1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa quy mô, đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại việt nam

84 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hạn chế những tác động xấu từ các tổ chức tài chính lớn, nhiều ý kiến cho rằng phải giảm sự kết nối giữa các tập đoàn, giảm quy mô của các tập đoàn có sức ảnh hưởng lớn đối với thị tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



HUỲNH HOÀNG TRÚC

MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



HUỲNH HOÀNG TRÚC

MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên nga ̀nh: Tài chính – Ngân hàng

Ma ̃ số: 8340201

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

Trang 3

TRANG PHỤ BÌA

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng bài luận văn “MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ VÀ ĐÒN

BẨY TÀI CHÍNH, MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của riêng rôi và có sự hỗ trợ

của Giảng viên hướng dẫn là PGS TS Nguyễn Thị Liên Hoa Các thông tin, dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực; các nội dung trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố tại bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hồ Chí Minh, năm 2019

Người thực hiện

Huỳnh Hoàng Trúc

Trang 6

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC THUẬT NGỮ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 7

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 8

1.4 PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

1.5 KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU 8

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 10

2.1 CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 10

2.2 XÂY DỰNG GIẢ THIẾT 16

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 28

3.2 MÔ TẢ VÀ ĐỊNH NGHĨA CÁC BIẾN 33

3.3 THU THẬP DỮ LIỆU 40

3.4 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 57

5.1 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 57

5.2 HẠN CHẾ ĐỀ TÀI 58

5.3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC THUẬT NGỮ

Too big to fail “Quá lớn để sụp đổ” – Một công ty hoặc một

tổ chức có quy mô lớn và có tính kết nối với nền kinh tế, khi công ty này sụp đổ sẽ khiến cho nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nặng

Ngân hàng Trung ương của Mỹ

2 Stage Least of Square - 2 SLS Mô hình hồi quy hai giai đoạn

Trang 10

Bảng 3.2 : Danh sách các ngân hàng thực hiện nghiên cứu

Bảng 3.3 : Thống kê mô tả các biến

Bảng 3.4 : Ma trận tương quan Pearson

Bảng 3.5 : Kết quả mô hình hồi quy 2SLS nhằm kiểm định mối quan hệ giữa quy

mô và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bảng 3.6 : Tổng hợp kết quả các biến có mối quan hệ với hệ số Z-score

Bảng 3.7 : Kết quả mô hình hồi quy 2SLS nhằm kiểm định mối quan hệ giữa quy

mô và các thành phần cấu tạo nên Z-score của các ngân hàng thương mại Việt Nam (gồm ROA, CAR, độ lệch chuẩn của ROA)

Trang 12

TÓM TẮT

Các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi

ro ngân hàng, đều cho thấy mối quan hệ này là cùng chiều Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn thiếu bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển, đại diện

là Việt Nam

Vì thế tác giả quyết định thực hiện đề tài này nhằm kiểm tra xem mối quan hệ giữa quy mô, đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro cuả các ngân hàng thương mại Việt Nam Bài nghiên cứu thực hiện dựa trên bộ dữ liệu gồm 23 ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn 2009-2017 Tác giả cũng xem xét về mối quan

hệ giữa các thành phần cấu tạo nên hệ số rủi ro Z-score (gồm ROA, độ lệch chuẩn ROA và hệ số CAR) và quy mô ngân hàng, và các biến kiểm soát khác

Mô hình hồi quy hai giai đoạn 2 SLS với dữ liệu bảng được sử dụng trong bài nghiên cứu này do xuất hiện nội sinh giữa các biến

Kết quả tìm thấy:

• Thứ nhất, mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro

• Thứ hai, mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô và đòn bẩy tài chính

• Thứ ba, mối quan hệ ngược chiều giữa Rủi ro ngân hàng chấp nhận và Tỷ lệ

cổ phần ban quản trị nắm giữ

Dựa trên kết quả bài nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn chính xác hơn về ảnh hưởng của quy mô và cấu trúc vốn lên rủi ro ngân hàng chấp nhận Từ đó, đưa ra các quyết định giúp cải thiện quản trị rủi

ro ngân hàng thương mại

Tư ̀ khóa : quy mô ngân hàng, rủi ro, đòn bẩy, Too big to fail, 2 SLS

Trang 14

ABSTRACT

Previous researches on the relationship between size and risk-taking of the bank is positive corelation However, these studies lacked empirical evidence in developing countries, represented by Vietnam

Therefore, the author decides to examines the relationship between size, leverage, and risk-taking of 23 commercial banks in Viet Nam during the period of 2009 -

2017

The author also examines the relationship between the combination of the Z-score (including ROA, standard deviation of ROA and CAR) and bank size Two-stage 2-SLS regression model with panel data is used due to endogenous variables This exam has three contributions:

• First, a positive correlation between bank size and bank risk-taking

• Second, a positive correlation between bank size and leverage

• Third, a negative correlation between risk-taking and holding shares ratio of management

Based on the results of this study, the author expects to help policy makers have a accurated view of the impact of size and structured of the bank on risks Since then, making decisions to help improve the risk management

Keywords: bank size, risk, leverage, Too big to fail, 2 SLS

Trang 16

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Sự ổn định và thịnh vượng của hệ thống tài chính là bàn đạp rất quan trọng để kinh

tế tăng trưởng bền vững Đặc biệt là các ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc dẫn dắt cả nền kinh tế Vì thế nên các tổ chức tài chính và các ngân hàng lớn này luôn nhận được những lợi ích và ưu ái đặc biệt từ các chính sách của chính phủ, ngân hàng trung ương Các tổ chức khổng lồ này hoạt động với niềm tin rằng sẽ nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ khi rủi ro xảy ra Vì những đặc quyền đó nên xuất hiện các rủi ro đạo đức kèm theo Các tổ chức “Too big too fail” đã bóp méo các ưu đãi hỗ trợ của chính phủ, những ưu đãi đặc quyền này đã khuyến khích các tổ chức này luôn tìm cách tối đa hoá lợi nhuận của mình trong ngắn hạn bằng cách chấp nhận rủi ro quá mức Và khi có rủi ro xảy đến, họ sẽ đi cầu cứu chính phủ với các chính sách bảo trợ độc quyền mà chỉ họ nhận được Các gói cứu trợ của chính phủ

từ đâu, một câu trả lời rất đơn giản là từ tiền thuế của người dân

Kể từ sau khủng hoảng tài chính thế giới, thuật ngữ “Too big to fail” trở thành tâm điểm của sự chỉ trích Thuật ngữ “Too big to fail” có nghĩa là các tổ chức tài chính lớn như các doanh nghiệp, các ngân hàng có quy mô, khả năng kết nối lớn và có sức ảnh hưởng trong nền kinh tế buộc các chính phủ phải tăng cường hỗ trợ họ khi có các bất ổn tài chính xảy ra dẫn đến sự sụp đổ hệ thống tài chính nhằm tránh những những hệ luỵ nghiêm trọng cho cả nền kinh tế

Câu chuyện “Too big to fail” và cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ mở đầu với Bear Stearns Tháng 3 năm 2008, Bear Stearns là một ngân hàng tuy nhỏ nhưng rất nổi tiếng trong giới tài chính và là ngân hàng đầu tiên trong danh sách các tổ chức quá lớn để sụp đổ, JP Morgan Chase đã mua lại ngân hàng này với sự hỗ trợ của Cục dự trữ liên bang Mỹ 30 tỷ USD, vì FED lo ngại rằng sự sụp đổ của Bear Stearns sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của dân chúng vào hệ thống tài chính của Mỹ Cùng năm đó, một ngân hàng đầu tư khác Lehman Brothers cũng sụp đổ, tuy nhiên,

Trang 17

với Bear Stearns Vào thứ hai tiếp theo khi Lehman Brothers nộp đơn xin phá sản, chỉ số Dow Jones giảm 350 điểm Hai ngày tiếp theo, thị trường tài chính rơi vào trạng thái hoảng loạn

Câu chuyện cứu trợ hoàn toàn dựa vào số tiền chính phủ đưa ra, các chính sách lúc này không còn hiệu quả để giải quyết cho khủng hoảng, cuối cùng sau nhiều tính toán, khoản cứu trợ 700 tỷ USD được đưa ra để tái cấp vốn cho các ngân hàng lớn đang điêu đứng

Citigroup đổi 27 tỷ USD cổ phần ưu đãi với lãi suất sinh lợi 8%/năm để lấy 20 tỷ USD tiền mặt cứu trợ Các ngân hàng đầu tư Goldman Sachs và Morgan Stanley buộc phải chuyển thành ngân hàng thương mại để có thể mượn tiền từ FED

Tiếp đó là vụ rót tiền lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ vào Fannie Mae và Freddie Mac để Chính phủ đoạt quyền kiểm soát doanh nghiệp Với con số 187.5 tỷ USD,

số tiền này lớn hơn rất nhiều so với đợt bỏ ra cứu trợ trong đợt khủng hoảng tín dụng năm 1989

Fannie Mae và Freddie Mac là hai kẻ khổng lồ đóng vai trò trung tâm trong thị trường địa ốc Mỹ Hai định chế tài chính này được chính phủ bảo trợ để thu mua các khoản vay mua nhà trả góp từ ngân hàng, các tổ chức tài chính khác rồi bán ra thị trường thứ cấp Vì các khoản thế chấp này được ngầm đảm bảo bởi chính phủ nên hai công ty này chấp nhận rủi ro nhiều hơn để đem lại lợi nhuận cao hơn Cuối năm 2007, khi các ngân hàng kiểm soát hoạt động tín dụng chặt chẽ hơn, các khoản vay trả góp của hai công ty này nắm giữ đã khoảng 90% thị trường Vì thế, chính phủ không thể không ra tay cứu trợ, một phản ứng dây chuyền chắc chắn sẽ xảy ra với hệ thống tài chính của Mỹ nếu hai kẻ khổng lồ này khủng hoảng

Trường hợp Tập đoàn Bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIG) cũng là một ví dụ điển hình về

“Too big to fail” AIG quá lớn, nằm trong một mạng lưới quá phức tạp của hệ thống tài chính, nên không thể để rơi vào tình trạng vỡ nợ Vì thế chính phủ phải ra tay ứng cứu khẩn cấp với gói cứu trợ trị giá 182 tỷ USD, nhằm đưa AIG thoát khỏi nguy cơ phá sản và tránh cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ

Trang 18

Để hạn chế những tác động xấu từ các tổ chức tài chính lớn, nhiều ý kiến cho rằng phải giảm sự kết nối giữa các tập đoàn, giảm quy mô của các tập đoàn có sức ảnh hưởng lớn đối với thị trường, khi quy mô, năng lực của các tổ chức này giảm thì sẽ làm mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp giảm, gánh nặng của nền kinh tế cũng giảm xuống

Năm 2011, Dự luật “Too big to fail” được đề xuất bởi Hạ nghị sĩ Paul Kanjorski của Đảng Dân chủ được đưa ra Uỷ ban tài chính của Hạ viện Mỹ Theo dự luật này, chính phủ có quyền phân tán, giải thể các công ty tài chính quá lớn, có mức liên kết

và tầm ảnh hưởng quá rộng, đến mức có thể gây hại cho nền kinh tế thậm chí cả khi các công ty này vẫn đang hoạt động tốt

Những người bỏ phiếu thuận cho rằng, chính phủ không thể sử dụng tài sản, tiền thuế của người dân để cứu trợ những “ông lớn” trong ngành tài chính – những công

ty lợi dụng sự hỗ trợ của chính phủ để kiếm lợi nhuận cao và khi đối mặt với khủng hoảng lại đi xin cầu cứu Bản thân các tổ chức tài chính này phải có trách nhiệm với các khoản đặt cược đầu tư của mình và phải chịu trả giá khi gặp thất bại

Tuy nhiên, khi dự luật này được đưa ra, những lập luật phản đối xuất hiện

• Lập luận đầu tiên là họ cho rằng điều này vi phạm quyền được tự do sở hữu

và được phát triển của cá nhân, tổ chức

• Lập luận thứ hai, khi ràng buộc giảm quy mô, thì sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh của các tổ chức tài chính trên thị trường quốc tế Và điều đó cũng dẫn đến việc đánh mất thị phần cho các đối thủ cạnh tranh khác

• Lập luận thứ ba, rất khó xác định được ngưỡng quy mô và định nghĩa chính xác về “ông lớn” trên thị trường Thế nào gọi là lớn và quy mô tầm cỡ cần bị kiểm soát kiềm nén lại

• Lập luận thứ tư, những người phản đối dự luật đã đưa ra các ví dụ rằng không chỉ các doanh nghiệp có quy mô lớn, mà cả những doanh nghiệp nhỏ vẫn có tác động đáng kể đến nền kinh tế

Trang 19

Dermine và Schoenmaker (2010) cho rằng việc giới hạn quy mô doanh nghiệp không phải là công cụ tốt nhất, dựa trên phát hiện rằng các nước có ngân hàng tương đối nhỏ phải đối mặt với chi phí cứu trợ lớn; ngoài ra, bài nghiên cứu này còn cảnh báo rằng việc giới hạn quy mô có thể có các tác động không mong muốn, chẳng hạn như thiếu đa dạng rủi ro tín dụng

Theo họ, quy mô không phải là yếu tố tác động đến việc chấp nhận rủi ro của những

tổ chức tài chính, ngân hàng lớn Việc kiểm soát quy mô và sự phát triển của các doanh nghiệp là hoàn toàn phi lý

Sau khủng hoảng 2008, câu chuyện về việc các tổ chức “Too big to fail” lại đưa ra một cái nhìn khác về việc quy mô ảnh hưởng đến rủi ro doanh nghiệp Cụm từ SIFI được thay thế và các doanh nghiệp không còn muốn khuyếch đại quy mô Các tập đoàn với quy mô lớn không còn nhận được đặc quyền từ chính phủ, và nếu đã đạt ở trạng thái “too big” sẽ được chính phủ thêm vào danh sách SIFI, đây là danh sách các tổ chức tài chính có quy mô lớn mà chính phủ cần giám sát cứng rắn và chặt chẽ hơn so với các tổ chức quy mô nhỏ Với quy mô lớn và sức ảnh hưởng với nền kinh

tế, khi các tổ chức tài chính đạt đến ngưỡng có thể vào SIFI, họ sẽ dừng lại xem phương án nào sẽ có lợi cho công ty

Tuỳ vào chiến lược công ty, một số sẽ vẫn tiếp tục gia tăng đầu tư khuyếch đại tài sản và doanh thu để được vào nhóm SIFI để nhận được sự cứu trợ của chính phủ khi khủng hoảng New York Community Bancorp là tập đoàn tài chính nắm giữ lượng tiền gửi tiết kiệm lớn thứ 4 tại Mỹ, thực hiện kế hoạch nhằm thu mua công ty tài chính Astoria – công ty mẹ của Astoria Bank, nhằm mục đích mở rộng mạng lưới ngân hàng của hãng Các công ty trong nhóm SIFI dù họ phải chịu nhiều quy định kiểm soát nghiêm ngặt và yêu cầu minh bạch tài chính của chính phủ hơn các công ty khác, thường xuyên báo cáo tình hình tài chính và kiểm soát rủi ro chặt chẽ nhưng đổi lại họ sẽ đảm bảo nhận được sự ưu ái của chính phủ khi nền kinh tế bị khủng hoảng

Một số công ty khác lại có lối đi riêng tránh gia nhập vào SIFI bằng cách chia tách các bộ phận hoạt động, thu nhỏ quy mô Họ cho rằng việc bị chính phủ kiểm soát sẽ

Trang 20

cản trở sự phát triển của công ty Các dự án với lợi nhuận khổng lồ nhưng đi kèm rủi ro cao sẽ khó để vượt qua các quy định của chính phủ First Niagara Bank - với giá trị tài sản là 39 tỷ USD, nhưng họ không muốn trở thành một SIFI, thay vào đó

họ lại đang đàm phán để tự bán mình cho Ohio Keycorp vì họ cho rằng gia nhập SIFI sẽ làm cản trở sự phát triển

Sau khủng hoảng 2009, không còn có thể khẳng định theo “Too big to fail” rằng các công ty càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro càng cao, mà các công ty này chấp nhận sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ Ngược lại các công ty đang trên đà tăng trưởng mạnh lại kiểm soát chặt chẽ quy mô để không gia nhập nhóm SIFI, để có thể được tự do phát triển, chấp nhận các dự án rủi ro để thu về được lợi nhuận khủng, câu chuyện về quy mô lớn với mức độ chấp nhận rủi ro cao không còn đúng tại thời điểm hiện tại

Tại Việt Nam, những ngân hàng nhỏ lại là những ngân hàng gây ra rủi ro lan truyền trong nền kinh tế Nhiều sự kiện từ ba ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước mua giá 0 đồng đã cho thấy khủng hoảng bắt đầu từ những ngân hàng nhỏ lẻ gồm Ngân hàng Xây dựng (VNCB), Ngân hàng Đại Dương (OceanBank), Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GPBank)

Từ thời điểm Ngân hàng xây dựng - VNCB là ngân hàng đầu tiên bị NHNN mua lại bắt buộc toàn bộ cổ phần với giá 0 đồng cho đến nay Những ngân hàng 0 đồng này sau khi tái cấu trúc vẫn không cho thấy kết quả khả quan Cuối năm 2017, kiểm toán nhà nước cho thấy kết quả tái cơ cấu đều không mấy khả quan, tài chính của cả

ba ngân hàng vẫn không được cải thiện, hoạt động kinh doanh tiếp tục thua lỗ lớn, việc âm vốn chủ sở hữu ngày càng tăng

Từ ngày 15/1/2018, Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi đã chính thức có hiệu lực thi hành cho phép các ngân hàng yếu kém được phép phá sản Và bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam, cả gốc và lãi của một cá nhân tối đa là 75 triệu đồng, tăng từ 25 triệu đồng lên 75 triệu đồng Con số 75 triệu này là khá thấp và vô lý dù số tiền gửi của người dân có thể trên vài trăm triệu hoặc vài tỷ đồng Khi ngân hàng thực sự phá

Trang 21

sản, người dân sẽ mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, dẫn đến việc rút tiền ào ạt, mua vàng và ngoại tệ cất vào két sắt, nguồn vốn khan hiếm càng khan hiếm hơn Tuy nhiên, các ông lớn ngân hàng và cả các ngân hàng nhỏ vẫn sẽ được ngân hàng nhà nước và chính phủ hỗ trợ để không phá sản Việc ngân hàng nhà nước cho phép

tổ chức tín dụng phá sản chỉ là biện pháp cuối cùng khi các tổ chức này không thực hiện được các phương án phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, và chuyển giao bắt buộc

Bởi tại Việt Nam, tâm lý và trình độ người dân vẫn phụ thuộc vào hiệu ứng bầy đàn, bất cân xứng thông tin nên việc cho phép một ngân hàng được phép phá sản có thể đe doạ đổ vỡ dây chuyền, gây mất an toàn hệ thống ngân hàng và kéo theo những tác động tiêu cực đến nền kinh tế Bên cạnh đó, cứu trợ các ngân hàng hoạt động yếu kém là một tín hiệu của ngân hàng nhà nước cho người dân an tâm gửi tiền vào hệ thống ngân hàng

Câu chuyện về khủng hoảng tại Việt Nam lại khác với câu chuyện “Too big to fail” của Mỹ, những ngân hàng với quy mô nhỏ lại chấp nhận rủi ro nhiều hơn Và thực

sự rủi ro của các ngân hàng chịu tác động bởi quy mô, khi muốn kiểm soát rủi ro thì cần phải thực hiện các chính sách “khống chế” quy mô của ngân hàng ? Lúc này câu hỏi đặt ra, quy mô của ngân hàng có tác động như thế nào đến với mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng

Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng tìm hiểu quy mô của ngân hàng và tỷ lệ đòn bẩy

có liên hệ gì với nhau không ?

Các ngân hàng có quy mô lớn không chỉ nhận được đặc quyền của chính phủ mà còn nhận được thêm các đặc quyền trong việc huy động vốn

Ngân hàng quy mô càng lớn thì càng dễ huy động nguồn vốn từ tiền gửi công chúng

và đi vay từ các tổ chức tài chính khác, bởi quy mô càng lớn thì càng có mức độ tín nhiệm, khả năng về tài chính và nguồn lực càng cao Ngoài ra, việc quản trị rủi ro của các ngân hàng lớn cũng tốt hơn nên điều này hàm ý rằng đòn bẩy tài chính của các ngân hàng quy mô lớn sẽ lớn hơn các ngân hàng nhỏ

Trang 22

Các ngân hàng nhỏ, quy mô được tính chủ yếu dựa trên tài sản của cổ đông, rủi ro của các cổ đông sẽ rất lớn nếu các nhà quản trị chọn tỷ lệ đòn bẩy cao, họ sẽ dùng quyền lực của mình để đảm bảo duy trì tỷ lệ đòn bẩy thấp, mức độ chấp nhận rủi ro nhỏ hoặc vừa phải

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, các ngân hàng nhỏ - khả năng quản trị rủi ro yếu hơn nên không thể xác định được tỷ lệ đòn bẩy thích hợp, dẫn đến tỷ lệ đòn bẩy cao Các ngân hàng lớn với vốn chủ sở hữu cao, các cổ đông sẽ yêu cầu về việc quản trị rủi ro chặt chẽ để đảm bảo nguồn vốn của họ, tỷ lệ đòn bẩy thấp

Vì các cổ đông cũng ảnh hưởng đến mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận, nên bài nghiên cứu cũng sẽ đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa mức độ chấp nhận rủi ro của một ngân hàng và số lượng cổ phần được nắm giữ bởi các giám đốc, hội đồng quản trị

Xuất phát từ thực tiễn tại Việt Nam, tác giả quyết định thực hiện đề tài tìm hiểu Mối

quan hệ giữa quy mô và đòn bẩy tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại Việt Nam Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong khoảng thời

gian 2009-2017 với 23 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và đòn bẩy tài chính, khả năng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2017

Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng tìm hiểu về việc nắm giữ cổ phần của hội đồng quản trị và giám đốc điều hành ngân hàng, có giúp làm giảm mức độ chấp nhận rủi

ro mà ngân hàng gánh chịu

Bài nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn một quy mô thích hợp

để có thể đem lại một kết quả tốt nhất khi thực hiện việc quản trị rủi ro Thông qua

đó, các nhà quản lý sẽ nắm bắt được tình hình thực tế ở các ngân hàng thương mại hiện nay, tiến hành cải tiến và hoàn thiện quá trình quản trị rủi ro

Trang 23

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu sẽ làm rõ những câu hỏi sau:

• Có hay không mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro tại các

ngân hàng thương mại Việt Nam? Nếu có, mối tương quan giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro là cùng chiều hay ngược chiều?

• Có hay không mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và tỷ lệ đòn bẩy tài chính

của các ngân hàng thương mại Việt Nam? Nếu có, mối tương quan giữa quy

mô và tỷ lệ đòn bẩy tài chính là cùng chiều hay ngược chiều?

• Việc các thành viên trong hội đồng quản trị nắm giữ lượng lớn cổ phần của

ngân hàng thì có tác động gì đến mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận hay không? Giám đốc điều hành ngân hàng nếu như có nắm giữ cổ phần thì có bị ảnh hưởng khi ra các quyết định hay không?

1.4 PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác giả thực hiện bài nghiên cứu với bộ dữ liệu gồm 23 ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn 2009-2017 Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy hai giai đoạn 2 SLS với dữ liệu bảng do xuất hiện biến bị nội sinh trong mô hình

1.5 KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu gồm 5 phần và được trình bày theo kết cấu sau:

• Phần 1 : Giới thiệu : Đầu tiên tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên

cứ u, và trình bày lý do cho ̣n đề tài, mu ̣c tiêu bài nghiên cứu, ý nghĩa và kết

cấu của nghiên cứu

• Phần 2 : Tổng quan lý thuyết : Tác giả sẽ trình bày các bài nghiên cứu trước

đây trên thế giới Từ các bài nghiên cứu trên, tác giả xây dựng các giả thuyết cho bài nghiên cứ u này

• Phần 3 : Phương pháp nghiên cứu : Phần này sẽ trình bày lần lượt về mô hình

nghiên cứ u, giải thích các biến trong bài và cách thu thập dữ liệu nghiên cứu

Trang 24

Cuối cùng là trình bày về phương pháp kiểm đi ̣nh mô hình, phân tích và trình bày kết quả kiểm đi ̣nh

• Phần 4 : Kết quả nghiên cứu : Phần này sẽ trình bày các kết luận về mối quan

hệ giữa quy mô doanh nghiệp và chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương

mại Việt Nam, so sánh kết quả với các bài nghiên cứu trước đây, và đưa ra một số kiến nghi ̣ cho ngân hàng Đồng thời đưa ra một số đi ̣nh hướng để phát triển đề tài

• Phần 5 : Kết luận : Phần này sẽ tổng kết la ̣i bài nghiên cứu, các kết quả đa ̣t

được và nêu lên những ha ̣n chế khi thực hiện đề tài này

Trang 25

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã tạo ra sự quan tâm to lớn trong việc nghiên cứu rủi ro của các tổ chức tài chính

Saunders, Stock và Travlos (1990) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu

đến mức độ chấp nhận rủi ro Bài nghiên cứu được thực hiện với 38 ngân hàng niêm yết lớn ở Mỹ từ năm 1978 – 1985 Kết quả cho thấy tương quan dương giữa tổng tài sản và rủi ro Rủi ro được đo lường bằng độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu Kết quả còn cho thấy, ban quản trị của ngân hàng thể hiện hành vi chấp nhận rủi ro cao hơn khi ban quản trị cũng là chủ sở hữu ngân hàng

Boyd và Runkle (1993) nghiên cứu dựa trên các ngân hàng lớn được niêm yết trên

thị trường chứng khoán ở Mỹ cho thấy rằng tổng tài sản và mức độ chấp nhận rủi ro

có mối quan hệ ngược chiều Ngoài ra còn cho thấy độ lệch chuẩn ROA và tỷ lệ vốn chủ sở hữu tương quan ngược với tổng tài sản

Demsetz, Saidenberg và Strahan (1997) nghiên cứu dựa trên 134 ngân hàng lớn

niêm yết tại My từ năm 1980 – 1993 Rủi ro của ngân hàng được đại diện là rủi ro đặc thù Quy mô được đo lường bằng logarit của tổng tài sản Kết quả cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô và rủi ro Quy mô của ngân hàng không ảnh hưởng đến việc quản trị rủi ro Cấu trúc sở hữu vốn có tác động đáng kể đến rủi ro ở các ngân hàng có giá trị nhượng quyền thấp

Boyd, De Nicolo và Al Jalal (2006) nghiên cứu ở các ngân hàng nhỏ hoạt động ở

khu vực phi nông thôn tìm thấy mối tương quan ngược chiều giữa tổng tài sản và rủi ro Rủi ro được đại diện bởi Z-score và tỷ lệ vốn trên vốn chủ sở hữu

Houston và cộng sự (2010) nghiên cứu gồm 300 ngân hàng trên thế giới từ

2000-2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng tài sản có mối quan hệ tương quan cùng chiều với độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, nghĩa là quy mô có mối tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro Biến đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro là Z-score, ROA, tỷ lệ an toàn vốn CAR, độ lệch chuẩn của ROA

Trang 26

Laeven và Levine (2009) đã nghiên cứu dữ liệu của 270 ngân hàng lớn nhất tại 48

quốc gia Dữ liệu được thu thập từ 10 ngân hàng công lớn nhất mỗi quốc gia từ năm

1996 đến năm 2001 Họ tìm thấy một mối tương quan dương đáng kể giữa các quyền nắm giữ dòng tiền của các cổ đông lớn nhất trong ngân hàng và rủi ro ngân hàng gánh chịu, mà rủi ro được đo lường bởi logarit Z-score Tác giả xem xét sử dụng giá trị tổng tài sản ngân hàng để đại diện cho quy mô ngân hàng Bài nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan dương giữa rủi ro và quy mô ngân hàng Các tác giả cho rằng kết quả này phụ thuộc nhiều vào cấu trúc sở hữu của các ngân hàng Các ngân hàng được điều hành trực tiếp bởi những chủ sở hữu thì có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn nhằm bù đắp cho các chi phí khi đứng trước các yêu cầu về vốn cao

Sanjai Bhagat và cộng sự (2017) đã nghiên cứu mẫu gồm 702 tổ chức tài chính

(599 ngân hàng thương mại, 60 ngân hàng đầu tư, 43 công ty bảo hiểm nhân thọ, từ 2002-2012 Tác giả tìm thấy mối tương quan dương giữa giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro Trong đó, quy mô được đo lường bằng tổng tài sản doanh nghiệp, sau đó sử dụng doanh thu để kiểm tra tính vững của mô hình Rủi ro được đo lường bằng Z-score Rủi ro của các ngân hàng tăng cao nguyên nhân là do sự gia tăng của

tỷ lệ nợ vay Các ngân hàng thương mại có ban quản trị nắm giữ cổ phần càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro càng thấp Các ngân hàng đầu tư có khả năng chấp nhận rủi ro nhiều hơn các ngân hàng thương mại

Beltratti và Stulz (2012) khai thác sự thay đổi trong hiệu suất hoạt động của 164

ngân hàng lớn (được xác định là ngân hàng có tổng tài sản lớn hơn 50 tỷ USD) trên toàn thế giới trong giai đoạn khủng hoảng tài chính (2007-2008) Họ ghi nhận các ngân hàng nhỏ hơn với quyền sở hữu tập trung và lợi nhuận ngoài lãi càng cao thì rủi ro của ngân hàng càng cao

Cheng, Hong và Scheinkman (2010) nghiên cứu dựa trên mẫu các tổ chức tài chính

tại Mỹ, họ nghiên cứu xem có phải chế độ đãi ngộ có ảnh hưởng đến việc chấp nhận rủi ro quá mức của công ty không Kết quả nghiên cứu cho thấy, rủi ro gánh chịu,

Trang 27

được đo lường bởi beta và biến động lợi nhuận cổ phiếu, tương quan với khoản chi trả trong ngắn hạn như là các khoản thưởng

Balachandran, Kogut, và Harnal (2010) cũng có bài nghiên cứu tương tự, việc chi

trả cổ phần như là các cổ phiếu hạn chế, các quyền chọn làm tăng khả năng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp, trong khi việc chi trả không phải bằng cổ phần như là tiền mặt, làm giảm khả năng kiệt quệ

Bolton, Mehran và Shapiro (2010) đề xuất giải quyết việc chấp nhận rủi ro quá mức

bằng cách buộc các chế độ đãi ngộ phụ thuộc vào giá của chứng khoán và nợ

Vai trò của quản trị doanh nghiệp đối với mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp vẫn chưa có bằng chứng cụ thể và không rõ ràng Lý thuyết tiêu chuẩn về việc quản trị doanh nghiệp dự đoán rằng các doanh nghiệp có quản trị tốt hơn sẽ tăng giá trị doanh nghiệp bằng cách áp dụng các dự án có giá trị hiện tại thuần (NPV) Tuy nhiên, nó không loại trừ được khả năng công ty đầu tư vào dòng tiền có rủi ro cao Do đó, có thể là do lợi ích cổ đông nên ban quản trị chấp nhận các dự án

có rủi ro miễn là dự án đó đem lại lợi nhuận cao hơn

Ngoài ra, lý thuyết Quyền chọn (Black and Scholes, 1973) cho thấy rằng giá trị của một quyền chọn tăng lên với sự biến động của tài sản cơ sở Vì cổ đông của công ty chủ yếu nắm giữ quyền chọn mua với tổng giá trị của công ty là tài sản cơ bản và giá trị nợ là giá thực hiện (giả định công ty có nợ rủi ro), theo đó dòng tiền của công

ty càng biến động nhiều thì quyền chọn mua càng có giá trị Do đó, giá trị của cổ phiếu phổ thông tăng lên

Dựa trên các tranh luận của các bài nghiên cứu trên, bài nghiên cứu này mong đợi

có mối tương quan dương giữa việc quản trị rủi ro hiệu quả và việc chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng có những tranh luận đối nghịch với các lập luận trên

Rajan (2006) và Diamond và Rajan (2009) chỉ ra, cấu trúc đãi ngộ thì khác nhau

trong ngành tài chính, khi đó thành tích của CEO sẽ dựa trên lợi nhuận họ tạo ra được cho công ty

Trang 28

Với áp lực này, các nhà quản lý được khuyến khích để chấp nhận các dự án có rủi

ro cao hơn để đạt được lợi nhuận trong ngắn hạn ngay cả khi họ không thể tối đa hoá hết giá trị của doanh nghiệp trong ngắn hạn

Trong bài nghiên cứu của Diamond và Rajan (2009), “ngay cả khi các nhà quản lý

nhận ra rằng chiến lược này không thực sự tạo ra giá trị, tuy nhiên với mong muốn tăng giá cổ phiếu và danh tiếng cá nhân của CEO, họ có thể khiến chiến lược này trở thành lựa chọn hấp dẫn nhất để thực hiện cho doanh nghiệp”

Nếu lập luận trên là chính xác, bài nghiên cứu kỳ vọng các tổ chức tài chính sẽ có cách quản trị tốt hơn để đặt ra các ưu đãi và quyền kiểm soát để tránh các xung đột lợi ích có hại cho các cổ đông Theo hướng này, bài nghiên cứu thấy có mối quan

hệ ngược chiều giữa việc quản trị doanh nghiệp hiệu quả và việc chấp nhận rủi ro Bởi vì hai lập luận đối kháng này, tác động của việc quản trị doanh nghiệp đối với việc chấp nhận rủi ro phải có một kết quả thực nghiệm để chứng minh

Trang 29

Bảng 2.1 : Tổng quan các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa quy mô và rủi ro của các ngân hàng

Tác giả nghiên

cứu

Khoảng thời gian và Mẫu

Nguồn dữ liệu Biến phụ thuộc –

Báo cáo hàng quý của các công ty nắm giữ ngân hàng

Độ lệch chuẩn của lợi nhuận cổ phiếu hàng ngày

Tổng tài sản + Quyền sở hữu nội

Dữ liệu COMPUSTAT hàng năm Công ty năm giữ ngân hàng có tài sản trên 1 tỷ đô la

Z-score

Độ lệch chuẩn của ROA

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản

Log của tổng tài sản

-

Demsetz and

Strahan (1997)

1980-1993 Mẫu : 134

Công ty nắm giữ ngân hàng Trên báo cáo Y-9C

& Tuần giao dịch CRSP> 30

Rủi ro đặc thù của doanh nghiệp (σ(ε))

Log của tổng tài sản

- Tỷ lệ vốn bình

phương Đặc trưng cho vay

De Nicolo (2000) 1988-1998

Mẫu : 419

Dữ liệu World scope các công ty nắm giữ ngân hàng

có dữ liệu trên 3 năm

Z-scored Biến động của ROA

Tỷ lệ vốn trên tổng tài sản

Log của tổng tài sản

Các ngân hàng nhỏ hoạt động ở các khu vực phi nông thôn

Z-score

Tỷ lệ vốn trên tổng tài sản

Log của tổng tài sản

- Quy định cạnh

tranh ngân hàng của quốc gia

Trang 30

Laeven and

Levine (2009)

1996-2001 Mẫu : 270

BankScope &

Bankers Almanac

10 ngân hàng công lớn nhất của mỗi quốc gia

Z-score Log của tổng tài

Z-score ROA

Tỷ lệ vốn trên tài sản Biến động của ROA

Log của tổng tài sản

+ Log của tổng tài

sản Quyền tín dụng Kiểm soát quốc gia

Sanjai Bhagat;

Brian Bolton; Jun

Lu

1998-2008 Mẫu : 302

Dữ liệu của các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu

tư, tổ chức tài chính

Z-score Biến động của ROA Biến động của lợi nhuận cổ phiếu

Log của tổng tài sản Log của tổng lợi nhuận

- Giá trị thị trường

trên giá trị sổ sách

Tỷ lệ nắm giữ của ban giám đốc

Tỷ lệ nắm giữ của CEO

Nguồn : Tác giả tổng hợp từ bải nghiên cứu trước

Trang 31

2.2 XÂY DỰNG GIẢ THIẾT

2.2.1 Mối quan hệ giữa quy mô Ngân hàng và mức độ chấp nhận rủi ro

Lập luận giả thiết H1a

Trong bài nghiên cứu của Sanjai Bhagat & Bolton (2015), các nhà quản lý ngân

hàng biết rằng, việc quy mô của ngân hàng tăng lên và đạt đến trạng thái “Too big

to fail” thì ngân hàng sẽ được nhiều ưu đãi hơn từ chính phủ và ngân hàng nhà nước Bởi khi đã đạt đến trạng thái quy mô lớn ảnh hưởng đến nền kinh tế, một khi các ngân hàng này sụp đổ, cả hệ thống tài chính và toàn bộ nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng theo Chính vì những đặc quyền vượt trội nên các ngân hàng càng có động lực để tăng mạnh quy mô để tiếp tục theo đuổi các dự án có rủi ro cao và lợi nhuận cực lớn mà vẫn có biện pháp cứu trợ từ chính phủ khi khủng hoảng xảy ra Các ngân hàng thực hiện các chính sách để kích thích tăng mạnh quy mô của mình, chấp nhận các dự án có rủi ro cao, dù có những dự án đem lại dòng tiền âm (NPV<0) Các ngân hàng thường xuyên chấp nhận các dự án có lợi nhuận khổng lồ nhưng

kèm theo rủi ro cao sẽ cố gắng tăng quy mô của mình

Khi một ngân hàng chấp nhận một dự án có quá nhiều rủi ro, ngân hàng đó buộc lòng phải tăng nguồn vốn chủ sở hữu để đảm bảo tính an toàn cho ngân hàng –“Giả thuyết điều chỉnh” Vì khi một ngân hàng có nguồn vốn chủ sở hữu lớn, điều đó

cảm giác sẽ ta ̣o ra một vòng tròn bảo trợ đảm bảo an toàn cho ngân hàng

Chính vì những lý luận trên, tác giả đưa ra giả thiết H1:

H1a : Có mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô ngân hàng và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận

Lập luận giả thiết H1b

Khi quy mô ngân hàng càng lớn, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng đáng kể, các cổ đông sẽ yêu cầu nhà quản trị thiết lập các danh mục để đa dạng hoá rủi ro nhằm bảo toàn nguồn vốn Nhà quản trị các ngân hàng lớn có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc quản trị rủi ro so với các ngân hàng quy mô nhỏ Lúc này, nguồn vốn chủ sở hữu được xem như là một bộ đệm hạn chế thiệt hại cho ngân

Trang 32

hàng

Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Kane, 2002, rủi ro đạo đức sẽ giảm xuống nếu như quy mô ngân hàng càng lớn Bài nghiên cứu nói rằng, rủi ro đạo đức liên quan đến việc trục lợi từ bảo hiểm tiền gửi Các ngân hàng sẽ chạy theo lợi nhuận mà bỏ qua việc kiểm soát rủi ro

Bảo hiểm tiền gửi là công cụ được triển khai để đảm bảo người gửi tiền vào ngân hàng khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, không thể trả lãi và hoàn trả tiền gửi cho người gửi khi người gửi yêu cầu rút hết số tiền trong tài khoản ra Tuy nhiên, vì

có các khoản bảo hiểm tiền gửi này, nên ngân hàng tập trung vào các dự án sinh ra lợi nhuận nhiều hơn, đi kèm với rủi ro nhiều hơn, nếu có vấn đề gì xảy ra với nguồn vốn ngân hàng, đã có bảo hiểm tiền gửi bù đắp

Khi quy mô nguồn vốn lớn, ban quản trị ngân hàng có trách nhiệm nhiều hơn trong việc tạo lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo bảo toàn nguồn vốn cho các cổ đông Các cổ đông nắm vị trí chủ chốt trong các ngân hàng đã bỏ ra một lượng tiền lớn vào ngân hàng, họ sẽ có một số quyền lực nhất định để yêu cầu ban quản trị, giám đốc điều hành tạo ra lợi nhuận nhất định nhưng vẫn đảm bảo nguồn vốn của họ

Quy mô ngân hàng càng lớn, việc quản trị rủi ro càng được đảm bảo hơn Tác giả đưa ra giả thiết H2:

H1b : Có mối quan hệ ngược chiều giữa Quy mô ngân hàng và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận

Mặc dù thực tế, tại Việt Nam, các ngân hàng rơi vào khủng hoảng và được nhà nước cứu trợ là các ngân hàng có quy mô nhỏ, tuy nhiên, tác giả vẫn kỳ vọng kết quả bài nghiên cứu này về việc quy mô tăng thì mức độ chấp nhận rủi ro chấp nhận cũng tăng lên, phù hợp và trùng với phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới

Trang 33

2.2.2 Mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài chính

Lập luận giả thiết H2a

Đòn bẩy tài chính liên quan việc xác định tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn của ngân hàng Nhiệm vụ của các nhà quản trị là lựa chọn một tỷ lệ thích hợp để tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp Tuỳ vào quy mô của ngân hàng mà các nhà quản trị lựa chọn các tỷ lệ đòn bẩy khác nhau

Trong các bài nghiên cứu trước đây của Harris và Ravi (1990), Y Wiwattanakatang (1999), J J Chen, Yan Xue, (2004) cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính

Các ngân hàng có quy mô lớn thì dòng tiền càng ổn định, năng lực quản trị, đa dạng hoá đầu tư và việc nhận biết thông tin bất cân xứng càng tốt hơn, vì thế khả năng phá sản cũng thấp hơn so với các ngân hàng còn lại Quy mô ngân hàng càng lớn thì khả năng huy động được từ tiền gửi công chúng và đi vay từ các tổ chức tài chính khác sẽ dễ dàng hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ Điều này cho thấy, các ngân hàng lớn thì tỷ lệ nợ cao hơn

Theo quan điểm của “Lý thuyết đánh đổi” - Kraus & Litzenberger (1973), các nhà quản trị tin rằng sẽ có một cấu trúc vốn tối ưu giúp tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được xác định dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính Khi doanh nghiệp tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính lên, vay càng nhiều thì lợi ích của tấm chắn thuế càng lớn, đồng thời chi phí kiệt quệ tài chính cũng tăng Các chủ nợ của doanh nghiệp sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn bù đắp rủi ro tăng lên, chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng Theo Castanias (1983), khi lợi nhuận biên từ tấm chắn thuế cân bằng với chi phí của kiệt quệ tài chính thì dừng vay thêm nợ

Do lợi ích từ tấm chắn thuế và lợi thế về khả năng huy động vốn tốt, các doanh nghiệp lớn càng có động lực để đi vay nhiều hơn

Theo lý thuyết đánh đổi cấu trúc, quy mô doanh nghiệp và cấu trúc vốn có sự tương quan thuận Doanh nghiệp có quy mô lớn và đa dạng hoá danh mục hoạt động có rủi ro phá sản thấp hơn khi so sánh với các doanh nghiệp nhỏ hơn Các doanh

Trang 34

nghiệp lớn sẽ có lợi thế khi hợp tác với các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp này

sẽ nhận được ưu đãi về chi phí giao dịch, lãi suất vay

Các doanh nghiệp nhỏ thường không nhận được khoản ưu đãi này do tần suất giao dịch thấp, quy mô đơn hàng nhỏ và quy mô khoản vay nhỏ

Theo bài nghiên cứu của Ozkan (2001) các doanh nghiệp có quy mô nhỏ dễ bị tổn thương trước những biến động của nền kinh tế và rủi ro phá sản cao hơn, vì thế khả năng huy động vốn bị hạn chế

Ngoài ra, nguồn vốn dựa trên tài sản của cổ đông, các quyết định sai lầm về tài chính sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ Các cổ đông sẽ sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo các nhà quản lý duy trì tỷ lệ đòn bẩy thấp hoặc vừa phải

H2a : Có mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài chính

Tác giả kỳ vọng về mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài chính, trùng với kết quả của bài nghiên cứu nền tảng Sanjai Bhagat & Bolton (2015)

Lập luận giả thiết H2b

Ngân hàng có quy mô lớn nghĩa là số tiền bỏ ra của các cổ đông cũng lớn hơn rất nhiều so với các cổ đông các ngân hàng quy mô nhỏ hơn, vì thế, các cổ đông muốn nhận được sự đảm bảo để nguồn vốn họ đầu tư được sử dụng hiệu quả tối đa nhất, đồng thời phải bảo toàn nguồn vốn của họ Khi người điều hành ngân hàng – tổng giám đốc CEO sử dụng tỷ lệ nợ vay nhiều hơn, rủi ro của các cổ đông cũng nhiều hơn Vì thế các cổ đông sẽ sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo các CEO sẽ duy trì tỷ lệ vay thấp

Theo lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết này chỉ ra rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ngân hàng và cấu trúc vốn Lý thuyết trật tự phân hạng phát triển dựa trên việc bất cân xứng thông tin tác động đến các quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp Các doanh nghiệp phát hành các chứng khoán thì các nhà đầu tư mới sẽ yêu cầu một mức chiết khấu cao hơn do họ cho rằng các nhà quản trị và các

Trang 35

cũng tạo ra nhiều tín hiệu cho thị trường về hiện trạng công ty Bởi vì bất cân xứng thông tin dẫn đến việc huy động vốn tốn nhiều chi phí, và tạo tín hiệu không tốt ra ngoài thị trường, khi có nhu cầu vốn, các nhà quản trị sẽ sử dụng nguồn tài trợ nội

bộ từ lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp, huy động bằng các khoản vay, và cuối cùng mới là phát hành cổ phần thường mới

Trong các nghiên cứu về việc xác định mức vốn tốn thiểu của ngân hàng của Shrieves và Dahl (1992) và các bài nghiên cứu mở rộng được thực hiện bởi Jacques

và Nigro (1997), và Ediz, Michael và Perraudin (1998), đưa ra kết luận về việc điều chỉnh tỷ lệ vốn của ngân hàng tốn rất nhiều chi phí, nên các ngân hàng sẽ giữ nhiều vốn bằng hoặc hơn mức vốn tối thiểu ngân hàng nhà nước yêu cầu Phần vốn được giữ dư ra so với quy định tối thiểu được gọi là “đệm vốn” Myers and Majluf (1984) cho rằng các thông tin về việc ngân hàng thiếu vốn sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh và giá trị của ngân hàng do bất cân xứng thông tin trên thị trường, do đó, các ngân hàng luôn đảm bảo việc duy trì tỷ lệ vốn dư thừa để phòng ngừa các trường hợp bất ổn xảy ra dẫn đến thiếu vốn

Các doanh nghiệp có quy mô lớn thường sẽ có vốn nhàn rỗi và lợi nhuận giữ lại cao, vì thế các doanh nghiệp này sẽ huy động nguồn bên trong doanh nghiệp trước khi huy động ra bên ngoài bằng hình thức đi vay hoặc phát hành cổ phiếu mới Quy

mô càng lớn, tỷ đòn bẩy tài chính càng thấp

H2b : Có mối quan hệ ngược chiều giữa Quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài chính

2.2.3 Mối quan hệ giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi Hội đồng quản trị, nhà điều hành CEO và mức độ chấp nhận rủi ro

Lập luận giả thiết H3a và H4a

Các định hướng, các quyết định cho vay và đầu tư của ngân hàng là một quyết định

vô cùng quan trọng giúp cho doanh nghiệp có thể tạo lập, duy trì và mở rộng dự án hoạt động Tuy nhiên, đáng lý những quyết định này phải mang tính khoa học, dựa trên các dữ liệu phân tích, những báo cáo cụ thể, thì các quyết định này lại bị ảnh

Trang 36

hưởng bởi tâm lý, thái độ của Tổng giám đốc – CEO, Hội đồng quản trị và các cổ đông

Trong một ngân hàng với các cơ chế đặc thù và quy mô lớn, các cổ đông – những người sở hữu ngân hàng không đủ năng lực chuyên môn, sẽ không thể nào có thể kiểm soát hết các hoạt động và quản lý hết mọi việc Vì thế, các cổ đông sẽ họp lại thành lập Hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông lại bầu ra Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị thay mặt các cổ đông của doanh nghiệp để thuê một người để điều hành doanh nghiệp – Tổng giám đốc CEO để giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của ngân hàng

Theo lý thuyết, Hội đồng quản trị sẽ luôn nhìn mọi vấn đề qua lăng kính “Mong đợi của cổ đông” và có nhiệm vụ quan trọng trong việc hoạch định chiến lược doanh nghiệp và giám sát Tổng giám đốc – CEO điều hành doanh nghiệp Thành viên trong hội đồng quản trị và Tổng giám đốc không nhất thiết phải là cổ đông của doanh nghiệp

Sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp làm nảy sinh các mối

lo ngại rằng, những người quản lý, điều hành sẽ theo đuổi những mục tiêu rất hấp dẫn đối với họ, song chưa chắc đã có lợi cho các cổ đông, cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, khẩu vị rủi ro của người quản lý và điều hành cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hành công ty Một trong những phương thức để có thể kiểm soát được hành vi của người quản lý là thông qua kiểm soát thu nhập của họ Công ty cần phải

có một cơ chế phù hợp để đảm bảo lợi ích của chủ sở hữu và nhà điều hành luôn song hành chung với nhau Theo nghiên cứu của Scott (2006), một cơ chế thù lao hợp lý cho các giám đốc phải đảm bảo được tối thiểu 3 yêu cầu sau :

• Thứ nhất, cơ chế thù lao khuyến khích nhà quản lý, điều hành làm việc với

nỗ lực cao nhất Mức thù lao của nhà quản lý, điều hành phải tỷ lệ thuận với sự nỗ lực của nhà quản lý, điều hành

• Thứ hai, cơ chế thù lao phải khuyến khích nhà quản lý, điều hành tập trung vào lợi ích ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp

Trang 37

• Thứ ba, kiểm soát được mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp thông qua kiểm soát người điều hành

Một số nghiên cứu nói rằng việc CEO được trả thù lao bằng cổ phiếu hoặc yêu cầu các nhà quản lý nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu nhất định của doanh nghiệp sẽ thực sự gắn lợi ích của nhà quản lý, điều hành với lợi ích của công ty và của cổ đông Khi tỷ lệ nắm giữ cổ phần của hội đồng quản trị, của tổng giám đốc càng cao, thì họ sẽ có xu hướng đưa ra các quyết định để đảm bảo nguồn vốn bỏ ra của mình, lựa chọn các

dự án chắc chắn hơn, mức độ rủi ro chấp nhận cũng thấp hơn

Dựa trên tâm lý muốn bảo toàn nguồn vốn đã bỏ ra của chủ sở hữu, tác giả đưa ra các giả thiết:

H3a: Có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi hội đồng quản trị và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận

H4a: Có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi Tổng giám đốc CEO và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận

Lập luận giả thiết H3b và H4b

Jensen và Meckling (1976) cho rằng chi phí đại diện xuất hiện trong môi trường bất cân xứng thông tin, do mâu thuẫn lợi ích giữa các cổ đông – người sở hữu và người quản lý, điều hành – hội đồng quản trị, tổng giám đốc CEO Các nhà quản lý, điều hành có thể có các hành động trục lợi cá nhân, lựa chọn rút lui khỏi những công việc khó khăn, lờ đi mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Những phí tổn này sẽ

do những người sở hữu doanh nghiệp gánh chịu

Theo nghiên cứu của Jensen (1986), một trong những biểu hiện của việc trục lợi cá nhân của các nhà quản lý, điều hành là họ không muốn chi trả cổ tức, thay vào đó giữ dòng tiền lợi nhuận trong doanh nghiệp Nắm giữ dòng tiền trong doanh nghiệp nghĩa là các nhà quản lý, điều hành sẽ tìm cách chi tiêu, họ có xu hướng đầu tư vào các dự án không sinh lợi – những dự án không đem lại lợi ích cho công ty nhưng có mối liên hệ cá nhân với nhà quản lý, điều hành

Các nhà quản lý, điều hành không ưa thích rủi ro và đưa ra các quyết định để rút lui khỏi những công việc khó khăn, lờ đi mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp và

Trang 38

hoàn toàn đối lập với ước muốn của người sở hữu – những người có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn với mong đợi lợi nhuận vượt trội

Các CEO thường là các nhà quản lý, điều hành e ngại rủi ro hoặc trung lập với rủi

ro nguyên nhân là do họ thường được những khoản tiền cố định và phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Nếu như những quyết định của nhà quản lý, điều hành dẫn đến thất bại, thì họ sẽ là người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, danh tiếng của các CEO sẽ bị ảnh hưởng, sẽ khó khăn cho họ khi rời khỏi công ty và được bổ nhiệm vào các vị trí cao hơn ở các công ty khác hay làm giảm các lợi ích, đặc quyền đem lại thu nhập riêng cho họ khi

họ đang nắm giữ vị trí điều hành của doanh nghiệp hiện tại Còn nếu quyết định mạo hiểm của họ đem đến sự thành công cho dự án thì mức thu nhập tăng thêm của

họ cũng không đáng kể và không phù hợp với nỗ lực của họ Các nhà quản lý, điều hành sẽ có xu hướng hạn chế rủi ro của mình bằng cách từ bỏ những dự án lợi nhuận tiềm năng cao nhưng mức rủi ro cao, và lựa chọn dự án lợi nhuận vừa phải nhưng rủi ro ít hơn vì dựa trên cơ chế thù lao cố định và tiền thưởng dựa trên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, không hề có một chất kích thích để họ thay đổi lựa chọn của mình

Bên cạnh đó hình thức chi trả lương thưởng của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến tâm lý hành vi của Hội đồng quản trị và CEO

Tiền lương cứng : Ngày nay, các CEO thường hay nhận được lương cứng

khá là cao Đó có thể xem là một ghi nhận tuyệt vời khi CEO điều hành công ty tốt

và cũng là một khoản kếch xù dù quyết định của CEO gây ra sự thua lỗ cho công ty Việc nhận được khoản tiền mặt khá cao không phải là một động lực để CEO tập trung vào việc điều hành và đưa ra các quyết định mang tính hiệu quả

Tiền thưởng : Việc thưởng theo hiệu quả công việc cũng đem lại hiệu quả

nhất định giúp CEO có động lực hơn để làm việc tốt hơn Thông qua lợi nhuận, dòng tiền, giá trị thị trường của doanh nghiệp, các cổ đông có thể quan sát được nỗ lực của các nhà quản lý, điều hành Lợi nhuận của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với mức

Trang 39

hiệu quả công việc của các nhà quản lý, điều hành có hai nhược điểm: Thứ nhất, phương pháp hạch toán khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lợi nhuận của doanh nghiệp khác nhau và do nguyên tắc thận trọng của kế toán, lợi nhuận không được ghi nhận kịp thời Thứ hai, các quyết định của nhà quản lý, điều hành mang tính chiến lược và đem lại lợi nhuận trong dài hạn, và có thể không mang lại lợi nhuận trong ngắn hạn Tình trạng thông tin không cân xứng khiến cho nhà đầu tư không thể quan sát và đo lường mức độ hiệu quả công việc của CEO, nên rất khó để đưa ra một con số hợp lý đem đến sự hài lòng để họ nỗ lực hơn

Quyền chọn cổ phiếu : Các công ty trả quyền chọn cổ phiếu như là một

cách gắn lợi ích tài chính của các CEO với lợi ích của các cổ đông Giá cổ phiếu phản ánh tiềm năng của doanh nghiệp trong ngắn và dài hạn, bên cạnh đó, giá cổ phiếu không ảnh hưởng bởi phương pháp kế toán áp dụng của doanh nghiệp Dựa trên việc tăng giá cổ phiếu, cả chủ sở hữu lẫn các nhà quản lý, điều hành đều mong muốn tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Khi giá cổ phiếu tăng, CEO có thể kiếm được một khoản lớn từ các quyền chọn cổ phiếu, nhưng khi giá giảm, các nhà đầu tư sẽ là người chịu thiệt, còn các CEO sẽ không bị ảnh hưởng gì Tuy nhiên, giá trị cổ phiếu chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nằm ngoài kiểm soát của các nhà quản lý, điều hành, như các biến động của nền kinh tế, sự không hoàn hảo của thị trường chứng khoán làm cho cổ phiếu bị định gía thấp hơn Ngoài tác động của thị trường, các CEO cũng có thể thực hiện các thủ thuật để các cổ phiếu có lãi, các CEO sẽ tập trung vào ngắn hạn mà lờ đi mục tiêu và lợi ích dài hạn của các cổ đông thông qua việc điều chỉnh số liệu Giá trị cổ phiếu có thể bị phản ánh sai lệch trong ngắn hạn do các thông tin bị các nhà quản lý, điều hành bóp méo do áp dụng phương pháp kế toán Phương pháp kế toán này làm tăng kết qủa hoạt động kinh doanh năm hiện tại, nhưng làm giảm kết quả kinh doanh tương lai Điều này hầu như không giúp củng

cố liên kết giữa các CEO và cổ đông công ty

Sở hữu cổ phần : Phương pháp này khuyến khích các nhà quản lý, điều

hành nỗ lực trong việc tăng giá trị doanh nghiệp trong dài hạn vì kết quả hoạt động

Trang 40

của doanh nghiệp và sự tăng giảm của giá cổ phiếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của CEO

Với động lực làm phải làm tăng lợi nhuận của công ty, các nhà quản lý, điều hành phải cân nhắc và lựa chọn các dự án đem lại tỷ suất sinh lợi vượt trội Và theo lẽ thông thường, một tỷ suất sinh lợi vượt trội sẽ đi theo là một mức rủi ro cao Việc nắm giữ cổ phiếu của công ty đã làm gia tăng mức độ gánh chịu rủi ro của nhà quản

lý, điều hành doanh nghiệp

Như đã trình bày ở trên, cơ chế thù lao ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của nhà quản

lý, điều hành doanh nghiệp Nếu chỉ dựa vào lương cố định và thưởng dựa trên kết quả lợi nhuận của doanh nghiệp, các nhà quản lý, điều hành lựa chọn các dựa án đem lại mức lợi nhuận vừa phải với mức rủi ro ít

Nếu thay đổi cơ chế thù lao, bên cạnh mức thu nhập cố định, thì các nhà quản lý, điều hành còn nắm giữ một số lượng cổ phiếu của doanh nghiệp Với mục tiêu làm tăng giá trị cổ phiếu – tăng giá trị doanh nghiệp, các nhà quản lý, điều hành sẽ đi đến các quyết định lựa chọn các dự án đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp với rủi ro cao hơn thông thường mà họ thường chấp nhận Phương pháp này được kỳ vọng tạo ra tác động tích cực lên giá trị doanh nghiệp Hiệu ứng hội tụ lợi ích cho rằng: “Khi nhà quản lý, điều hành đồng thời là người sở hữu – cổ đông thì lợi ích sẽ giao thoa mạnh với nhau, tương quan dương giữa giá trị doanh nghiệp và tỷ lệ sở hữu của người điều hành”

Dựa trên lý thuyết về chi phí đại diện, thái độ đối với rủi ro của nhà quản lý, điều hành khi thay đổi cơ chế thù lao, tác giả đưa ra các giả thiết sau:

H3b: Có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi hội đồng quản trị và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận

H4b: Có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi Tổng giám đốc CEO và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận

Ngày đăng: 11/07/2019, 23:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN