1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yêu cầu vốn tối thiểu, chi phí trung gian và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại việt nam

64 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yêu cầu vốn tối thiểu, chi phí trung gian và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả Dương Lâm Du My
Người hướng dẫn PGS. TS Đặng Văn Dân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DƯƠNG LÂM DU MY YÊU CẦU VỐN TỐI THIỂU, CHI PHÍ TRUNG GIAN VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Hướng đào tạo: Hướng ứng

Trang 1

DƯƠNG LÂM DU MY

YÊU CẦU VỐN TỐI THIỂU, CHI PHÍ TRUNG GIAN

VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2

DƯƠNG LÂM DU MY

YÊU CẦU VỐN TỐI THIỂU, CHI PHÍ TRUNG GIAN

VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Đặng Văn Dân

Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với tên đề tài : “Yêu cầu vốn tối

thiểu, chi phí trung gian và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học do chính cá nhân tôi thực hiện

dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đặng Văn Dân Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

về tính trung thực của công trình nghiên cứu khoa học này

TP.HCM, ngày… tháng… năm 2020

Tác giả

Dương Lâm Du My

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

1.7 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ YÊU CẦU VỐN TỐI THIỂU 5

2.1 Các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu 5

2.1.1 Quy định về yêu cầu vốn tối thiểu 5

2.1.2 Chi phí trung gian tài chính 10

2.1.3 Mức độ chấp nhận rủi ro ngân hàng 11

2.2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm 12

2.2.1 Ảnh hưởng của yêu cầu vốn tối thiểu đến chi phí trung gian 12

Trang 5

2.2.2 Ảnh hưởng của yêu cầu vốn tối thiểu đến mức độ chấp nhận rủi ro ngân

hàng 15

2.3 Tình hình thực hiện yêu cầu vốn tối thiểu tại Việt Nam 24

2.4 Giả thiết nghiên cứu 26

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Mô hình nghiên cứu 27

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 28

3.3 Mô tả biến nghiên cứu 28

3.3.1 Biến phụ thuộc 28

3.3.2 Biến độc lập 29

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Thống kê mô tả 35

4.2 Tác động của yêu cầu vốn đến chi phí trung gian tài chính 38

4.3 Tác động của yêu cầu vốn lên mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng 44 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Hạn chế của đề tài và kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước đây 23

Bảng 2.2: Tỷ lệ an toàn vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (đến tháng 09/2020) 24

Bảng 3.1: Kỳ vọng dấu giữa các biến 33

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu 35

Bảng 4.2: Tương quan Nim 36

Bảng 4.3: Tương quan Zscrore 37

Bảng 4.4: Mô hình OLS của chi phí trung gian tài chính 38

Bảng 4.5: Kiểm định đa cộng tuyến 39

Bảng 4.6: Mô hình REM của chi phí trung gian tài chính 40

Bảng 4.7: Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian 41

Bảng 4.8: Mô hình FEM của chi phí trung gian tài chính 42

Bảng 4.9: Kiểm định Hausman 43

Bảng 4.10: Kết quả hồi quy tác động của yêu cầu vốn đến mức độ chấp nhận rủi ro 44

Bảng 4.11: Kiểm định đa cộng tuyến 45

Bảng 4.12: Mô hình REM của rủi ro ngân hàng 46

Bảng 4.13: Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian 47

Bảng 4.14: Mô hình FEM của rủi ro ngân hàng 47

Bảng 4.15: Kiểm định Hausman 48

Trang 8

TÓM TẮT

Do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009, quy định về vốn dựa trên Hiệp định Basel đã được nhấn mạnh để đảm bảo ổn định tài chính Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng yêu cầu vốn nghiêm ngặt có thể buộc các ngân hàng tăng chi phí trung gian tài chính Ngoài ra, các ngân hàng có thể điều chỉnh đồng thời tỷ lệ vốn và rủi ro danh mục đầu tư Bài nghiên cứu kiểm định tác động của yêu cầu vốn đối với chi phí trung gian tài chính và hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng bằng sử dụng bộ dữ liệu bảng gồm 15 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019 Kết quả cho thấy rằng hệ số an toàn vốn của ngân hàng có tương quan dương với chi phí trung gian tài chính, trong khi nó lại tác động ngược chiều với các biến chấp nhận rủi ro của ngân hàng

Từ khóa: chi phí trung gian tài chính, yêu cầu vốn, rủi ro ngân hàng

Trang 9

ABSTRACT

As the adsverse effect of the 2007-2009 global financial crisis, the regulation

of capital structure based on the Basel Agreement has been emphasized to ensure the financial stability Nothwithstanding, the researchers argue that requirements of strict capital structure are considered as the compulsory for banks to enhance the cost of financial intermediation Additionally, the banks could adjust both the capital ratio and portfolio risk at the same time This research tests the impact of capital requirements on financial intermediation costs and the risk tolerance of the bank thoughout using a set of table data of 15 Vietnamese commercial banks for the period 2009-2019 The results show that the bank's capital adequacy ratio is positively correlated with the cost of financial intermediation, while it has negative effects with the risk appetite variables of the bank

Keywords: financial intermediation costs, capital requirements, banking risk

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Với xu hướng hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa mạnh mẽ thì đây vừa là cơ hội cũng như thách thức để các NHTM Việt Nam nâng cao khả năng quản trị ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao tính minh bạch, công khai những vẫn đảm khả năng sinh lời “Sự đổi mới trong công nghệ ngân hàng và quá trình hội nhập nhanh chóng vào thị trường tài chính thế giới đã khiến môi trường hoạt động của các ngân hàng ngày càng phức tạp và nhiều rủi ro Những rủi ro tài chính xuất hiện với tần suất cao và mức độ nghiêm trọng lại tiếp tục đẩy các chủ thể kinh tế trong và ngoài nước phải đối mặt với nhiều rủi ro khác Hiệp ước vốn Basel được coi là Quy định mang lại tính hiệu quả nhất trong giám sát hoạt động của các ngân hàng và là công

cụ tốt mang lại sự ổn định cho hệ thống ngân hàng Chuẩn mực Basel giúp cho nhà quản lý phát hiện, đo lường được rủi ro, giúp loại bỏ hoặc giảm thiểu tác động của rủi ro và xây dựng được một Quy trình giám sát hoạt động quản trị rủi ro cho tổ chức của mình” Trong khi các Ngân hàng trong khu vực đã áp dụng Basel II, hoặc Basel III, thì các Ngân hàng tại Việt Nam đang trong quá trình triển khai và hoàn thiện chuẩn Basel II

Việc áp dụng Hiệp ước Basel trong công tác giám sát hoạt động của các ngân hàng còn nhiều khó khăn Đến năm 2016, NHNN đã ban hành thông tư 41/2016/TT-NHNN quy định về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tối thiểu là 8%

Thực hiện theo hiệp ước sẽ đảm bảo cho các NHTM duy trì lượng vốn yêu cầu

đủ để bù đắp các rủi ro có thể xãy ra như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường Để đáp ứng được yêu cầu vốn đặt ra, các ngân hàng cũng phải cân đối lại danh mục cho vay dựa trên tỷ trọng tài sản có rủi ro, điều này cũng giúp làm giảm thiểu rủi ro của ngân hàng

Tuy nhiên, quy định vốn quá khắt khe cũng có thể có tác dụng phụ Một mặt, các ngân hàng sẽ đưa ra các thước đo thận trọng để giảm thiểu tối đa tác động của

Trang 11

cuộc khủng hoảng kinh tế nếu có xảy ra đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và các điều kiện về kinh tế vĩ mô đi kèm Mặt khác, quy định về yêu cầu vốn tăng thêm làm gia tăng biên lãi vay hay chi phí trung gian, giảm rủi ro tín dụng và tăng khả năng sinh lời của ngành ngân hàng, đồng thời các ngân hàng trở nên thận trọng hơn trong việc mở rộng tín dụng và cản trở trong việc tăng trưởng kinh tế

Cũng từng có nhiều luồng tranh luận về sự cần thiết của Hiệp ước về vốn Đâu

là tiêu chuẩn phù hợp để thực thi các quy định mà vẫn đảm bảo khả năng hoạt động với vai trò trung gian tài chính của các NHTM Và để giải quyết cho câu hỏi này cần phải xem xét tác động cụ thể của yêu cầu về vốn đến chi phí trung gian tài chính cũng như rủi ro của ngân hàng Đây là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Yêu cầu vốn tối thiểu, chi phí trung gian và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xuất phát từ ý tưởng nghiên cứu trên, bài viết tập trung giải quyết hai mục tiêu sau:

(i) Xem xét sự tác động của yêu cầu vốn đến chi phí trung gian tài chính và

mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTM tại Việt Nam

(ii) Xem xét các tác động khác như đặc thù ngân hàng hay yếu tố vĩ mô lên

chi phí trung gian tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTM tại Việt Nam khi áp dụng quy định yêu cầu vốn

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu đặt ra, bài viết sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi cụ thể sau:

(i) Yêu cầu vốn tối thiểu có ảnh hưởng đến chi phí trung gian và mức độ

chấp nhận rủi ro của các NHTM ở Việt Nam hay không?

(ii) Khi áp dụng quy định yêu cầu vốn thì các yếu tố như đặc thù ngân hàng

hay yếu tố vĩ mô có ảnh hưởng đến chi phí trung gian và mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTM ở Việt Nam?

Trang 12

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Bài nghiên cứu tập trung phân tích 15 NHTM Việt Nam, đây là các ngân hàng

đã hoạt động từ rất lâu và có được số liệu trong giai đoạn 2009-2019 được công bố tại các trang web của các NHTM, sử dụng báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo thường niên

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Mô hình hồi quy bao gồm biến phụ thuộc và các biến độc lập được phân tích bởi ba phương pháp ước lượng khác nhau là: Mô hình tác động cố định FEM (Fixed Effects Model), mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random Effects Model) và phương pháp bình phương bé nhất Pooled OLS Sau đó, để đảm bảo sự phù hợp của

mô hình với dữ liệu nghiên cứu, tác giả sẽ tiến hành thực hiện một số kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian để lựa chọn giữa Pooled OLS và REM, kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình REM và FEM

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài hệ thống hóa về hiệp ước Basel qua 03 phiên bản trên thế giới và hiện tại đang được áp dụng tại các ngân hàng Việt Nam là Basel II Qua quá trình nghiên cứu hiệp định vốn Basel về yêu cầu vốn tối thiểu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM ở Việt Nam, làm rõ các nhân tố tác động đến chi phí trung gian và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam như thế nào Nghiên cứu góp phần tìm hiểu các nhân tố góp phần tác động đến chi phí trung gian và làm ảnh hưởng đến hiệu suất sinh lợi của ngân hàng trong giai đoạn trước khi yêu cầu vốn tối thiểu, trong quá trình triển khai và sau giai đoạn quy định hiệp định vốn ban hành năm

2016 Ngoài ra, nghiên cứu này giúp hỗ trợ các nỗ lực của NHNN để thực thi các quy định về vốn nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam Đồng thời giúp các nhà quản trị ngân hàng đánh giá về lợi ích và chi phí khi ngân hàng dần dần theo lộ trình phải bắt buộc tuân theo hiệp ước vốn theo thông lệ của quốc tế từ đó đề ra các chiến lược kinh doanh, rà soát và cải tiến chính sách, đưa ra các biện pháp về quản trị rủi ro sao cho phù hợp và tăng trưởng bền vững

Trang 13

1.7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu bài viết gồm 5 chương chính, sau các chương chính là phần tài liệu tham khảo và phần phụ lục

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan

Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG

THỰC NGHIỆM VỀ YÊU CẦU VỐN TỐI THIỂU

2.1 Các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

2.1.1 Quy định về yêu cầu vốn tối thiểu

Theo nghiên cứu của Al – Sabbagh (2004), an toàn vốn được xem như là chỉ báo về rủi ro của ngân hàng Rủi ro của các ngân hàng được phân thành nhiều loại rủi

ro khác nhau, bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro trong hoạt động ngân hàng được tính trong tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Do đó, các cơ quan quản lý ngân hàng

đã sử dụng CAR như là một chỉ số quan trọng cho tính an toàn và giám sát rủi ro đối với các ngân hàng vì họ coi vốn như một tấm đệm hoặc để hấp thụ các tổn thất (Abdel – Karim, 1964) Vốn cao hơn có thể làm giảm thiểu tổn thất ngân hàng trong trường hợp ngân hàng gặp khó khăn và do đó nó hoạt động như một tấm đệm chống lại sự phá sản dự kiến (Homölle, 2004)

Yêu cầu về vốn tối thiểu được coi là một quy định quan trọng về an toàn vĩ mô

để đảm bảo sự ổn định tài chính Hiệp định Basel đầu tiên, Basel I, được Ủy ban Basel

về Giám sát Ngân hàng (BCBS) ban hành vào năm 1988 Theo yêu cầu hiệp ước này

Basel-I đặc biệt tập trung vào rủi ro tín dụng ngân hàng và yêu cầu các ngân hàng duy trì tỷ lệ vốn phù hợp với tài sản điều chỉnh rủi ro tối thiểu là 8% để bù đắp cho những rủi ro và tổn thất có thể xảy ra Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) theo Basel I được tính theo công thức:

Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒗ố𝒏

𝑻à𝒊 𝒔ả𝒏 𝒄ó 𝒓ủ𝒊 𝒓𝒐 (𝑹𝑾𝑨)Trong đó, tổng vốn bao gồm vốn cấp 1 là các loại vốn chắc chắn như vốn chủ

sở hữu, lợi nhuận giữ lại, lợi ích thiểu số tại các công ty con có hợp nhất báo cáo tài chính, lợi thế kinh doanh), vốn cấp 2 là vốn có chất lượng thấp hơn cấp 1 như nguồn vốn tăng do đánh giá lại tài sản, dự phòng các tổn thất chung, đầu tư tài chính vào các công ty con và TCTD khác, vốn từ những công cụ nợ trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu

ưu đãi hay công cụ nợ khác và cuối cùng là vốn cấp 3 là vốn có độ tin cậy thấp nhất

Trang 15

như các khoản vay ngắn hạn Tổng vốn cấp 2 và cấp 3 không vượt quá vốn cấp 1 Basel I vẫn còn hạn chế khi chỉ tập trung vào yêu cầu vốn tối thiểu mà chưa đề cập đến rủi ro thị trường và rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Năm 2004, Hiệp ước Basel II được được BCBS ban hành để khắc phục những điểm yếu của Hiệp định Basel I, chủ yếu là đưa thêm vào phần bù rủi ro hoạt động ngân hàng được thêm vào yêu cầu vốn tối thiểu ngoài phần bù tín dụng ngân hàng và rủi ro thị trường Nội dung của Basel II gồm:

- Ba trụ cột: (1) Trụ cột thứ I: “duy trì vốn bắt buộc Tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi

ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường; (2) Trụ cột thứ II: việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Nó đưa ra một khung các giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp chung lại được gọi là rủi ro còn lại (residual risk); (3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này”

- Việc tính toán CAR, tổng vốn cũng bao gồm vốn cấp 1 và cấp 2 như Basel 1 Tuy nhiên, ở mẫu số, hệ số rủi ro của tài sản còn xét đến hệ số rủi ro trong mỗi loại tài sản và hệ số tín nhiệm của từng loại khách hàng Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng Cách tính CAR ở Basel II càng chặt chẽ hơn khi ở mẫu số bao gồm 12,5 lần tổng vốn quy định cho rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường

Trang 16

Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒗ố𝒏 (𝑽ố𝒏 𝒄ấ𝒑 𝟏+𝑽ố𝒏 𝒄ấ𝒑 𝟐)

𝑹ủ𝒊 𝒓𝒐 𝒕í𝒏 𝒅ụ𝒏𝒈+𝟏𝟐,𝟓(𝑹ủ𝒊 𝒓𝒐 𝒉𝒐ạ𝒕 độ𝒏𝒈+𝑹ủ𝒊 𝒓𝒐 𝒕𝒉ị 𝒕𝒓ườ𝒏𝒈)Mặc dù đã có nhiều cải tiến so với Basel I, Basel II vào thời điểm bắt đầu triển khai được xem là chuẩn đánh giá rủi ro ngân hàng khá toàn diện, tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 cho thấy còn khá nhiều nhược điểm Nhiều quốc gia đã áp dụng Basel II từ tháng 1 năm 2008 mà cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu tại Hoa Kỳ với việc Lehman Brothers đệ đơn phá sản vào ngày

15 tháng 9 năm 2008 và lan rộng trên toàn cầu Quy định vốn dưới hình thức Basel I

và II đã bị chỉ trích do khả năng chênh lệch giá theo quy định thông qua các hình thức tài chính mới như chứng khoán hóa (Jones, 2000) và bản chất theo chu kỳ của rủi ro dựa trên yêu cầu vốn (Jokipii và Milne, 2011) Do đó, BCBS đã ban hành Hiệp định Basel III vào tháng 9 năm 2010 cả số lượng và chất lượng yêu cầu vốn ngân hàng đều được cải thiện Theo đó, Basel III thêm yêu cầu về tỷ lệ đòn bẩy, đưa ra các tiêu chuẩn mới về tính thanh khoản nhằm cũng cố các quy định, giám sát, quản lý rủi ro của ngành ngân hàng nhằm khắc phục các điểm thiếu sót của Basel II Bộ tiêu chuẩn này

có hiệu lực từ năm 2013

Do đề tài nghiên cứu về quy định vốn tối thiểu của các NHTM tại Việt Nam, nên đề tài tập trung phân tích về quy định về vốn theo Basel II Hệ số an toàn vốn tối thiểu đầu tiên được quy định ở Việt Nam theo quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN ngày 25/08/1999 quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng chính thức Quyết định bước đầu có quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động đơn giản, yêu cầu vốn cấp 1 ở mức 8% Sáu năm sau, ngày 19/04/2005, NHNN ban hành quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN đã điều chỉnh rõ hơn Quy định tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động, xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) gồm vốn cấp

1 và cấp 2 ở mức 8%

Đến ngày 24/05/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định 112/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 mới chính thức nhắc đến các chuẩn mực Basel trong định hướng phát triển hệ thống giám sát ngân hàng của NHNN

Trang 17

Đối mặt với những bất ổn của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn

2009-2010, Quyết định 254/QĐ-TTg của Thủ tướng ban hành ngày 01/03/2012 đã một lần nữa nhắc đến các chuẩn mực Basel như định hướng giải pháp cơ cấu lại tài chính, hoạt động và quản trị của các TCTD Quyết định này đã đề cập đến cả ba trụ cột của Basel II, gồm: (i) ban hành chuẩn mực an toàn vốn (ii) phát triển hệ thống quản trị rủi

ro và (iii) quy định công bố thông tin phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực của

Ủy ban Basel với thời hạn thực hiện là cuối năm 2015

Có thể nói đến Thông tư 41/2016/TT-NHNN của NHNN là một trong các văn bản chính sách thành công trong hành trình triển khai chuẩn mực Basel của hệ thống ngân hàng Việt Nam vì nhiều lý do

Thứ nhất, không như các văn bản trước đó để thời hạn hiệu lực thi hành trong vòng ba tháng đến một năm khiến các TCTD không cách nào tuân thủ kịp, Thông tư

41 đặt thời hạn hiệu lực sau ba năm, tức là đã có cân nhắc tới tính khả thi của chính sách

Thứ hai, sự ra đời của Thông tư 41 đi cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan điều tiết (NHNN, cụ thể là Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng), các TCTD và các tổ chức tư vấn tài chính quốc

tế nên các bên cùng có sự thấu hiểu, đồng thuận, hỗ trợ nhau tích cực hơn

Thứ ba, giai đoạn này nền kinh tế bắt đầu phục hồi, các ngân hàng cơ bản cũng

đã ổn định hơn, có điều kiện về tài chính và nhu cầu lành mạnh hóa hệ thống quản trị, đặc biệt là quản lý rủi ro tín dụng để phát triển và đối mặt với những thách thức cạnh tranh mới cả trong và ngoài nước, khiến việc triển khai Basel trở nên khả thi đồng thời cũng thực chất hơn

Chính vì vậy, mặc dù đến thời điểm hiện tại ngay cả trong số những ngân hàng

đã được phê duyệt áp dụng Thông tư 41 cũng không phải tất cả đều đã thực sự vận hành theo đúng chuẩn mực Basel II, nhưng một cách tổng thể, ngôn ngữ chuẩn mực Basel đã trở nên quen thuộc, thông dụng, đi vào đời sống vận hành của NHNN cũng

Trang 18

như các ngân hàng một cách rõ nét hơn rất nhiều so với 5-10 năm trước đây Thông

tư 41 có những điểm nổi bật sau:

- Khi tính CAR, các ngân hàng phải xét đến hai loại vốn: vốn cấp 1 và vốn cấp

2, trong đó vốn cấp 1 được coi là có độ tin cậy và an toàn cao hơn Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR tối thiểu 8%, các ngân hàng còn phải đảm bảo vốn cấp

2 không được vượt quá vốn cấp 1

- Vốn cấp 1 (vốn nòng cốt) bao gồm: vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp), Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ dự phòng tài chính, Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định, Lợi nhuận chưa phân phối, Thặng dư vốn cổ phần Các khoản bị loại ra khỏi vốn cấp 1 bao gồm: Lợi thế thương mại, Lỗ lũy kế, Cổ phiếu quỹ

- “Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) bao gồm: các quỹ khác được trích từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật (không bao gồm quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng ban điều hành); 50% phần chênh lệch tăng

do đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật; 45% phần chênh lệch tăng do đánh giá lại các khoản góp vốn đầu tư dài hạn theo quy định của pháp luật; 80% dự phòng chung theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích dự phòng rủi ro và sử dụng

dự phòng rủi ro đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Công cụ vốn chủ sở hữu có tính chất nợ do ngân hàng phát hành; Nợ thứ cấp

do ngân hàng phát hành Các khoản bị loại trừ khỏi vốn cấp 2 gồm”: phần chêch lệch của 80% dự phòng chung theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng rủi ro đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

và 1,25% của ổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng…

- Công thức tính CAR theo Thông tư 41:

Trang 19

Trong đó:

C: Vốn tự có;

RWA: Tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng;

KOR: Vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động;

KMR: Vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường

Như vậy, theo lộ trình thực hiện theo thông tư 41, các ngân hàng đối mặt với vấn đề tăng vốn để đáp ứng quy định Liên quan đến vấn đề hệ số CAR do các ngân hàng tính toán và báo cáo NHNN cũng còn tồn tại nhiều vấn đề như hệ số rủi ro gắn với tài sản thay đổi trong ngắn hạn với nhiều văn bản pháp lý và dữ liệu ngân hàng chưa được chuẩn hóa dẫn đến việc tính toán hệ số CAR theo chuẩn Basel II gặp nhiều khó khăn Do đó, ngoài sử dụng hệ số CAR do các ngân hàng báo cáo, đề tài nghiên cứu còn sử dụng thêm các thước đo để phản ánh yêu cầu vốn tối thiểu là tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tải sản và đưa thêm vào biến giả bằng 1 nếu trong năm và những năm sau khi áp dụng Basel II, bằng 0 nếu chưa áp dụng

2.1.2 Chi phí trung gian tài chính

Với chức năng là trung gian tài chính, Chi phí trung gian tài chính là khoản chênh lệch giữa tổng chi phí các khoản vay được trả bởi một người đi vay và lợi nhuận ròng mà người tiết kiệm nhận được theo Bernanke (1983) Hiệu quả của lĩnh vực ngân hàng phần lớn phụ thuộc về chi phí trung gian tài chính Qua quá trình nhận tiền gửi và cho vay, các ngân hàng giúp nền kinh tế phân bổ tiền từ người tiết kiệm cho người đi vay trong một cách hiệu quả hơn (Brock & Suarez, 2000)

Chi phí trung gian tài chính là một thước đo hiệu quả ngân hàng được thể hiện bởi mức độ chênh lệch lãi suất, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và tiền gửi (Barajas, 1999; Chirwa và Mlachila, 2004; và Hess, 2007) Chi phí trung gian tài chính hay còn gọi là tỷ lệ biên lãi vay (NIM_Net Interest Margin) của các ngân hàng được định nghĩa là mức lãi suất ròng của ngân hàng và được tính toán bằng chêch lệch giữa doanh thu từ lãi mà ngân hàng nhận được và chi phí mà họ phải chi trả trên tổng tài

Trang 20

sản sinh lợi của ngân hàng (Demirguc-Kunt và cộng sự, 1999); (Hamadi, H.,&Awdeh, A.,2012); (Golin, 2001)

NIM = Thu nhập từ lãi ròng/trung bình tổng tài sản sinh lời của ngân hàng

2.1.3 Mức độ chấp nhận rủi ro ngân hàng

Rủi ro kinh doanh là những tổn thất tiềm năng mà các ngân hàng có thể gặp phải do các biến động không lường trước được trong kinh doanh Rủi ro này xảy ra khi không chắc chắn của các sự kiện liên quan mà sự kiện này lại đem lại rủi ro nguy

cơ cho ngân hàng

Rủi ro xảy ra trong các giao dịch tài chính và trong các hoạt động khác, có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng tài sản, gây tổn thất, sụt giảm lợi nhuận kỳ vọng Rủi

ro được đo lường bằng sự thay đổi của giá trị tài sản, giá của chứng khoán hoặc hàng hóa có liên quan đến giá trị hoặc giá hiện tại Và rủi ro tín dụng là rủi ro có khả năng ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động kinh doanh và tính hiệu quả của các NHTM

Rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, phát sinh

từ việc khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết Rủi ro xãy ra khi: khách hàng trả nợ không đúng cam kết và không hoàn trả được các khoản vay đã được tài trợ

Khi Rủi ro tín dụng phát sinh, ngân hàng không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay và còn phải trích lập dự phòng cho khoản vay Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng Khi rủi ro tín dụng quá lớn, nợ quá hạn không thu hồi được tăng lên quá nhiều thì có thể làm mất uy tín của ngân hàng Rủi ro tín dụng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Tỷ lệ nợ xấu; dự phòng rủi ro

Logan (2001) và Shelagh Heffernan (2005) cho rằng, để đảm bảo ổn định hệ thống tài chính, dưới sự kiểm soát và can thiệp của ngân hàng trung ương, các ngân hàng có thể bị sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một ngân hàng lớn khi bị mất khả năng thanh khoản Ngân hàng có nguy cơ phá sản khi: Tỷ lệ nợ xấu tăng cao; thanh khoản thấp; lợi nhuận giảm sút liên tục qua các năm, lỗ lũy kế lớn hơn nhiều so với tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ; tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không đạt theo quy định

Trang 21

Foos (2010), Leatitia Lepetit & Strobel (2014) dùng chỉ số khả năng phá sản (Z-score)

để dự báo khả năng phá sản của ngân hàng và được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu Giá trị hệ số Z-score càng cao thì xác suất phá sản càng nhỏ và càng thể hiện sự

ổn định Khi chỉ số này thấp cho thấy ngân hàng đang mất sự ổn định, nguy cơ cạn kiệt nguồn vốn, dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản (Boyh và các cộng sự, 1993) Foos (2010), Leatitia Lepetit & Strobel (2014)

Zscore = (ROA + CAR) / σ (ROA)

2.2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

2.2.1 Ảnh hưởng của yêu cầu vốn tối thiểu đến chi phí trung gian

 Trên thế giới

Bất kể mục đích của các yêu cầu về vốn là để đảm bảo sự ổn định tài chính, các nhà nghiên cứu cho rằng yêu cầu về vốn có thể gây ra những hệ quả tiêu cực bằng việc tăng chi phí trung gian tài chính Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yêu cầu về vốn không phải lúc nào cũng làm giảm thiểu rủi ro (Angelini và cộng sự, 2015)

Các lý thuyết về cấu trúc vốn cho rằng vốn chủ sở hữu là một nguồn tài chính

có chi phí cao hơn so với tiền gửi, nợ và khi gia tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng

cơ cấu vốn sẽ làm chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) của các ngân hàng Kết quả là các ngân hàng sẽ tăng chi phí trung gian tài chính để bù đắp chi phí vốn cao hơn Viện International Finance (IIF, 2011) đại diện cho hơn 400 tổ chức tài chính trên toàn cầu, dự báo rằng chi phí tín dụng ngân hàng ở Mỹ có khả năng tăng 5 điểm phần trăm do việc thực hiện các yêu cầu nghiêm ngặt về vốn do Basel III Miles và cộng sự (2013) cho rằng yêu cầu vốn cao hơn có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh

tế bằng cách tăng chi phí trung gian tài chính

Naceur và Kandil (2009) chỉ ra rằng tỷ lệ vốn cổ phần cao hơn của các ngân hàng có tác động cùng chiều lên lãi cận biên ròng của ngân hàng khi sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 28 ngân hàng ở Ai Cập trong giai đoạn từ 1989 đến 2004 Ngoài ra,

Trang 22

nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố khác làm tăng chi phí trung gian trong giai đoạn triển khai yêu cầu vồn là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, hiệu quả quản lý, tỷ

lệ lạm phát và tính thanh khoản

Vốn cao hơn sẽ không phải lúc nào cũng làm tăng chi phí sử dụng vốn của các ngân hàng Vốn dự trữ cũng có khả năng làm giảm tác động của vốn chủ sở hữu cao hơn đối với chi phí trung gian tài chính Các ngân hàng thường duy trì vùng đệm vốn trên mức yêu cầu vốn quy định tối thiểu và việc tăng thêm yêu cầu vốn tối thiểu sẽ không phải lúc nào cũng làm tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng Có bằng chứng cho thấy các ngân hàng có thể cắt giảm một phần vùng đệm vốn để đáp ứng yêu cầu tăng vốn từ cơ quan quản lý (Slovik và Cournède, 2011) Thêm nữa, các ngân hàng có thể duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao hơn do các lý do khác, chẳng hạn như để báo hiệu vị thế tốt hơn trên thị trường và duy trì tín dụng tốt hơn xếp hạng và sự gia tăng các yêu cầu về vốn quy định sẽ ít ảnh hưởng hơn đến chi phí trung gian tài chính thông qua việc gia tăng sử dụng vốn cổ phần

Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng hệ thống tài chính ở các nước đang phát triển thường cho thấy chênh lệch lãi suất cao hơn so với các nước phát triển (Barajas và cộng sự, 1999; Chirwa và Mlachila, 2004; Hesse, 2007) Điều này xảy ra

do tình trạng kém phát triển về tài chính và lạc hậu về thể chế ở các nước đang phát triển Naceur và Kandil (2009) xem xét dữ liệu của 28 ngân hàng Ai Cập trong giai đoạn từ 1989 đến 2004 và nhận thấy rằng yêu cầu vốn cao hơn làm tăng chi phí trung gian tài chính của các ngân hàng Một lý do có thể là do các quy định nghiêm ngặt làm tăng chi phí tuân thủ của ngân hàng và do đó, các ngân hàng tăng chi phí trung gian tài chính để bù đắp chi phí cao hơn cho khách hàng

Santos (2001) cho thấy tỷ suất lợi nhuận ròng của ngân hàng và chi phí chung tăng lên khi các hạn chế đối với hoạt động ngân hàng cao hơn – kết quả của việc gia tăng áp lực tuân thủ đối với hoạt động ngân hàng Tương tự, một số nghiên cứu cho thấy rằng các ngân hàng tăng chi phí trung gian tài chính để đáp ứng các quy định nghiêm ngặt, trong khi các cải cách bãi bỏ quy định khuyến khích các ngân hàng để giảm chi phí trung gian tài chính (Demirgüç-Kunt và Huizinga, 1999; Demirguc-Kunt

Trang 23

và cộng sự, 2003) Ashraf (2017a) chỉ ra rằng tự do thương mại và sự cởi mở tài chính của các nền kinh tế mới nổi làm giảm chi phí tín dụng ngân hàng ở các Quốc gia

Poghosyan (2013) xem xét một mẫu của 48 quốc gia có thu nhập thấp hơn và thấy rằng chi phí trung gian tài chính, được biểu thị bằng biên lãi ròng, có liên quan cùng chiều với rủi ro ngân hàng và ngược chiều với vốn và quy mô ngân hàng Tại cấp quốc gia, thị trường ngân hàng tập trung và những yếu kém về thể chế gây ra chi phí trung gian cao hơn

Soedarmono và Tarazi (2015) nhận thấy rằng trong các lĩnh vực ngân hàng cạnh tranh, các ngân hàng tính giá khoản vay thấp hơn sẽ làm tăng trưởng kinh tế Trong một nghiên cứu khác, Degryse và Ongena (2005) nhận thấy rằng khoảng cách giữa công ty và ngân hàng cho vay đóng vai trò quan trọng trong việc định giá khoản vay và giá khoản vay giảm theo khoảng cách giữa cả hai

Sử dụng mô hình của Ho và Saunders (1981), Islam và Nishiyama (2015) chỉ

ra rằng ngân hàng của bốn quốc gia Nam Á có tỷ suất lãi ròng có mối quan hệ cùng chiều với tính thanh khoản và vị thế vốn chủ sở hữu Bên cạnh đó, dự trữ bắt buộc và chi phí hoạt động trên tổng tài sản, quy mô tương đối của các ngân hàng, sức mạnh thị trường và tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng ngược chiều

Các chứng cứ hiện có về mối quan hệ vốn ngân hàng và chi phí trung gian tài chính là đa chiều Naceur và Kandil (2009) cho thấy tác động cùng chiều của tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao hơn đối với chi phí trung gian tài chính, trong khi Poghosyan (2013) cho rằng chi phí trung gian tài chính và vốn ngân hàng có mối tương quan âm

 Tại Việt Nam

Vấn đề hiệu quả đạt được của các ngân hàng sau những yêu cầu về vốn của SBV cũng được khá nhiều học giả quan tâm Một số nghiên cứu có thể kể đến như:

Võ Phúc Trường Thành (2019) kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ lãi cận biên NIM của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2017 thông qua kỹ thuật hồi quy bảng cho thấy quy mô vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiều đến chi phí trung gian tài chính Các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn thì sẽ chủ động trong

Trang 24

các hoạt động hơn, điều này giúp cho tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng đó sẽ gia tăng và ngược lại Vốn chủ sở hữu tăng sẽ làm cho chi phí trả lãi giảm hơn là việc

sử dụng vốn vay, do đó chi phí trả lãi giảm sẽ làm cho chi phí trung gian của ngân hàng tăng

Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, Đặng Thị Xuân Hồng (2017) cũng chỉ ra mối tương quan dương của của chi phí trung gian

và tỷ lệ vốn chủ sở hữu với mức ý nghĩa thống kê cao Nghiên cứu sử dụng mẫu từ

25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2016

2.2.2 Ảnh hưởng của yêu cầu vốn tối thiểu đến mức độ chấp nhận rủi ro ngân hàng

Vốn được coi như tấm đệm an toàn để hạn chế thiệt hại Nếu sử dụng vốn chủ

sở hữu thì các ngân hàng có thể giảm bớt các khuynh hướng đầu tư vào các danh mục rủi ro cao để bảo toàn quyền lợi cho cổ đông (Ben Bouheni, 2014) Altunbas và cộng

sự (2007) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro và vốn khi phân tích mối quan

hệ giữa vốn, rủi ro và hiệu quả đối với các ngân hàng châu Âu từ năm 1992 đến năm

2000 Còn ngược lại với bằng chứng của Hoa Kỳ thì lại cho thấy mối quan hệ này là nghịch biến Các ngân hàng châu Âu kém hiệu quả nắm giữ nhiều vốn hơn và ít rủi

ro hơn Tác giả cũng đưa ra bằng chứng cho thấy sức mạnh tài chính của khu vực doanh nghiệp có tác động tích cực trong việc giảm mức độ chấp nhận rủi ro và vốn của ngân hàng Không có sự khác biệt lớn trong các mối quan hệ giữa vốn, rủi ro và hiệu quả đối với ngân hàng thương mại mặc dù có sự khác biệt lớn đối với ngân hàng

Trang 25

theo loại hình hợp tác xã Trong trường hợp của các ngân hàng hợp tác, vốn tỷ lệ nghịch với rủi ro và các ngân hàng kém hiệu quả có mức vốn thấp hơn

Blum (1999) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng các quy tắc an toàn vốn

có thể làm tăng rủi ro của ngân hàng Do đó, nếu các cơ quan, chính sách chủ yếu quan tâm đến việc giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng, thì việc đưa ra các quy định về vốn có thể không đem lại tác dụng Việc quy định tỷ lệ vốn làm giảm lợi nhuận của ngân hàng để bù đắp các chi phí để đáp úng tỷ lệ vốn Khi đó, để tăng mức sinh lời và cải thiện mức sinh lời tốt hơn thì các ngân hàng sẽ có khuynh hướng đầu tư vào danh mục tài sản rủi ro hơn để tạo ra lợi nhuận bù đắp

Jokipii và Milne (2011) sử dụng dữ liệu các ngân hàng Hoa Kỳ từ năm 1986 đến năm 2008 để xem xét mối quan hệ giữa bộ đệm vốn ngắn hạn và sự điểu chỉnh rủi ro danh mục đầu tư Kết quả chỉ ra rằng khoảng thời gian chọn mẫu là mối quan

hệ là cùng chiều Hơn nữa, việc điều chỉnh rủi ro phụ thuộc vào mức độ vốn hóa của ngân hàng

Shrieves và Dahl (1992) kiểm định mối quan hệ giữa những thay đổi về rủi ro

và vốn trong một mẫu lớn các ngân hàng và tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa những thay đổi trong rủi ro và vốn yêu cầu Các ngân hàng có tỷ lệ vốn vượt quá mức quy định tối thiểu cho thấy các biện pháp khuyến khích riêng của chủ sở hữu ngân hàng và/ hoặc người quản lý có tác dụng hạn chế rủi ro tổng thể Nhìn chung, nghiên cứu kết luận rằng những thay đổi về vốn ngân hàng trong thời gian được nghiên cứu dựa trên rủi ro

Ngược lại, một số nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro và vốn Demirguc-Kunt và Kane (2002) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa vốn và rủi ro ngân hàng là nghịch biến do tồn tại rủi ro đạo đức

Faten Ben Bouheni và Houssem Rachdi (2015) trong nghiên cứu tại các NHTM Tunisa sử dụng biến yêu cầu an toàn vốn bằng cách sử dụng tỷ trọng tài sản

có rủi ro trên tổng tài sản cho thấy rằng mối quan hệ giữa vốn Việc yêu cầu tăng vốn

sẽ giảm mức độ rủi ro cho ngân hàng Ngân hàng càng lớn thì càng quản lý tốt rủi ro,

Trang 26

vì họ có bề dày kinh nghiệm trong việc quản lý rủi ro bằng việc đa dạng hóa danh mục nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng

Với thuyết thị trường hiệu quả của Moldigliani và Miller (1958) thì cấu trúc vốn sẽ không làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp “Trong thị trường hiệu quả với tất cả các thông tin đượccông bố”, các chủ nợ yêu cầu “lãi suất cho vay cao hơnđể

bù đắp rủi ro cao hơn, điều đó thúc đẩy nhữngngười quản lý ngân hàng tối đa hóa cả giá trị cổphiếu và tổng giá trị của ngân hàng Do đó, giá trị thịtrường của ngân hàng

là độc lập với cơ cấu vốn Như vậy vưới qun điểm này thì quy định về vốn là không cần thiết”

Koehn & Santomero (1980) cũng cho thấy rằng yêu cầu về vốn vẫn chưa đủ

để làm giảm khả năngkiệt quệ tài chính Do vốn yêu cầu cao sẽ cógiảm lợi nhuậnkỳ vọng các ngân hàng; buộc các ngân hàng phải bù đắp lại bằng việc đầu tư vào cáctài sản rủi ro cao hơn Điều này cho thấy, sự e ngại rủiro đóng một vai trò quan trọng trong xác suất phásản “Kim vàSantomero (1988) cũng cho rằng các nhà hoạchđịnh chính sách có thể thực hiện các yêu cầu về vốnnhạy cảm với rủi ro Cụ thể, trong lượng rủi ro đượclựa chọn tối ưu với một cận trên trong xác suất phásản nên phụ thuộc vào lợi nhuận kỳ vọng vàphương sai của chúng - cấu trúc hiệp phương sai Do

đó, chúng sẽ độc lập đối với mức độ lo ngại rủiro của từng cá nhân”.

“Mpuga (2002) tin rằng những yêu cầu vốn tốithiểu không đủ có thể khiến các ngân hàng phá sản.Ông phân tích những quy định vốn Uganda mới đãdẫn đến một

số lượng lớn của các ngân hàng sụp đổnhư thế nào khi họ nỗ lực để đáp ứng các yêu cầu vềvốn trong cuộc khủng hoảng năm 1998 Một cáchthực nghiệm, nghiên cứu kết luận thêm rằng một khiquy định mới đã tính đến những yếu tố bổ sung, nhưtiền gửi, vốn đã góp, vốn cốt lõi, tổng số vốn…, hiệusuất hoạt động của ngân hàng sẽ được tăng cường.Tương tự như vậy, Choi (2000) thấy rằng các ngânhàng thay đổi hành vi của họ khi một quy định cũđược thay thế Đặc biệt, những ngân hàng đáp ứngCAR

đã mở rộng tín dụng và những ngân hàng vớimức CAR thấp phải giảm hoạt động cho vay của họđể thích ứng với vốn bắt buộc

Trang 27

Dowd (1999) đã chứng minh rằng các quy định vốn tối thiểu có thể được coi như là một phương tiệnđể tăng cường sự an toàn và lành mạnh của ngànhngân hàng Ông đánh giá cao hệ thống bảo hiểm tiềngửi trong việc đối phó với vấn đề thông tin bất đốixứng Rủi ro đạo đức của vấn đề này buộc Chínhphủ thiết lập sự can thiệp vào hoạt động của ngân hàng bằng cách đưa ra quy định về vốn Đồng thời,Harold (1999) độc lập phát hiện ra rằng không chỉnhững nhà quản lý mà cả người dân cũng

lo ngại vềsự ổn định của hệ thống tài chính Bằng cách sửdụng các phương pháp tiếp cận vốn của ngân hàngdựa trên rủi ro đối với ngân hàng và so sánh sứcmạnh của những liên hiệp tín dụng, nghiên cứu suyra rằng quy mô tài sản không phải là một nguồnchính tạo nên sự khác biệt trong tỷ lệ vốn dựa trênrủi ro của những ngân hàng này Do đó, các ngânhàng sẽ duy trì một mức vốn phù hợp để tối ưu hóalợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng như thích nghivới các quy định an toàn vốn.Jackson et al (1999) đã tiến hành một nghiêncứu để chỉ ra mối quan hệ giữa lợi nhuận của ngânhàng và yêu cầu vốn trong ngành ngân hàng củaĐức, Canada, Hà Lan, Nhật Bản, Anh, Mỹ, và ThụySỹ Tuy nhiên, tác giả tìm ra những kết quả khácnhau một cách không rõ ràng từ dữ liệu có được”

Bensaid (1995) nghiên cứu vai tròcủa yêu cầu về vốn trong việc đối phó với lựa chọnđối nghịch và rủi ro đạo đức Về mặt lý thuyết, lựa chọn đối nghịch bắt nguồn từ chất lượng cá nhâncủa các khoản cho vay trong ngân hàng đối với chủsở hữu của ngân hàng trong khi rủi ro đạo đức xuấthiện do lợi nhuận của các ngân hàng phụ thuộc vàoquyết định không quan sát được.

“Furlong và Keeley (1989) lập luận rằng khuônkhổ mà trong đó lãi suất cho vay là không đổi và chiphí là độc lập với rủi ro của danh mục đầu tư làkhông chính xác, bởi vì nó bỏ qua trạng thái khingân hàng phá sản Một khi ngân hàng phá sản,người gửi tiền được trả một khoản bồi thường cơquan bảo hiểm tiền gửi, giảm chi phí của các khoảnnợ Do đó, xác suất ngân hàng chấp nhận rủi ro caohơn là lớn hơn khi mức vốn thấp, và rủi ro giảm dần”theo sự gia tăng vốn

Song (1998) khảo sát hành vi của ngân hàng Hàn Quốc đối với các quy định

an toàn vốn của Basel trong năm 1992 Ông phát hiện ra rằng phương pháp luận dựa

Trang 28

trên rủi ro có trọng số có hiệu quả trong việc ngăn ngừa khả năng trả nợ do ngân hàng trong nước không có xu hướng thực hiện điều chỉnh “thẩm mỹ” để nâng cao tỷ lệ vốn của họ Ngoài ra, theo cách tiếp cận quản lý rủi ro, Karles (1989) đã tiến hành một cuộc điều tra về mối quan hệ giữa những rủi ro thị trường khác nhau và tỷ lệ an toàn vốn trên cả hai phương pháp định tính và định lượng Từ mẫu của 24 ngân hàng, nghiên cứu chứng minh một quan hệ tỷ lệ nghịch giữa rủi ro thị trường và vốn đệm trong báo cáo lý thuyết

“Trong khi đó, Saunders, Strock và Travlos (1990) nhận thấy rằng mức độ ưa thích rủi ro của người quản lý có thể ảnh hưởng đến vốn đệm Theo nghiên cứu này,

do lợi ích cá nhân, người quản lý ngân hàng có động lực để từ chối những dự án rủi

ro Do đó, những người quản lý có xu hướng bù đắp danh mục tài sản rủi ro cao bằng cách sử dụng đòn bẩy thấp, điều đó tạo ra một mối quan hệ tích cực giữa những thay đổi trong rủi ro và thay đổi vốn như trong Shrieves và Dahl (1992) Nói cách khác, các ngân hàng sẽ tăng số vốn của họ để đối phó với rủi ro cao hơn trong danh mục cho vay Nói chung, những giá trị của lý thuyết quy định an toàn vốn được chấp nhận

và đánh giá cao bởi nhiều nhà nghiên cứu và các nhà phân tích, nhưng, câu hỏi ngân hàng nên được yêu cầu giữ lượng vốn bao nhiêu vẫn còn gây tranh cãi”

Agoraki và cộng sự (2011) xem xét các quy định có ảnh hưởng độc lập đến việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng hay không hoặc liệu tác động của chúng có được chuyển tải thông qua sức mạnh thị trường mà các ngân hàng sở hữu hay không Các quy định được xem xét là yêu cầu về vốn, hạn chế đối với hoạt động ngân hàng và quyền giám sát chính thức “Tác giả sử dụng dữ liệu từ khu vực ngân hàng Trung và Đông Âu trong giai đoạn 1998–2005 Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng các ngân hàng có sức mạnh thị trường có xu hướng” chấp nhận rủi ro tín dụng thấp hơn

và có xác suất vỡ nợ thấp hơn Yêu cầu về vốn nói chung làm giảm rủi ro, nhưng đối với các ngân hàng có sức mạnh thị trường, tác động “này suy yếu đáng kể hoặc thậm chí có thể đảo ngược”

Jacques và Nigro (1997) sử dụng mô hình bình phương nhỏ nhất ba giai đoạn (3SLS) để phân tích mối quan hệ giữa vốn ngân hàng, rủi ro danh mục đầu tư và các

Trang 29

tiêu chuẩn vốn dựa trên rủi ro Kết quả cho thấy các tiêu chuẩn vốn dựa trên rủi ro đã

có hiệu quả trong việc tăng tỷ trọng vốn và giảm rủi ro danh mục đầu tư trong các ngân hàng thương mại

Mục tiêu của quy định tài chính là cho phép các ngân hàng cải thiện tính thanh khoản và khả năng thanh toán Quy định chặt chẽ hơn có thể tốt cho sự ổn định của ngân hàng, nhưng không tốt cho hiệu quả của ngân hàng Lee và Chih (2013) nghiên cứu liệu các ngân hàng có đáp ứng tiêu chuẩn quy định tài chính của Ngân hàng Trung Quốc (CBRC) hay không và tìm hiểu xem các quy định tài chính đã thực hiện trước đây đã ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả và rủi ro của ngân hàng trong quá khứ Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ đánh đổi giữa hiệu quả và rủi ro Nghiên cứu này sử dụng tài sản ngân hàng như một tiêu chuẩn phân loại theo quan điểm rủi ro tài chính và điều tiết khác biệt Các kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng CBRC quy định tỷ lệ khả năng thanh toán và tỷ lệ chi phí trên thu nhập, có vẻ phù hợp với các ngân hàng lớn và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ đòn bẩy, có

vẻ phù hợp với các ngân hàng nhỏ CBRC quy định tỷ lệ thanh toán hiện hành để giảm rủi ro cho các ngân hàng Dựa trên kết quả thực nghiệm của bài nghiên cứu, hệ

số thanh toán hiện hành không ảnh hưởng đến rủi ro và dẫn đến kết quả hiệu quả khác nhau giữa các ngân hàng lớn và nhỏ

Kết quả hỗn hợp cũng được tìm thấy trong một số nghiên cứu Calem và Rob (1999) đã mô hình hóa vấn đề lựa chọn danh mục đầu tư động mà các ngân hàng phải đối mặt, hiệu chỉnh mô hình bằng cách sử dụng dữ liệu thực nghiệm từ ngành ngân hàng cho giai đoạn 1984–1993 và đánh giá định lượng tác động của các quy định phát triển gần đây liên quan đến vốn ngân hàng Mô hình cho thấy mối quan hệ hình chữ

U giữa vốn và chấp nhận rủi ro: Khi vốn của một ngân hàng tăng lên, trước tiên ngân hàng sẽ chịu ít rủi ro hơn, sau đó là rủi ro nhiều hơn Một khoản phụ phí phí bảo hiểm tiền gửi đối với các ngân hàng cấp vốn thấp khiến họ phải chịu rủi ro nhiều hơn Yêu cầu vốn tăng lên, cho dù là đồng loạt hay dựa trên rủi ro, có xu hướng làm tăng rủi ro hơn bởi các ngân hàng có vốn tốt trước đây tuân thủ tiêu chuẩn mới

Trang 30

Iwatsubo (2007) cho thấy bất chấp xu hướng giảm của giá đất và tỷ suất sinh lợi từ các khoản cho vay bất động sản trước đây thấp, các ngân hàng Nhật Bản đã tăng cường cho vay lĩnh vực bất động sản trong những năm 1990 Hiện tượng này có thể được giải thích bởi động cơ chuyển dịch rủi ro của các ngân hàng và cũng chỉ ra rằng các ngân hàng có tỷ lệ vốn trên tài sản thấp và giá trị thương hiệu thấp đã chọn các tài sản rủi ro cao như cho vay bất động sản Bài nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ vốn - rủi ro là phi tuyến tính và thay đổi từ cùng chiều sang ngược chiều khi giá trị thương hiệu giảm Tác giả cũng cho thấy rằng yêu cầu về an toàn vốn đã không ngăn cản được hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng có vốn hóa thấp vì sau đó họ chỉ phát hành thêm các khoản nợ cấp dưới để đáp ứng yêu cầu này Ngược lại, việc bơm vốn của chính phủ khiến các ngân hàng giảm bớt các khoản cho vay magrin rủi

ro Tái cấp vốn bằng cách phát hành các khoản nợ thứ cấp đã giúp các ngân hàng thu hồi lỗ vốn và giảm thiểu tình trạng căng thẳng tín dụng do đó cho phép họ tăng cho vay lĩnh vực bất động sản và vấn đề nợ xấu căng thẳng hơn

Bougatef và Mgadmi (2016) đã đánh giá tác động đồng thời của yêu cầu vốn

và hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng bằng cách sử dụng một nhóm gồm 24 ngân hàng hoạt động trong khu vực Trung Đông – Bắc Phi trong giai đoạn 2004–

2012 Sử dụng nhiều kỹ thuật ước tính dữ liệu bảng, tác giả đã cung cấp bằng chứng cho thấy các quy định thận trọng đã không thành công trong việc giảm mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng và trong việc tăng vốn Bài nghiên cứu cũng thấy rằng khả năng sinh lời của ngân hàng có quan hệ thuận chiều với mức vốn hóa cho thấy

sự kém phát triển của thị trường tài chính ở các quốc gia khu vực Trung Đông – Bắc Phi khiến các ngân hàng phải dựa nhiều hơn vào nội lực để xây dựng vùng đệm vốn của mình Bài nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ngân hàng và rủi ro, cho thấy rằng các ngân hàng lớn có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc quản lý mức độ rủi ro của họ thông qua đa dạng hóa

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có mối quan hệ giữa vốn ngân hàng

và hành vi chấp nhận rủi ro Hussain và Hassan (2005) nghiên cứu tác động của các quy định về yêu cầu vốn đối với các ngân hàng thương mại ở 11 quốc gia đang phát

Trang 31

triển trên thế giới Tác giả thấy rằng các quy định về vốn không làm tăng tỷ lệ vốn của các ngân hàng ở các nước đang phát triển Điều này ngụ ý rằng cần đặc biệt chú

ý đối với thực tế kinh doanh, môi trường, luật pháp, văn hóa của các quốc gia đó trong khi thiết kế và thực hiện các chính sách đó đối với các nước đang phát triển Tuy nhiên, lại tìm thấy bằng chứng cho thấy các quy định này đã làm giảm rủi ro danh mục đầu tư của các ngân hàng

Guidara và cộng sự (2013) đã sử dụng dữ liệu hàng quý của sáu ngân hàng lớn nhất của Canada từ năm 1982 đến năm 2010 và cho thấy mối tương quan âm giữa vùng đệm vốn của các ngân hàng Canada và chu kỳ kinh doanh

 Tại Việt Nam

Mối quan hệ giữa yêu cầu vốn có và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại Việt Nam cũng được nhiều học giả quan tâm Có thể kể đến các nghiên cứu như:

“Lê Thanh Ngọc, Đặng Trí Dũng và Lê Nguyễn Minh Phương (2015) sử dụng

dữ liệu từ 15 NHTM trong giai đoạn 2009 – 2014, thông qua phương pháp phân tích tác động ngẫu nhiên (REM) kết hợp phương pháp phân tích tác động cố định (FEM), nghiên cứu cho thấy các ngân hàng với hệ số an toàn vốn thấp hơn mức quy định có

xu hướng cơ cấu lại tài sản bằng cách giảm tài sản có hệ số rủi ro cao, thay vì gia tăng vốn chủ sở hữu Sự gia tăng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố: quy mô tài sản, tỷ suất sinh lợi của tài sản và mức độ thay đổi vốn chủ

sở hữu của kỳ trước”

Huỳnh Hoàng Trúc (2019) cũng chỉ ra mối quan hệ đồng biến giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTM Việt Nam Tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa quy mô, đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro cuả các NHTM Việt Nam

từ dữ liệu 23 NHTM trong giai đoạn 2009- 2017 bằng mô hình hồi quy hai giai đoạn

2 SLS do xuất hiện biến nội sinh, và tìm thấy các kết quả sau: mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro, quy mô tương quan dương đòn bẩy tài

Trang 32

chính và mức độ chấp nhận rủi ro ngân hàng cũng có tương quan dương với tỷ lệ cổ phần ban quản trị nắm giữ

Cũng cùng quan điểm trên, Đào Thanh Bình (2020) sử dụng dữ liệu từ 11 NHTM Việt Nam bao gồm ACB, BIDV, Eximbank, MB, Sacombank, SHB, Techcombank, VIB, Vietcombank, Vietinbank, và VPbank trong 6 năm (2010-2015) Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ đồng biến của rủi ro về vốn, vốn chủ sởhữu, tài sản rủi ro, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên tổng tài sản có ảnh hưởng đáng kể vềmặt thống kê đối với hệ số an toàn vốn của ngân hàng Việt Nam

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước đây

Ảnh hưởng của yêu cầu vốn tối thiểu đến chi phí trung gian

Ngày đăng: 20/04/2021, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm