1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam

59 170 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 591,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu tác động của quy mô ngân hàng đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam.. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Ng

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

NGHIÊN C ỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ ĐẾN

MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO

C ỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

TP HỒ CHÍ MINH – 2019

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

NGHIÊN C ỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ ĐẾN

MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO

C ỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng

Mã số: 8340201

LU ẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên

TP HỒ CHÍ MINH – 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học là TS Nguyễn Thị Uyên Uyên Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá trong bài nghiên cứu do tác giả thu thập được ghi chú nguồn gốc chính thống và đáng tin cậy

Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, được đúc kết

từ quá trình học tập và kết quả nghiên cứu thực tiễn của tác giả

Trang 4

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUY MÔ VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO 6

2.1 Các quan điểm về quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro 6

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 8

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊU CỨU 13

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 13

3.2 Mô hình nghiên cứu 14

3.3 Quy trình nghiên cứu 20

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 23

4.1 Phân tích kết quả hồi quy 25

4.3 Phân tích tổng hợp biến quy mô bằng mô hình 2SLS 27

4.4 Phân tích các nhân tố trong Zscore 29

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 33

5.1 Kết luận 33

Trang 5

Việt Nam 34

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 35

5.3.1 Hạn chế của đề tài 36

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 36

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

T ừ viết tắt Gi ải thích

FE: Fixed Effect model Mô hình hiệu ứng cố định

HNX: Ha Noi Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội HSX: Ho Chi Minh Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh M/B: Market-to-book ratio Tỷ lệ giá trị thị trường trên sổ sách

OLS: Ordinary Least Squares Phương pháp hồi quy bình phương

tối thiểu REM:Random Effect Model Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

ROA: Return On Assets Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản TBTF: Too big, too fail Trạng thái quá lớn để sụp đổ

2SLS: Two-Stages Least Squares Mô hình hồi quy 2 giai đoạn

Trang 7

Bảng 2.1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây 12

Bảng 3.1: Tóm tắt biến nghiên cứu 20

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 25

Bảng 4.2: Kết quả hồi quy tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 26

Bảng 4.3: Kiểm định Hausmen test về vấn đề nội sinh của mô hình 28

Bảng 4.4 Kết quả hồi quy theo mô hình 2SLS 29

Bảng 4.5: Phân tích chi tiết các nhân tố trong Z-score 30

Trang 8

Đề tài nghiên cứu tác động của quy mô ngân hàng đến mức độ chấp nhận rủi ro

của các ngân hàng thương mại Việt Nam Tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu trên dữ

liệu bảng của 28 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2017

Đề tài phát hiện quy mô ngân hàng có tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro trong hệ thống các ngân hàng được kiểm tra Việc phân tích chi tiết các nhân tố cấu thành biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (Z-score) cho thấy mức độ chấp nhận rủi

ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu thông qua gia tăng mức độ đòn

bẩy tài chính Ngoài ra, yếu tố về tỷ lệ sở hữu của CEO cũng được đưa vào mô hình nghiên cứu như là một phương tiện để giải thích hệ quả của các cơ chế quản trị tại các ngân hàng thương mại Việt Nam với mức độ chấp nhận rủi ro

đòn bẩy tài chính

Trang 9

The primary aim of this study is to examine the impact of bank size on the taking of Vietnamese commercial banks The author uses the research model on the panel data of 28 Vietnamese commercial banks in the period of 2009 - 2017 The study found that bank size is positively correlated with the risk-taking in the liste of banks was tested The detailed analysis of the constituents measuring the risk-taking (Z- score) showed its of Vietnamese commercial banks is mainly through increasing the financial leverage In addition, CEO ownership are also included in the research model as a means of explaining the consequences of governance mechanisms in Vietnamese commercial banks with risk tolerance

risk-Keywords: Bank risk, Risking-taking, CEO ownership, Bank leverage

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Lý do ch ọn đề tài

Theo định hướng phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, các ngân hàng có xu hướng hợp nhất với nhau hoặc có xu hướng mua lại các ngân hàng khác

Mục tiêu hướng đến là xây dựng một hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động có

hiệu quả, nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động Kết quả quan

trọng của việc sáp nhập và mua lại là sự gia tăng quy mô ngân hàng Tuy nhiên, liệu

rằng khi gia tăng quy mô có đảm bảo được giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại hay không Theo các chuyên gia trên thế giới, khi các ngân hàng gia tăng quy mô đến ngưỡng “too big, too fail” hay còn gọi là trạng thái quá lớn

để sụp đổ, thì các ngân hàng có nhiều động cơ để gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận Nguyên nhân là do khi quy mô gia tăng đạt ngưỡng “too big, too fail” thì ngân hàng đó đã trở thành một đối tượng có kết nối rộng

khắp với nền kinh tế và sự sụp đổ của ngân hàng đó sẽ là một sự kiện lớn và thảm

khốc, có thể tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế của quốc gia Vì vậy, Chính phủ

buộc phải đảm bảo đứng ra can thiệp nhằm tránh trường hợp các ngân hàng này phá

sản hoặc mất khả năng thanh khoản để giữ cho hệ thống được ổn định và ngăn ngừa sự

sụp đổ hệ thống tài chính của nền kinh tế Thực tế, các chính sách bảo trợ liên quan đến các ngân hàng “too big, too fail” đã bị nhiều chuyên gia chỉ trích, là một trong

những yếu tố chính làm méo mó các chính sách ưu đãi của các doanh nghiệp tài chính, đóng vai trò then chốt trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới gần đây Mặt trái của các chính sách này gây ra rủi ro đạo đức, bởi vì các doanh nghiệp tài chính có thể nhận được hỗ trợ của chính phủ nên có động cơ để gia tăng rủi ro hoạt động Kết quả làm gia tăng những rủi ro mà toàn xã hội phải gánh chịu

Hiện nay có nhiều nghiên cứu của các chuyên gia, nhà kinh tế về ảnh hưởng

của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các công ty, tổ chức tài chính, ngân hàng… Tuy nhiên, tác giả ghi nhận có nhiều kết luận khác nhau về vấn đề này Có thể

kể đến các nghiên cứu của Baker, Dean và Travis McArthur (2009); Balach và cộng

sự, Sudhakar, Bruce Kogut và Hitesh Harnal (2010); Ray Barrell, Philip Davis,

Trang 12

Tatiana Fic và Dilruba Karim (2011), Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) Theo nghiên

cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự nhận thấy, quy mô ngân hàng càng lớn thì mức độ

chấp nhận rủi ro càng cao, thậm chí khi kiểm soát các đặc điểm khác có thể quan sát được, chẳng hạn như quản trị doanh nghiệp và cơ cấu sở hữu Điều này phù hợp với quan điểm cho rằng các chính sách về "too big, too fail" làm méo mó những ưu đãi về

rủi ro của các tổ chức tài chính Các nhà hoạch định chính sách đề xuất một loạt các quy định để định hình lại các định chế tài chính để giải quyết vấn đề liên quan đến các

tổ chức tài chính đã đạt đến trạng thái “too big, too fail”, như việc hạn chế quy mô Lý

do là các cơ quan quản lý tin rằng tổ chức tài chính càng lớn, thì càng có khả năng đạt đến trạng thái “quá lớn để sụp đổ” và dễ gây ra rủi ro hệ thống Những người ủng hộ

đề xuất này cho rằng điều này sẽ ngăn cản các doanh nghiệp tài chính trở nên quá lớn, khiến giảm thiểu nguy cơ cho nền kinh tế Tuy nhiên, những người phản đối đề xuất này thì cho rằng sự kiềm chế này có thể làm suy giảm khả năng cạnh tranh toàn cầu

của ngành tài chính quốc gia và làm mất thị phần Ngoài ra, họ cũng cảnh báo rằng

việc hạn chế quy mô có thể có những tác động không mong muốn, như thiếu đa dạng hóa rủi ro tín dụng Mặt khác, việc xác định chính xác ngưỡng “too big, too fail” cho

từng đối tượng ở mỗi khu vực, quốc gia là khó khăn và phức tạp

Ngành ngân hàng tại Việt Nam đã trải qua một sự tăng trưởng nhanh chóng trong 20 năm qua Các ngân hàng thương mại gia tăng quá nóng cả về quy mô và mức

độ hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận mà không có sự quan tâm đúng mức đến khả năng

rủi ro có thể gặp phải Các ngân hàng thương mại Việt Nam luôn tự tin về sự bảo đảm

của Chính phủ về những hỗ trợ trong quá trình hoạt động, đặc biệt là khi đối mặt với

hậu quả do thua lỗ Điều này làm nảy sinh các vấn đề nguy hại cho nền kinh tế Vậy

liệu có mối tương quan giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam? Hiện nay, quy mô của các ngân hàng thương mại Việt Nam có

sự chênh lệch khá lớn Liệu rằng sự khác biệt trong quy mô có ảnh hưởng đến mức độ

chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam? Đối với Việt Nam, liệu

rằng quy mô có phải là vấn đề quan trọng đến việc giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại? Sử dụng dữ liệu thu thập được từ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả kiểm tra sự thay đổi của quy mô có tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam hay không? Bên

Trang 13

cạnh đó, tác giả sử dụng Z-score làm biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro với các nhân tố cấu thành là: đòn bẩy tài chính (CAR), lợi nhuận trên tài sản (ROA) và sự biến động của thu nhập (σ(ROA)) cho phép tìm hiểu sâu hơn mối liên hệ với quy mô nhằm xác định nguyên nhân chính dẫn đến mối quan hệ này để đưa ra những chính sách phù

hợp giúp cho việc hoạch định chính sách quản lý rủi ro hệ thống ngân hàng hiệu quả hơn

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu

tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt

cho tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại

tại Việt Nam

1.2 M ục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quy mô hoạt động đối với mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Từ mục tiêu nghiên cứu này, đề tài đặt ra các câu hỏi:

1) Tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam là như thế nào?

2) Những yếu tố cấu thành trong thước đo về quy mô có tác động như thế nào đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam? Có phải nguyên nhân chính là do đòn bẩy tài chính hay không?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của bài là tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi

ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Bao gồm 28 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2017

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu bảng thu thập từ 28 ngân hàng thương mại cổ

phần Việt Nam, gồm 248 quan sát trong giai đoạn 2009-2017 Dữ liệu được thu thập thông qua nguồn từ Vietstock và Vietdata, kết hợp thu thập thủ công từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán và các báo cáo thường niên được đăng tải rộng rãi trên các phương

tiện thông tin đại chúng

Trang 14

Trên cơ sở mẫu được hình thành, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: hồi quy dữ liệu bảng Robust Check, Mô hình Hiệu ứng cố định – Fixed Effect Model (FEM) để kiểm tra mức ý nghĩa trong mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và

mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam Bên cạnh đó, phương pháp hồi quy 2 giai đoạn Two-Stages Least Squares (2SLS) cũng được sử

dụng để khắc phục việc lựa chọn biến đại diện cho phù hợp với nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng Z-score để đo lường mức độ chấp nhận

rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đây là phương pháp được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về mức độ chấp nhận rủi ro của các tổ chức tài chính Bên cạnh biến quy mô, tác giả sử dụng thêm các biến kiểm soát, cụ thể: tỷ lệ M/B, tỉ lệ sở hữu của lãnh đạo ngân hàng, biến giá trị cổ phiếu sở hữu của lãnh đạo ngân hàng, biến giả ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước Các biến trên được lựa chọn để

áp dụng cho phù hợp với quá trình chạy mô hình hồi quy

1.5 K ết cấu đề tài

Đề tài được trình bày theo kết cấu gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này tác giả giới thiệu lý do chọn đề

tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu về quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro,

trong chương này tác giả tập hợp và trình bày các bằng chứng thực nghiệm trên Thê

giới và Việt Nam trước đây về tác động của quy mô hoạt động đến mức độ chấp nhận

rủi ro của các công ty tài chính, ngân hàng thương mại… và một số quan điểm về sự tác động này

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày cụ thể

đến phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cở sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến được sử dụng và các giả định phục vụ cho việc nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày kết quả

thực nghiệm của nghiên cứu về tác động của quy mô ngân hàng đến mức độ chấp nhận

rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam được xử lý thông qua bộ số liệu thu

thập đươc, bao gồm các phân tích, giải thích về các mô tả thống kê, các phân tích về tương quan và hồi quy

Chương 5: Kết luận, trong chương này tác giả tổng hợp lại kết quả của vấn đề

Trang 15

được nghiên cứu trên cơ sở kết quả của mô hình thực nghiệm đã sử dụng, nêu bật các

hạn chế trong nghiên cứu và hướng mở rộng trong tương lai Bên cạnh đó, tác giả đưa

ra các khuyến nghị cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách trên cơ sở kết quả

thực nghiệm từ nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUY MÔ

VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO

2.1 Các quan điểm về quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro

Trong ba thập kỷ qua, ngành ngân hàng đã chứng kiến các cuộc khủng hoảng tài chính tái diễn trên khắp các quốc gia trên toàn cầu và những sự kiện như vậy gây ra

mối quan tâm lớn đối với hành vi chấp nhận rủi ro của các tổ chức tài chính, đặc biệt

là các ngân hàng thương mại, được coi là định chế trung gian chính trong chu chuyển

vốn của hệ thống tài chính Các ngân hàng lớn là trung tâm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây, và sự sụp đổ của họ đã gây ra thiệt hại to lớn cho nền kinh tế Điều này đã gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi về quy mô tối ưu, độ phức tạp của tổ

chức tài chính và phạm vi hoạt động của các ngân hàng Cuộc tranh luận này diễn ra trong bối cảnh bối cảnh tài chính đã phát triển rõ rệt trong hai thập kỷ qua Các ngân hàng lớn đã gia tăng quy mô và trở nên mở rộng bằng nhiều sự kết nối mang tính toàn

cầu Cơ sở khi cho rằng việc các ngân hàng có quy mô lớn sẽ có mức độ chấp nhận rủi

ro cao hơn do hiện tượng “too big, too fail” diễn ra trên thị trường tài chính Đây là

một thành ngữ dùng để chỉ một trường hợp đặc biệt trong kinh tế, đó là những công ty hay tập đoàn lớn, có quy mô hoạt động rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế của một quốc gia, một khi có sự đổ

vỡ hay phá sản xảy ra dù vì lý do gì, Chính phủ nước đó sẽ không để tập đoàn đó phải

sụp đổ bằng những biện pháp giải cứu như hỗ trợ vốn, trả nợ hoặc sát nhập với các tập đoàn khác hoặc là chính nhà nước sẽ mua lại tập đoàn đó, nhằm đảm bảo giữ vững

hoạt động của tập đoàn này Tránh một sự sụp đổ dây chuyền với các công ty có liên

kết với tập đoàn này, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế nước đó Hành động bảo vệ của Chính phủ có thể giải quyết được vấn đề trước mắt, nhưng lại làm gia tăng rủi ro hệ thống trong dài hạn bởi các nhà đầu tư vào ngân hàng giờ đây có ít lý do hơn để theo dõi chặt chẽ hiệu quả hoạt động của các ngân hàng được xếp vào nhóm

“too big, too fail” Và ngay chính đội ngũ các nhà điều hành những ngân hàng “too big, too fail” cũng có động lực lớn hơn trong việc ra quyết định đầu tư vào các kế

hoạch kinh doanh có mức độ rủi ro cao

Trang 17

Theo báo cáo Squam Lake: “Fixing the Financial System”, các chính sách về

“too big, too fail” cung cấp cho các doanh nghiệp quan trọng có quy mô lớn một lời

hứa rõ ràng và chắc chắn về một gói cứu trợ khi tình hình hoạt động của doanh nghiệp

gặp sự cố Các chính sách này là nguy hại, bởi vì khả năng sẽ có một khoản cứu trợ từ chính phủ cho nên các doanh nghiệp tài chính có động cơ để gia tăng thêm rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận lớn Các cổ đông, chủ nợ, nhân viên, và quản lý của doanh nghiệp cùng chia sẻ sự cám dỗ đó Kết quả làm gia tăng những rủi ro mà toàn xã hội phải gánh chịu

Theo Laeven và cộng sự (2015), Chính phủ không muốn đóng cửa các ngân hàng lớn vì lo sợ các tác động xấu lây lan cho nền kinh tế, các ngân hàng này có xu hướng chấp nhận rủi ro quá mức khi họ nhận thức được sự bảo hộ của Chính phủ ngay

cả trong trường hợp thất bại tồi tệ nhất trong kết quả kinh doanh Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại có nhiều khả năng tham gia vào các hoạt động giao dịch rủi ro cao khi quy mô ngày càng lớn hơn, điều này dẫn đến nguy cơ về rủi ro mất khả năng thanh khoản (Bhagat, Bolton & Lu 2015; Shleifer & Vishny 2010)

Ngoài yếu tố quy mô, không thể không nhắc đến vai trò của quản trị doanh nghiệp Hiện nay, chắc không ai phủ nhận vai trò quan trọng và to lớn của quản trị trong việc bảo đảm sự tồn tại và hoạt động bình thường trên thị trường kinh doanh Đối với sự phát triển của từng đơn vị hay cộng đồng và các doanh nghiệp, quản trị càng có vai trò quan trọng Doanh nghiệp được quản trị tốt là cơ sở để tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh Laeven & Levine (2007) cho rằng khi các ngân hàng đang phát triển quy mô và theo đuổi một cách thức hoạt động kinh doanh phức tạp, cơ cấu tổ chức của họ sẽ trở nên rắc rối hơn,

do đó làm phát sinh thêm vấn đề chi phí đại diện cùng với các vấn đề quản trị khác Bên cạnh đó, theo lý thuyết về tài chính hành vi, luôn tồn tại những lệch lạc trong việc

ra quyết định quản trị do tính chủ quan của nhà quản lý Điều này tùy thuộc vào khẩu

vị rủi ro hoặc tâm lý quá tự tin, khiến nhà quản lý chấp nhận rủi ro cao với các dự án

có NVP âm Mặt khác, theo lý thuyết quyền chọn (option theory), nhiều doanh nghiệp

thực hiện việc gắn kết kết quả hoạt động kinh doanh của mình với việc chi thưởng cho nhà quản lý thông qua hình thức cổ phiếu Đây cũng là một tác nhân thúc đẩy các nhà

quản lý gia tăng chấp nhận rủi ro để nâng cao giá trị cổ phiếu doanh nghiệp, nhằm tìm

Trang 18

kiếm thêm thu nhập bản thân Tác giả kỳ vọng sẽ quan sát được mối quan hệ của các

yếu tố này với việc chấp nhận rủi ro thông qua số liệu thực nghiệm

2.2 T ổng quan các nghiên cứu trước đây

Qua tìm hiểu, tác giả ghi nhận có nhiều nghiên cứu liên quan đến tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng trên thế giới Có thể kể đến các nghiên cứu của Baker, Dean và Travis McArthur (2009); Balach và cộng sự, Sudhakar, Bruce Kogut và Hitesh Harnal (2010); Ray Barrell, Philip Davis, Tatiana Fic và Dilruba Karim (2011) Trong đó có nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) là nghiên cứu chủ đạo cho đề tài của tác giả Nghiên cứu “Size, Leverage and Risk-taking of Financial Institutions” của Sanjai Bhagat và cộng sự điều tra mối liên

hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro trong tổ chức tài chính giai đoạn

2002-2012, được thực hiện trên mẫu dữ liệu có 6277 quan sát, bao gồm 599 ngân hàng thương mại, 60 ngân hàng đầu tư và 43 công ty bảo hiểm Kết quả thu được từ mẫu nghiên cứu ghi nhận khi quy mô hoạt động càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng càng gia tăng, thậm chí khi kiểm soát các đặc điểm khác có thể quan sát được, chẳng hạn như tỷ lệ tài sản trên thị trường, quản trị doanh nghiệp và cơ cấu sở

hữu Điều này phù hợp với quan điểm cho rằng các chính sách về "too big, too fail" làm méo mó những ưu đãi về rủi ro của các ngân hàng Bên cạnh đó, các ngân hàng tham gia vào quá nhiều rủi ro thông qua đòn bẩy tài chính Những phát hiện này cho

thấy thay vì giới hạn quy mô doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách cần tăng cường các quy định về yêu cầu về vốn để kiểm soát rủi ro của các ngân hàng nhằm đạt

hiệu quả cao hơn Ngoài ra, nghiên cứu còn ghi nhận tác động của yếu tố quản trị trong việc giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng Về mặt chính sách quản

lý rủi ro, những phát hiện này cho thấy rằng vấn đề chấp nhận rủi ro quá mức có thể bị

hạn chế bằng cách tập trung vào công tác quản trị

Bên cạnh các yếu tố cơ bản về lý thuyết của hiệu ứng quy mô ngân hàng, nhiều

học giả đã thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề này vì họ cho rằng đây là

một vấn đề chính sách quan trọng đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng Saunders và cộng sự (1990) đã kiểm tra một mẫu của 38 ngân hàng lớn niêm yết tại

Mỹ Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập từ Call Report, với độ lệch chuẩn theo ngày

của cổ phiếu đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro, và tổng tài sản đại diện cho biến

Trang 19

quy mô Nghiên cứu kết luận được mức độ chấp nhận rủi ro gia tăng đồng thời với độ

lớn của quy mô hoạt động trong nhóm các ngân hàng ở Mỹ được khảo sát

Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã tạo ra sự quan tâm lớn trong việc nghiên cứu về tác động của quy mô hoạt động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các tổ

chức tài chính trên thế giới Laeven và Levine (2009) sử dụng bộ dữ liệu của 270 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2001 từ Bankscope Bankers Almanac Z-score được chọn làm biến phụ thuộc đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro và logarit

của tổng tài sản đại diện cho quy mô hoạt động Một nghiên cứu tương tự được thực

hiện bởi Houston và cộng sự (2010) trên nhóm các ngân hàng trong giai đoạn từ năm

2000 đến năm 2007 với 2400 quan sát ở 69 quốc gia Điểm khác biệt ở nghiên cứu này

là nhóm tác giả xây dựng biến phụ thuộc đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro là score, ROA, CAR và σ(ROA) Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận tương đồng là quy

Z-mô hoạt động càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng cũng gia tăng

Tuy nhiên, trái ngược với kết luận của các nghiên cứu kể trên, Stiroh (2006) cũng tiến hành nghiên cứu trên mẫu 400 ngân hàng lớn niêm yết tại Mỹ giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2004 thông qua dữ liệu từ Y-9C Report Nghiên cứu phát hiện quy

mô ngân hàng càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro lại càng thấp, hay nói cách khác, các ngân hàng có quy mô lớn có mức độ chấp nhận rủi ro ít hơn

Mối liên hệ giữa quyền sở hữu của nhà quản lý ngân hàng và mức độ chấp nhận

rủi ro của các ngân hàng cũng được ghi nhận Saunders và cộng sự (1990) cho rằng quyền sở hữu của nhà quản lý ngân hàng có mối tương quan dương với việc chấp nhận

rủi ro, hay nói cách khác, quyền sở hữu của nhà quản lý càng lớn thì mức độ chấp

nhận rủi ro càng cao và ngược lại Kết luận này được giải thích bởi cơ chế liên kết lợi ích ở cấp độ doanh nghiệp bằng cách tăng nắm giữ cổ phần của các nhà quản lý để hướng lợi ích cá nhân của họ tới các cổ đông và do đó giảm bớt chi phí cho các vấn đề đại diện Bhagat và cộng sự (2015) cùng với Sullivan và Spong (2007) đã chỉ ra mối liên hệ tương quan âm giữa quyền sở hữu của nhà điều hành và mức độ chấp nhận rủi

ro, ủng hộ quan điểm về hiệu ứng 'cố thủ' trong khi Simpson và Glory (1999) cùng với Gropp và Köhler (2010) cho rằng các ngân hàng do các nhà quản lý sở hữu có nhiều điều kiện hơn để gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn so với các ngân hàng được

kiểm soát bởi những người không phải là chủ sở hữu, phù hợp với dự đoán dưới tác động của hiệu ứng “khuyến khích”

Trang 20

Phần trên, tác giả đã tiến hành tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới để có góc nhìn tổng quan về vấn đề này Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả, nghiên cứu về

mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại

Việt Nam hầu như rất ít Nghiên cứu của Man Duy Pham (2016) về mối quan hệ giữa quy mô hoạt động, cấu trúc sở hữu và mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, tính đến tác động từ quyền sở hữu của chính phủ, thực hiện trên

bộ dữ liệu bảng của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2015,

kết quả dựa trên các thông số kỹ thuật cho thấy quy mô ngân hàng có mối tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro tại nhóm ngân hàng được nghiên cứu Về cơ cấu

sở hữu, chưa có phát hiện nào về tác động của quy mô ngân hàng đối với mức độ chấp

nhận rủi ro trong trường hợp có sự thay đổi cổ phần của chính phủ, trong khi với trường hợp sở hữu nước ngoài thì được chứng minh quy mô hoạt động có tương quan

âm với mức độ chấp nhận rủi ro

Trang 21

- Độ lệch chuẩn theo ngày

- Rủi ro đặc thù của ngân

- Hoạt động dựa trên lịch vực thống

kê nông thôn

- Z-score

- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu Log của tổng tài sản +***

Trang 22

- 400 ngân hàng - Chỉ bao gồm các ngân hàng theo tuần của cổ phiếu Laeven và Levine

(2009)

- 1996-2001

- 270 ngân hàng

- Bankscope và Bankers Almanac

- Mỗi nước lựa chọn 10 ngân hàng

- Độ lệch chuẩn của ROA

Log của tổng tài sản +***

Sanja Bhagat (2015) - 2002-2012

- 7095 quan sát

- Compustat và báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và công ty bảo hiểm

B ảng 2.1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Trang 23

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊU CỨU

3.1 D ữ liệu nghiên cứu

Nguồn dữ liệu chính được sử dụng cho bài nghiên cứu được thu thập chủ yếu

từ Vietstock và Vietdata, là các website lớn chuyên cung cấp dữ liệu kinh tế ở Việt Nam Tác giả thu thập dữ liệu hằng năm của các ngân hàng thương mại cổ phần

Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2017

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng Áp dụng vào đề tài, tác giả thu thập nhiều thông tin liên quan như: ROA, CAR… trong giai đoạn 2009-2017 của các ngân hàng thương mại Việt Nam để phục vụ vấn đề nghiên cứu Ưu điểm của dữ liệu bảng

dữ liệu chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên nhiều hơn, ít hiện tượng đa

cộng tuyến giữa các biến hơn, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả cao hơn Nhờ vậy, cho các kết quả ước lượng các tham số trong mô hình tin cậy hơn Dữ liệu bảng cho phép xác định và đo lường tác động mà những tác động này không thể được xác định và đo lường khi sử dụng dữ liệu chéo hoặc dữ liệu thời gian

Sau đó, tác giả thu thập thêm các thông tin còn thiếu thông qua việc tự thu

thập từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại cổ

phần Việt Nam Tác giả thu thập toàn bộ thông tin tài chính của hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam (trừ các ngân hàng nước ngoài do hạch toán vào ngân hàng mẹ) Trong quá trình thu thập dữ liệu, mẫu nghiên cứu được sàn lọc và xử lý

bằng cách xem xét đến dữ liệu của các ngân hàng thương mại Việt Nam qua các năm từ năm 2009 đến năm 2017, nếu ngân hàng không có đủ số liệu, có số liệu bất thường hoặc có ít dữ liệu hơn 5 năm quan sát liên tục thì ngân hàng đó sẽ bị loại bỏ

để có thể đưa ra kết quả chính xác hơn

Tổng số ngân hàng còn lại bao gồm 32 ngân hàng, tuy nhiên do 4 ngân hàng là: DongABank, Eximbank, PGbank, Oceanbank do không thu thập đủ dữ liệu và đang trong diện kiểm soát đặc biệt, cho nên xác đinh mẫu nghiên cứu gồm 28 ngân hàng thương mại cổ phần với 248 quan sát theo năm Đây là mẫu đủ đại diện cho toàn bộ các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam

Đối với các dữ liệu để xây dựng tỷ lệ sở hữu, tác giả sẽ dựa trên các thông tin được công khai ra bên ngoài Các nguốn thông tin chính bao gồm: báo cáo thường

Trang 24

niên, báo cáo tài chính, báo cáo quản trị, thông báo họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, các tài liệu công khai và pháp lý

nộp cho cơ quan quản lý, điều lệ ngân hàng, thông tin trên website, thông tin từ các phương tiện truyền thông và các nguồn thông tin khác

Số lượng ngân hàng thương mại Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán là rất ít Trong mẫu gồm 28 ngân hàng được nghiên cứu thì chỉ có 6 ngân hàng là thực hiện niêm yết là thỏa mãn điều kiện Nhóm các ngân hàng đã niêm yết, bao gồm ACB của Ngân hàng Á Châu (ACB), CTG của Ngân hàng Công thương

Việt Nam (Vietinbank), MBB của Ngân hàng Quân đội (MB bank), SHB của Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB bank), STB của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và VCB của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

3.2 Mô hình nghiên c ứu

Mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu tác động của quy mô hoạt động đến

mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam Cách đo lường chính của việc đánh giá rủi ro là Z-score với nguyên lý Z-score cao hơn cho thấy sự

ổn định hơn Tác giả vận dụng mô hình nghiên cứu của Bhagat và cộng sự (2015)

để đánh giá mối quan hệ này Bài nghiên cứu có khác biệt so với nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015), cụ thể: Biến Market-to-book chỉ áp dụng để xử lý cho các ngân hàng thương mại có niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, các ngân hàng còn lại không thể thu thập được dữ liệu nên không thể xác định được chính xác giá trị thị trường của cổ phiếu Tác giả bổ sung thêm biến State Own (sở

hữu nhà nước) là biến kiểm soát để kiểm tra tác động của của ngân hàng thuộc sở

hữu nhà nước đến mức độ chấp nhận rủi ro Bài nghiên cứu này chủ yếu nhằm kiểm tra tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương

mại Việt Nam, các biến còn lại là biến kiểm soát nhằm đảm bảo mô hình hồi quy

hiệu quả Trong quá trình chạy mô hình hồi quy, tác giả còn sử dụng thêm các mô hình hồi quy khác để kiểm tra tính vững của kết quả và xem xét thêm tác động của các biến độc lập với mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng để giúp kết quả nghiên

cứu của đề tài rõ ràng hơn

Mô hình cơ sở của tác giả là như sau:

Zi = α0 + α1Sizei + α2Mbi + α3Owni+ α4Agei+ α5Stateowni + €i (1)

Trong đó:

Trang 25

về mức độ rủi ro ngân hàng Z-score đo lường rủi ro phá sản của các ngân hàng Tác

giả tính CAR là tổng tài sản trừ đi tổng nợ chia cho tổng tài sản Đây là công thức được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu hiện nay: nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015), leaven và Levine (2009) … Giá trị Z-score càng cao cho

thấy ngân hàng có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn và hoạt động ổn định lớn hơn

Vì giá trị của Z-score rất lớn nên tác giả sử dụng logarit tự nhiên của Z-score như làm thước đo rủi ro Trong quá trình tính toán Z-score, ROA và CAR được tính

bằng mức trung bình số liệu hàng năm trong giai đoạn 2009-2017 và σ (ROA) là độ

lệch chuẩn của ROA hàng năm trong giai đoạn 2009-2017 Z-score cũng tồn tại một

số hạn chế trong sử dụng để tính toán mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam Cụ thể, nếu Z-score nhận giá trị âm do ngân hàng hoạt động trong tình trạng thua lỗ thì sẽ không tính toán được logarit tự nhiên của Z-score để

áp dụng trong mô hình Mặt khác, việc tính toán Z-score chủ yếu dựa vào các sô

liệu kế toán Vì vậy, nếu như các ngân hàng sử dụng các thủ thuật để che dấu số liệu

hoặc làm mịn các số liệu báo cáo thì Z-score không còn mang ý nghĩa khách quan,

dẫn đến những đánh giá quá tích cực về mức độ rủi ro và sự ổn định của ngân hàng Tuy nhiên, ưu điểm khi sử dụng Z-score trong tính toán mức độ rủi ro là việc thu

thập dữ liệu khá dễ dàng và có thể áp dụng tại các thị trường mà việc tính toán dựa trên chỉ số thị trường là rất khó khăn do thiếu thông tin và không đủ dữ liệu như tại

Việt Nam Do đó, tác giả cho rằng việc sử dụng Z-score để đo lường mức độ chấp

nhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là phù hợp cho nghiên cứu

Để có được những hiểu biết sâu hơn về Z-score, tác giả sử dụng các thành

phần cấu thành Z-score (ROA, CAR và σ (ROA)) như là biến phụ thuộc để áp dụng vào mô hình để quan sát mối quan hệ với các biến độc lập (biến quy mô hoạt động,

Trang 26

quyền sở hữu và quản trị doanh nghiệp) nhằm xem xét ảnh hưởng của các nhân tố

cấu thành đến Z-score và nhân tố đó chịu ảnh hưởng như thế nào từ quy mô hoạt động của ngân hàng

Có nhiều cách để đo lường quy mô doanh nghiệp bao gồm phương pháp dựa trên kế toán như tổng tài sản và tổng doanh thu, và phương pháp dựa trên thị trường như vốn hóa thị trường Tác giả lựa chọn phương pháp dựa trên tổng tài sản bởi vì

ưu điểm của phương pháp này là việc tìm kiếm số liệu dễ thực hiện thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán, trong khi phương pháp thị trường thì việc tìm

kiếm dữ liệu trên thị trường chứng khoán gặp phải khó khăn do số lượng các ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện niêm yết còn hạn chế Cho nên, theo dữ liệu

hiện có, tác giả tập trung vào phương pháp tổng tài sản Tác giả áp dụng thực hiện chuyển đổi logarit trên tổng tài sản trung bình trong giai đoạn 2009-2017 Tác giả

kỳ vọng tác động của biến số này đối với Z-score sẽ là tương quan âm, chứng tỏ các ngân hàng có quy mô càng lớn thì Z-score càng thấp, dẫn đến mức độ chấp nhận rủi

ro của các ngân hàng này cũng sẽ gia tăng

Theo Bhagat và Bolton (2008), tác giả sử dụng tỷ lệ sở hữu của CEO/nhà điều hành làm thước đo về cơ cấu sở hữu ngân hàng Giống như biến quản trị, tác

giả thu thập dữ liệu về tỷ lệ sở hữu của CEO/nhà điều hành từ báo cáo tài chính Kể

từ khi mô hình sở hữu có xu hướng tương đối ổn định theo thời gian, tác giả không coi đây là một thiếu sót nghiêm trọng

Có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Các nhà quản lý e ngại rủi ro thường là những người có thu nhập gắn liền với những thay đổi trong giá trị doanh nghiệp, và sẽ có động cơ để đảm bảo rủi ro doanh nghiệp tối thiểu để bảo vệ nguồn

vốn của doanh nghiệp cũng như thu thập của bản thân Đây là một vấn đề cơ bản trong bản chất được mô tả trong Jensen và Meckling (1976), Amihud và Lev (1981), và Smith và Stulz (1985) Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu của các CEO/nhà điều hành có thể được sử dụng để buộc họ hành động theo cách phù hợp với lợi ích của

những người sở hữu cổ phần Do đó, quan sát được mối tương quan này đối với thị trường ngân hàng thương mại Việt Nam mang lại nhiều ý nghĩa Tác giả hy vọng sẽ

Trang 27

thấy mối quan hệ tương quan dương giữa tỉ lệ sở hữu của CEO/nhà điều hành ngân hàng và mức độ chấp nhận rủi ro

Chỉ số P/B (Price-to-Book) là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó Tỷ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó

Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, đã được xác định là một yếu tố rủi ro quan trọng trong định giá tài sản Chẳng hạn, Fama và French (1992) chỉ ra rằng các doanh nghiệp có Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách quá cao (hoặc quá thấp) có nhiều khả năng đang trong giai đoạn khủng hoảng về tài chính và có nguy cơ phá sản cao Tác giả tính toán biến này bằng cách lấy giá trị thị trường của cổ phiếu kết thúc năm tài chính chia cho giá trị sổ sách của ngân hàng trên báo cáo tài chính theo năm

Trong lý thuyết về ngân hàng, biến số này thường được sử dụng như là một thước đo cho giá trị của ngân hàng Giá trị P/B được xem là rào cản gia nhập thị trường, đồng thời phản ánh kỳ vọng của thị trường đối với hoạt động kinh doanh

của ngân hàng Nếu một ngân hàng đang bán cổ phiếu với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ (tức là có tỷ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của ngân hàng đã bị thổi phồng quá mức, hoặc

là thu nhập trên tài sản của ngân hàng là quá thấp Nếu như điều kiện đầu tiên xảy

ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của ngân hàng hoặc các điều kiện kinh doanh

mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông Ngược lại, nếu một ngân hàng có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy ngân hàng làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao Biến này chỉ được thu thập đối với các ngân hàng

có niêm yết trên sàn giao dịch chứng HOSE và HNX

Đối với các ngân hàng không thu thập đủ số liệu trên sàn giao dịch chứng khoán thì quy ước tỉ lệ m/b bằng 1

Trang 28

Tác giả sử dụng số năm thành lập ngân hàng để kiểm soát kinh nghiệm của ngân hàng và tác giả hy vọng rằng các ngân hàng lâu năm, có kinh nghiệm và chỗ đứng vững chắc trên thị trường sẽ xử lý rủi ro tốt hơn các ngân hàng ít kinh nghiệm

Trong Hệ thông ngân hàng thương mại tại Việt Nam bên cạnh các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh, chiếm thị phần lớn vẫn là các ngân hàng thương mại nội địa Trong nhóm này, các ngân hàng được phân thành 2 loại: ngân hàng thương mại cổ phần thuộc tư nhân và ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước chi phối Lịch sử hình thành của các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước là do trước đây nhà nước bỏ vốn thành lập ngân hàng Dần dần, do quá trình cổ phần hóa, các ngân hàng này cũng đi theo xu hướng hiện đại, tuy nhiên phần vốn nhà nước

vẫn được giữ lại một tỷ lệ đảm bảo cho khả năng chi phối hoạt động ngân hàng Đây cũng là một công cụ giúp nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thông qua bổ trợ cho các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ Nhóm ngân hàng này hiện nay bao gồm: VCB, BIDV, Viettinbank và Agribank đều là các ngân hàng lớn nhất của

Việt Nam, nằm trong nhóm “Big 4”, dẫn đến việc kiểm nghiệm của tác giả xem xét

biến giả ngân hàng thuộc nhà nước do được các chính sách ưu đãi và bảo trợ thì khả năng chấp nhận rủi ro cao hơn so với các ngân hàng cổ phần thuộc tư nhân Cho nên nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước chi phối nhận giá trị 1, các ngân hàng còn lại nhận giá trị 0

€i là sai số và βs (S = 1 6) là vectơ của ước lượng hệ số Lưu ý rằng chúng

ta chỉ bao gồm đòn bẩy và khả năng sinh lời như các điều khiển chi tiết khi các biện pháp đo lường rủi ro khác được sử dụng làm biến phụ thuộc bởi vì Z-score là một hàm xác định của hai biến số này

ROA

Lợi nhuận trên tài sản, được tính bằng cách lấy

lợi nhuận ròng của ngân hàng chia cho tổng tài

sản trung bình Giá trị ROA cao hơn cho thấy

Trang 29

độ ổn định cao hơn

CAR

Tỷ lệ vốn trên tài sản, bằng (Tổng tài sản -

Tổng nợ phải trả) / Tổng tài sản Điều này cho

thấy vốn ngân hàng đang nắm giữ theo tỷ lệ

phần trăm của tổng tài sản và nắm giữ vốn thấp hơn cho thấy mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán cao hơn

𝜎𝜎(ROA)

Độ lệch của ROA, đo lường mức độ biến động

của lợi nhuận của một ngân hàng Biến động cao hơn tiềm ẩn rủi ro cao hơn

Bi ến độc lập

Size

Theo quan điểm “too big,too fail”, ngân hàng

có quy mô càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro càng cao

Tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản

trị/CEO Hàm ý nhà quản lý ngân hàng có mức

độ chấp nhận rủi ro cao hơn khi tỷ lệ sở hữu gia tăng

Số năm/tuổi thành lập ngân hàng Các ngân hàng càng lâu năm thì sẽ có khả năng giảm thiểu rủi ro tốt hơn

Biến giả sở hữu nhà nước Các ngân hàng thuộc

sở hữu nhà nước thì có mức độ chấp nhận rủi ro

lớn hơn so với các ngân hàng cổ phần tư nhân

Ngày đăng: 04/09/2020, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w