1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh bắc giang

91 113 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 428 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết số03/2006/NĐ-CP ngày 08/07/2006 của Chính Phủ hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có phần đề cập đến bồi thường

Trang 1

BẢNG CHÚ GIẢI TỪ NGỮ

BLDS : Bộ luật dân sự

BTTH : Bồi thường thiệt hại

BTTHNHD : Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngGTVT : Giao thông vận tải

TNDS : Trách nhiệm dân sự

TNGT : Tai nạn giao thông

TNGTDB : Tai nạn giao thông đường bộ

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, năm 2016 cảnước có 21.589 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.685 người và làm bị thương19.280 người; trong đó ai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên xảy ra 10.167

vụ, làm chết 8.671 người, bị thương 5.984 người [36]

Rõ ràng, tai nạn giao thông đã và đang là vấn đề rất nhức nhối, cần sựchung tay của cả cộng đồng để giảm thiểu tối đa thiệt hại Tai nạn giao thông(TNGT) không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà trong nhiều vụ việc còn là thiệt hại

về sức khỏe, tính mạng, tinh thần đối với người bị tai nạn cũng như gia đình, ngườithân của họ Vì thế, thiệt hại do tai nạn giao thông trong nhiều vụ việc là không thểtính toán, đong đếm và bù đắp được theo thuyết “ngang giá” Các quy định về bồithường thiệt hại trong trường hợp này mang ý nghĩa bù đắp tổn thất, làm giảm tối

đa hậu quả mà người bị tai nạn và gia đình của họ phải chịu chứ không có ý nghĩađảm bảo sự công bằng như trong một số trường hợp bồi thường thiệt hại khác

Việc áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại (BTTH) trong các

vụ tai nạn giao thông hiện nay còn gặp nhiều vướng mắc và thiếu sự thống nhất.Khi các vụ tai nạn giao thông xảy ra, các bên thường thỏa thuận với nhau về mứcbồi thường, phương thức bồi thường Sự thỏa thuận đó thường rất cảm tính, ít dựatrên các quy định của pháp luật nên thường không chính xác do thiếu căn cứ hoặckhông đúng trình tự Điều này dễ xảy ra khiếu kiện, khiếu nại

Thực tiễn công tác giải quyết việc BTTH ngoài hợp đồng nói chung,BTTH trong các vụ TNGT nói riêng cho thấy còn có nhiều vướng mắc, thiếu thốngnhất trong việc xác định thiệt hại, tính toán mức thiệt hại, nhất là trong việc tính

Trang 3

toán thiệt hại về mặt tinh thần; xác định mối quan hệ nhân quả không thống nhất,chưa chính xác Đặc biệt, trong các vụ TNGT chưa phân biệt rõ giữa việc phải chịutrách nhiệm hình sự của người có lỗi gây ra tai nạn với trách nhiệm bồi thườngthiệt hại, khắc phục hậu quả xảy ra; vấn đề xác định trách nhiệm, giới hạn bồithường, việc chuyển giao quyền yêu cầu giữa cơ quan bảo hiểm với chủ xe, lái,phụ xe trong việc thực hiện bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm TNDS của chủ xe

cơ giới Các vấn đề như biện pháp bảo đảm thi hành BTTH, bồi thường trongtrường hợp người thành niên gây tai nạn mà không có tài sản riêng để bồi thường,trách nhiệm bồi thường của người hành động trong tình thế cấp thiết chưa đượcquy định cụ thể, thế nhưng cũng chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành Trongphần lớn các vụ TNGT các bên tự thỏa thuận với nhau về việc BTTH trong đó cónhiều trường hợp việc thỏa thuận không tuân theo hoặc tuân theo không đầy đủnguyên tắc trình tự, cách tính toán thiệt hại, mức BTTH nên sau đó xảy ra nhiềukhiếu kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết

Mặt khác, các quy định về bồi thường thiệt hại hiện nay vẫn là quy địnhchung, chưa có quy định riêng cho trường hợp bồi thường thiệt hại trong các vụ tainạn giao thông mặc dù nó có những đặc thù và dễ gây nhầm lẫn Nghị quyết số03/2006/NĐ-CP ngày 08/07/2006 của Chính Phủ hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có phần

đề cập đến bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhưng chưa dựliệu được một số vấn đề như: chuyển giao quyền yêu cầu giữa cơ quan bảo hiểmvới chủ xe, lái xe trong việc thực hiện bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểmtrách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; bồi thường thiệt hại trong trường hợp ngườigây tai nạn là người chưa thành niên không có tài sản riêng để bồi thường; các biệnpháp bảo đảm thi hành trách nhiệm bồi thường thiệt hại… [23]

Trang 4

Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

là một nội dung rất quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam.Tuy nhiên, cácquy định trong Bộ luật Dân sự 2015 chỉ là những vấn đề chung nhất, rất khó xácđịnh đầy đủ chủ thể có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

vụ, đồng thời tạo ra khả năng bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại một cáchkịp thời và đầy đủ nhất Trong khi đó, nghiên cứu sâu về trách nhiệm bồi thườngthiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông lại là một vấn đề đặc thù, vừa mang tính lýluận, lại đòi hỏi rất nhiều về thực tiễn trong cuộc sống Đây là một vấn đề mới, khó

về lý luận và phức tạp trong thực tiễn áp dụng

Chính vì những lý do trên nên đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông - thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” là công trình khoa học hiếm hoi nghiên cứu về vấn đề này Đề tài nhằm

giải quyết một cách tương đối có hệ thống những vấn đề có liên quan đến tráchnhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông; thực tiễn áp dụng cácquy định pháp luật về vấn đề này tại tỉnh Bắc Giang; đưa ra những kiến nghị nhằmhoàn thiện vấn đề này về mặt lý luận cũng như thực tiễn, góp phần đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân trong các vụ tai nạn giao thông

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế định BTTH ngoài hợp đồng đã được nhiều nhà khoa học pháp lýtrong và ngoài nước nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau Các công trình nghiêncứu liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra

gồm có: Luận văn thạc sĩ luật học của Lê Mai Anh về “Những vấn đề vơ bản về

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự” năm 1997, luận văn

thạc sỹ luật học của Lê Thị Bích Lan “Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường

thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín” năm

1999; Luận văn thạc sĩ luật học Hoàng Quảng Lực “Về trách nhiệm bồi thường

Trang 5

thiệt hại sức khoẻ bị xâm phạm khi người bị thiệt hại có hành vi trái pháp luật;

Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Quỳnh Anh – Khoa luật Đại học Quốc gia

Hà Nội năm 2011 về đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do

hành vi trái luật gây ra theo Bộ luật dân sự 2005"; Luận văn Thạc sĩ luật học của

Trần Thị Thu Hiền về đề tài "Những nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong luật

dân sự Việt Nam"; Luận án Thạc sĩ luật học của Lê Kim Loan về đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự Việt Nam"; Luận

văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Hương về “Bồi thường thiệt hại do xâm phạm

tính mạng, sức khỏe theo pháp luật Việt Nam” năm 2014…

Ngoài ra, cũng có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học của TSNgô Huy Cương về “Trách nhiệm dân sự - So sánh và phê phán” năm 2009; Ths

Đinh Văn Quế, “Một số ý kiến về khoản tiền bù đắp về tinh thần do bị xâm phạm

về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín quy định tại Bộ luật dân sự”,

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20-2009; Đỗ Văn Chỉnh, “Bàn về bồi thường do tính

mạng bị xâm phạm quy định tại điều 610 Bộ luật dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân

dân, số 22-2009; “Bàn về lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

của TS Phùng Trung Tập -Trường Đại học Luật Hà Nội (Tạp chí Luật học Số

10/2004); sách chuyên khảo của tác giả, TS Phùng Trung Tập “BTTH ngoài hợp

đồng do tài sản, sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm” do NXB Hà Nội xuất bản năm

2009 Nguyễn Văn Hợi, “Những hạn chế và bất cập trong việc xác định thiệt hại

khi sức khoẻ bị xâm phạm theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” năm 2011, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14-2011; Phùng Thị Tuyết Trinh,

“Quyền bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể trong pháp luật dân sự

Việt Nam” năm 2011; Nhà pháp luật Việt – Pháp, Tọa đàm trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng năm 2011; Nguyễn Công Huy, “Bình luận cơ sở phát sinh

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” năm 2012, một số bài viết của Nguyễn Đức

Giao, Thạc sĩ Nguyễn Đức Mai về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng và trách

Trang 6

nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra đăng trên Tạp chíTòa án nhân dân, Tạp chí Dân chủ và pháp luật cũng như các giáo trình Luật dân

sự đề cập vấn đề này.……

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở mức độ chungnhất hoặc chỉ đề cập ở phạm vi hẹp trong nội dung nghiên cứu về các vấn đề khácnhau, mà chưa có tác giả nào nghiên cứu đầy đủ có hệ thống trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng để trên cơ sở đó nghiên cứu một trường hợp cụthể của loại trách nhiệm này - trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạngiao thông đường bộ, một đề tài đang cần được làm rõ về mặt lý luận và rất cấp bách

về mặt thực tiễn

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồithường ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông nói riêng; căn cứ pháp lýcủa trách nhiệm bồi thường thiệt hại và thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hạitrong các vụ tai nạn giao thông

Luận văn nghiên cứu các vấn đề phát sinh trong thực tiễn giải quyếtcác vụ việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông như: việc chịutrách nhiệm bồi thường trong các vụ TNGT, chuyển giao trách nhiệm bồi thường,trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người chưa thành niên không có tài sảnriêng gây tai nạn; chủ xe cho thuê hoặc cho mượn xe không kèm theo người lái xe

bị trưng dụng theo mệnh lệnh của cơ quan có thẩm quyền……

Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông là mộtvấn đề phức tạp không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn Vì vậy luậnvăn chỉ giới hạn ở phạm vi nghiên cứu một số vấn đề cơ bản dưới góc độ điều tra

xã hội học và Luật dân sự, ví dụ như: làm rõ khái niệm trách nhiệm bồi thườngthiệt hại trong các vụ TNGT, nguyên nhân điều kiện và tình hình tai nạn giaothông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2014-2016, các nguyên tắc cơ bản và cơ

sở pháp lý của việc bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT; trên cơ sở đó đưa ramột số biện pháp cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn dưới góc độ của Luật dân

sự Vì TNGT là một phạm trù rất lớn, bao gồm tai nạn giao thông đường bộ,đường biển, đường hàng không,…do vậy, tôi xin được giới hạn phạm vi nghiêncứu của luận văn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộtrên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trongcác vụ tai nạn giao thông và thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Bắc Giang, luậnvăn nghiên cứu dưới góc độ khái quát hơn, sâu hơn; từ đó có những đóng góp nhấtđịnh trong việc hoàn thiện khung hành lang pháp lý cũng như hạn chế những tồntại, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong các

vụ tai nạn giao thông tại tỉnh Bắc Giang

3.2 Mục tiêu cụ thể:

-Phân tích, làm rõ lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông, …

-Phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông …

Trang 8

-Phân tích điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông cũng như thực tiễn xử lýtai nạn giao thông ở tỉnh Bắc Giang …

-Đánh giá những ưu điểm và những hạn chế của pháp luật Việt Namhiện hành về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông

-Đưa ra các giải pháp để khắc phục và hoàn thiện vấn đề bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông tại Việt Nam nói chung vàBắc Giang nói riêng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước

và Pháp luật, về phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa; những thành tựu của các khoa học: triết học, logichọc, luật dân sự, tâm lý học Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu cácvăn bản pháp luật dân sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật dân sự, cácbản án, quyết định của Tòa án nhân dân các cấp, các tài liệu của Cục Cảnh sát giaothông đường bộ, đường sắt thuộc Bộ Công an, các tài liệu pháp lý trong và ngoàinước

Phương pháp nghiên cứu Đi từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát

đến cụ thể dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử - tác giả đặc biệt coi trọng phương pháp hệ thống,phương pháp so sánh, phương pháp logic pháp lý, phương pháp phân tích, phươngpháp thống kê, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp dự báo

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 9

Là một trong những luận văn thạc sĩ hiếm hoi ở Việt Nam khái quátmột cách có hệ thống cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng từ đó nghiên cứu một loại trách nhiệm cụ thể "Trách nhiệm bồi thường thiệthại trong các vụ tai nạn giao thông" Luận văn đóng góp vào lý luận trách nhiệmbồi thường thiệt hai ngoài hợp đồng các khái niệm TNGT theo nghĩa rộng và theonghĩa hẹp; khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT Tronghoàn cảnh vấn đề an toàn trong hoạt động không còn là vấn đề của một quốc gia,nhất là ở nước ta do sự mất cân đối giữa kết cấu hạ tầng, sự gia tăng của phươngtiện, ý thức chấp hành các quy định về trật tự an toàn giao thông; thiếu các quyđịnh của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; sự yếu kém trong quản lýcủa các cơ quan nhà nước nên tình hình TNGT diễn biến phức tạp và có chiềuhướng gia tăng gây thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe của con người, gây thiệthại lớn về tài sản, gây mất an toàn xã hội; do đó, luận văn góp phàn tìm ra nhữngnguyên nhân, điều kiện của các vụ TNGT, dự báo tình hình TNGT trong nhữngnăm tới Đồng thời, luận văn góp phàn giải quyết một cách có hệ thống nhữngvướng mắc xung quanh chế định BTTH ngoài hợp đồng nói chung, BTTH trongcác vụ TNGT nói riêng.

-Trên cơ sở lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng, luận văn đã làm rõ về mặt lý luận cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồithường thiệt hại cũng như việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ tại nạn giao thông

-Xuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn gắn với việc nghiên cứu hoànchỉnh về mặt lý luận, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật, của BLDShiện hành, luận văn đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềBTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trong các vụ TNGT nói riêng Xácđịnh được mối quan hệ giữa việc BTTH với việc phòng ngừa và đấu tranh làm

Trang 10

giảm tai nạn, mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại với các tráchnhiệm pháp lý khác là một trong những cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống các quyđịnh của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông Những kiến nghị, giảipháp này có thể tham khảo trong việc xây dựng luật giao thông, xây dựng các vănbản hướng dẫn việc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trongcác vụ TNGT nói riêng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đấtnước.

-Một đóng góp mới khác của luận văn đó là từ việc tổng kết thực tiễnvấn đề BTTH trong các vụ TNGT, trong luận văn đã có những kiến nghị về cácbiện pháp bảo đảm việc BTTH trong các vụ án TNGT

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trongcác vụ tai nạn giao thông

Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnhBắc Giang

Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệmbồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT

HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG.

1.1 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của nghĩa vụ không căn cứ vào ý chícủa đương sự, tức là nguồn gốc bất hợp pháp; vì vậy trách nhiệm dân sự làm phátsinh ra nghĩa vụ bồi thường đối với người đã làm một hành vi trái luật gây tổn thiệtcho một người khác [ 42 tr 431]

Có học giả cho rằng, việc phân biệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệmpháp lý cũng không ít quan điểm khác nhau, tuy nhiên nhiều ý kiến đồng nhất về

các đặc điểm của trách nhiệm dân sự như sau: Thứ nhất, trách nhiệm dân sự là

quan hệ luật tư giữa hai chủ thể độc lập có địa vị pháp lý bình đẳng, và bên viphạm phải gánh chịu trực tiếp trước bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạmchứ không phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước hoặc người khác, trừ trường hợp

chế tài vô hiệu hợp đồng do chống lại trật tự công cộng và đạo đức xã hội; Thứ

hai, trách nhiệm dân sự chủ yếu là trách nhiệm tài sản; Thứ ba, trách nhiệm dân sự

được áp dụng đối với bên vi phạm phải tương xứng với hậu quả của hành vi viphạm, tức là tương xứng với mức độ tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà người

thiệt hại phải gánh chịu; Thứ tư, trách nhiệm dân sự phải được áp dụng thống nhất

và như nhau đối với các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự [30, tr.347- 350]

Trang 12

Ngày nay, về học thuật người ta bàn tới việc hợp nhất lý thuyết về tráchnhiệm hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng Theo pháp luật dân sự Pháp, cáctrách nhiệm này đều có các thành tố giống nhau, tuy nhiên khác nhau về nguồn gốcphát sinh, nên cũng khác nhau về nghĩa vụ chứng minh.

Ở Common Law, người ta quan niệm luật hợp đồng liên quan tới các thoảthuận bị ràng buộc Vấn đề phát sinh từ đâu và ràng buộc là gì Ràng buộc có nghĩa

là nếu một bên trong quan hệ hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thì toà

án, khi bên bị vi phạm yêu cầu, ấn định các điều kiện đối với bên vi phạm Và cácđiều kiện này có mục đích định ra một chế tài, nhưng không phải là một hình phạtđối với bên vi phạm Trong luật hợp đồng các chế tài được thiết kế để bồi thường,không phải để phạt Trách nhiệm dân sự (civil liability) được các luật gia thuộcCommon Law coi là sự chịu trách nhiệm trước tố quyền dân sự đối lập với tốquyền hình sự; tìm kiếm các chế tài tư hoặc thi hành các quyền đối nhân trên cơ sởhợp đồng, vi phạm ngoài hợp đồng (tort) [49] Chính vì vậy, bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng là một dạng trách nhiệm pháp lý hay còn được coi là một dạng củatrách nhiệm dân sự Nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại là đề cập đến mộtloại trách nhiệm pháp lý mang tính cưỡng chế, buộc chủ thể có hành vi trái phápluật gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường

Dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xãhội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình màxâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khi một người vi phạmnghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịubất lợi do hành vi của mình gây ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bùđắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại [27]

Còn đối với Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đây là mộtchế định quan trọng, được ghi nhận từ sớm trên thế giới nói chung và ở Việt Nam

Trang 13

nói riêng Tuy nhiên, khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì lại rấthiếm hoi Ngay giáo trình Luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội cũngkhông định nghĩa về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, BLDS 2015 hiện hànhcủa Việt nam cũng chỉ quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồithường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường, mà chưa có mộtđiều luật nào giải nghĩa về vấn đề khái niệm này [25] Xuất phát từ các quy địnhcủa BLDS cũng như thực tiễn cuộc sống, xin được đưa ra khái niệm trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được phát sinh khi chủ thể nào đó có trách nhiệm liên quan tới việc để xảy ra sự kiện làm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý nên

nó mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm pháp lý.”

Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là mộtloại trách nhiệm Dân sự mà theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý củamình liên quan tới việc để xảy ra sự kiện gây tổn hại cho người khác thì phải bồithường những tổn thất được sinh ra từ sự kiện gây tổn hại đó Là một loại tráchnhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi viphạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảmbảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước… thì trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng còn có những đặc điểm riêng sau đây:

Trang 14

(1) Căn cứ phát sinh trách nhiệm đồng thời là căn cứ phát sinh nghĩa vụ.

Khác với việc BTTH trong hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về việc bồi thườnghoặc trong trường hợp nếu các bên không có thỏa thuận thì việc bồi thường thiệthại tuân thủ theo quy định của pháp luật hợp đồng Trong khi đó, nội dung củatrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoàn toàn do luật định: cơ sở phátsinh, chủ thể chịu trách nhiệm, cách thức bồi thường, mức bồi thường … đượcpháp luật quy định sẵn mà không phụ thuộc vào thỏa thuận trước của các bên Cóthể so sánh việc BTTH ngòai hợp đồng với việc phạt vi phạm trong hợp đồng Cácbên cũng không giới hạn được trách nhiệm như trong quan hệ hợp đồng

(2) Khi thiệt hại xảy ra, chủ thể có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cả

thiệt hại vật chất lẫn thiệt hại do tổn thất về tinh thần, cả thiệt hại trực tiếp lẫn thiệt hại gián tiếp: BLDS 2015 [Mục 2 Chương XX] và văn bản hướng dẫn có quy

định rõ về việc chủ thể có nghĩa vụ phải bồi thường: (i) các thiệt hại vật chất, đây

là các thiệt hại chủ yếu và ban đầu; (ii) thiệt hại do tổn thất về tinh thần: trongnhiều trường hợp đây là loại thiệt hại thứ phát và không tồn tại trong mọi trườnghợp (thiệt hại về tài sản không làm phát sinh thiệt hại do tổn thất về tinh thần) Mặtkhác, thiệt hại được bồi thường không chỉ là các thiệt hại hiện hữu vào thời điểmxảy ra hành vi gây thiệt hại mà còn có các thiệt hại trong tuơng lai có quan hệ nhânquả với hành vi gây thiệt hại Hơn nữa, người có nghĩa vụ bồi thường không chỉphải bồi thường các thiệt hại xảy ra trực tiếp cho người bị thiệt hại mà cho cả cácchủ thể có liên quan (chẳng hạn bồi thường thu nhập giảm sút cho người chăm sócngười phải nằm bệnh viện, hoặc việc bồi thường thiệt hại về tinh thần cho ngườithân của người bị thiệt hại về tính mạng)

1.1.2 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong các luật cổ của Việt Nam và trên thế giới đều đề cập đến bồi thườngthiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng với ý nghĩa

Trang 15

đền bù Điều đó có thể thấy rõ qua “chế độ phục cừu”, “chế độ phục kim” của Luật

La Mã cổ đại Chế độ phục cừu đề cập đến nguyên tắc trả thù, đền bù ngang giá:máu trả máu, mắt trả mắt, răng trả răng, tính mạng trả tính mạng… Ngoài chế độphục cừu, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn tuân theo những nguyêntắc pháp luật ấn định trước như “chế độ phục kim” (bồi thường bằng tiền).[36, tr11]

Theo quy định chung của pháp luật thì công dân và pháp nhân có quyềnđược bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp… Trong Hiến Pháp 2013 (Đạo luật cơbản của Nhà nước) đối với tài sản của công dân đã được ghi nhận cụ thể: " Quyền

sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.[20, Điều 32] Như vậy,khi tài sản của pháp nhân, của Nhà nước, hoặc tài sản, tính mệnh, sức khoẻ, danh

dự nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại, Nhà nước sẽ áp dụng những biệnpháp cưỡng chế nhất định đối với người có hành vi xâm hại trái pháp luật nhằmmục đích khắc phục những hậu quả xấu về tài sản và tinh thần, khôi phục lại tìnhtrạng vốn có ban đầu cho người bị thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng nói riêng là một quan hệ pháp luật dân sự, theo đó chủ thể cónghĩa vụ bồi thường trong những điều kiện mà pháp luật quy định phải bồi thườngtoàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật của chính mình hoặc người gây thiệt hạiliên quan gây ra Trong quan hệ nghĩa vụ này bên bị thiệt hại được coi là người cóquyền và có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại là người có nghĩa vụ phải bồi thườngnhững thiệt hại đã xảy ra

Trong đời sống thực tế hiện nay bên cạnh những thiệt hại do hành vi của conngười gây ra, có nhiều thiệt hại do tài sản là các phương tiện giao thông, máy móc,công trình xây dựng, súc vật gây ra Vấn đề xác định trách nhiệm dân sự của chủ

sở hữu, người sử dụng tài sản, tài sản khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt

Trang 16

hại cho người khác; hoặc trách nhiệm của chủ sở hữu đối với các thiệt hại do tàisản, tài sản thuộc sở hữu của người đó gây ra cho con người, cho xã hội ngày càng

1.1.3 Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Kết quả nghiên cứu cho thấy về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có nhiều ý kiến khác nhau Theo pháp luậtdân sự của nước Cộng hòa Pháp, để xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại củamột người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải căn cứ vào ba điều kiện:

có thiệt hại; xuất hiện một sự kiện; mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và sự kiện.Người gây thiệt hại phải BTTH, nếu có đầy đủ cả ba điều kiện này

Theo Luật dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì để làm phátsinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải có đủ bốn điều kiện:

Trang 17

phải có hành vi vi phạm pháp luật; phải có lỗi của người có hành vi vi phạm phápluật; phải có thiệt hại xảy ra, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạmpháp luật và thiệt hại xảy ra.

Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định về sự tổn hại trái vụ hay là những

"dân sự phạm" cùng "bán dân sự phạm" (theo tác giả thực chất là trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng) chỉ quy định "Người nào gây ra thiệt hại đến aibởi lỗi của mình thì người đó buộc phải đền sự thiệt hại ấy" [9] Theo quan điểmnày chỉ cần xác định ba điều kiện: thiệt hại, lỗi và quan hệ nhân quả Ở đây, hành

vi chỉ quy định là gây thiệt hại, không quy định bắt buộc là hành vi gây thiệt hạiphải là hành vi trái pháp luật

Trong sách "Dân luật tu trị" - xuất bản tại Sài Gòn 1961 - tác giả Phan VănThiết đã đưa ra năm điều kiện phát sinh trách nhiệm về sự làm thiệt hại cho ngườikhác (Dân luật tu trị dựa trên nền tảng của dân luật Nam Kỳ 1931)[34, 12] Nămđiều kiện đó là: lỗi, sự thiệt hại, sự liên quan giữa thiệt hại và lỗi, sự bắt chịu tráchnhiệm, xác định lỗi của người bị thiệt hại Ba điều kiện đầu cũng giống như luậtcủa chúng ta hiện nay, tuy nhiên ở mức độ hiểu sơ sài hơn Điều kiện thứ tư nóirằng nếu tự do làm mới phải chịu trách nhiệm, còn nếu là ngẫu nhiên hay bất khảkháng thì không phát sinh trách nhiệm Điều kiện thứ năm nói rằng chỉ có tráchnhiệm bồi thường nếu người bị thiệt hại không có lỗi hoặc lỗi nhẹ

Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 chỉ xác định có ba điều kiện: sự tồn tại thiệt hại,lỗi, tương quan nhân quả lại có quan điểm cho rằng đã gây thiệt hại thì phải bồithường Yếu tố hành vi trái pháp luật không được đề cập đến.[10]

Theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành thì căn cứ làm phát sinh TNDSnói chung cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng baogồm BTTH ngoài hợp đồng và sẽ được phân tích sâu trong Chương II của luận

Trang 18

văn Bốn điều kiện (bốn yếu tố): có hành vi trái pháp luật; có thiệt hại xảy ra; cólỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại; mối quan hệ nhân quả giữa hành vitrái pháp luật và thiệt hại xảy ra Bốn điều kiện (bốn yếu tố) này chính là cơ sởpháp lý của trách nhiệm.[15]

Tuy nhiên, có trường hợp ngoại lệ, đó là trong những trường hợp thiệt hại donguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì người chủ sở hữu phương tiện hoặc người đượcchủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường dù rằng

họ không có lỗi, trừ các trường hợp do pháp luật quy định (Điều 601 BLDS) Hoặctrong trường hợp, trẻ vị thành niên gây thiệt hại, cha mẹ sẽ trở thành chủ thể cótrách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con (Điều 599 BLDS)[15]

Phân tích "khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt ngoài hợp đồng" tronggiáo trình Luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng trong Chương V Phần thứ ba BLDS phát sinh chủ yếu dohành vi vi phạm đến các quyền tuyệt đối của các chủ thể khác, có nghĩa là tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh từ hành vi trái pháp luậtgây thiệt hại

Xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngnhư vậy có lẽ là chưa đủ Theo quy định tại Điều 8 BLDS thì căn cứ xác lập quyền

và nghĩa vụ dân sự bao gồm: Hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương; quyết địnhcủa Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; sự kiện pháp lý theo quy địnhcủa pháp luật; sáng tạo giá trị tinh thần là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ;chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật; gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; thựchiện công việc không có ủy quyền; chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi tài sảnkhông có căn cứ pháp luật; các căn cứ khác do pháp luật quy định Theo đó, trongcác căn cứ nêu trên, ngoài căn cứ "hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương” hợppháp, thì tất cả các căn cứ khác có thể sẽ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự ngoài hợp

Trang 19

đồng và nếu vi phạm sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng.

1.2 Khái niệm và đặc điểm của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

1.2.1 Khái niệm về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

Tai nạn giao thông

Thuật ngữ "tai nạn" xuất hiện trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống congngười Tuỳ từng trường hợp tai nạn xảy ra mà có các tên gọi cho mỗi một loại tainạn đó Ví dụ: nếu tai nạn xảy ra trong quan hệ lao động thì được gọi là tai nạn laođộng; nếu tai nạn xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, thì được gọi là tai nạngiao thông (TNGT); nếu tai nạn xảy ra trong trường học thì được gọi là tai nạn họcđường

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tai nạn hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là " việckhông may bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và của"[29, tr.142] Còn theo

từ điển Tiếng việt thì tai nạn là " việc rủi ro bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn chocon người".[40, tr 868]

Các định nghĩa trên chỉ mới đưa ra tai nạn là các sự kiện xảy ra gây thiệt hạicho con người về tính mạng, sức khoẻ, tài sản mà chưa làm rõ được nguyên nhâncủa tai nạn Thực tiễn cuộc sống chứng minh rằng tai nạn do nhiều nguyên nhânkhác nhau Những nguyên nhân này có thể là do hành vi của con người hoặc có thể

do các tác nhân tự nhiên khác Thiệt hại xảy ra có thể là thiệt hại về tính mạng,thiệt hại về sức khoẻ và thiệt hại về tinh thần của con người hay là thiệt hại về tàisản

Trang 20

Trong lĩnh vực pháp luật, chưa có một định nghĩa chính thức về tai nạn nóichung Tuy nhiên, trong một số quy phạm pháp luật của một số ngành luật và tronglĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý, đã có một số khái niệm về tai nạn trongtừng lĩnh vực cụ thể.

Bộ Luật lao động 2012 quy định : " Tai nạn lao động là tai nạn gây thươngtổn cho bất kì bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong,xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc và nhiệm vụlao động".[35]

Trong nghiên cứu khoa học thì khái niệm "tai nạn" , khái niệm "tai nạn giao

thông" đã được một số học giả đề cập tới "Tai nạn là sự việc xảy ra bất ngờ do

người tham gia giao thông hoặc vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông hoặc gặp phải tình huống, sự cố đột xuất, không kịp xử lý, có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, thiệt hại về tài sản" – Theo ông Vũ Mạnh Thắng

[41, tr 76] Còn theo ông Đào Công Hải thì có thể hiểu "Tai nạn giao thông là tai

nạn xảy ra khi các đối tượng tham gia trên đường giao thông công cộng gây nên: Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người - Thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản"[3, tr 82], Ngoài ra thuật ngữ trên cũng có thể được

-hiểu rằng "Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của

con người Nó xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc về an toàn giao thông hoặc do gặp phải các sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản của Nhà nước và nhân dân" Theo ý

kiến của ông Đỗ Đình Hòa [3, tr 20]

Ba khái niệm trên, đều nêu được TNGT là một sự kiện gây nên thiệt hại vềtính mạng, sức khỏe, tài sản và TNGT là một sự kiện với hai vấn đề lớn của nó

Trang 21

Vấn đề thứ nhất, tác nhân, hoàn cảnh, điều kiện nào làm cho TNGT (sự kiện) xảy

ra hay nói cách khác nguyên nhân của TNGT Về mặt này nguyên nhân của TNGT

có thể: do vi phạm các quy định về an toàn GTVT; do những hành vi cản trởGTVT; do đưa vào sử dụng các phương tiện GTVT không bảo đảm an toàn hoặcđiều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện GTVT; do gặp sự cốđột xuất không thể xử lý được hoặc do các trường hợp bất khả kháng Vấn đề thứhai đó là TNGT (sự kiện) đã gây ra cái gì hay nói cách khác hậu quả của sự kiện

Thiệt hại trong Tai nạn Giao thông được phát sinh chủ yếu từ nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao thông vận tải cơ giới.

Mọi hiện tượng sự vật trên thế giới đều có liên hệ với nhau, ràng buộc lẫnnhau, tồn tại một cách khách quan ngoài ý thức con người "Sự liên hệ nhân quảcủa các hiện tượng với tính cách là một hình thức đặc thù của sự ràng buộc của cáchiện tượng trong tự nhiên và xã hội, biểu hiện ở chỗ bất cứ một hiện tượng riêngbiệt nào hay tổng hợp các hiện tượng tác động lẫn nhau trong tự nhiên và xã hộiđều đẻ ra, sản sinh ra một hiện tượng khác và ngược lại, bất cứ một hiện tượngriêng biệt nào cũng là do một hiện tượng hay một nhóm các hiện tượng khác gây

ra, sản sinh ra"[44]

Trang 22

Do vậy, Tai nạn giao thông cũng có thể được sản sinh ra bởi nhiều nguyênnhân Trước hết, nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tai nạn giao thông phục thuộc rấtnhiều vào ý thức của người tham gia giao thông Có thể nói hành vi vi phạm phápluật của người tham gia giao thông đường bộ là nguyên nhân, điều kiện trực tiếpcủa TNGTĐB Hành vi vi phạm pháp luật của người tham gia giao thông đường bộ

có thể là: vi phạm các quy định về an toàn GTVT; hành vi cản trở GTVT; đưa vào

sử dụng các phương tiện GTVT không bảo đảm an toàn hoặc điều động ngườikhông đủ điều kiện điều khiển phương tiện GTVT Qua phân tích 5.956 vụTNGTĐB nói chung xảy ra trong những năm qua cho thấy có tới 76,7% số vụ tainạn là do ý thức chủ quan của con người Theo Tiến sĩ, Thượng tá Hà Hữu Diên -Phó cục trưởng Cục quản lý xe máy, Tổng cục kỹ thuật, Bộ Quốc phòng thì khiphân tích tình hình TNGT xe máy quân sự cho thấy nguyên nhân chủ quan dongười điều khiển phương tiện gây ra chiếm từ 65-70% tổng số vụ TNGT [3, tr 47]

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông, tuy nhiên trong thờiđại hiện nay, sự phát triển của công nghiệp vận tải cũng như sự phát triển của kinh

tế thị trường, sự bùng nổ của các phương tiện giao thông vận tại đang ngày càngmạnh mẽ, đặc biệt là phương tiện giao thông vận tải cơ giới Trên thực tế, số vụ tainạn giao thông thường xảy ra với sự xuất hiện và tác động của các phương tiệngiao thông cơ giới Phương tiện giao thông vận tải cơ giới cũng được xem là nguồnnguy hiểm cao độ Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy địnhphương tiện GTVT cơ giới nói chung và phương tiện GTVT cơ giới đường bộ nóiriêng là nguồn nguy hiểm cao độ Theo Báo cáo của Ủy ban an toàn giao thôngquốc gia Việt Nam, năm 2016 cả nước có 21.589 vụ tai nạn giao thông, làm chết8.685 người và làm bị thương 19.280 người; trong đó ai nạn giao thông từ ítnghiêm trọng trở lên xảy ra 10.167 vụ, làm chết 8.671 người, bị thương 5.984người [39]

Trang 23

Theo quy định tại Mục 3 Chương XX Phần thứ ba của BLDS2015 thì mộttrong những trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra(Điều 601) Trong đó có liệt kê đến nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giaothông cơ giới.[15]

Ở một số nước, cụ thể như Theo Điều 437 BLDS và thương mại Thái Lan,thì nguồn nguy hiểm cao độ là "bất cứ sự vận chuyển nào được kéo, đẩy bằng máymóc, những vật có thể gây nguy hiểm bởi tính chất, mục đích hoặc sự vận hành cơkhí của chúng" [45, tr 115] Luật dân sự Nhật Bản cũng quy định: "Các nhà máychế tạo, nơi khai thác khoáng sản dễ gây cháy, nổ, độc hại, phương tiện GTVT cơgiới là nguồn nguy hiểm cao độ".[28]

Theo các quy định trong BLDS của nước ta, có thể hiểu khái quát nguồnnguy hiểm cao độ chính là những đối tượng mà khi sử dụng, bảo quản, cất giữ,trông coi tiềm ẩn sự nguy hiểm, sự rủi ro cao độ đối với tính mạng, sức khỏe và tàisản của con người Tính nguy hiểm của nguồn nguy hiểm cao độ tồn tại trong tínhchất, đặc điểm lý, hóa, trong yêu cầu kỹ thuật và các điều kiện an toàn khi sử dụngcác đối tượng đó Có những loại đối tượng rất dễ nhận ra tính nguy hiểm cao độcủa chúng, chẳng hạn như thú dữ, chất độc, chất dễ cháy Tuy nhiên, trong nhiềutrường hợp khác cần phải có các tiêu chuẩn chung để xác định một đối tượng cóphải là nguồn nguy hiểm cao độ hay không Các tiêu chuẩn đó bao gồm:

- Hoạt động của các đối tượng mang tính chất nguy hiểm cao độ hợp pháp,chỉ khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mới bị coi là bất hợp pháp

- Hoạt động của đối tượng được coi là không thể giám sát được một cáchchặt chẽ và toàn diện

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông.

Trang 24

Đứng trên phương diện tổng quan, hậu quả của TNGT có thể là: thiệt hại vềtính mạng, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại về tinh thần, thiệt hại về tài sản (có thểmột hoặc hai hoặc ba, có thể là tất cả các loại thiệt hại này trong một TNGT) Dovậy, trách nhiệm đối với thiệt hại này có thể được xác định dựa trên hậu quả và sựtác động của hành vi gây hậu quả như đã nêu trên.

Theo quy định tại Điều 584 BLDS2015, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hạichỉ phát sinh trong trường hợp người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của cánhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác màgây thiệt hại Tuy nhiên, cần phân biệt là không phải mọi trường hợp xâm phạmđến tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tài sản của pháp nhân hoặc các chủthể khác trong khi tham gia giao thông đều gọi là TNGT Chỉ gọi là TNGT nếuhành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ là do lỗi vô ý củangười gây thiệt hại Trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong quá trình tham gia giaothông được thực hiện do lỗi cố ý, thì không thể gọi là TNGT mà tùy từng trườnghợp có tên gọi tương ứng.[28]

Trong thực tiễn luật thực định pháp luật Việt Nam hiện chưa có một quyđịnh thống nhất nhất về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông, do đó,

ta có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông làtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trên cơ sở đó, có thể thấy chothấy trong các nguồn học thuật khác khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thườngthiệt hại cũng chưa đưa ra được một khái niệm thống nhất về trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng

Vậy nên, có thể đưa ra một khai niệm: trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông là một loại trách nhiệm Dân sự

mà theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình liên quan tới việc để

Trang 25

xảy ra tai nạn giao thông làm tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất được sinh ra từ sự kiện gây tổn hại đó theo quy định của pháp luật

1.2.2 Đặc điểm của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được tạo nên bởi các thành tố.

Dựa vào những phân tích về tai nạn giao thông, thiệt hại trong tai nạn giaothông, trách nhiệm bồi thường trong các vụ TNGT, có thể nhận thấy rằng Tráchnhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp này bao gồm bốn điều kiện sauđây:

Thứ nhất, Có thiệt hại xảy ra Trên thực tế, trong một vụ tai nạn giao thôngxảy ra, luôn luôn xuất hiện những thiệt hại nhất định Đó có thể là thiệt hại về vậtchất (tài sản) nhưng cũng có thể là thiệt hại về tinh thần (sức khỏe, tính mạng,danh dự, nhân phẩm,… ) Đây cũng là căn cứ bắt buộc và lá yếu tố quyết định xemtrách nhiệm bồi thường của người gây hậu quả có được xác định hay không và xácđịnh như thế nào Bởi sự trách nhiệm bồi thường nhằm mục đích bù đắp nhữngthiệt hại, nên phải xuất hiện thiệt hại mới có thể yêu cầu bồi thường

Thứ hai, Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật Thiệt hại được gây ra bởi sựtác động của các tác nhân gây ra tai nạn giao thông và tạo nên thiệt hại Nhữnghành vi được xác định là hành vi trái luật khi nó không tuân thủ theo những quytắc mà pháp luật đã đề ra Pháp luật thông thường có vai trò như một màng chắnbảo vệ quyền và lợi ích của con người khỏi các sự xâm hại bằng việc rằng buộc sựtuân thủ lên các chủ thể Do đó, khi có sự phạm quy, thiệt hại sẽ xảy ra, do đó, tráiluật có thể là căn cứ làm phát sinh các tai nạn giao thông nói riêng và thiệt hại nóichung

Trang 26

Thứ ba, Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy

ra Sự tác động qua lại giữa tác nhân gây tai nạn giao thông và các thiệt hại là yếu

tố cần thiết Khi một thiệt hại xảy ra, ắt hẳn sẽ có một hoặc một số tác nhân tạo nênthiệt hại đó Và trong các vụ tai nạn giao thông, để xuất hiện, đương nhiên phải cónhững tác nhân gây ra tai nạn, đó là các hành vi trái luật Khi những hành vi nàyđược thực hiện, nó gây rà sự kiện tai nạn giao thông, từ đó thiệt hại phát sinh vàthiệt hại này được xem như là hậu quả pháp lý mà hành vi trái luật gây nên Nếunhư hành vi trái luật tồn tại nhưng không gây thiệt hại, khi đó không có căn cứ đểyêu cầu và xác nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó, xuất hiện thiệthại trong tai nạn giao thông nhưng không xác định được hành vi gây thiệt hại, khi

đó cũng không thể xác định được các yếu tố chủ quan, khách quan trong ý chí gây

ra tai nạn giao thông này Do đó, mối quan hệ qua lại giữa hành vi gây thiệt hại vàthiệt hại là đương nhiên phải tồn tại

Thứ tư, Người gây ra thiệt hại phải có lỗi Một hành vi gây thiệt hại trongmột vụ tai nạn giao thông cần được xem xét dưới góc độ sự tham gia của chủ thểtrong việc tạo ra hành vi trái luật Pháp luật ra đời ràng buộc các nghĩa vụ lên hành

vi của con người, do đó, khi có sự phạm quy, tức là có sự tồn tại bong dáng conngười trong việc để xuất hiện và duy trì sự phạm quy này Sự phạm quy được xemnhư một hành vi lệch chuẩn, bởi vậy, khi nó được thực hiện luôn dựa vào ý chỉ chủquan của con người có cố ý không tuân thủ luật hay không Nếu có sự duy ý trí,yếu tố lỗi xuất hiện Khi yếu tố lỗi xuất hiện, trách nhiệm của người gây thiệt hại

sẽ được xác nhận trong mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả thiệt hại Yếu tố lỗiđược phân định thành lỗi vô ý và lỗi cố ý

Thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông là đa dạng.

Như đã được phân tích trong khái niệm về “tai nạn giao thông” ở Mục 1.2.1

ở trên, một điểm chung về thiệt hại và tổn thất mà các tác giả đều đưa ra khi nói về

Trang 27

tai nạn giao thông bao gồm tổn thất về Vật chất và Tinh thần Do đó có thể hiểu,khi một vụ TNGT xảy ra, không chỉ tồn tại riêng một thiệt hại vật chất mà nó cònxuất hiện cả những thiệt hại về tinh thần, và đương nhiên, người có trách nhiệmbồi thường sẽ phải bù đắp cả những thiệt hại về tinh lần lẫn vật chất được phát sinh

từ tai nạn giao thông Trên thực tế, khi tai nạn giao thông xảy ra, thiệt hại về vậtchất là tinh thần là vô cùng lớn, kèm theo đó, sự tổn thất của 2 dạng tổn thất nàycũng xuất hiện song song, bởi một thực tế, tai nạn giao thông thường xảy ra vớitrường hợp có người điều khiển các phương tiện giao thông vận tải, do đó, khi tainạn xuất hiện, sự góp mặt của cả con người và vật chất (người điều khiển vaphương tiện) hiển nhiên sẽ tạo nên sự tổn thất cho cả người điều khiển và phươngtiện giao thông

Tổn thất về vật chất nhìn nhận trên thực tế được hiểu là những thiệt hại màcon người phải chịu được tính thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất

về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực

tế bị mất hoặc giảm sút Tổn thất về vật chất trong tai nạn giao thông do đó cũngđược nhiểu rằng những thiệt hại về tài sản do hành vi gây tai nạn giao thông tạonên khiến cho tài sản này bị hủy hoại hoàn toàn hoặc hư hỏng khiến giảm sút giátrị Những tổn thất này là phổ biến và dễ nhận biết và có thể dễ dàng xác định đượckhi quy đổi thành giá trị tiền Do đó, để bồi thường và bù đắp tổn thất về vật chất

do tai nạn giao thông gây ra, người có nghĩa vụ bồi thường chỉ có thể và phải bồithường bằng tiền tương đương với giá trị hoặc phần giá trị bị thiệt hại của tài sảnthiệt hại theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Tổn thất về tinh thần được hiểu là những tổn thất mà con người phải chịu do

sự xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đótạo nên những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại như sự buồn rầu, lòngđau thương… Do vậy, Tổn thất về tinh thần được tạo ra bởi hành vi gây tai nạn

Trang 28

giao thông là những thiệt hại phi vật chất, hay cụ thể hơn là các thiệt hại về sứckhỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín mà người gây tai nạn tạo ra Thôngthường để bồi thường cho thiệt hại này, người có nghĩa vụ bồi thường buộc phảichấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường mộtkhoản tiền để bù đắp Như vật, cách để bù đắp những tổn thất do tai nạn giao thônggây ra về tinh thần không chỉ thực hiện bằng một biện pháp bồi thường tiền thôngthường, người có nghĩa vụ còn phải thực hiện các biện pháp vừa nhằm khôi phục

và bù đắp thiệt hại này Bởi có thể nhận thấy, thiệt hại về tinh thần (trừ thiệt hại vềtính mạng) có thể được khôi phục và bù đắp được một phần nào đó do vậy, phápluật luôn quy định phương thức bồi thường về tinh thần ngoài bù đắp tiền còn cócác phương thức khác Khác với tổn thất về Vật chất đơn thuần, sự phức tạp củatổn thất về tinh thần khó khăn xác định hơn rất nhiều so với tổn thất của tài sản.Việc xác định một mức chuẩn chung trong bồi thường thiệt hại về tinh thần bằngtiền đôi khi cũng tạo ra những khó khăn khi áp dụng Tuy nhiên, đây vẫn được coi

là phương pháp hữu hiệu và thực tế nhất để bù đắp những tổn hại về tinh thầnthông qua giá trị vật chất

Thông thường người bị thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xảy

ra và mức bồi thường sẽ bằng mức thiệt hại Tuy nhiên, điều này chỉ có thể ápdụng đối với trường hợp đó là trách nhiệm BTTH về vật chất còn trong trường hợpBTTH về tinh thần thì rõ ràng những tổn thất về tinh thần là những tổn thất khôngthể nhìn thấy, không thể tính toán và không thể chứng minh được Chính vì vậy,trong trường hợp này pháp luật cần quy định một mức nhất định để cơ quan Nhànước có thẩm quyền áp dụng trong trường hợp một người có hành vi xâm phạmđến các quyền nhân thân của người khác

Tồn tại nhiều dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một vụ TNGT

Trang 29

Khi các thiệt hại phát sinh từ hành vi gây tai nạn giao thông, trách nhiệm bùđắng tổn thất và thiệt hại cũng đương nhiên xuất hiện Tùy vào từng tiêu chí khácnhau mà sự phân biệt trách nhiệm bồi thường cũng được nhìn nhận dưới các góc

độ khác nhau Do đó, có thể nhận thấy, có nhiều cách để phân loại trách nhiệm bồithường thiệt hại:

- Phân loại dựa vào loại thiệt hại: (1) trách nhiệm vật chất và (2) tráchnhiệm tinh thần

- Phân loại dựa vào hành vi gây thiệt hại: (1) Trách nhiệm trực tiếp và(2) trách nhiệm gián tiếp

- Phân loại dựa vào phương thức bồi thường: (1) Bồi thường tiền và (2)Thực hiện các biện pháp khôi phục hậu quả ( cái chính thông tin, công khai xin lỗi,

…) …

- Phân loại dựa vào đối tượng gây thiệt hại:

+ Trách nhiệm liên đới, trách nhiệm riêng rẽ

+ Trách nhiệm do người gây ra và trách nhiệm do nguồn nguy hiểm cao độgây ra

+Trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm pháp nhân và tổ chức

Giống như sự tồn tại song song của các loại thiệt hại, các dạng trách nhiệmbồi thường cũng phụ thuộc vào các loại thiệt hại mà có thể tồn tại với một hoặcnhiều phương thức Đối với việc phân loại bằng thiệt hại và phương thức bồithường, đặc điểm của khía cạnh này là phân biệt dựa vào sự xuất hiện cả thiệt hạiđược tạo ra, do đó, cả hai cách phân loại này dường như không có sự khác biệt, tuynhiên, sự khác biệt được nhận ra khi chúng ta đặt chúng dưới các tiêu chí đánh giákhác nhau Đối với việc phân loại dựa vào loại thiệt hại, phân loại trực tiếp dựatrên hệ quả của hành vi gây tai nạn giao thông Do đó, khi hệ quả của hành vi trên

Trang 30

tác động vào điều gì, trách nhiệm của của người có nghĩa vụ sẽ được xác định trênmục tiêu đó Còn đối với việc phân loại dựa vào phương thức bồi thường, chúng tacần nhìn nhận nó dưới góc độ các biện pháp mà người có nghĩa vụ có thể hoặcbuộc phải thực hiện để bù đắp thiệt hại mà người gây thiệt hại đã tạo ra.

Ngoài ra, khi phân loại dựa trên tiêu chí hành vi gây thiệt hại, ta nhận biếtđược loại trách nhiệm bồi thường này được xác định bởi sự liên kết giữa hành vigây thiệt hại đối với người có nghĩa vụ bồi thường, Hay nói cách khác, mối quan

hệ giữa người thực hiện bồi thường và hậu quả để lại có sự liên kết như thế nào.Nếu như người có nghĩa vụ là người thực hiện hành vi gây tai nạn giao thông, đó làloại trách nhiệm trực tiếp bởi chính người này đã tạo ra những thiệt hại Trườnghợp còn lại, người có nghĩa vụ không trực tiếp gây ra thiệt hại nhưng người hoặctác nhân gây ra thiệt hại lại thuộc sự quản lý, chiếm hữu hay sở hữu của người này

mà tác nhân gây thiệt hại không đủ điều kiện nhận trách nhiệm bồi thường thìngười có nghĩa vụ này thực hiện bồi thường và đây được gọi là trách nhiệm giántiếp

Tuy nhiên, sự phân loại cũng chỉ mang tính chất tương đối và tham khảo,bởi những trách nhiệm đối với thiệt hại đã được pháp luật quy định cụ thể Bất kỳmột thiệt hại nào cũng đều được bù đắp và bồi thường bằng một trong số các biệnpháp mà pháp luật đã đưa ra, hoặc dựa vào sự thỏa thuận của các bên

Trách nhiệm bồi thường phát sinh ngay cả trong trường hợp không có lỗi của người có nghĩa vụ bồi thường.

Yếu tố lỗi luôn được coi là căn cứ xác định trách nhiệm trong rất nhiều cácngành luật Sự tồn tại của yếu tố lỗi là căn cứ xác định nguồn gốc của tác nhân gâythiện hại hoặc sự tác động của hành vi gây thiệt hại lên sự vật hiện tượng chịu thiệthại có phải do sự điều khiển của lý trí con người hay không Trong yếu tố lỗi được

Trang 31

phân loại rõ ràng thành lỗi vô ý và lỗi cố ý Đối với lỗi cố ý hay vô ý, trách nhiệmvới thiệt hại đương nhiên được xác định một cách rõ ràng dựa vào vào trò của chủthể có lỗi trong quan hệ bồi thường thiệt hại Một lẽ hiển nhiên rằng, tất cá cáchành vi chứa yếu tố lỗi thông thường luôn được coi là hành vi trái luật, do đó, khi

sự phạm quy xuất hiện, hệ quả pháp lý của nó chính là trách nhiệm bồi thường dohành vi trái luật gây ra

Do vậy đối với trách nhiệm bồi thường dân sự nói chung và bồi thường thiệthại do tai nạn giao thông gây ra không phải đương nhiên phụ thuộc vào yếu tố lỗi.Trong một số trường hợp, người gây thiệt hại không đủ điều kiện cũng như nănglực để thực hiện trách nhiệm bồi thường, những người có trách nhiệm liên đớibuộc phải chịu những trách nhiệm này Bởi pháp luật dự liệu những trường hợp,người gây thiệt hại là trẻ vị thành niên, chưa đủ năng lực hành vi dân sự; tác nhângây hại không được đặt dưới sự kiểm soát đúng tiêu chuẩn của chủ thể có nghĩa vụ

… Nếu như không xác định trách nhiệm liên đới lên những người có nghĩa vụliên quan này, hậu quả của thiệt hại được tạo ra không có ai bù đắp cũng như việcyêu cầu chặt chẽ đối với nghĩa vụ của người liên quan đến tác nhân gây thiệt hại

Để tránh nhầm lẫn, cần phải hiểu rõ rằng trách nhiệm bồi thường đôi khikhông do người có nghĩa vụ bồi thường mà được phát sinh do yếu tố lỗi của ngườigây thiệt hại Thật vậy, trong các trường hợp người chịu trách nhiệm không phải làngười gây thiệt hại, trách nhiệm ấy thực chất suy cho cùng cũng phát sinh từ lỗicủa người gây thiệt hại chứ không phải lỗi của người chịu trách nhiệm bồi thường.Khi người gây thiệt hại không có đủ điều kiện, năng lực để gánh vác trách nhiệm

do mình gây ra và người có nghĩa vụ bồi thường có trách nhiệm liên quan đếnhành vi của người gây thiệt hại (theo luật định) Do đó, cũng cần phân biệt rõ địa

vị pháp lý của người gây thiệt hại và người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Người có nghĩa vụ bồi thường không đương nhiên là người gây ra thiệt hại.

Trang 32

Thông thường, trách nhiệm dân sự được phát sinh dựa trên sự tham gia củangười có trách nhiệm vào trong quan hệ dân sự Đối với trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng do TNGT gây ra cũng vậy, sự tham gia của người nào đóvào việc gây ra thiệt hại đương nhiên tạo nên trách nhiệm bồi thường đối với chủthể này Đây được coi như một hậu quả pháp lý mà người này phải chịu cho hành

vi mà mình đã thực hiện Tuy nhiên, trong một số trường hợp, trách nhiệm bồithường không áp đặt lên người thực hiện hành vi gây thiệt hại mà lại được xácđịnh lên người khác Điều này được xác định trong các quy định của pháp luật đốivới chủ thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc sử dụng các nguồn nguy hiểmcáo độ Là người giám hộ, người đại diện theo pháp luật trong trường hợp là người

vi phạm là trẻ vị thành niên Hoặc trong trường hợp người có nghĩa vụ bồi thườngthay cho người học việc Trường hợp này người có nghĩa vụ bồi thường là người

có trách nhiệm trong việc quản lý giáo dục người gây ra thiệt hại

Điều này đương nhiên đúng Đối với trường hợp là trẻ vị thành niên, nănglực dân sự của chủ thể này chưa đầy đủ, do đó, việc xác định các trách nhiệm bồithường lên chủ thể này dường như không hợp lý và để lại những hệ quả lớn chotương lai Do đó, trách nhiệm được xác định lên người giám hộ, bên cạnh đó,người giám hộ cũng được nhiên có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng, giáo dụcchủ thể này cho tới khi họ đủ năng lực hành vi dân sự hoặc trách nhiệm thuộc về

cơ quan tổ chức trong thời hạn có nghĩa vụ quản lý, giáo dục trẻ Và vì vậy, nhữngthiệt hại mà trẻ vị thành niên gây ra cũng sẽ có những trách nhiệm liên đới lên cácchủ thể trên Đối với trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng các nguồnnguy hiểm cao độ, do các tác nhân gây thiệt hại này không phải là một chủ thểtrong pháp luật dân sự, do đó không thể ràng buộc trách nhiệm lên các tác nhânnày Kèm theo đó, các chủ thể trên cũng phải có nghĩa vụ bảo quản, quản lý vàđảm bảo an toàn trong khi thực hiện các quyền chiếm hữu, sở hữu của mình đốivới tác nhân gây hại Do vậy, khi thiệt hại xuất hiện, trách nhiệm liên đới đương

Trang 33

nhiên ràng buộc lên các chủ thể này Đối với trường hợp người chịu thiệt hại là chủcác cơ sở có người gây thiệt hại là người học việc, người làm thuê cũng tương tự.

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, người gây thiệt hại và người có nghĩa vụbồi thường thiệt hại là không đồng nhất Trong một vài trường hợp, có thể tồn tại

cả người có nghĩa vụ bồi thường và người gâu thiệt hại độc lập khi xuất hiện một

vụ tai nạn giao thông

Áp dụng các Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông.

Nguyên tắc hiểu theo nghĩa chung nhất là các yêu cầu, chuẩn mực cụ thểbuộc các cơ quan tiến hành tố tụng, những người có quyền, lợi ích liên quan phảituân theo, về khía cạnh pháp lý, nguyên tắc là các tư tưởng pháp lý chỉ đạo có ýnghĩa bao trùm, xuyên suốt trong quá trình thực hiện một hoạt động pháp lý.Nguyên tắc thể hiện tập trung những yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước, của xã hội nóichung, được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thihành

BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH trong các vụ TNGT nói riêng làmột vấn đề phức tạp Yêu cầu đặt ra là giải quyết đúng đắn các yêu cầu bồithường, bảo vệ kịp thời quyền lợi của bên thiệt hại, bảo đảm trật tự công bằng xãhội nói chung Trong quá trình giải quyết BTTH trong các vụ TNGT cần tuân thủcác nguyên tắc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng được quy định tại Điều 610BLDS Cụ thể là:

"1 Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏathuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thựchiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác

Trang 34

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý màgây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hạihoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩmquyền khác thay đổi mức bồi thường"

Các nguyên tắc nêu trên thể hiện sự công bằng, hợp lý của pháp luật dân sựViệt Nam, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc phápnhân khi quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm Đồng thời chúng cũng thểhiện sự công bằng từ phía người gây thiệt hại; đó là họ chỉ phải chịu trách nhiệmbồi thường tương ứng với mức độ lỗi, trong trường hợp do lỗi vô ý mà mức bồithường quá lớn, ảnh hưởng đến khả năng kinh tế trước mắt cũng như lâu dài, thì cóthể được giảm mức bồi thường Tôn trọng và tuân thủ triệt để các nguyên tắc bồithường sẽ bảo đảm việc giải quyết đúng đắn, kịp thời, bảo vệ quyền và lợi íchchính đáng của cá nhân của toàn xã hội và có ý nghĩa giáo dục ý thức tuân thủ, tôntrọng pháp luật góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.[28]

1.3 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được ra đời và từngđược thừa nhận rất sớm trên thế giới Từ thế kỷ thứ VIII TCN đến thế kỷ thứ VIISCN pháp luật đã ghi nhận “chế độ phục cừu” và “chế độ phục kim” với nguyêntắc “ngang giá” Pháp luật La Mã quy định người có hành vi trái pháp luật gâythiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự của người khác thì phải bồi thường thiệt hại

Điều 8,2 Luật XII bảng quy định: “Khi một người gây thiệt hại lâu dài trên thân

thể người khác, sẽ phải chịu phạt trả thù, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (phạt tiền)”; “Ai dùng tay hoặc dùng gậy làm gẫy xương người khác, sẽ phải chịu 300 acre, nếu làm gãy xương nô lệ thì phạt 150 acre” [43] Bộ luật XaLíc

Trang 35

[21] cũng có những quy định người gây thiệt hại phải bồi thường đối với nhữngthiệt hại cụ thể về tài sản; các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâmphạm sức khỏe, tính mạng.

Ở Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiêt hại ngoài hợp đồng đã được quyđịnh từ sớm trong các bộ luật cổ Điều 435 Quốc triều hình luật quy định trườnghợp một người lợi dụng hoàn cảnh có trộm, cướp, hỏa hoạn, lụt lội … mà lấy tàisản hay chiếm đoạt tiền của người khác giữa thanh thiên bạch nhật… thì phải chịutội như tội ăn trộm thường nhưng được giảm một bậc Điều 579 Quốc triều hìnhluật quy định trong trường hợp người nhận giữ súc vật hoặc của cải khác mà đemdùng hay tiêu đi thì phải bồi thường số tài sản đã tổn thất và người gây thiệu hạicòn phải chịu phạt 80 trượng [24, tr 363 -382] Bộ luật Hồng Đức [31] có các quyđịnh về việc bồi thường thiệt hại bằng tiền Điều 466 Bộ luật Hồng Đức quy địnhmức bồi thường thiệt hại trong trường hợp gây thương tích cho người khác như

sau: “Sưng phù thì phải đền tiền thương tổn 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy

một ngón tay, một răng thì phải đền 10 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan Đọa thai chưa thành hình thì 30 quan, đã thành hình thì 50 quan, gãy một chân một tay, mù một mắt thì 50 quan, đứt lưỡi và hỏng âm, dương vật thì đền 100 quan Về người quyền quý thì phải xử khác.”… trong các Bộ luật dân sự năm

1995, Bộ luật dân sự năm 2005 và mới đây nhất là Bộ luật dân sự năm 2015, cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, đều có chế định về trách nhiệm bồi thườngthiêt hại ngoài hợp đồng

Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm

2015 đều có quy định thông thường người nào do có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâmphạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợiích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhânhoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường (Điều 609 Bộ luật Dân

Trang 36

sự năm 1995) Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Khi một người có

lỗi cho dù vô ý hoặc có ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường.”

Khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định căn cứ phát sinh trách

nhiệm bồi thường thiệt hại cụ thể hơn Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Người

gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” Tuy

nhiên, trong một số trường hợp người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng cóthể là người không có lỗi nhưng có trách nhiệm liên quan đến việc để cho sự kiện

gây thiệt hại xảy ra ( Điều 601 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015) “Điều 601 Bồi

thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.3 Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi trừ trường hợp sau đây: a Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại b Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Như vậy có thể thây, sự hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thườngthiệt hại đối với trách nhiệm ngoài hợp đồng do TNGT gây ra đang ngày càng thểhiện được vị trí của nó công tác quản lý xã hội nói chung và giải quyết các hệ quảcủa hành vi gây tai nạn nói riêng

Trang 37

KỂT LUẬN CHƯƠNG 1

TNGT ở nước ta diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng cả về sốlượng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội Trong các vụ TNGT nóichung, thì TNGTĐB chiếm tỷ lệ rất lớn TNGT đã gây thiệt hại rất lớn về người

và tài sản, bên cạnh đó làm mất trật tự, an toàn, gây nên nỗi kinh hoàng trongnhân dân

TNGT do các nguyên nhân, điều kiện khác nhau, trong đó có nhữngnguyên nhân khách quan, có những nguyên nhân chủ quan Một trong nhữngnguyên nhân, điều kiện chủ yếu là do chủ quan của con người đặc biệt là ngườiđiều khiển phương tiện cơ giới

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT là một loại tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; do đó, những vấn đề chung về tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng chính là những vấn đề chung

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT Tuy nhiên, nó được cụthể hơn trong từng trường hợp

Các nguyên tắc BTTH trong các vụ TNGT cũng phải tuân thủ cácnguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng, đó là: BTTH toàn bộ và kịp thời; căn cứ vàohình thức lỗi và mức độ lỗi; tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận; mức bồithường phù hợp với thực tế và các nguyên tắc khác

Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụTNGT càng ngày càng hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn, đồng bộ hơn không chỉ theohướng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết BTTH mà còn theo hướng tạođiều kiện việc BTTH khả thi hơn và thực tế hơn Tuy nhiên, việc tiếp tục hoànthiện, cụ thể hóa các quy định của BLDS về vấn đề này là hết sức cấp thiếttrong tình hình hiện nay

Trang 38

Chương 2:

Thực trạng pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

2.1 Thực trạng của pháp luật về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông.

Như đã phân tích trong Chương 1 luận văn, các quy định chung của phápluật điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng chính làđiều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tại nạn giao thông(TNGT) Cơ sở pháp lý chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng đã được thể hiện tại Điều 604 BLDS; cụ thể là: "Người nào do lỗi cố ý

hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường" Từ quy định này có thể thấy cơ sở pháp lý chung của trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm bốn điều kiện sau đây:

- Có thiệt hại xảy ra;

- Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật;

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra;

- Người gây ra thiệt hại phải có lỗi

Trong các vụ TNGT, bốn điều kiện là cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thườngthiệt hại này được thể hiện như sau:

2.

1 1 Có thiệt hại xảy ra

Đây là điều kiện cấu thành cơ bản cũng là điều kiện tiên quyết bắtbuộc để xem xét có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 39

hay không Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản nếu so sánh với trách nhiệm theohợp đồng, trong hợp đồng trách nhiệm bồi thường hay phạt vi phạm có thể nảysinh do thỏa thuận mà không phụ thuộc vào vấn đề thiệt hại hay chứng minhthiệt hai, trong khi đó Không thể có trách nhiệm bồi thường khi không có thiệthại nào xảy ra.[28]

Để bảo đảm sự ổn định của các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ,pháp luật đã quy định những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải có tráchnhiệm bồi thường Tuy nhiên, khi đánh giá một thiệt hại là cơ sở để xác địnhtrách nhiệm phải được xác định và phân tích thiệt hại một cách khách quan chứkhông được suy diễn một cách chủ quan Pháp luật dân sự phân chia thiệt hạithành thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần

Theo đó, tại Điểm 1.1, Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn

áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 (Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP)về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quy định cụ thể:

“1.1 Phải có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần

a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản

1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín,

Trang 40

bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín

bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”

Thiệt hại vật chất theo quy định tại 608, 609, 610 được quy định tại Mục

II của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hiểu chung là sự mất mát, giảm sút vềmột lợi ích vật chất có thể tính toán được thành một số tiền nhất định, tuy nhiênmột số ý kiến cho rằng khi bồi thường thì chủ thể có trách nhiệm bồi thường cóthể bồi thường bằng số tiền nhất định hoặc bằng vật tương đương, nếu là vật hưhỏng thì có thể sửa chữa hoặc trong một số trường hợp cụ thể có thể bồi thườngbằng thực hiện một công việc Các thiệt hại đó có thể bao gồm những hư hỏngmất mát về tài sản; những chi phí bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa, khắcphục thiệt hại; những khoản thu nhập thực tế bị mất hay bị giảm sút (ví dụ: chiphí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khichết,chi phí mai táng hoặc tiền cấp dưỡng mà người bị hại có nghĩa vụ cấpdưỡng….)

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là: "Thiệt hại do tài sản bị hủy hoại hoặc

bị hư hỏng; tổn thất về lợi ích gắn liền với sử dụng, khai thác tài sản; chi phíhợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục hậu quả xảy ra" Tại Điều 608BLDS thiệt hại tài sản được bồi thường bao gồm: Tài sản bị mất, bị hủy hoạihoặc bị hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp

lý để ngăn chặn hạn chế và khắc phục thiệt hại Đây phải là những thiệt hại trựctiếp do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, những hư hỏng, hủy hoại … gián tiếpkhông được tính để bồi thường

Ngày đăng: 17/08/2020, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Bộ Luật Dân sự, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Dân sự
Tác giả: Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2015
16. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật giao thông đường bộ, 2008 17. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Đường sắt, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật giao thông đường bộ, 2008"17
23. Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghi quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005
Tác giả: Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2006
24. Kiều Thị Thanh (2004), Trách nhiệm dân sự trong Quốc triều hình luật , Quốc triều hình luật lịch sử hình thành nội dung và giá trị, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 363 -382 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm dân sự trong Quốc triều hình luật
Tác giả: Kiều Thị Thanh
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
Năm: 2004
26. Mai Sơn (2010), Nghiên cứu Khoa học, Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông đường bộ cho thanh niên tỉnh Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Sơn (2010), Nghiên cứu Khoa học
Tác giả: Mai Sơn
Năm: 2010
27. Nguyễn Thị Minh Oanh, Khái niệm chung về bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm chung về bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Oanh
28.Nguyễn Thanh hồng, Luận Án tiến sĩ , Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
Tác giả: Nguyễn Thanh hồng
Năm: 2001
29. Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
30. Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.347- 350.] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
31. Nguyễn Quang Thắng, Lê triều hình luật- Luật Hồng Đức, NXB Văn hóa Thông tin,1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hồng Đức
Tác giả: Nguyễn Quang Thắng
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
32. Nguyễn Quang Huy (2010), Luận văn thạc sĩ, Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ (Qua thực tế tỉnh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
Tác giả: Nguyễn Quang Huy
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ
Năm: 2010
34. Phan Văn Thiết, "Dân luật tu trị", Sài Gòn, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân luật tu trị
36. Phùng Trung Tập, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, nxb Hà Nội 2009, tr 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng
Tác giả: Phùng Trung Tập
Nhà XB: nxb Hà Nội
Năm: 2009
38. Toàn án nhân dân tối cao, Thông tư 03-TATC 1983, Hướng dẫn giải quyết một số vấn đề về bồi thường thiệt hại trong tai nạn ô tô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn án nhân dân tối cao", Thông tư 03-TATC 1983
40. Tri Thức Việt, Từ Điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển tiếng Việt
Tác giả: Tri Thức Việt
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
41. Vũ Mạnh Thắng (1999), Tạp chí Công an nhân dân (2), tr. 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Công an nhân dân
Tác giả: Vũ Mạnh Thắng
Năm: 1999
42. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước , In lần thứ nhất, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 431II.Tài Liệu Nước Ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Nhà XB: Bộ quốc gia giáo dục
Năm: 1963
21. Http://tuanhsl.blogspot.com/2011/03/luat-sa-lich-salic-law.html, Bộ Luật Xalic Khác
25. Giáo trình Luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân,2015 Khác
33. Phản biện Quy hoạch hệ thống hạ tầng giao thông TP Bắc Giang, bacgiang.gov.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w