều phát sinh trách nhiệm.
Thứ tư, về thời điểm phát sinh TNBTTH.
Trong BTTH do vi phạm hợp đồng, thời điểm xác định nghĩa vụ và thời điểm xác định trách nhiệm bồi thường là khác nhau Thời điểm xác định nghĩa vụ là lúc các bên giao kết hợp đồng TNBTTH chỉ phát sinh nếu
có vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ mà gây thiệt hại Điều đó có nghĩa là thiệt hại xảy ra chỉ là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường Đối với TNBTTH ngoài hợp đồng thời điểm xác định nghĩa vụ và phát sinh trách nhiệm bồi thường dường như xuất hiện đồng thời Như vậy thiệt hại xảy ra vừa là điều kiện xác định nghĩa vụ bồi thường, vừa là điều kiện xác định TNBTTH
Trong cả hai hình thức, khi có thiệt hại xảy ra bên gây thiệt hại đều có TNBTTH Tuy nhiên, đối với BTTH ngoài hợp đồng thì việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông thường làm chấm dứt quan hệ nghĩa vụ giữa các bên, còn đối với BTTH do vi phạm hợp đồng gây thiệt hại không là căn cứ làm chấm dứt quan hệ nghĩa vụ đó - nghĩa là phải BTTH, đồng thời vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
Ngoài ra, giữa TNBTTH ngoài hợp đồng và TNBTTH do vi phạm hợp đồng còn có một số điểm khác biệt như nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng chí làm phát sinh TNBTiH, không có hình thức phạt vi phạm; mức bồi thường theo nghĩa vụ ngoài hợp đồng chỉ bằng hoặc thấp hơn thiệt hại xảy
ra, không thể cao hơn như trường hợp bồi thường do vi phạm hợp đồng
Như vậy dựa theo sự phân biệt với TNBTTH do vi phạm hợp đồng
có thể hiểu "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách
nhiệm phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng".
Trang 291.1.3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
1.1.3.1 Khái niệm chung vê nguồn nguy hiểm cao độ
Theo quy định tại Mục 3 Chương V Phần thứ ba của BLDS thì một
trong những trường hợp cụ thể của TNBTTH ngoài hợp đồng, đó là
TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều 627) Vậy nguồn nguy
hiểm cao độ bao gồm những đối tượng nào? Nghiên cứu pháp luật của các
nước khác nhau, chúng tôi thấy việc quy định về nguồn nguy hiểm cao độ
cũng khác nhau
Theo Điều 437 BLDS và thương mại Thái Lan, thì nguồn nguy hiểm
cao độ là "bất cứ sự vận chuyển nào được kéo, đẩy bằng máy móc, những
vật có thể gây nguy hiểm bởi tính chất, mục đích hoặc sự vận hành cơ khí
của chúng" [14, tr 115]
Luật dân sự Nhật Bản quy định: "Các nhà máy chế tạo, nơi khai thác
khoáng sản dễ gây cháy, nổ, độc hại, phương tiện GTVT cơ giới là nguồn
nguy hiểm cao độ"
Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có một
khái niệm chung về nguồn nguy hiểm cao độ, mà chỉ quy định các đối
tượng nào được coi là nguồn nguy hiểm cao độ - cụ thể là "nguồn nguy
hiểm cao độ bao gồm phương tiện GTVT cơ giới, hệ thống tải điện, nhà
máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất
phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy
định" (Điều 627 khoản 1, đoạn 1 BLDS)
Theo các quy định nêu trên về nguồn nguy hiểm cao độ của pháp
luật một số nước cũng như trong BLDS của nước ta cho phép có thể hiểu
khái quát nguồn nguy hiểm cao độ chính là những đối tượng mà khi sử
dụng, bảo quản, cất giữ, trông coi tiềm ẩn sự nguy hiểm, sự rủi ro cao độ
Trang 30đối với tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người Tính nguy hiểm của nguồn nguy hiểm cao độ tồn tại trong tính chất, đặc điểm lý, hóa, trong yêu cầu kỹ thuật và các điều kiện an toàn khi sử dụng các đối tượng đó Có những loại đối tượng rất dễ nhận ra tính nguy hiểm cao độ của chúng, chẳng hạn như thú dữ, chất độc, chất dễ cháy Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác cần phải có các tiêu chuẩn chung để xác định một đối tượng có phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay không Theo chúng tôi các tiêu chuẩn đó bao gồm:
- Hoạt động của các đối tượng mang tính chất nguy hiểm cao độ cho mọi người xung quanh thường là những hoạt động hợp pháp, chỉ khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mới bị coi là bất hợp pháp Các đối tượng được quy định là nguồn nguy hiểm cao độ nêu trên phần lớn thuộc nhiều loại kỹ thuật, lĩnh vực khác nhau như phương tiện giao thông cơ giới, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, hệ thống tải điện, chất độc Vấn đề không phải tất cả các phương tiện kỹ thuật khi sử dụng đều mang tính chất nguy hiểm cao độ mà chỉ những hoạt động mang tính cơ giới hoặc những đối tượng khác có đặc tính lý, hóa điển hình
- Hoạt động của đối tượng được coi là nguồn nguy hiểm cao độ cho người xung quanh được thể hiện trong việc sử dụng chúng, con người không thể giám sát được một cách chặt chẽ và toàn diện Điều này được thể hiện trong việc con người chỉ bảo đảm được sự giám sát cần thiết nhờ những biện pháp kỹ thuật an toàn Tuy nhiên, những biện pháp kỹ thuật an toàn thường lại lạc hậu hơn, không đồng bộ với kỹ thuật chung hay không tính toán hết được các sự cố kỹ thuật có thể xảy ra trong quá trình sử dụng Chính vì vậy, việc sử dụng kỹ thuật chung bao hàm tính chất nguy hiểm của việc bất ngờ xảy ra thiệt hại
Từ sự phân tích trên đây, chúng tôi có khái niệm về nguồn nguy hiểm
cao độ như sau: Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm những động vật hoặc bất
Trang 31động vật mà khi trông giữ, vận hành chúng hoặc cho chúng hoại động thì có
thể gây nguy hiểm cao độ đối với tính mạng, sức khỏe của con người, cũng
như có thể gảy thiệt lớn đến tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân
nguy hiểm cao độ
Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định phương
tiện GTVT cơ giới nói chung và phương tiện GTVT cơ giới đường bộ nói
riêng là nguồn nguy hiểm cao độ Theo quy định tại Điều 627 BLDS của
nước ta thì phương tiện GTVT cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ Điều đó
có nghĩa là phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là nguồn nguy hiểm cao
độ, bởi nó là một trong những loại phương tiện GTVT cơ giới nói chung
Theo chúng tôi, phương tiện GTVT cơ giới đường bộ có những đặc điểm
riêng hết sức phức tạp sau:
- Phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là một loại tư liệu lao động
hoạt động được nhờ động cơ, có giá trị sử dụng cao và được sử dụng phổ
biến trong lĩnh vực vận tải - một ngành sản xuất vật chất đặc thù chiếm một
vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đồng thời là một loại phương
tiện giao thông chủ yếu đáp ứng nhu cầu đi lại của con người Khi sử dụng
phương tiện GTVT cơ giới đường bộ đòi hỏi các điều kiện về người sử
dụng, điều kiện an toàn kỹ thuật
- Phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là một loại phương tiện khi
cho chúng vận hành, hoạt động thì có thể gây nguy hiểm cao độ; cụ thể là
có thể gây thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe cho những người xung
quanh cũng như có thể gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tổ chức,
cá nhân Theo số liệu thống kê trong năm 1999 đã xảy ra 21.746 vụ
TNGTĐB làm chết 6.460 người, bị thương 24.779 người, thiệt hại tài sản trị
giá hàng chục tỷ đồng (Phụ lục 3)
Trang 32- Phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là một loại tài sản có số lưựng lớn, đa dạng về chủng loại, có giá trị và mang tính xã hội cao, là đối
tượng thường được chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, thế chấp, bảo đảm
thực hiện các nghĩa vụ dân sự mà trong đó có cả việc thi hành nghĩa vụ
BTTH Theo số liệu thống kê, hiện nay trên địa bàn toàn quốc có khoảng
trên 6 triệu xe ôtô, xe máy các loại, mỗi năm tăng khoảng 10 đến 12% (chưa
tính số xc nhập lậu, không có đăng ký )
Mặc dù có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh nhưng đến nay vẫn
chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về phương tiện vận tải cơ giới đường bộ
Điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao
thông đô thị ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 29-5-1995 của
Chính phủ quy định phương tiện cơ giới là tất cả các loại xe hoạt động giao
thông trên đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó
Thông tư số 03 ngày 24-7-1995 của Bộ Công an hướng dẫn việc
đăng ký, cấp biển số các loại phương tiện cơ giới đường bộ quy định những
loại phương tiện cơ giới đường bộ phải đăng ký tại cơ quan Công an mới chỉ
ra những loại phương tiện phải đăng ký và không phải đăng ký Theo Thông
tư này thì đối tượng phải đăng ký tại cơ quan Cảnh sát giao thông là các loại
phương tiện cơ giới hoạt động trên đường bộ, dùng vào mục đích đáp ứng
nhu cầu đi lại và vận chuyển, trừ những xe, máy phục vụ thi công trên
đường bộ và nông nghiệp, các loại xe dùng vào mục đích quân sự của cơ
quan quân sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 627 BLDS, phương tiện GTVT cơ
giới là nguồn nguy hiểm cao độ Theo tinh thần của quy định này phương tiện
GTVT cơ giới bao gồm các phương tiện cơ giới hoạt động trên đường bộ,
đường sắt, đường thủy và đường hàng không dùng vào hoạt động giao thông
đi lại của con người và vận chuyển hàng hóa
Trang 33Các quy định trên có sự khác nhau trong việc sử dụng các thuật ngữ
để chỉ phương tiện cơ giới hoạt động trên đường bộ Trong Nghị định số 36/CP ngày 29-5-1995 dùng thuật ngữ "phương tiện cơ giới đường bộ" Trong Thông tư số 03-TT/BNV ngày 24-7-1995, cách dùng thuật ngữ không thống nhất: khi quy định đối tượng phải đăng ký thì dùng thuật ngữ
"các loại phương tiện cơ giới đường bộ", khi quy định đối tượng không phải đăng ký thì lại dùng thuật ngữ "những phương tiện giao thông đường bộ" BLDS không có thuật ngữ cụ thể để chỉ phương tiện cơ giới đường bộ nhưng xuất phát từ Điều 627 quy định "phương tiện GTVT cơ giới" là nguồn nguy hiểm cao độ, thì phương tiện cơ giới đường bộ được gọi một cách đầy đủ là "phương tiện GTVT cơ giới đường bộ"
Qua đối tượng phải đăng ký là "phương tiện cơ giới đường bộ" quy định trong Thông tư số 03 ngày 24-7-1995 và nguồn nguy hiểm cao độ là
"phương tiện GTVT cơ giới (đường bộ)" trong BLDS, theo chúng tôi thực chất hai thuật ngữ này đều dùng để chỉ các loại phương tiện chuyển động được nhờ động cơ, hoat động được thông qua sự điều khiển của con người trên đường bộ phục vụ cho việc đi lại của nhân dân (hoạt động giao thông)
và vận chuyển hàng hóa (hoạt động vận tải) Theo quan điểm của chúng tôi, cách dùng thuật ngữ "phương tiện GTVT cơ giới đường bộ" sẽ xác định được đầy đủ và rõ ràng đối tượng, mục đích, phạm vi hoạt động của loại phương tiện này
Xuất phát từ đặc điểm, tính chất đa dạng, phức tạp như đã nêu trên, nên cần thiết phải có một chế độ pháp lý để điều chỉnh đối với loại phương tiện này
Theo quy định của Điều 174, BLDS: "Những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, thì phải được đăng ký" nên việc quy định phương tiện GTVT cơ giới đường bộ phải đăng ký là hết sức cần thiết
và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội, bảo vệ
Trang 34quyền sở hữu hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi an toàn để chủ sở hữu thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự một cách tự do, đúng pháp luật; khuyến khích, huy động các nguồn lực đầu tư mua phương tiện hoặc đưa các phương tiện hiện có vào kinh doanh nhằm thu lợi, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
"Đăng ký", dưới góc độ chung nhất là việc cơ quan có thẩm quyền chính thức ghi vào văn bản những thông tin cần thiết một sự kiện là cơ sở phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp lý nhất định; là bằng chứng công nhận sự bắt đầu, tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện, hiện tượng Như vậy, có thể hiểu "đăng ký" là một sự kiện pháp lý Đối với phương tiện GTVT cơ giới đường bộ khi "đăng ký" đồng thời với việc xác lập quyền sở hữu cũng đã dự liệu việc phát sinh TNDS và những bất lợi về tài sản mà chủ
sở hữu phương tiện phải gánh chịu trong quá trình sử dụng phương tiện là nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tai nạn Đây cũng chính là cơ sở để xác định chủ thể của TNBTTH khi tai nạn xảy ra Việc xác định trách nhiệm và chỉ ra nguy cơ bất lợi về tài sản góp phần phòng ngừa tai nạn
Hiện nay mới chỉ có quy định đăng ký phương tiện cơ giới đường bộ thuộc thẩm quyền của Bộ Công an
Điều 6 Nghị định số 36/CP ngày 29-5-1995 về bảo đảm, giữ gìn trật
tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị quy định
Bộ Công an có thẩm quyền tổ chức đăng ký và cấp biển số các loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, kể cả phương tiện cơ giới của các doanh nghiệp kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng, trừ phương tiện dùng vào mục đích quân sự Căn cứ quy định trên, Bộ Công an ban hành Thông tư số 03 ngày 24-7-1995 hướng dẫn việc đăng ký cấp biển số các loại phương tiện cơ giới đường bộ Việc đăng ký các loại phương tiện cơ giới không thuộc thẩm quyền của Bộ Công an giao cho các ngành chức năng khác
Trang 35Một số vấn đề cần làm sáng tỏ là:
- Đãng ký phương tiện cơ giới đường bộ thuộc thẩm quyền của Bộ công an có bao hàm đăng ký quyền sở hữu tài sản, hay chỉ đơn thuần là một biện pháp hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm?
- Ngoài các phương tiện phải đăng ký như quy định hiện nay, thì các loại phương tiện cơ giới thi công trên đường bộ, phương tiện GTVT cơ giới hoạt động trên đường giao thông nông thôn và một số phương tiện GTVT
cơ giới đường bộ do quân đội quản lý có phải đăng ký không?
Thiết bị chuyên dùng thi công trên đường bộ hiện nay ngày càng phát triển về số lượng, chủng loại, đa tác dụng Hoạt động thi công đường
bộ được mở rộng và phát triển nhanh về tốc độ, luôn luôn gắn liền với các hoạt động giao thông khác, ảnh hưởng quan trọng đến sự an toàn chung Trong sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn hiện nay, các hoạt động giao thông nông thôn đòi hỏi phát triển ở trình độ cao hơn Đường xá được xây dựng mới, nâng cấp với tốc độ nhanh do vậy các phương tiện xe, máy phục vụ nông nghiệp không chỉ đơn thuần hoạt động trên đồng ruộng, mà còn được sử dụng đáp ứng các hoạt động GTVT khác;
vì vậy, cần phải có quy chế pháp lý điều chỉnh sự hoạt động của các loại phương tiện này
Cần phân biệt rõ các phương tiện GTVT cơ giới đường bộ theo nghĩa chung nhất với các phương tiện cơ giới đặc chủng chuyên dùng vào lĩnh vực quân sự và là thiết bị quân sự Trước đây trong thời kỳ đất nước có chiến tranh, vì bảo đảm bí mật quân sự và nhiệm vụ của thời chiến nên tất
cả mọi phương tiện GTVT cơ giới đường bộ của quân đội được giao cho quân đội đảm nhiệm quản lý Nay đất nước trong thời bình cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề này bảo đảm thống nhất chung
Trang 36Qua sự phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm phương tiện
GTVT cơ giới đường bộ như sau:
"Phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là các thiết bị chuyển động
được trên đường bộ nhờ động cơ của chính nó và do con người điều khiển
tuân theo những điều kiện an toàn, được dùng trong các hoạt động giao
thông, vận tải, thi công đường bộ nhưng có thể gây nguy hiểm cao độ đối
với tính mạng, sức khỏe của con người, cũng như có thể gây thiệt hại lớn
đối với tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân".
Như vậy, phương tiện GTVT cơ giới đường bộ có đủ các điều kiện
của nguồn nguy hiểm cao độ và chúng ta có kết luận "phương tiện GTVT cơ
giới đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ".
nạn giao thông đường bộ
Như đã phân tích ở trên, phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là
nguồn nguy hiểm cao độ Khi vận hành chúng, đưa chúng vào hoạt động
trên đường bộ thì có thể gây nguy hiểm cao độ cho tính mạng, sức khỏe của
con người cũng như có thể gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, của
tổ chức và cá nhân Phần lớn các vụ TNGTĐB là do nguồn nguy hiểm cao
độ này gây ra dưới tác động của hành vi của con người với lỗi cố ý hoặc vô
ý Ngoài ra, còn có các vụ TNGTĐB xảy ra do những nguyên nhân, điều
kiện khác được phân tích trong mục 1.3 của chương này
BLDS quy định về BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, nhưng
nói một cách chính xác thì bản thân nguồn nguy hiểm cao đố khống bao giờ
gây ra thiệt hại, nếu thiếu hành vi của con người tác động vào chúng (sử
đụng, vận hành, bảo quản ) Các vụ TNGTĐB có thể xảy ra nếu con người
vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; có hành
vi cản trỏ’ giao thông đường bộ; đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông
đường bộ không bảo đảm an toàn; điều động hay giao cho người không đủ
Trang 37điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ; do sự cố kỹ
thuật mà gây ra TNGTĐB làm thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con
người, làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì phải bồi
thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Từ sự phân tích trên, chúng tôi có khái niệm TNBTTH trong các vụ
TNGTĐB như sau:
TNBTTH trong các vụ TNGTĐB là một loại TN B T ÍH ngoài hợp
đồng gồm TNBTTH về vật chất và TNETTH về tinh thần được phát sinh khi
người nào có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ
xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, xâm phạm đến tài sản
của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân khác mà gây thiệt hại.
1.2 NGUYÊN TẮC B ổ i THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC v ụ TAI
NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Nguyên tắc hiểu theo nghĩa chung nhất là các yêu cầu, chuẩn mực
cụ thể buộc các cơ quan tiến hành tố tụng, những người có quyền, lợi ích
liên quan phải tuân theo, v ề khía cạnh pháp lý, nguyên tắc là các tư tưởng
pháp lý chỉ đạo có ý nghĩa bao trùm, xuyên suốt trong quá trình thực hiện
một hoạt động pháp lý Nguyên tắc thể hiện tập trung những yêu cầu, đòi
hỏi của Nhà nước, của xã hội nói chung, được ghi nhận trong các văn bản
quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành
BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trong các vụ TNGTĐB
là một vấn đề phức tạp Yêu cầu đặt ra là giải quyết đúng đắn các yêu cầu
bồi thường, bảo vệ kịp thời quyền lợi của bên thiệt hại, bảo đảm trật tự công
bằng xã hội nói chung Trong quá trình giải quyết BTTH trong các vụ
TNGTĐB cần tuân thủ các nguyên tắc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng
được quy định tại Điều 610 BLDS Cụ thể là:
Trang 38"1 Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bầng hiện vậl hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2 Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi
vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình
3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường"
Các nguyên tắc nêu trên thể hiện sự công bằng, hợp lý của pháp luật dân sự Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc pháp nhân khi quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm Đồng thời chúng cũng thể hiện sự công bằng từ phía người gây thiệt hại; đó là họ chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường tương ứng với mức độ lỗi, trong trường hợp do lỗi vô ý mà mức bồi thường quá lớn, ảnh hưởng đến khả năng kinh tế trước mắt cũng như lâu dài, thì có thể được giảm mức bồi thường Tôn trọng và tuân thủ triệt để các nguyên tắc bồi thường sẽ bảo đảm việc giải quyết đúng đắn, kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân của toàn xã hội và có ý nghĩa giáo dục ý thức tuân thủ, tôn trọng pháp luật góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội
1.2.1 Bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thòi
Hầu hết pháp luật dân sự các nước bằng hình thức này hay hình thức khác đều quy định nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị hại khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm gây thiệt hại
Khoản 1- Điều 610 BLDS ghi nhận nguyên tắc BTTH như sau:
"Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời"
Trang 39Đây là nguyên tắc đặc trưng của TNBTTH, xuyên suốt trong cả quá trình xem xét, giải quyết vấn đề BTTH.
Theo Từ điển Tiếng Việt "bồi thường" là việc đền bù những thiệt hại
mà mình phải chịu trách nhiệm; "toàn bộ" là tất cả các phần, bộ phận của một chỉnh thể
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, BTTH là: "Hình thức TNDS nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại" [40, tr 30]
TNBTTH là nhằm mục đích khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp
bị xâm hại, bảo hộ quyền của mỗi công dân, bảo đảm tính công bằng giữa các bên nói riêng và đối với toàn xã hội Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác phải có nghĩa vụ bồi thường sự thiệt hại đó nhằm bù đắp tổn thất về tính mạng, sức khỏe, khắc phục những thiệt hại về mặt tài sản giúp người bị thiệt hại và gia đình họ khắc phục hậu quả xấu về tính mạng, sức khỏe, tài sản, khôi phục lại các quyền và lợi ích bị xâm phạm, khôi phục lại tình trạng ban đầu - tình trạng tiurớc khi xảy ra thiệt hại
Thiệt hại đó có thể là thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe và
có thể là thiệt hại về mặt tinh thần Thiệt hại được tính giá trị bằng tiền gồm tài sản bị hủy hoại, hư hỏng; tiền chi phí thuốc men, đi lại; mai táng phí, tiền "bù đắp tổn thất về mặt tinh thần" (Điều 613 BLDS) Việc ấn định mức BTTH nói chung là theo nguyên tắc gây thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu tức là phải bồi thường toàn bộ thiệt hại Thiệt hại sẽ không được chấp nhận nếu những chi phí đó là không phù hợp với thực tế
và tính toán thiệt hại theo sự suy diễn chủ quan
Về nguyên tắc, việc bồi thường phải là sự tái lập nguyên trạng tài sản của người bị thiệt hại như không có thiệt hại nào xảy đến Nhưng mức
Trang 40độ lỗi sẽ là cơ sở của sự lăng, giảm mức BTTH, do vậy người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại trong các trường hợp:
- Khi người gây thiệt hại có hành vi cố ý Đây là trường hợp gây thiệt hại có chủ ý gây ra thiệt hại, tức là đã chủ động thực hiện hành vi gây thiệt hại và mong muốn thiệt hại đó xảy ra v ề nguyên tắc người có hành vi gây thiệt hại phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hành vi đó Không đặt
ra trường hợp miễn giảm mức BTTH với lỗi cố ý Do đó, người gây thiệt hại với lỗi cố ý, khi mà mức độ thiệt hại có thể lớn hơn khả năng kinh tế của người đó, thì người đó cũng không được giảm mức bồi thường (trừ trường hợp do các bên thỏa thuận)
- Khi người gây thiệt hại có lỗi vô ý mà thiệt hại không quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ
Việc bồi thường toàn bộ có ý nghĩa khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi thiệt hại xảy ra, nên BTTH phải kịp thời, nhất là trong các trường hợp thiệt hại về tính mạng, sức khỏe Tính kịp thời ở đây là sự xác định về mặt thời gian kổ từ khi gây ra thiệt hại Xác định thế nào là "kịp thời" là hết sức cần thiết "Kịp thời" có thể hiểu là một cách đúng lúc, không chậm trễ
Thiệt hại xảy ra trong thực tế rất đa dạng, khó có thể quy định cụ thể việc bồi thường như thế nào là kịp thời cho từng trường hợp cụ thể, nhưng cần thiết phải có các căn cứ để xác định tính kịp thời Các căn cứ đó
có thể là người gây thiệt hại trên cơ sở xác định mức độ thiệt hại phải có
những hành vi khôi phục lại nguyên trạng tài sản, quyền và lợi ích của người bị thiệt hại một cách mau chóng để đem lại sự bình thường ổn định cho người bị thiệt hại một cách sớm nhất Cũng có thể sự kịp thời dựa vào
sự đề nghị của người bị thiệt hại về thời điểm thực hiện việc bồi thường
Việc quy định nguyên tắc bồi thường kịp thời để nhằm khắc phục thiệt hại một cách nhanh chóng, ngăn chặn sự dây dưa, không chịu thực