1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

93 585 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ chưa phân biệt rõ giữa việc phải chịu trách nhiệm hình sự của người có lỗi gây ra tai nạn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT NIÊN KHÓA 2008 - 2012

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO

THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Cần Thơ, tháng 4/2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Lời đầu tiên người viết xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, đã tận tụy truyền đạt cho người viết nguồn kiến thức sâu rộng để nghiên cứu đề tài này

Và hơn hết, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô Tăng Thanh Phương đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ người viết hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song với điều kiện và thời gian cho phép, khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế ắt hẳn luận văn sẽ có nhiều thiếu sót Nhưng với sự nghiên cứu nghiêm túc, sự đam mê tìm tòi người viết hy vọng đóng góp ý kiến nhỏ vào sự phát triển chung của nền khoa học pháp lý Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô, những người đi trước và những anh chị, độc giả quan tâm đến luận văn này

Cần Thơ, ngày…… tháng…… năm……

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Hoài Linh

Trang 3



Trang 4



Trang 5

BLDS: Bộ luật dân sự BTTH: Bồi thường thiệt hại TNBTTH: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại TNGTĐB: Tai nạn giao thông đường bộ

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU Trang

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

4 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trông các vụ tai nạn giao thông đường bộ 5

1.1.1 Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ 5

1.1.2 Khái niệm chung về nguồn nguy hiểm cao độ 6

1.1.3 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 9

1.1.4 Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 10

1.2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

14

1.2.1 Bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời 15

1.2.2 Tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận 17

1.2.3 Mức bồi thường phù hợp với thực tế 17

1.2.4 Nguyên tắc xem xét khả năng kinh tế của người gây thiệt hại 18

1.3 Khái quát lịch sử pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 19

1.3.1 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Lê, Nguyễn 20

1.3.2 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Pháp thuộc 21

1.3.3 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ thời kỳ 1945 đến nay 22

1.4 Vai trò của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 23

Trang 7

THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

2.1 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai

nạn giao thông đường bộ 26

2.1.1 Có thiệt hại xảy ra 26

2.1.2 Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật 30

2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra 32

2.1.4 Người gây thiệt hại phải có lỗi 35

2.2 Xác định thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 38

2.2.1 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 38

2.2.1.1 Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại 39

2.2.1.2 Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại 38

2.2.1.3 Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị 39

2.2.1.4 Tùy từng trường hợp, Tòa án quyết định buộc người xâm phạm đến sức khỏe của người khác phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu 42

2.2.2 Xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 42

2.2.2.1 Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết 45

2.2.2.2 Chi phí hợp lý cho việc mai táng 47

2.2.2.3 Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng 49

2.2.2.4 Bồi thường một khoản tiền bù đắp thiệt hại về tinh thần 51

2.2.3 Xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 52

2.2.3.1 Thiệt hại về phương tiện 52

2.2.3.2 Thiệt hại về tài sản 53

2.2.3.3 Thiệt hại là lợi ích gắn liền với việc khai thác, sử dụng tài sản

54

2.2.3.4 Những chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại 55

2.3 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 56

Trang 8

tiện 61

2.3.3 Cơ quan bảo hiểm 63

2.3.4 Xác định trách nhiệm của các chủ thể trong việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 65

2.3.4.1 Trách nhiệm của chủ sở hữu phương tiện trong việc bồi thường thiệt hại 65

2.3.4.2 Trách nhiệm bồi thường của người được chủ sở hữu phương tiền giao chiếm hữu, sử dụng phương tiện 66

2.3.4.3 Thực hiện việc bồi thường của cơ quan bảo hiểm 68

CHƯƠNG 3 THỰC TIỂN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VIỆC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 3.1 Thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 71

3.1.1 Địa bàn thường xảy ra tai nạn giao thông đường bộ 71

3.1.2 Phương tiện, nguồn gây tai nạn giao thông đường bộ 72

3.1.3 Chủ thể gây tai nạn giao thông đường bộ 73

3.1.4 Thời gian thường xảy ra tai nạn giao thông đường bộ 74

3.2 Vấn đề bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trong thời gian qua 74

3.2.1 Bồi thường theo quyết định của Tòa án 74

3.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 75

3.3 Các biện pháp bảo đảm thực hiện việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ 77

3.3.1 Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới 78

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Giao thông vận tải nói chung, giao thông vận tải đường bộ nói riêng đóng một

vị trí quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, bảo đảm an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia Bên cạnh những lợi ích to lớn do giao thông vận tải mang lại, trong quá trình sử dụng các phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ đã có không ít vụ tai nạn xảy ra gây những thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe của con người và của cải vật chất của xã hội Theo thống kê của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia trong năm 2011, cả nước xảy ra 44.548 vụ tai nạn giao thông làm 11.395 người chết và 48.734 người bị thương Trong đó đường bộ xảy ra nhiều TNGT nhất Nếu tính trung bình thì số người thiệt mạng mỗi ngày do tai nạn giao thông là hơn 31 người, vấn đề thiệt hại tài sản là vô cùng

to lớn Riêng TP.HCM năm 2010 có 785 người chết, giảm 74 người; Hà Nội có 735 người chết, giảm 89 người1 Cụ thể theo thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an tỉnh Trà Vinh (từ ngày 01/12/2010 đến 30/11/2011) toàn Tỉnh xảy ra 205 vụ tai nạn giao thông làm chết 101 người so với cùng kỳ năm rồi tăng 15 người chết, bị thương 278 người, tài sản bị thiệt hại trị giá khoảng 345,9 triệu đồng2 Đó là một trong những nhân tố gây ra sự thiếu ổn định, sự mất

an toàn trong trật tự chung của xã hội Các nước trên thế giới đều phải đối mặt với tình trạng tai nạn giao thông gia tăng Để làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ gây ra cần quan tâm đến việc xây dựng hoàn chỉnh các quy định về trật tự an toàn giao thông, các quy định về việc xử lý các hành vi vi phạm trong đó có các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giao thông vận tải chiếm một vị trí hết sức quan trọng, bởi vì đó là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng tạo động lực phát triển của toàn bộ nền kinh tế Hệ thống giao thông vận tải đường bộ ở nước ta từng bước được đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới; phương tiện vận tải tăng nhanh về số lượng, đa dạng về chủng loại, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế, an ninh quốc phòng và nhu cầu đi lại của nhân dân Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay do sự mất cân đối

1

Xem thong-01733333.html [Năm 2011, cả nước xảy ra 44.548 vụ tai nạn giao thông]

http://www.tinmoi.vn/nam-2011-ca-nuoc-xay-ra-44548-vu-tai-nan-giao-2 Báo cáo về việc tổng kết công tác Cảnh sát giao thông đường bộ năm 2011 của Công an Tỉnh Trà Vinh

Trang 10

giữa cầu, đường, phương tiện, người tham gia giao thông và các yếu tố xã hội, tình trạng tai nạn giao thông đã và đang diễn biến hết sức nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe, về của cải vật chất, gây tâm lý lo lắng cho người dân, gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội và đang là mối quan tâm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của mọi tầng lớp nhân dân

Thực tiễn công tác giải quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ nói riêng cho thấy còn có nhiều vướng mắc, thiếu thống nhất trong việc xác định thiệt hại, tính toán mức thiệt hại, nhất là trong việc tính toán thiệt hại về mặt tinh thần; xác định mối quan hệ nhân quả không thống nhất, chưa chính xác Đặc biệt, trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ chưa phân biệt rõ giữa việc phải chịu trách nhiệm hình

sự của người có lỗi gây ra tai nạn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả xảy ra; vấn đề xác định trách nhiệm, giới hạn bồi thường, việc chuyển giao quyền yêu cầu giữa cơ quan bảo hiểm với chủ xe, lái, phụ xe trong việc thực hiện bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Các vấn đề như biện pháp bảo đảm thi hành bồi thường thiệt hại, bồi thường trong trường hợp người thành niên gây tai nạn mà không có tài sản riêng để bồi thường, trách nhiệm bồi thường của người hành động trong tình thế cấp thiết chưa được quy định cụ thể, thế nhưng cũng chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành Trong phần lớn các vụ tai nạn giao thông đường bộ các bên tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại trong đó có nhiều trường hợp việc thỏa thuận không tuân theo hoặc tuân theo không đầy đủ nguyên tắc trình tự, cách tính toán thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại nên sau đó xảy ra nhiều khiếu kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết

Do đó việc nghiên cứu bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường

bộ có tác dụng góp phận bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, giúp người bị hại khắc phục được khó khăn

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi nghiên cứu:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB là một vấn đề phức tạp không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn Vì vậy luận văn chỉ giới hạn ở phạm vi nghiên cưú phần bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS và một số văn bản liên quan như Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm

2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao…, thông qua đó làm sáng tỏ

Trang 11

một số vấn cơ bản như: làm rõ khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ TNGTĐB, nguyên nhân điều kiện và tình hình của TNGTĐB, các nguyên tắc

cơ bản và cơ sở pháp lý của việc bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB

* Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB Từ đó, đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, cũng như đưa ra được những kiến nghị nhằm góp phần vào thực tiễn giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Phân tích làm rõ khái niệm, nguyên nhân, điều kiện và đặc điểm tình hình của các vụ TNGTĐB ở Việt Nam

Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB trong lịch sử lập pháp Việt Nam

Đề xuất các biện pháp phòng ngừa các vụ TNGTĐB cũng như các biện pháp bảo đảm việc bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn là trách nhiệm bồi thường thiệt hại và thực

tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật, về phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; những thành tựu của các khoa học: triết học, lôgíc học, luật dân sự, tâm lý học Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật dân sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật dân sự, các bản án, các số liệu của Ban an toàn giao thông quốc gia và một số địa phương

Phương pháp nghiên cứu: Đi từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát đến cụ

thể dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn gồm có 3 chương

Trang 12

Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn

giao thông đường bộ

Chương 2: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại và việc xác định

trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện việc bồi thường thiệt hại trong

các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Trang 13

1.1.1 Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ

Thuật ngữ “tai nạn” xuất hiện trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống con người Tùy từng trường hợp tai nạn xảy ra mà có các tên gọi cho mỗi một loại tai nạn đó

Ví dụ: nếu tai nạn xảy ra trong lao động, thì gọi là tai nạn lao động; nếu tai nạn

xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, thì gọi là tai nạn giao thông; nếu tai nạn xảy ra tại trường học, thì gọi là tai nạn học đường Tuy nhiên, có thể nhận thấy tai nạn xảy ra phổ biến nhất là trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất ra của cải vật chất Tai nạn là một hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội, gây tổn thất về tính mạng, sức khỏe, tài sản Tai nạn là một trong những nguyên nhân làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội, đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt xã hội mà con người luôn phải tìm cách chế ngự, làm giảm và loại trừ ra khỏi đời sống xã hội

Thực tiễn cuộc sống chứng minh rằng tai nạn do nhiều nguyên nhân khác nhau Những nguyên nhân này có thể là do hành vi của con người hoặc có thể do các tác nhân tự nhiên khác Từ những nguyên nhân này gây ra các tai nạn và tai nạn gây ra những hậu quả xấu ngoài mong muốn chủ quan của con người Thiệt hại xảy ra có thể là thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại về tinh thần của con người hay là thiệt hại về tài sản

Theo quy định tại Điều 604 BLDS 2005, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại

chỉ phát sinh trong trường hợp “người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến

tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Tuy nhiên, cần phân biệt là không phải

mọi trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác trong khi tham gia giao thông đều gọi là tai nạn giao thông Trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong quá trình tham gia giao thông được thực hiện do lỗi cố ý, thì không thể gọi là tai nạn giao thông mà tùy từng trường hợp có tên gọi tương ứng

Trang 14

Ví dụ 1: A có mâu thuẫn với B Biết B đang trên đường đi từ nơi làm việc về nhà,

A đã dùng xe ôtô phóng nhanh cố ý đâm vào B với mục đích giết B Hậu quả là B

bị chết Trong trường hợp này không thể gọi là tai nạn giao thông mà đây là một

vụ án giết người

Ví dụ 2: C biết D vừa mua một chiếc xe máy Dream II Do C ghét D vì hay khoe

khoang, nên đã có ý định phá hỏng chiếc xe máy Dream II của D Biết D đi làm thường hay dựng xe máy bên vệ đường giao thông, C đã lấy xe ôtô leo lên vệ đường đâm vào chiếc xe máy Dream II của D làm cho chiếc xe máy đó hư hỏng nặng Trong trường hợp này cũng không thể gọi là tai nạn giao thông mà đây là một vụ án cố ý làm hủy hoại tài sản

Từ sự phân tích trên người viết đưa ra khái niệm chung về tai nạn giao thông

đường bộ như sau: Tai nạn giao thông đường bộ làm phát sinh trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một sự kiện do hành vi của con người vi phạm một cách cố ý hoặc vô ý các quy định về an toàn giao thông đường bộ gây ra trong quá trình tham gia giao thông của con người, gây thiệt hại về tính mạng, về sức khỏe, về tinh thần của con người hoặc gây thiệt hại về tài sản

1.1.2 Khái niệm chung về nguồn nguy hiểm cao độ

Theo quy định tại BLDS 2005 thì nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm: “phương

tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy nông nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”3

Khái niệm cụ thể của những loại nguồn nguy hiểm trên được quy định trong nhiều văn bản khác nhau Nguồn nguy hiểm cao độ theo Điều 623 BLDS 2005 được hiểu là những vật đang tồn tại hiện hữu mà hoạt động vận hành, sản xuất, vận chuyển, bảo quản… chúng luôn chứa đựng khả năng gây thiệt hại cho môi trường và những người xung quanh Tính nguy hiểm của nó còn thể hiện ở chỗ con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt hại Theo tinh thần khoản 1 Điều 623 BLDS 2005, ngoài những loại nguồn nguy hiểm cao độ đã được liệt kê trong điều này, còn có những loại nguồn nguy hiểm cao độ khác theo quy định của pháp luật Trong thực tế có những sự vật chưa từng được pháp luật quy định là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng nếu có đầy đủ tính chất của nguồn nguy hiểm cao độ thì có được coi là nguồn nguy hiểm cao độ không, ví

3 Khoản 1 Điều 623 BLDS 2005

Trang 15

dụ: hoạt động gây thiệt hại của xe đạp điện, xe máy có dung tích xi lanh dưới 50 cm3 (khái niệm “phương tiện giao thông vận tải cơ giới” trong các văn bản hiện nay không quy định những phương tiện này là nguồn nguy hiểm cao độ), ong bò

vẽ, rắn độc, chó dại, trâu điên… Theo chúng tôi, khi xem xét sự vật gây thiệt hại

có phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay không, cần căn cứ vào tính chất của sự vật

đó như: mức độ nguy hiểm; khả năng kiểm soát của con người đối với sự vật; quy định của pháp luật liên quan đến việc trông giữ, sử dụng… Xe đạp điện hay xe máy có dung tích xi lanh dưới 50cm3 là những phương tiện giao thông có gắn động cơ, khi tham gia giao thông có thể đạt vận tốc lớn, có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản người khác, vì vậy cần được xẹm là nguồn nguy hiểm cao độ Đối với trường hợp chó dại, trâu điên gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người, mặc dù rất nguy hiểm nhưng đây là những động vật đã được thuần hóa, không còn mang tính chất hoang dã, không thể coi là

“thú dữ” Mặt khác, BLDS đã có riêng điều luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra4 áp dụng đối với chủ sở hữu, người quản lý súc vật nên không thể áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được Trong khi đó, ong bò vẽ, rắn độc mặc dù không phải là “thú dữ” (theo các định nghĩa trong từ điển) nhưng phải coi là nguồn nguy hiểm cao độ

vì đây là loại động vật còn mang tính hoang dã, chưa được thuần hóa và có tính chất nguy hiểm lớn Theo chúng tôi, việc xác định một vật có được coi là nguồn nguy hiểm cao độ hay không sẽ phải căn cứ vào các quy định của pháp luật và tính chất của sự vật đó Nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ bao gồm những sự vật được liệt kê tại Điều 623 BLDS 2005 mà còn bao gồm những sự vật khác mà hoạt động của chúng luôn chứa đựng khả năng gây thiệt hại cho môi trường xung quanh, con người không thể hoàn toàn kiểm soát được nguy cơ gây thiệt hại Đối với nguồn nguy hiểm cao độ, pháp luật thường có những quy định nghiêm ngặt trong việc trông giữ, vận hành, sử dụng, vận chuyển… chúng để tránh gây thiệt hại Vì vậy, xác định nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ căn cứ vào khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ tại Điều 623 BLDS 2005 mà còn phải căn cứ vào các văn bản, các quy định khác có liên quan5

4 Xem Điều 625 BLDS 2005

5 Xem trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Ts Vũ Thị Hải Yến, Khoa pháp luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội

Trang 16

Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS 2005, phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ Theo tinh thần của quy định này phương tiện giao thông vận tải cơ giới bao gồm các phương tiện cơ giới hoạt động trên đường

bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không dùng vào hoạt động giao thông đi lại của con người và vận chuyển hàng hóa

Theo chúng tôi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ

gây ra phát sinh khi thoả mãn các điều kiện sau đây 6 :

* Có thiệt hại xảy ra: Cũng giống như trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói

chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong những trường hợp riêng biệt nói riêng, thiệt hại được coi là điều kiện tiền đề, điều kiện cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nếu không có thiệt hại thì không bao giờ phát sinh trách nhiệm bồi thường

* Thiệt hại phải do chính nguồn nguy hiểm cao độ gây ra: Điều 623 liệt kê

các loại nguồn nguy hiểm cao độ và điều luật này xác định rất rõ ràng: “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” Bản thân nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm ẩn trong nó “nguy cơ” gây ra thiệt hại và “nguy cơ” đó thể xảy ra trên thực tế bất cứ lúc nào, ngoài tầm kiểm soát của con người Xuất phát từ lý do này mà pháp luật qui định: “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật” Chúng ta cần phân biệt thiệt hại “do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” với thiệt hại “do hành vi trái pháp luật của con người gây ra có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ” Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là thiệt hại do “tự thân” nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại (ví dụ: xe ô tô đang vận hành thì bị nổ lốp, mất phanh…gây thiệt hại, một người điều khiển xe máy trên đường nhưng tay ga bị kẹt nên không làm chủ được tốc độ gây thiệt hại), còn thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ là thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người khi gây thiệt hại nhưng liên quan đến nguồn

nguy hiểm cao độ, ví dụ: lái xe phóng nhanh vượt ẩu gây tai nạn, say rượu bia điều

khiển xe gây tai nạn…Trên thực tế, đã có sự nhầm lẫn trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra khi người áp dụng không phân biệt được “thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” và thiệt hại

6 Xem bàn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Ts Lê Đình Nghị, Giảng viên Khoa luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội

Trang 17

“liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ” Nhiều trường hợp khi áp dụng pháp luật, người áp dụng cứ thấy có hành vi trái pháp luật của con người gây thiệt hại, hành vi gây thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ lại được xác định

là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

* Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại với sự “tự thân” gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ Như đã phân tích ở trên, thiệt hại xảy ra thì phát sinh

trách nhiệm bồi thường, tuy nhiên để có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì thiệt hại xảy ra phải trực tiếp do bản thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại Nếu thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người gây ra mà có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ thì không áp dụng Điều 623 BLDS 2005 để giải quyết mà đây là trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thông thường do hành vi trái pháp luật của con người gây ra

Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ cần thoả mãn các điều kiện trên đây Điều kiện về lỗi không có ý nghĩa đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra bởi đây là loại “trách nhiệm pháp lý nâng cao”, thậm chí kể cả khi chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không có lỗi vẫn phải bồi thường trừ trường hợp do pháp luật qui định (khoản 3 Điều 623 BLDS 2005)

1.1.3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định:

“Các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật Vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ” (Điều 22); “Công dân

có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành Nhà nước bảo vệ quyền

sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (Điều 58); “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, danh dự và nhân phẩm” (Điều 71)

Các quyền nêu trên đồng thời là khách thể bảo vệ của nhiều ngành luật khác nhau Mọi hành vi trái pháp luật, đều bị xử lý theo quy định của pháp luật Nhà nước quy định những hình thức trách nhiệm pháp lý buộc những người có hành vi

vi phạm pháp luật khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của họ gây ra và phải BTTH (nếu có)

Nhiệm vụ của Luật dân sự là bảo vệ các quyền và lợi ích nói trên dưới góc độ

đặc thù của ngành luật này Điều 1 BLDS Việt Nam quy định: “Bộ luật dân sự có

Trang 18

trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân

sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy sự phát triển của xã hội”

Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đối với người khác làm phát sinh các quan hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại Điều 604 BLDS

2005 Việt Nam quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính

mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường” Như vậy, theo quy định trên, người có

hành vi gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân

sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được phát sinh khi người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại

1.1.4 Phân biệt trách nhiệm bồi thường trong hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong các hình thức của trách nhiệm dân sự, thì có thể kết luận rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại (bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng) là hình thức chủ yếu nhất Tuy cùng là trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có sự khác nhau cơ bản về bản chất cũng như nội dung Việc phân biệt hai dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như việc xác định mối quan hệ giữa chúng là hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng7

7 Xem khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Th.s Nguyễn Minh Oanh, Khoa Pháp luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội

Trang 19

Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ xác định cơ sở giải quyết bồi thường theo hợp đồng và ngoài hợp đồng sẽ rất khác nhau Chính vì vậy, xác định được rõ hai loại trách nhiệm này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật dân sự một cách đúng đắn

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra

Như vậy, cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao gồm:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng phải dựa trên

cơ sở một hợp đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi thường và người gây ra thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng

Nếu giữa hai bên không tồn tại một hợp đồng nào thì nếu có thiệt hại xảy

ra bao giờ cũng sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và bên gây thiệt hại chỉ có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Chính vì vậy, bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng và

vi phạm đề nghị giao kết hợp đồng là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi lẽ hợp đồng chưa được giao kết giữa các bên hoặc được coi là chưa hề tồn tại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành

vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng gây ra Nếu giữa các bên tồn tại quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không phải là do vi phạm hợp đồng thì trách nhiệm phát sinh cũng

không phải là trách nhiệm theo hợp đồng Ví dụ: A thuê B đến sơn lại nhà cho

mình Trong quá trình làm việc, B đã ăn trộm chiếc điện thoại của A và đã bán cho người khác Trong trường hợp này không thể tìm lại chiếc điện thoại thì A chỉ có thể khởi kiện B yêu cầu BTTH ngoài hợp đồng

Chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan hệ hợp đồng đó Bồi thường thiệt hại theo hợp đồng được áp dụng khi hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng Hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia trong hợp đồng đó Do đó, nếu người thứ ba có lỗi để gây ra thiệt hại cho một bên trong hợp đồng hoặc một bên trong hợp đồng gây ra thiệt hại cho người thứ ba thì trách nhiệm dân sự phát sinh chỉ có thể là trách nhiệm ngoài hợp đồng Trường hợp này

Trang 20

không áp dụng đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba bởi lẽ đây là trường hợp ngoại lệ vì người thứ ba cũng là người có quyền lợi liên quan và được đề cập đến trong hợp đồng

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra

Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác

So với trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có một số khác biệt như sau8:

* Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định Khác với các loại trách nhiệm pháp lý khác thì trách nhiệm dân sự có thể phát sinh trên cơ sở sự thoả thuận của các bên Tuy nhiên, trách nhiệm phát sinh trên cơ sở thoả thuận của các bên chỉ có thể là trách nhiệm theo hợp đồng ví dụ như buộc phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, phạt vi phạm và/ hoặc bồi thường thiệt hại

* Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định Các điều kiện đó là: Cóthiệt hại xảy ra, có hành vi trái phát luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi Tuy nhiên, bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, do cơ sở phát sinh trách nhiệm là do các bên bên thoả thuận nên các bên cũng có thể thoả thuận đặt ra các điều kiện phát sinh có thể không bao gồm đầy đủ những điều kiện trên như bên vi phạm hợp đồng không có lỗi cũng vẫn phải bồi thường thiệt hại…

8 Xem khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Th.s Nguyễn Minh Oanh, Khoa Pháp luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội

Trang 21

* Về chủ thể chịu trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật thì còn áp dụng đối với người khác như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân, trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề… Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ có thể áp dụng đối với các bên tham gia hợp đồng mà không thể áp dụng đối với người thứ ba Hay nói các khác, các chủ thể trong hợp đồng không thể thoả thuận bất kỳ ai không tham gia hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không được sự đồng ý của họ

* Về mức bồi thường: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc

là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra Thiệt hại chỉ có thể được giảm trong một trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ Còn đối với bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì các bên có thoả thoả thuận ngay trong hợp đồng về mức bồi thường bằng, thấp hơn hoặc cao hơn mức thiệt hại xảy

ra và khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì mức bồi thường sẽ áp dụng mức do các bên thoả thuận

Việc phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc biệt có ý nghĩa trong việc thực hiện nghĩa

vụ chứng minh của đương sự Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng nguyên đơn chỉ cần chứng minh thiệt hại là do người gây thiệt hại đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng gây ra còn trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bên bị thiệt hại ngoài việc chứng minh thiệt hại còn phải chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Một vấn đề được đặt ra là trong trường hợp một bên có nghĩa vụ theo hợp đồng nhưng nghĩa vụ đó cũng được pháp luật quy định thì khi vi phạm những nghĩa vụ đó sẽ phát sinh trách nhiệm theo hợp đồng hay ngoài hợp đồng và người

bị thiệt hại có thể lựa chọn một trong hai loại trách nhiệm để kiện yêu cầu bồi thường hay không? Ví dụ bác sỹ chữa bệnh cho bệnh nhân rồi lại vi phạm quy định về mổ xẻ hoặc bảo mật thông tin? Hành khách đi trên phương tiện vận chuyển bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ? Chúng ta nhận thấy rằng, trong trường hợp này rõ ràng đã có căn cứ để làm phát sinh trách nhiệm BTTH theo hợp đồng

vì bên gây thiệt hại đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng và như vậy thì

Trang 22

bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu BTTH theo hợp đồng trên cơ sở thoả thuận của các bên Theo tác giả, trong trường hợp các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

đã cụ thể hoá những nghĩa vụ do pháp luật quy định vào trong hợp đồng và thoả thuận đó có thể khác pháp luật thì pháp luật vẫn sẽ tôn trọng sự thoả thuận của họ nếu thoả thuận đó là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Chính vì vậy khi phát sinh trách nhiệm thì các bên cũng chỉ có thể áp dụng một phương thức là kiện yêu cầu BTTH theo hợp đồng chứ không thể tự do lựa chọn phương thức có lợi nhất cho mình Ví dụ hành khách bị thiệt hại về tính mạng mà theo hợp đồng vận chuyển hành khách các bên có thoả thuận mức bồi thường thấp hơn mức bồi thường do pháp luật quy định về BTTH ngoài hợp đồng trong trường hợp bị xâm phạm về tính mạng thì bên bị thiệt hại cũng chỉ có thể yêu cầu bồi thường theo hợp đồng mà thôi

Như vậy dựa theo sự phân biệt với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi

phạm hợp đồng có thể hiểu: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là

trách nhiệm phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

1.2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường

bộ

Nguyên tắc hiểu theo nghĩa chung nhất là các yêu cầu, chuẩn mực cụ thể buộc các cơ quan tiến hành tố tụng, những người có quyền, lợi ích liên quan phải tuân theo Về khía cạnh pháp lý, nguyên tắc là các tư tưởng pháp lý chỉ đạo có ý nghĩa bao trùm, xuyên suốt trong quá trình thực hiện một hoạt động pháp lý Nguyên tắc thể hiện tập trung những yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước, của xã hội nói chung, được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB là một vấn đề phức tạp Yêu cầu đặt ra là giải quyết đúng đắn các yêu cầu bồi thường, bảo vệ kịp thời quyền lợi của bên thiệt hại, bảo đảm trật tự công bằng xã hội nói chung Trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB cần tuân thủ các nguyên tắc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Điều 605 BLDS Cụ thể là:

“Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực

Trang 23

hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”

Các nguyên tắc nêu trên thể hiện sự công bằng, hợp lý của pháp luật dân sự Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc pháp nhân khi quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm Đồng thời chúng cũng thể hiện sự công bằng từ phía người gây thiệt hại; đó là họ chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường tương ứng với mức độ lỗi, trong trường hợp do lỗi vô ý mà mức bồi thường quá lớn, ảnh hưởng đến khả năng kinh tế trước mắt cũng như lâu dài, thì

có thể được giảm mức bồi thường Tôn trọng và tuân thủ triệt để các nguyên tắc bồi thường sẽ bảo đảm việc giải quyết đúng đắn, kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân của toàn xã hội và có ý nghĩa giáo dục ý thức tuân thủ, tôn trọng pháp luật góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội

1.2.1 Bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời

Hầu hết pháp luật dân sự các nước bằng hình thức này hay hình thức khác đều quy định nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị hại khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm gây thiệt hại

Khoản 1 Điều 610 BLDS ghi nhận nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau: “Thiệt

hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”

Đây là nguyên tắc đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xuyên suốt trong

cả quá trình xem xét, giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm mục đích khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, bảo hộ quyền của mỗi công dân, bảo đảm tính công bằng giữa các bên nói riêng và đối với toàn xã hội Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác phải có nghĩa vụ bồi thường sự thiệt hại đó nhằm bù đắp tổn thất về tính mạng, sức khỏe, khắc phục những thiệt hại về mặt tài sản giúp người bị thiệt hại và gia đình họ khắc phục hậu quả xấu về tính mạng, sức khỏe, tài sản, khôi phục lại các quyền và lợi ích bị xâm phạm, khôi phục lại tình trạng ban đầu - tình trạng trước khi xảy ra thiệt hại Thiệt

Trang 24

hại đó có thể là thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe và có thể là thiệt hại về mặt tinh thần Thiệt hại được tính giá trị bằng tiền gồm tài sản bị hủy hoại, hư hỏng; tiền chi phí thuốc men, đi lại; mai táng phí, tiền “bù đắp tổn thất về mặt tinh thần” Việc ấn định mức bồi thường thiệt hại nói chung là theo nguyên tắc gây thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu tức là phải bồi thường toàn bộ thiệt hại Thiệt hại sẽ không được chấp nhận nếu những chi phí đó là không phù hợp với thực tế và tính toán thiệt hại theo sự suy diễn chủ quan

Về nguyên tắc, việc bồi thường phải là sự tái lập nguyên trạng tài sản của người bị thiệt hại như không có thiệt hại nào xảy đến Nhưng mức độ lỗi sẽ là cơ

sở của sự tăng, giảm mức bồi thường thiệt hại, do vậy người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại trong các trường hợp:

* Khi người gây thiệt hại có hành vi cố ý Đây là trường hợp gây thiệt hại

có chủ ý gây ra thiệt hại, tức là đã chủ động thực hiện hành vi gây thiệt hại và mong muốn thiệt hại đó xảy ra Về nguyên tắc người có hành vi gây thiệt hại phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hành vi đó Không đặt ra trường hợp miễn giảm mức bồi thường thiệt hại với lỗi cố ý Do đó, người gây thiệt hại với lỗi cố ý, khi mà mức độ thiệt hại có thể lớn hơn khả năng kinh tế của người đó, thì người

đó cũng không được giảm mức bồi thường (trừ trường hợp do các bên thỏa thuận)

* Khi người gây thiệt hại có lỗi vô ý mà thiệt hại không quá lớn so với khả

năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ

Việc bồi thường toàn bộ có ý nghĩa khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi thiệt hại xảy ra, nên bồi thường thiệt hại phải kịp thời, nhất là trong các trường hợp thiệt hại về tính mạng, sức khỏe Tính kịp thời ở đây là sự xác định về mặt thời gian kể từ khi gây ra thiệt hại Xác định thế nào là “kịp thời” là hết sức cần thiết “Kịp thời” có thể hiểu là một cách đúng lúc, không chậm trễ

Việc quy định nguyên tắc bồi thường kịp thời để nhằm khắc phục thiệt hại một cách nhanh chóng, ngăn chặn sự dây dưa, không chịu thực hiện nghĩa vụ của người gây thiệt hại Đồng thời cũng tránh khuynh hướng lợi dụng nguyên tắc này

để thương mại hóa việc bồi thường

Nguyên tắc bồi thường toàn bộ, kịp thời là nguyên tắc chủ đạo, đáp ứng đúng mục đích và yêu cầu bảo đảm sự công bằng của việc bồi thường thiệt hại Áp dụng nguyên tắc này, cần tính đến các yếu tố có ảnh hưởng đến việc bồi thường Quy định thế nào là tính kịp thời, cơ sở của việc xác định tính kịp thời hết sức cần thiết

Trang 25

Cần phải có văn bản quy định, giải thích nguyên tắc này một cách cụ thể để có thể hiểu được điều luật và áp dụng thống nhất Tuy nhiên, theo người viết tính kịp thời thể hiện ở chỗ gây ra thiệt hại phải bồi thường ngay hoặc là khi có điều kiện bồi thường thì phải thực hiện việc bồi thường ngay

1.2.2 Tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận

Đặc trưng cơ bản trong giao lưu dân sự là trên cơ sở tự do ý chí Các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự có quyền tự do cam kết, thỏa thuận Mọi thỏa thuận không trái pháp luật đều được tôn trọng “Bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự” cũng là nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Vì vậy, trong trách

nhiệm bồi thường thiệt hại: “Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình

thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”9 Nguyên tắc này hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện và sự thỏa thuận của hai bên, đây là một trong những quyền cơ bản của các đương sự trong quan hệ dân sự Hiện nay trong Nghị quyết 03/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006, quy định về mức bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, là căn cứ giúp cho Tòa án nhân dân quyết định mức bồi thường thiệt hại Theo quy định tại BLDS thì sự thỏa thuận của các bên đương sự

về mức bồi thường thiệt hại được pháp luật thừa nhận có giá trị pháp lý Các bên đương sự hoàn toàn được quyền thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại

1.2.3 Mức bồi thường phù hợp với thực tế

Theo khoản 3 Điều 605 BLDS 2005 thì “Khi mức bồi thường không còn phù

hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”

Theo quy định này cả hai bên gây thiệt hại và bị thiệt hại có quyền yêu cần thay đổi mức bồi thường cho phù hợp với thực tế nhằm bảo đảm sự công bằng, hợp lý cho cả hai phía trong quá trình thực hiện phán quyết của Tòa án về trách nhiệm bồi thường thiệt hại Sự không phù hợp có thể là không phù hợp về thời hạn bồi thường, về khả năng bồi thường, về mức độ bồi thường do tác động của giá cả thị trường

Yêu cầu thay đổi mức bồi thường đặt ra trong quá trình thực hiện quyết định của Tòa án về người phải bồi thường, người được bồi thường, mức bồi thường, thời hạn thực hiện khi có những yếu tố khách quan tác động đến làm thay đổi

9 Xem khoản 1 Điều 605 BLDS 2005

Trang 26

các cơ sở của trách nhiệm bồi thường không còn đáp ứng được mục đích của trách nhiệm bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu, làm ảnh hưởng đến khả năng bồi thường, khiến cho việc bồi thường cần có sự thay đổi cho phù hợp để bảo đảm quyền lợi cho cả hai phía thì Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác xem xét để ấn định lại mức bồi thường cho phù hợp theo yêu cầu của bên gây thiệt hại hoặc bên

bị thiệt hại

Trên thực tế người bị thiệt hại thường yêu cầu tăng mức bồi thường và thời hạn bồi thường, ngược lại người gây thiệt hại yêu cầu giảm mức bồi thường và thời hạn bồi thường Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi mức bồi thường khi nó không còn phù hợp với thực tế

* Yêu cầu tăng mức bồi thường là do người bị thiệt hại yêu cầu trong các

trường hợp: khi thiệt hại xảy ra lớn hơn mức bồi thường ban đầu; mức bồi thường

thiệt hại không còn phù hợp với thực tế khách quan; khả năng kinh tế của người bị thiệt hại và người gây thiệt hại có sự thay đổi Nếu trước đây khi xác định mức bồi thường thiệt hại do khả năng kinh tế của người gây thiệt hại gặp khó khăn và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của người đó Tòa án đã giảm mức bồi thường, nhưng sau này khả năng kinh tế của người gây thiệt hại tăng lên thì người

bị thiệt hại có quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường

* Về yêu cầu giảm mức bồi thường: khi ấn định mức bồi thường thiệt hại phù

hợp với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại, nhưng sau đó khả năng kinh tế của họ gặp khó khăn thì người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án giảm mức bồi thường thiệt hại Trong trường hợp này người bị thiệt hại cũng có thể yêu cầu Tòa án giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại Nếu bên gây thiệt hại đã được giảm mức bồi thường mà họ vẫn không có khả năng để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì vẫn có thể yêu cầu giảm mức bồi thường, nhưng chỉ ở một mức độ nhất định để bảo đảm lợi ích của người bị thiệt hại

1.2.4 Nguyên tắc xem xét khả năng kinh tế của người gây thiệt hại

Ngoài yếu tố lỗi, quy định nguyên tắc giảm mức bồi thường thệt hại căn cứ vào khả năng kinh tế của người gây thiệt hại phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phù hợp với truyền thống tương thân tương ái của dân tộc và đây là nét đặc thù của pháp luật Việt Nam nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp luật dân sự nói riêng

Trang 27

Cơ sở để giảm mức bồi thường thiệt hại được đặt ra khi hội tụ đầy đủ hai điều kiện: Lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại

Khả năng kinh tế là một khái niệm tương đối trừu tượng Khả năng kinh tế của người gây thiệt là một yếu tố quan trọng để quyết định việc giảm hay không giảm mức bồi thường thiệt hại Xác định khả năng kinh tế là một vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có các tiêu chí để đánh giá Xác định chính xác khả năng kinh tế sẽ bảo vệ

có hiệu quả quyền lợi cho các đương sự bảo đảm tính công bằng xã hội, tránh sự gian lận hoặc lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm bồi thường

Mục đích của việc bồi thường thiệt hại là nhằm phục hồi lại những lợi ích đã mất, đã bị thiệt hại cho người bị thiệt hại, vậy làm sao để những lợi ích đó được khôi phục về mặt thực tế Do đó việc quy định nguyên tắc giảm mức bồi thường thiệt hại hoàn toàn phù hợp với mục đích của trách nhiệm bồi thường Bởi vì, trong trách nhiệm dân sự căn cứ vào cơ sở thực tế, căn cứ vào thiệt hại xảy ra và người gây thiệt hại có khả năng bồi thường thiệt hại đó hay không Điều đó nhằm bảo đảm cho người gây thiệt hại thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, tính hiện thực việc bồi thường được đảm bảo

1.3 Khái quát lịch sử pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Để có được những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoàn chỉnh như ngày nay thì chúng ta phải tìm hiểu và đúc kết kinh nghiệm từ các thời đại trước đó trong lịch sử pháp luật Việt Nam, thực ra ở Việt Nam không có một công trình nghiên cứu nào về việc tìm ra các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhưng trải qua nhiều giai đoạn trong lịch sử qua các triều đại có thể thấy được sự phát triển các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Thông qua nghiên cứu được viết từ quyển “Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư Pháp (Nxb Chính Trị quốc gia Hà Nội, 2008)”, có thể thấy được rõ ràng hơn về cách xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với một thiệt hại xảy ra Khi xét đến một thiệt hại xảy ra, các nhà luật học thời này cũng đặc ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải có thiệt hại, có lỗi của người gây ra thiệt hại cũng như hành vi đó là hành vi trái pháp luật hay xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại Tuy nhiên việc xác định đó đôi khi là bất hợp

Trang 28

lý nhưng qua các điều luật ta có thể thấy được đối với thiệt hại ngoài hợp đồng được bồi thường phải chứa đủ các yếu tố đó

Pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến đến nay tình hình pháp luật có nhiều nổi bật, một trong số đó có đề cặp đến việc bồi thường thiệt hại Tuy chế định này đôi khi có những quy định chưa hợp lý nhưng đó cũng là một điểm mốc rất quan trọng, là nền tảng để có một trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng nó đã điều chỉnh được một mối quan hệ dân sự phát sinh, đáp ứng được nhiều vướn mắt trong lòng người dân Trong các giai đoạn lịch sử phát triển của căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại người viết chia ra làm hai mốc lớn là pháp luật dưới thời Lê, Nguyễn và pháp luật dưới thời Pháp thuộc Vì trong giai đoạn này có rất nhiều dấu ấn lịch sử nổi bật, đặc biệt là tình hình pháp luật Nghĩa vụ bồi thường cho những thiệt hại là tương đối quan trọng vì vậy căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là điều mà chúng ta phải nhìn nhận và tìm hiểu trước hết

1.3.1 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Lê, Nguyễn

Thông qua nghiên cứu của quyển “Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam

từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư Pháp (Nxb Chính Trị quốc gia Hà Nội, 2008)”, đã phân tích rất rõ về các căn cứ để quy ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như đã đề cập trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có thiệt hại, hành vi trái pháp luật, lỗi của người gây ra thiệt hại hay mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật

Trong các thời kỳ trước10, tình hình về pháp luật có phát triển nhưng các nhà ghi chép luật của Việt Nam chưa tìm thấy những nguồn tài liệu Cho nên chỉ có thể đề cặp đến những giai đoạn sau, mà ở các giai đoạn này thì tình hình pháp luật

có phần phát triển rõ rang và phong phú hơn Điển hình như trong Thời Lê vào năm 1483 ban hành ra Bộ Quốc triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức), dưới thời Nguyễn có ban hành ra Bộ Hoàng Việt luật lệ năm 1812 Khi nghiên cứu hai bộ luật này thì giữa chúng có những nét tương đồng vê quy ra căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung Dưới hai thời kỳ này chế định về

10 Nhà nước Văn Lang thời An Dương Vương, thế kỷ VII TCN; Nhà nước và pháp luật Việt giai đoạn đấu tranh chống Bắc thuộc từ 179 TCN-905 (Chính quyền đô hộ từ 179 TCN-39; chính quyền hai

Nam-Bà Trưng từ 40-43; Nhà nước Vạn Xuân từ 544-602), tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam-Đại học Luật Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1997

Trang 29

hợp đồng là một điều gì đó rất xa lạ, có thể có trong quan hệ mua bán theo cách nghĩ nôm na như bây giờ là đặt cọc, nếu vi phạm có thể mất hoặc bồi thường tiền cọc… Như vậy thuật ngữ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nói về thuật ngữ trong luật ngày nay, có thể nói những thiệt hại xảy ra vào các giai đoạn này thiệt hại ngoài hợp đồng hiểu theo luật hiện đại của Việt Nam Nhưng suy cho cùng thì điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được chia

ra làm bốn điều kiện cơ bản là có thiệt hại xảy ra; có hành vi vi phạm pháp luật; có lổi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại

1.3.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Pháp thuộc

Năm 1858, là năm đánh dấu sự sụp đổ của nhà Nguyễn, đất nước ta chính thức rơi vào tay giặc Pháp Trong giai đoạn này thực dân Pháp chia nước ta ra làm ba

kỳ để cai trị: Bắc Kỳ và Nam kỳ Do tình hình nước ta lúc bấy giờ lệ thuộc vào thực dân Pháp và thực dân Pháp thực thi pháp luật để cai trị nước ta bằng cách ban hành ra Bộ dân luật Bắc Kỳ ngày 30/3/1931 và được áp dụng trên toàn miền Bắc

Bộ luật này chủ yếu dựa trên hai bộ luật dân sự Napoleon của Pháp (1804) và Bộ luật dân sự Thụy Sỹ (1912) Theo nghiên cứu của các nhà luật học thì Bộ luật dân

sự Bắc Kỳ bước đầu đã phản ánh được các tục lệ truyền thống của người Việt Nam bên cạnh đó có những quy định khác so với những nước phương Tây và Trung Quốc Đối với các tỉnh thuộc Trung Kỳ, Pháp tạo đà cho sự ra đời của Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ (1939), do Ban tư pháp Huế soạn thảo từ ngày 13/6/1936 đến tháng 9/1939 mới hòan thành Về bản chất thì Bộ luật này đã sao chép chủ yếu

từ Bộ dân luật Bắc Kỳ nhưng có sửa đổi và bổ sung một số điều11 Do vào giai đoạn này mọi mặt của toàn thế giới đều có đà phát triển mạnh mẽ qua đó thì luật pháp cũng phải chuyển mình để hòa hợp cùng nền văn minh đó Hai Bộ luật mà Pháp ban hành tại nước ta vào thời điểm đó cũng có được sự tiến bộ hơn luật ở thời đại phong kiến nói chung, như đã có sự tách biệt giữa trách nhiệm dân sự và hình sự, xác định yếu tố lỗi có phần rõ hơn hay yếu tố lỗi phù hợp với thực tế…

Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì luật thời kỳ này cũng căn cứ chủ yếu vào bốn điều kiện cơ bản để quy ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không Bao gồm: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp

11 Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý-Bộ Tư Pháp, Nxb Chính Trị quốc gia Hà Nội, 2008, trang 23-24

Trang 30

luật, có lỗi trong việc gây ra thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra

1.3.3 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ năm 1945 đến nay

Khi mà đất nước ta hoàn toàn được độc lập, Đảng và nhà nước ta bước đầu xây dựng lại đất nước sau khi cuộc chiến kết thúc, bước sang 1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước ra được ban hành Nó như là một lời khẳng định với thế giới rằng ta

đã làm chủ đất nước và đang trong quá trình xây dựng lại đất nước Bước sang năm 1959 thì bản Hiến pháp thứ hai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Đến lúc này đã đề cặp đến vấn đề bồi thường thiệt hại của nhà nước ta trong lĩnh vực trưng mua, trưng dụng và trưng thu vì lợi ích chung của cộng đồng (Điều

20 Hiến pháp 1959)

Vào năm 1972 thấy được sự thiếu soát trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành ra Thông tư hướng dẫn việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Thông tư số 173/UBTP ngày 23/02/1972 Các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó không có đề cặp đến vấn đề bồi thường cho những tổn thất về tinh thần như danh dự, nhân phẩm, uy tín Phần lớn chỉ chú trọng đến thiệt hại về vật chất và xem tính mạng, sức khỏe con người là phần không thể tính toán cụ thể bằng tiền được Bồi thường thiệt hại chỉ nhằm bù đắp những tổn thất về thiệt hại, tạo điều kiện cho người bị thiệt hại và gia đình sớm khắc phục được những khó khăn Những căn cứ chủ yếu để quy ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là các yếu tố như: thiệt hại, hành

vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật, lỗi của người gây thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ra thiệt hại và thiệt hại

Đến khi ban hành ra Hiến pháp năm 1980, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng lại được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình hiện tại lúc bấy giờ Ngày 05/4/1983 Tòa án nhân dân Tối cao ban hành ra thông tư số 03/TAND về hướng dẫn bồi thường thiệt hại do tai nạn ô tô Về căn cứ chủ yếu làm phát sinh ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là các yếu tố như: thiệt hại, hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật, lỗi của người gây thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ra thiệt hại và thiệt hại

Bước sang Hiến pháp 1992, những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quan tâm mạnh mẽ với việc ngày càng hoàn thiện chế định này trong

Trang 31

luật, những giá trị tinh thần được nâng cao, bên cạnh việc bồi thường thiệt hại về vật chất thì phải bồi thường thiệt hại về tinh thần Đến năm 1995, trên tinh thần tập hợp nhiều văn bản liên quan đến trách nhiệm dân sự nói chung và trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để tạo ra được Bộ luật dân sự đầu tiên của nước ta vào năm 1995, quy định chung về lĩnh vực dân sự Theo quy định của Bộ luật dân sự 1995, căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chủ yếu dựa vào yếu tố thiệt hại, hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại, lỗi của người gây ra thiệt hại và mối liên hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại Những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của BLDS 1995 vẫn được áp dụng cho BLDS đang hiện hành (BLDS 2005) Năm

2006 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra nghị quyết số HĐTP ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

03/2006/NQ-1.4 Vai trò của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ

Chế định về bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất quan trọng trong đời sống hiện nay Có những phát sinh mà hệ quả của nó dẫn đến việc gây thiệt hại cho người khác, để những thiệt hại đó sớm được khắc phục thì phải có ai nhận phần trách nhiệm đó Vì vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã xuất hiện từ rất sớm và không thể thiếu đối với con người Việt Nam nhất là trong giai đoạn hiện nay (giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa), giai đoạn mà chúng ta đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ và sự phát sinh những hệ quả ngoài ý muốn là không thể nào tránh khỏi

Khi chúng ta nhìn ra bên ngoài, thì một số nước cũng có những quan điểm tương đồng với luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

và xem đây là một chế định quan trọng, tạo ra sự công bằng trong quan hệ dân sự Tuy giữa Việt Nam và các nước có quy định khác nhau về hình thức, cách xác định thiệt hại nhưng đều hướng đến việc bảo vệ lợi ích của người bị gây thiệt hại hay người gây ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi của mình Trong BLDS của Pháp có quy định, bất cứ một hành vi nào mà nó có thể là hành vi cẩu thả hoặc không thận trọng mà gây thiệt hại cho người khác thì phải có trách nhiệm bồi thường hay trong BLDS Thái Lan có nói, một người nào đó cố tình hay vô tình mà làm tổn thương người khác một cách trái pháp luật đến đời

Trang 32

sống, thân thể, sức khỏe, tài sản thì bị coi là hành vi sai trái phải có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó Luật Việt Nam coi một hành vi là cố ý hay vô ý mà xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khac mà dẫn đến thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường (Điều 604 BLDS 2005) Nhìn chung pháp luật Việt Nam coi trọng và xem bồi thường thiệt hại rất quan trọng đối với đời sống dân sự Việt Nam

Trong cuộc sống hàng ngày đôi khi chúng ta không muốn điều đó xảy ra nhưng nó vẫn phải xảy ra và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những vấn đề diễn ra thường xuyên Pháp luật được đặc ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm sớm ổn định tình hình, tạo điều kiện cho người bị thiệt hại giảm bớt được gắng nặng đó và buộc người có hành vi xâm phạm phải có trách nhiệm tiếp ứng người bị thiệt hại ổn định lại tình hình ban đầu Mục đích chính của trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quan điểm của người viết cho rằng

đó là một biện pháp nhằm khắc phục hậu quả, về bản chất thì có thể xem đây là một món nợ mà người trả nợ không bao giờ muốn trả nhưng vì một hành vi đã trái theo quy định của pháp luật và đã gây thiệt hại cho người khác thì phải có nghĩa

vụ đối với thiệt hại và tổn thất đó

Trách nhiệm bồi thường nói chung và riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là rất quan trọng vì nó nói lên một điều rằng khi có một quan

hệ xã hội phát sinh mà hệ quả là có thiệt hại xảy ra thì phải có ai đó chịu trách nhiệm về nó trừ những trường hợp luật quy định không phải bồi thường thiệt hại Như đã phân tích bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường

bộ là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có hai chức năng chính12:

Thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có quyền lợi bị xâm hại

Thứ hai, nhằm răn đe, phòng ngừa đối với những người có hành vi gây thiệt hại Tuy nhiên, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là các quy tắc nhằm khôi phục thiệt hại, bởi khi thiệt hại đã xảy ra thì không còn cơ hội để khắc phục, bù đắp được nữa

12 Xem bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nguyễn Văn Cương và Chu Thị Hoa, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư Pháp

Trang 33

Thực chất, chế định bồi thường thiệt hại là quy tắc phân bổ lại thiệt hại trong xã hội giữa các chủ thể có liên quan (tức là người gây thiệt hại, người bị thiệt hại hay một bên thứ ba nào khác) Chế định này còn có chức năng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật (chức năng phòng ngừa) Chức năng này nhằm làm cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội ý thức được rằng, nếu họ gây thiệt hại cho chủ thể khác, không những họ sẽ không được khuyến khích mà còn phải gánh chịu hậu quả bất lợi, thì họ sẽ phải có ý thức kiềm chế hành vi gây thiệt hại

Như vậy, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng góp phần nâng cao tính trách nhiệm ứng xử của mỗi chủ thể

Trang 34

Như đã phân tích trong Chương 1 luận văn, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do đó các quy định chung của pháp luật điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng chính là điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB; cơ sở pháp lý chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng chính là cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB nhưng được cụ thể hóa trong từng điều kiện cụ thể Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần13

Cơ sở pháp lý chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã

được thể hiện tại Điều 604 BLDS cụ thể là: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm

phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường” Từ quy định này có thể thấy

cơ sở pháp lý chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm bốn điều kiện sau đây14:

 Có thiệt hại xảy ra;

 Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật;

 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra;

 Người gây ra thiệt hại phải có lỗi

2.1.1 Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại là sự mất mát mà một chủ thể của quan hệ pháp luật phải gánh chịu,

là sự thay đổi tình trạng theo chiều hướng xấu: một người có tài sản bị mất tài sản

đó, một người có sức khỏe bình thường nay trở nên yếu đi,… Tình trạng bị thay

13 Xem khoản 1 Điều 307 BLDS 2005

14 Xem Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày

08 tháng 07 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 35

đổi có thể là tình tràng vật chất (tài sản, tính mạng, sức khỏe) hoặc tình trạng tinh thần (danh dự, uy tín)15

Đây là điều kiện cấu thành cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB nói riêng, là điều kiện bắt buộc đầu tiên để xem xét có phát sinh trách nhiệm bồi thường hay không Bồi thường chính là nhằm khôi phục lại toàn bộ hoặc một phần tình trạng tài sản trước khi xảy ra thiệt hại hoặc bù đắp những tổn thất do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm, nên thiệt hại được coi là điều kiện có ý nghĩa quan trọng Không thể có trách nhiệm bồi thường khi không có thiệt hại nào xảy ra

Thiệt hại được hiểu theo nghĩa thông thường đó là “bị tổn thất, hư hao về người

và của”, là sự giảm bớt những lợi ích vật chất hay tinh thần của một người do có sự kiện gây thiệt hại của người khác và có thể xác định bằng một khoản tiền nhất định Thiệt hại phải thực tế, tồn tại khách quan mà tất cả mọi người đều phải công nhận Thiệt hại gây ảnh hưởng đến các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, đồng thời cũng phản ánh hậu quả của hành vi trái pháp luật xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, pháp nhân và của toàn xã hội, mà sự biểu hiện về mặt vật chất là làm hư hỏng hoặc hủy hoại tài sản, gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, tổn hại về tinh thần dẫn tới thiệt hại về tài sản của người khác

Để bảo đảm sự tồn tại bình thường của xã hội, pháp luật đã quy định những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên, khi đánh giá một thiệt hại là cơ sở để xác định trách nhiệm phải nhìn nhận thiệt hại một cách khách quan chứ không được suy diễn một cách chủ quan Pháp luật dân

sự phân chia thiệt hại thành thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần

Thiệt hại vật chất theo quy định tại nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7 2006 là thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh

dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS

15 Trích giáo trình Luật dân sự 2 Đại học Cần Thơ năm 2003, TS Nguyễn Ngọc Điện (có điều chỉnh các điều luật cho phù hợp với BLDS 2005)

Trang 36

Tại Điều 608 BLDS 2005 thì thiệt hại tài sản bao gồm: “Tài sản bị mất, bị

hủy hoại hoặc bị hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn hạn chế và khắc phục thiệt hại”

Thiệt hại thực tế là sự hư hỏng, mất mát về tài sản, sự đau đớn về thể xác, cái chết của con người, sự giảm sút hoặc mất thu nhập, các chi phí để khôi phục lại tình trạng vốn có ban đầu là hậu quả của chính hành vi vi phạm pháp luật Thiệt hại này không phải là thiệt hại suy diễn Người có hành vi trái pháp luật chỉ phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra trong thực tế Thông thường, người bị thiệt hại thường có xu hướng đưa ra những thiệt hại rất lớn và có tính suy diễn, trong đó có

cả những thiệt hại được suy diễn theo hình thức không chân thực Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thiệt hại phải tính toán được tương đương với một số lượng tiền nhất định mới bảo đảm đầy đủ cơ sở cho việc bồi thường Tuy nhiên, đối với những thiệt hại về mặt tinh thần không thể tính toán bằng tiền, Tòa án có thể căn cứ vào từng trường hợp xác định số tiền bù đắp tổn thất về mặt

tinh thần nhằm bảo đảm quyền lợi của người bị tai nạn và gia đình họ Ví dụ: Do

chồng đã chết, đứa con duy nhất bị chết trong tai nạn giao thông, người mẹ đau buồn, ngã bệnh và nghỉ việc quá thời gian quy định của pháp luật lao động, dẫn đến

đã bị mất việc làm Trong trường hợp cụ thể này hoàn toàn có đủ cơ sở và điều kiện buộc người gây tai nạn phải bồi thường cho người mẹ này những thiệt hại thực tế

do thiệt hại về mặt tinh thần gây ra

Đối với thiệt hại về mặt tinh thần, còn có rất nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến việc bồi thường trong pháp luật của các nước Trong pháp luật Việt Nam trước đến nay, thuật ngữ “tinh thần” được sử dụng trong nhiều ngành luật Trong luật hình sự, trạng thái tinh thần là một dấu hiệu cấu thành tội phạm:

“Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”16 và là tình tiết giảm nhẹ “bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra”17

Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận có thiệt hại về mặt tinh thần, song không chấp nhận việc bồi thường thiệt hại với lý do những thiệt hại tinh thần được coi là

16 Xem khoản 1 Điều 95 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

17 Xem Điều 46 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

Trang 37

những quan hệ gắn liền với nhân thân, không thể dùng tiền để bồi thường thay cho giá trị tình cảm, không ước lượng được bằng một số tiền cụ thể các thiệt hại về mặt tinh thần Có quan điểm cho rằng thiệt hại về mặt tinh thần chỉ là khái niệm xã hội, không thể dùng tiền hay vật chất để chuộc lại, mua lại được, sự tổn hại về mặt tinh thần là ở trong phạm vi tình cảm, không thể ước lượng bằng tiền Song cũng

có quan điểm cho rằng bồi thường một số tiền có thể khắc phục một phần nào thiệt hại về mặt tinh thần BLDS trong mục xác định thiệt hại do tính mạng sức khỏe có

đề ra “tiền bù đắp tổn thất về tinh thần” và ấn định mức cụ thể trong từng trường hợp là do Tòa án quyết định nhưng đối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định

Theo người viết, BLDS quy định trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần18, tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án nhân dân quyết định buộc người xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại về sức khỏe, cho người thân thích gần gũi nhất của người bị xâm phạm tính mạng là phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam

Thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ là thiệt hại về vật chất và tinh thần, phát sinh bởi các hành vi vi phạm quy định về trật tự, an toàn giao thông

* Sự thiệt hại vật chất trong các vụ TNGTĐB thường rất dễ dàng nhận thấy, bao gồm: thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người bị tai nạn hoặc làm hư hỏng,

mất mát tài sản Theo thống kê của Cục CSGT đường bộ - đường sắt, trong 6 tháng đầu năm 2010 cả nước đã xảy ra hơn 6.500 vụ tai nạn giao thông, làm chết hơn 5.600 người và bị thương hơn 4.800 người Điều rất đáng chú ý là ngoài những con số thống kê trên còn có hơn 18.000 vụ va chạm giao thông khiến 23.000 người bị thương Ngoài những thiệt hại rất lớn về tính mạng, xã hội còn phải gánh chịu hậu quả nặng nề do tai nạn giao thông gây ra Thượng tá Trần Sơn- Phó phòng Hướng dẫn luật và điều tra xử lý tai nạn giao thông, Cục CSGT đường

bộ - đường sắt cho biết: Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á thì Việt Nam mất tới 885 triệu USD/năm cho chi phí tổn thất về người và vật chất do tai

18 Trích giáo trình Luật dân sự 2 Đại học Cần Thơ năm 2003-TS Nguyễn Ngọc Điện (có điều chỉnh các điều luật cho phù hợp với BLDS 2005)

Trang 38

nạn giao thông gây ra19 Đó là chưa kể đến nguồn nhân lực lớn của ngành Y tế dành cho việc cứu chữa, phục hồi chức năng cho các nạn nhân Con số thiệt hại này còn cao hơn cả tổng giá trị tiền thuốc sử dụng cho 84 triệu dân trong năm

2005 là 817 triệu USD Khác với thiệt hại tinh thần do các hành vi trái pháp luật khác gây ra, trong các vụ TNGTĐB thiệt hại tinh thần là hệ quả của sự thiệt hại về tính mạng, sức khỏe có thể kéo theo tổn thất về mặt tinh thần Đó là những đau thương của những người có người thân thích bị chết, là sự đau khổ của những người bị tàn tật sau tai nạn giao thông Đây là một loại thiệt hại rất khó định lượng, khó tính toán cụ thể

Thiệt hại làm phát sinh trách nhiệm bồi thường trong các vụ TNGTĐB phải là hậu quả của chính hành vi vi phạm pháp luật an toàn giao thông vận tải Người có hành vi trái pháp luật chỉ phải bồi thường những thiệt hại thực tế, chắc chắn, không suy diễn và có thể tính toán được

Hiện nay, trong thực tiễn giải quyết các vụ TNGTĐB, có những trường hợp người bị thiệt hại không có yêu cầu bồi thường những thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, tình trạng người bị thiệt hại có xu hướng đưa ra những thiệt hại rất lớn và có tính suy diễn là tương đối phổ biến Họ khai rất cao những chi phí như: Chi phí sửa chữa tài sản, chi phí đi lại, thuốc men, tiền mai táng phí và kể cả những thiệt hại được suy diễn theo chủ quan

2.1.2 Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật

Trong luật dân sự, hành vi gây thiệt hại (hành vi khách quan) là nguyên nhân gây ra sự biến đổi tình trạng của những đối tượng tác động và do vậy là nguyên nhân gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội (khách thể) Hành vi gây thiệt hại là cầu nối giữa người gây thiệt hại (chủ thể) với đối tượng tác động tức là các quan hệ xã hội (khách thể) Không thể có người gây thiệt hại khi không có hành vi gây thiệt hại Hành vi gây thiệt hại có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động Hành động và không hành động đều là những “biểu hiện” của con người ra ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển và đều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

19

Xem thong/40222805/157/

Trang 39

Hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó trực tiếp tác động đến đối tượng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng, gây thiệt hại cho khách thể Hành động gây thiệt hại có thể chỉ là một tác động đơn giản xảy ra một lần trong một thời gian ngắn hoặc có thể là tổng hợp nhiều tác động khác nhau, hay là giống nhau, nhưng được lặp đi, lặp lại liên tục trong một thời gian dài Hành động gây thiệt hại có thể là tác động trực tiếp của chủ thể vào đối tượng gây thiệt hại hoặc có thể là tác động gián tiếp của chủ thể vào đối tượng thông qua công cụ, phương tiện gây thiệt hại

Không hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định bắt buộc phải làm mặc dù có đầy đủ điều kiện để làm việc đó

Với sự phân tích trên cho thấy hành vi gây thiệt hại có các đặc điểm sau:

* Hành vi gây thiệt hại là hoạt động có ý thức và ý chí Điều đó có nghĩa là

khi nói đến hành vi gây thiệt hại của một người, thì phải hiểu đó là hành vi có ý thức và ý chí Không thể có hành vi gây thiệt hại mà những “biểu hiện” bên ngoài của nó không được ý thức của chủ thể kiểm soát hay không được ý chí của họ điều khiển

* Hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật Điều đó có nghĩa là

hành vi gây thiệt hại đó phải là hành vi mà pháp luật cấm thực hiện Nếu hành vi

đó mà pháp luật không cấm thực hiện thì người thực hiện hành vi dù gây thiệt hại vẫn không phải bồi thường Ví dụ: Gây thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng; gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng

Trong các vụ TNGTĐB, các hành vi gây thiệt hại bao gồm:

* Các hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Điều đó có nghĩa là bất kỳ một hành vi nào vi phạm một trong những

quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà gây thiệt hại đều phải bồi thường Các hành vi đó có thể là: đi quá tốc độ; chở quá trọng tải quy định; tránh, vượt trái phép; không đi đúng tuyến đường hoặc phần đường và các hành vi khác vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ do cơ quan

có thẩm quyền ban hành

Trang 40

* Các hành vi cản trở giao thông đường bộ 20 Các hành vi này có thể là:

đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có giải phân cách; lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ; vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ và các hành vi khác gây cản trở giao thông đường bộ

Các hành vi gây thiệt hại trên đây là một trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB, tức là trách nhiệm dân sự Ngoài ra, đối với người thực hiện một trong các hành vi này, thì tùy vào mức độ

mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hay sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình

sự

2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra

Nguyên nhân trong mối quan hệ nhân quả được pháp luật nghiên cứu là hành

vi vi phạm pháp luật Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân khách quan dẫn tới sự phát sinh kết quả mà không có nguyên nhân đó, thì không thể nào phát sinh thiệt hại với tính cách là kết quả Đây cũng chính là cơ sở khách quan của trách nhiệm, có xác định được mối quan hệ này mới buộc người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại Người có lỗi không nhất thiết phải bồi thường tất cả các thiệt hại phát sinh sau khi xảy ra hành vi gây thiệt hại của mình: Chỉ những thiệt hại nào là hệ quả tất yếu của việc phạm lỗi mới thuộc phạm vi trách nhiệm của người có lỗi Nói cách khác, người có lỗi chỉ phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại mà mình là tác giả21

Xác định mối quan hệ nhân quả là xác định thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ cũng có nghĩa

là để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB Xác định hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nào là nguyên nhân gây ra thiệt hại và thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi đó không, là rất quan trọng và cần thiết bởi lẽ có xác định được mối quan hệ này mới có cơ sở pháp lý buộc người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại

20 Xem Điều 8 Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008

21 Trích giáo trình Luật dân sự 2 Đại học Cần Thơ năm 2003-TS Nguyễn Ngọc Điện (có điều chỉnh các điều luật cho phù hợp với BLDS 2005)

Ngày đăng: 26/11/2015, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w