Bằng việc sử dụng bộ dữ liệu bảng của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016 bài nghiên cứu rút ra được các phát hiện quan trọng sau đây: Thứ nhất, khủng hoảng tài ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG THỊ HÀ GIANG
SỰ TRUYỀN DẪN CÚ SỐC THANH KHOẢN VÀ KÊNH CHO VAY LIÊN NGÂN HÀNG TẠI CÁC NHTM VIỆT
NAM TRƯỚC VÀ SAU KHỦNG HOẢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG THỊ HÀ GIANG
SỰ TRUYỀN DẪN CÚ SỐC THANH KHOẢN VÀ KÊNH CHO VAY LIÊN NGÂN HÀNG TẠI CÁC NHTM VIỆT
NAM TRƯỚC VÀ SAU KHỦNG HOẢNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này được viết xuất phát từ nhu cầu học tập và nghiên cứu của tác giả Nội dung luận văn được viết dựa vào các nghiên cứu và tài liệu trích dẫn cụ thể, hoàn toàn minh bạch Các dữ liệu tính toán dựa trên nguồn thông tin đáng tin cậy và được công
bố rộng rãi trên các Website Tác giả cam kết không sao chép lại nội dung các nghiên cứu khác
Tác giả luận văn
Trương Thị Hà Giang
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 4
1.6 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 7
2.1 Chính sách tiền tệ và sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ 7
2.1.1 Chính sách tiền tệ 7
2.1.2 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ 8
2.1.3 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ 10
2.1.3.1 Kênh lãi suất 10
2.1.3.2 Kênh tỷ giá 11
2.1.3.3 Kênh giá tài sản 11
2.1.3.4 Kênh tín dụng 11
Trang 52.1.3.5 Kênh mong đợi 13
2.2 Khủng hoảng tài chính và cú sốc thanh khoản 13
2.2.1 Khủng hoảng tài chính 13
2.2.1.1 Lý thuyết về khủng hoảng tài chính 13
2.2.1.2 Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2009 15
2.2.2 Sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản 17
2.2.2.1 Cú sốc thanh khoản 18
2.2.2.2 Thước đo sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản 19
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm 20
2.3.1 Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 20
2.3.1.1 Nguồn gốc của sự truyền dẫn 20
2.3.1.2 Các kênh truyền dẫn cú sốc thanh khoản 23
2.3.1.3 Hiện tượng tháo chạy ngân hàng (bank run) 26
2.3.1.4 Truyền dẫn của cú sốc thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng 28
2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam 32
CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu 35
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
3.1.2 Kích cỡ mẫu nghiên cứu 36
3.2 Mô hình thực nghiệm 37
3.3 Phương pháp nghiên cứu 41
3.3.1 Kiểm định các trường hợp khuyết tật của mô hình do vi phạm các giả định 43
3.3.2 Phương pháp hồi quy GMM 44
3.3.2.1 Ưu điểm của GMM 44
Trang 63.3.2.2 Thủ tục ước lượng GMM và kiểm định cơ bản 47
3.3.2.3 Tính chất của phương pháp ước lượng GMM 48
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
4.1 Phân tích thống kê mô tả 51
4.1.1 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến 53
4.1.1.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến 53
4.1.1.2 Kiểm định đa cộng tuyến 54
4.1.2 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần ư trên ữ liệu bảng - Greene (2000) 55
4.1.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần ư trên ữ liệu bảng - Wooldridge (2002) và Drukker (2003) 55
4.2 Phân tích kết quả hồi quy 56
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 61
5.1 Tóm tắt các kết quả chính của đề tài 61
5.2 Một số khuyến nghị 62
5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7TSSL : tài sản sinh lời
GMM : Phương pháp hồi quy với biến công cụ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu về nguồn gốc của sự truyền dẫn 22
Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu về kênh truyền dẫn cú sốc thanh khoản 25
Bảng 2.3 Tóm tắt các nghiên cứu về hiện tượng tháo chạy ngân hàng 27
Bảng 2.4 Tóm tắt các nghiên cứu về truyền dẫn cú sốc thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng 31
Bảng 3.1 Vắn tắt các biến đo lường sử dụng trong nghiên cứu 39
Bảng 4.1 Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 51
Bảng 4.2 Kết quả ma trận tương quan 53
Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 54
Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 55
Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình 56
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình 57
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ minh hoạ các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ 9
Trang 10TÓM TẮT
Bài viết này tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm về sự truyền ẫn cú sốc thanh khoản trong hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 Cụ thể, bài nghiên cứu tập trung phân tích giả thuyết cho rằng khủng hoảng tài chính tồn tại như một cú sốc thanh khoản và nó được truyền từ ngân hàng này sang ngân hàng khác thông qua kênh cho vay liên ngân hàng Bên cạnh đó, đề tài cũng xem xét liệu kênh huy động có vai trò như thế nào đến kênh cho vay liên ngân hàng trong việc truyền dẫn cú sốc thanh khoản? Bằng việc sử dụng bộ dữ liệu bảng của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016 bài nghiên cứu rút ra được các phát hiện quan trọng sau đây:
Thứ nhất, khủng hoảng tài chính tồn tại như một cú sốc thanh khoản, cụ thể việc
truyền dẫn những cú sốc về thanh khoản trong toàn hệ thống ngân hàng xảy ra là do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đối với kênh cho vay liên ngân hàng
Thứ hai, có tồn tại mối quan hệ giữa cú sốc thanh khoản và kênh cho vay liên
ngân hàng và khủng hoảng tài chính đã làm nghiêm trọng hơn mối quan hệ này
Thứ ba, kênh huy động được xem như là một thước đo ảnh hưởng của cú sốc
thanh khoản và có sự tác động khác nhau giữa hai kênh huy động của khách hàng và của ngân hàng đến kênh cho vay liên ngân hàng trong việc truyền dẫn các cú sốc thanh khoản giữa các NHTM Việt Nam
Từ khóa: khủng hoảng tài chính, cú sốc thanh khoản, kênh cho vay liên ngân hàng, ngân hàng chạy, truyền dẫn CSTT
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu hàng đầu của các quốc gia phát triển hay đang phát triển luôn là tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát Để đạt được những mục tiêu này thì việc thực thi một CSTT hiệu quả là một vấn đề rất quan trọng, bởi đây
là một trong những công cụ giữ vai trò quyết định trong việc quản lý, điều tiết nền kinh tế vĩ mô CSTT ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau như kênh tín ụng, kênh tài sản và kênh lãi suất… (Chatelain và cộng sự, 2002) Theo nghiên cứu của Angeloni và cộng sự (2003) đã chỉ ra rằng, kênh lãi suất thường là kênh truyền dẫn quan trọng nhất tại các quốc gia phát triển với thị trường tài chính hiện đại, ngược lại, theo Disyatat và Vongsinsirikul (2003), kênh tín dụng
và kênh tỷ giá là các kênh chủ đạo tại các quốc gia đang phát triển
Đối với nước ta hiện nay, thị trường tài chính chưa thực sự phát triển Thị trường tiền tệ chưa tạo được tiền đề cho sự phát triển năng động và hiệu quả, việc
sử dụng các công cụ tiền tệ còn hạn chế Thị trường vốn thì chưa phải là kênh phân
bổ vốn đa ạng và có hiệu quả của nền kinh tế Thị trường cổ phiếu và trái phiếu đều quá nhỏ bé, khối lượng hàng hóa không đủ để tạo môt thị trường vốn sôi động
và hấp dẫn Trong bối cảnh đó, thị trường tín dụng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, vai trò của hệ thống NHTM ngày càng được khẳng định trong huyết mạch của nền kinh tế Thị trường tín dụng phát triển lành mạnh là nhân tốt cần thiết đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Vì vậy, CSTT có thể tác động tới nền kinh tế qua nhiều kênh khác nhau nhưng rõ ràng trong điều kiện tài chính như nước
ta thì kênh tín dụng (trong đó, kênh cho vay giữ vai trò trọng yếu) thực sự là kênh truyền dẫn tác động CSTT quan trọng và phổ biến đối với nền kinh tế Việt Nam
Trang 12Bên cạnh đó, ngân hàng kinh oanh trên lĩnh vực vô cùng nhạy cảm là tiền tệ, các vấn đề xung quanh lĩnh vực này luôn được xem xét hết sức thận trọng vì có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của ngân hàng nói riêng và của cả nên kinh tế nói chung Trong các hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thì ba mục tiêu: an toàn, sinh lợi và thanh khoản là ba mục tiêu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, vấn đề thanh khoản là vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Thanh khoản ưới góc độ ngân hàng được xem là khả năng tức thời
để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi cũng như giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết và nguồn cung cấp thanh khoản chủ yếu là từ các khoản tiền gửi mà ngân hàng nhận được (gồm kênh huy động từ khách hàng cá nhân và từ các ngân hàng) Điều này làm cho các nhà quản lý luôn phải có các biện pháp để đo lường, quản lí và lập kế hoạch thu hút các nguồn vốn vào ngân hàng và sử dụng sao cho vừa đảm bảo tính sinh lời của tài sản vừa đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng với mức chi phí tối thiểu Có thể nói, khả năng thanh khoản là vấn đề rất nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Một ngân hàng bị mất khả năng thanh khoản sẽ nhanh chóng đi tới bờ vực phá sản và ảnh hưởng tới tính ổn định của toàn bộ hệ thống Cuộc khủng hoảng ưới chuẩn được đặc trưng bởi một sai lệch tín dụng to lớn
đã ẫn đến việc ngừng cho vay bất ngờ giữa các ngân hàng và sự gián đoạn lớn trong hoạt động huy động và cho vay Một tài liệu cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính được đặc trưng bởi sự gia tăng rút tiền gửi, dẫn đến hiện tượng tháo chạy ngân hàng (Diamond và Dybvig, 1983), khiến các ngân hàng bị ảnh hưởng đã truyền các cú sốc thanh khoản sang các ngân hàng khác từ việc giảm cho vay liênngân hàng, vì vậy cú sốc thanh khoản thực sự là một vấn đề quan trọng và nó ảnh hưởng đến nền kinh tế thực Do đó, điều tra vấn đề này tại Việt Nam là hữu ích
Trang 13cho việc điều hành CSTT của NHNN và việc ban hành các chính sách quản lý của các nhà quản trị ngân hàng
Như vậy, câu hỏi được đặt ra ở đây là: Thứ nhất, liệu khủng hoảng tài chính
có thực sự là cú sốc thanh khoản? Thứ hai, có tồn tại hay không mối quan hệ giữa
cú sốc thanh khoản với kênh cho vay liên ngân hàngvà liệu khủng hoảng tài chính
có làm nghiêm trọng mối quan hệ này không? Thứ ba, kênh huy động (nguồncung
thanh khoản của ngân hàng) có vai trò như thế nào trong việc truyền dẫn cú sốc thanh khoản qua kênh cho vay liên ngân hàng? Để làm rõ hơn về các vấn đề này,
tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản và kênh cho vay liên ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trước và sau khủng hoảng” để làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
1.2 Mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu chung: Xem xét liệu có tồn tại sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản cũng
như chiều hướng và mức ảnh hưởng đến kênh cho vay liên ngân hàng tại các NHTM Việt Nam trước và sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-
2009
Mục tiêu cụ thể:
- Kiểm tra xem liệu khủng hoảng tài chính có thực sự là cú sốc thanh khoản và
có tồn tại hay không mối quan hệ giữa cú sốc thanh khoản đến kênh cho vay liên ngân hàng (đánh giá mức ý nghĩa, so sánh chiều hướng tác động cũng như
độ lớn của các hệ số hồi quy)
- Xem xét kênh huy động có vai trò như thế nào trong sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản đến kênh cho vay liên ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng
Trang 141.3 Đối tượng nghiên cứu
Bài thực hiện nghiên cứu về cú sốc thanh khoản và kênh cho vay liên ngân hàng với đối tượng không gian là các ngân hàng thương mại Việt Nam và đối tượng thời gian là năm 2006 đến năm 2016
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu dùng dữ liệu được thu thập từ năm 2006 đến năm 2016 để tạo
ra bộ dữ liệu bảng theo dạng cân bằng Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ báo cáo tài chính của các ngân hàng vào thời điểm cuối năm tài chính (ngày 31 tháng 12)
Bài sử ụng phương pháp nghiên cứu định lượng và sử ụng mô hình phân tích hồi quy ữ liệu bảng Trong đó, lần lượt thực hiện các kiểm định giả thiết định lượng đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai thay đổi Đề tài sử ụng mô hình ước lượng GMM trên ữ liệu bảng được giới thiệu bởi Arellano Bon (1991) nhằm kiểm soát các giả thiết định lượng tự tương quan, phương sai thay đổi và nội sinh cho kết quả tin cậy
Các phần mềm được tác giả sử ụng là xcel 2010 và Stata 13 trong tính toán
và ước lượng
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Về mặt lý luận: bài nghiên cứu đóng góp một bằng chứng thực nghiệm về sự
truyền dẫn cú sốc thanh khoản đến kênh cho vay trên thị trường liên ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu Từ đó củng cố các học thuyết cũng như các quan điểm nghiên cứu trước để làm rõ mối quan hệ này
Về mặt thực tiễn: hiểu rõ hơn về sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản đến kênh
cho vay trên thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam Từ đó cho phép đưa ra các giải
Trang 15pháp và kiến nghị giúp cho các nhà quản trịngân hàng kiểm soát cú sốc thanh khoản, tạo tiền đề cho NHTW điều hành CSTT một cách có hiệu quả thông qua
kênh cho vay liên ngân hàng để đạt được các mục tiêu đề ra
1.6 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần tóm tắt, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục hình, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của bài nghiên cứu bao gồm
5 chương sắp xếp theo bố cục như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây
Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản giữa các NHTM
và mối quan hệ giữa cú sốc thanh khoản đến kênh cho vay liên ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy khủng hoảng tài chính thực sự là một cú sốc thanh khoản, có mối quan hệ với kênh cho vay liên ngân hàng và đã làm nghiêm trọng hơn tác động của các yếu tố ảnh
Trang 16hưởng đến kênh cho vay liên ngân hàng mà chủ yếu là tác động của kênh huy động tại các ngân hàng thương mại
Chương 5: Kết luận và hướng nghiên cứu mở rộng
Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
2.1 Chính sách tiền tệ và sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ
Kênh truyền dẫn tác động của CSTT thường là thông qua hệ thống tài chính
và kênh ngân hàng Đặc biệt, tại các nền kinh tế mà nguồn vốn tín dụng ngân hàng
có vai trò quyết định trong hoạt động đầu tư và các ngân hàng hàng nhỏ đóng góp một vai trò tương đối quan trọng trong thị trường tài chính (bank based) thì rõ ràng các nhà điều hành chính sách cần quan tâm hơn tới kênh truyền dẫn qua tín dụng ngân hàng (điển hình là kênh cho vay) Và một trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự truyền dẫn CSTT qua kênh cho vay là tính thanh khoản trên thị trường ngân hàng
Do đó, việc nghiên cứu để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa thanh khoản và kênh cho vay là rất hữu ích cho việc hoạch định chính sách, góp phần phát triển một phản ứng CSTT thích hợp để giúp nền kinh tế vượt qua những cú sốc thanh khoản
2.1.1 Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường Theo nghĩa rộng thì CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ
sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp với
Trang 18mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa
Hiểu đơn giản là CSTT được xem là các hành động của NHTW nhằm thay đổi cung tiền hoặc lãi suất chính sách để hướng đến mục tiêu ổn định lạm phát, tăng trưởng kinh tế, toàn dụng lao động và ổn định tỷ giá hối đoái Trong đó, công cụ của CSTT gồm lãi suất chính sách (lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng), mua bán chứng khoán ngắn hạn trên thị trường mở hay sử dụng dự trữ bắt buộc Tác động của CSTT luôn được thể hiện rõ nét và có uy lực tới nền kinh tế nói chung
và thị trường tài chính nói riêng so với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác trong suốt quá trình vận hành của nền kinh tế, đặc biệt là trong ngắn hạn
Vì vậy, để có một CSTT phù hợp, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải có một sự hiểu biết rõ ràng về cơ chế truyền dẫn tiền tệ và tầm quan trọng của các kênh truyền dẫn khác nhau như tín ụng, lãi suất và tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của các kênh truyền dẫn này đến các khu vực của nền kinh tế
2.1.2 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ
Truyền dẫn CSTT là quá trình truyền dẫn những thay đổi trong lãi suất chính sách hoặc cung tiền đến các thay đổi khác của các yếu tố kinh tế như lãi suất thị trường, giá tài sản, tỷ giá hối đoái, dòng tiền, cung tín dụng ngân hàng, tiêu ùng tư nhân… để hướng đến mục tiêu cuối cùng là mức giá, tăng trưởng kinh tế và lao động của nền kinh tế (Mankiw and Taylor, 2011)
Trang 19Hình 2.1: Sơ đồ minh hoạ các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ 1
Hình trên trình bày cơ chế truyền dẫn công cụ CSTT đến mức giá chung của nền kinh tế Ví dụ như cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh cho vay, NHTW mở rộng mức cung tiền trong nền kinh tế, làm cho lãi suất thị trường giảm xuống cũng như lãi suất liên ngân hàng sẽ giảm, từ đó làm gia tăng các khoản cho vay ngân hàng, chính việc tăng các khoản vay sẽ làm đầu tư và tiêu ùng của các chủ thể kinh
tế cũng tăng theo ẫn đến mức giá chung của nền kinh tế tăng (trường hợp CSTT nới lỏng)
M -> lãi suất giảm -> các khoản vay ngân hàng tăng -> I -> Y
Hàm ý quan trọng của quan điểm về kênh cho vay là CSTT có ảnh hưởng lớn đến tới sự tiêu dùng của các công ty nhỏ phụ thuộc nhiều vào các khoản vay
Lãi suất mục tiêu
Cung cầu hàng hóa và lao động
trên thị trường
Giá trong nước Giá nhập
khẩu
Các cú sốc nằm ngoài sự kiểm soát của NHTW
Thay đổi phí rủi
ro
Thay đổi chính sách tài khóa
Thay đổi giá hàng
hóa
Tỷ giá
Thay đổi vốn ngân hàng
Thay đổi của kinh
tế thế giới
Mức giá chung của nền kinh tế
Trang 20ngân hàng hơn là các công ty lớn có khả năng huy động vốn trực tiếp từ thị trường
bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu
2.1.3 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ
2.1.3.1 Kênh lãi suất
Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều lý thuyết kinh tế trong hơn năm mươi năm qua và là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS-LM của phái Keynes, một nền tảng cho lý thuyết kinh tế học vĩ mô hiện nay Quan điểm của phái Keynes với mô hình IS-LM được thể hiện thông qua sơ đồ truyền dẫn sau:
M => i r => Y
M thể hiện việc nới lỏng chính sách tiền tệ, khiến lãi suất thực giảm ( ir ), do
đó làm giảm chi phí vốn, ẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư (I ), từ đó ẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y)
Việc điều hành CSTT thông qua kênh lãi suất đang ần trở thành xu hướng toàn cầu khi các NHTW trên thế giới đang cố gắng thiết lập các mức lãi suất ngắn hạn để điều tiết thị trường và đạt được các mục tiêu vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát Đó là o, lãi suất điều hành của NHTW có thể tác động tới chi phí vốn, thông qua đó, tác động đến hoạt động đầu tư, thu nhập, tiết kiệm, tiêu dùng của nền kinh tế, giá cả và sự chuyển dịch các tài sản tài chính từ đó tác động đến tổng cầu và CPI, giúp các quyết định CSTT của NHTW có thể lan tỏa tới nền kinh
tế Đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế truyền tải CSTT thông qua kênh lãi suất được công bố trên thế giới cũng như ở Việt Nam tất cả các nghiên cứu đều khẳng định sự tồn tại của kênh lãi suất tới nền kinh tế Thông qua việc điều chỉnh các mức lãi suất NHTW có thể tác động tới nền kinh tế và đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế
và kiểm soát CPI
Trang 21M => i r => E => NX => Y
2.1.3.3 Kênh giá tài sản
Kênh giá tài sản tồn tại ở hầu hết các quốc gia phát triển, nhưng chỉ tồn tại ở một số quốc gia đang phát triển bởi vì thị trường nợ và thị trường vốn của các quốc gia này còn nhỏ hoặc chưa phát triển (Mishra and Montiel, 2012)
Có hai kênh quan trọng có liên quan đến giá tài sản trong cơ chế truyền dẫn
tiền tệ là kênh liên quan tới học thuyết q của Tobin về đầu tư và những tác động của
mức độ giàu có lên tiêu dùng
2.1.3.4 Kênh tín dụng
Có hai kênh truyền dẫn tiền tệ cơ bản đều xuất phát từ kết quả của vấn đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng là: Kênh cho vay ngân hàng và kênh bảng cân đối tài sản Các kênh truyền dẫn này khá khác biệt so với kênh lãi suất, kênh tỷ giá và kênh giá tài sản vì những kênh này tập trung vào giải thích tác động của CSTT lên tín dụng của ngân hàng thương mại và bảng cân đối kế toán của
Trang 22doanh nghiệp và hộ gia đình (Bernanke an Gertler, 1995, Ramey, 1993, Iacoviello and Minetti, 2008, Kashyap and Stein, 1995, Ciccarelli et al., 2014)
Hàm ý quan trọng của quan điểm về kênh tín dụng là chính sách tiền tệ có ảnh hưởng lớn tới sự tiêu dùng của các công ty nhỏ phụ thuộc nhiều vào các khoản vay ngân hàng hơn là các công ty lớn có khả năng huy động vốn trực tiếp từ thị trường bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu
Trong đó, kênh cho vay đóng vai trò như một kênh truyền dẫn chính trong kênh tín dụng, kênh cho vay bổ sung cho kênh lãi suất giúp khếch đại tác động của CSTT đến các biến số kinh tế vĩ mô thông qua cung tín ụng của NHTM Khi NHTW thắt chặt CSTT, nguồn vốn của ngân hàng thương mại bị suy giảm, nếu ngân hàng thương mại không thể hoặc gặp khó khăn trong việc phát hành công cụ
nợ hoặc vốn trên thị trường để huy động vốn nhằm bù vào phần suy giảm đó thì ngân hàng thương mại phải cắt giảm cung cho vay và ngược lại (Bernanke and Blinder, 1988) Kênh cho vay sẽ tồn tại với một số điều kiện nhất định trong nền kinh tế, của ngân hàng thương mại và của khách hàng như: các oanh nghiệp dựa vào nguồn vốn từ ngân hàng thương mại (Bernanke and Blinder, 1988), ngân hàng thương mại không thể thay thế toàn bộ nguồn vốn từ tiền gửi (Bernanke and Blinder, 1988), NHTW có khả năng tác động đến cung tín dụng của ngân hàng thương mại (Kashyap and Stein, 1995)
Kênh cho vay ngân hàng dựa trên quan điểm ngân hàng đóng vai trò đặc biệt trong hệ thống tài chính bởi vì các ngân hàng có đủ các điều kiện tốt để giải quyết các vấn đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng Do vai trò đặc biệt của ngân hàng, một số người vay nhất định sẽ không thể gia nhập vào thị trường tín dụng trừ phi họ vay từ ngân hàng Chừng nào mà chưa có khả năng thay thế hoàn hảo các khoản tiền gửi ngân hàng bán lẻ bằng các nguồn vốn khác của các quỹ, kênh truyền dẫn tiền tệ qua cho vay ngân hàng hoạt động như sau: Chính sách tiền
tệ nới lỏng làm tăng ữ trữ ngân hàng và tiền gửi ngân hàng, tăng chất lượng các khoản vay ngân hàng hiện có Do ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng là người
Trang 23cho vay của những người đi vay ngân hàng, chính việc tăng các khoản vay sẽ dẫn đến đầu tư tăng
Có ba lý o để tin rằng các kênh tín ụng là một phần quan trọng của cơ chế truyền ẫn chính sách tiền tệ Đầu tiên, có rất nhiều bằng chứng để chứng minh cho quan điểm rằng những khuyết tật của thị trường tín ụng thực sự có ảnh hưởng đến các quyết định việc làm và chi tiêu của các oanh nghiệp Thứ hai, có những bằng chứng, như trong Gertler và Gilchrist (1994), chỉ ra rằng những oanh nghiệp nhỏ, tín ụng bị giới hạn thì bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ thắt chặt nhiều hơn oanh nghiệp lớn, tín ụng ít bị giới hạn Thứ ba, và có lẽ là điều thuyết phục nhất, quan niệm bất đối xứng thông tin của thị trường tín ụng không hoàn hảo là cốt lõi của phân tích kênh tín ụng và là một lý luận đã được chứng minh là rất hữu ích trong việc giải thích nhiều hiện tượng quan trọng khác Ví ụ, quan niệm bất đối xứng thông tin của thị trường tín ụng không hoàn hảo giải thích tại sao có sự tồn tại của rất nhiều các thể chế tài chính và tại sao hệ thống tài chính lại có cấu trúc như hiện nay Bên cạnh đó, phân tích kênh tín ụng ở đây cung cấp sự giải thích rõ ràng cho các sự kiện xảy ra nối tiếp nhau trong cuộc khủng hoảng tài chính và giải thích tại sao khủng hoảng tài chính lại ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
2.1.3.5 Kênh mong đợi
Kênh mong đợi ít được đề cập trong các nghiên cứu về truyền dẫn CSTT và thường khó có thể tồn tại một cách độc lập vì kênh mong đợi chủ yếu là có tác động khếch đại tác động của các kênh truyền dẫn khác
2.2 Khủng hoảng tài chính và cú sốc thanh khoản
2.2.1 Khủng hoảng tài chính
2.2.1.1 Lý thuyết về khủng hoảng tài chính
Thuật ngữ khủng hoảng tài chính được sử ụng khá phổ biến nhằm mô tả các tình huống, ở đó các định chế tài chính hoặc các tài sản tài chính mất đi phần lớn giá trị của chúng Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhiều cuộc khủng hoảng tài chính
Trang 24có liên quan đến sự hoảng loạn ngân hàng, và nhiều sự suy thoái kinh tế có liên quan đến sự hoảng loạn này Một số tình huống khác thường được gọi là khủng hoảng tài chính như sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu và sự nổ tung của các bong bóng giá tài sản tài chính, khủng hoảng tiền tệ và sự vỡ nợ quốc gia.2
Một số ạng khủng hoảng tài chính đặc thù như: Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis); Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis); Khủng hoảng tiền tệ (Money Crisis); Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis of Security Market); Khủng hoảng cán cân thanh toán/ Cán cân vãng lai/ Cán cân vốn (Crisis of Balance of Payment/ Crisis of Current Account/ Crisis of Capital Account); Khủng hoảng khả năng/ tính thanh khoản (Crisis of Liqui ity); Khủng hoảng ngân sách (Bu get Crisis) Đây là những ạng khủng hoảng tài chính cơ bản và trong tương lai
có thể xuất hiện thêm nhiều ạng nữa cùng với sự phát triển của thị trường tài chính trong tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế
Khủng hoảng tài chính phá vỡ thị trường tài chính, làm tăng nhanh các thông tin không cân xứng Do đó thị trường tài chính không còn là kênh ẫn vốn hiệu quả đến những nơi có cơ hội đầu tư tốt nhất, kết quả là suy thoái kinh tế
Mishkin (1994) đưa ra năm yếu tố có thể thúc đẩy một khủng hoảng tài chính: 1) tăng lãi suất, 2) thị trường chứng khoán suy giảm, 3) sự suy giảm không
ự tính được trong mức giá, 4) gia tăng các yếu tố không chắc chắn, và 5) hoảng loạn ngân hàng
Trong đó, hoảng loạn ngân hàng là khi một ngân hàng gặp phải một sự rút vốn đột ngột bởi người gửi tiền, người ta còn gọi đây là sự tháo chạy ngân hàng Do
2
Charles P Kindleberger và Robert Aliber (2005), Manias, Panics, and Crashes: A History of Financial Crises, ấn bản lần 5 Wiley; Luc Laeven và Fabian Valencia (2008), 'Systemic banking crises: a new database' International Monetary Fund Working Paper 08/224
Trang 25các ngân hàng cho vay phần lớn khoản tiền gửi mà nó nhận được nên khi gặp phải những tình huống như vậy, các ngân hàng không thể ngay lập tức hoàn trả được tất
cả những khoản tiền gửi cho khách hàng Cho nên một sự tháo chạy về tiền gửi có thể đặt ngân hàng vào trạng thái phá sản Hệ quả là những người gửi tiền sẽ bị thiệt hại trừ khi họ được công ty bảo hiểm tiền gửi chi trả Một tình huống ở đó sự tháo chạy ngân hàng lan rộng được gọi là khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống (systemic banking crisis) hoặc là sự hoảng loạn ngân hàng (banking panic) Rất nhiều ví ụ về sự tháo chạy ngân hàng đã iễn ra, chẳng hạn như sự tháo chạy khỏi các ngân hàng Mỹ những năm 1930, hay sự sụp đổ của Bear Stearns năm 2008 cũng được xem là một sự tháo chạy ngân hàng Hiện tượng rút tiền ở ngân hàng TMCP Á Châu năm 2003 cũng được xem là một tình huống tháo chạy ngân hàng điển hình ở Việt Nam Trong trường hợp này các ngân hàng trở thành tác nhân của một cuộc khủng hoảng tài chính
2.2.1.2 Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2009
Đây là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực tài chính (tín ụng, bảo hiểm, chứng khoán) iễn ra từ năm 2007 bắt nguồn từ Mỹ và nguồn gốc chủ yếu là
từ các khoản nợ nhà đất ưới chuẩn Một số nguyên nhân ẫn đến cuộc khủng hoảng tại Mỹ bao gồm Fe uy trì lãi suất thấp, các cách tân tài chính, hệ thống giám sát bị buông lỏng, đánh giá tín nhiệm thiếu tin cậy, tâm lý: giá nhà đất luôn tăng, vay sẽ có lời…, và yếu tố châm ngòi cuộc khủng hoàng là Fe thực hiện thắt chặt tiền tệ và thị trường nhà ở xấu đi
Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín ụng của Mỹ như New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản.Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín ụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện
Trang 26tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn Nguy
cơ khan hiếm tín ụng hình thành và cuộc khủng hoảng tài chính thực sụ chính thức
nổ ra Từ Mỹ, rối loạn này ần lan sang các nước khác, như ở Anh quốc, ngân hàng Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của mình ra
Trước tình hình đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín ụng như thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín ụng nhà ở Tháng 09 năm 2007,
F D còn tiến hành giảm lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng (Fed fund rates)
từ 5,25% xuống 4,75% Trong khi đó, NHTW Châu Âu đã bơm 205 tỷ Dollar
Mỹ vào thị trường tín ụng để nâng cao mức thanh khoản
Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khi những báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất động sản iễn ra lâu hơn ự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn ự tính Tình trạng đói tín ụng trở nên rõ ràng Hệ thống ự trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12 năm 2007 và tháng 2 năm 2008 nhưng không có hiệu quả như mong đợi
Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng ự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns, nhưng không nổi Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá 10 ollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 ollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra Việc Ngân hàng ự trữ liên bang New York không thể cứu Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn Sự sụp đổ của Bear Stern đã đẩy cuộc khủng hoảng lên nấc thang trầm trọng hơn
Trang 27Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản Tiếp sau Lehman là một số công ty khác Tháng 9 năm 2008, Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ổn định Kinh tế Khẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ chi tới 700 tỷ USD cứu nền tài chính của nước này bằng cách mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng, đặc biệt
- Trục trặc “tín ụng” nhanh chóng chuyển thành trục trặc “thanh khoản”: Các tổ chức tài chính trở nên rất thận trọng và không muốn cho nhau vay
vì lo ngại về rủi ro không trả nợ của bên kia Các tổ chức tài chính không biết ai đang chịu nhiều rủi ro liên quan tới chứng khoán ưới chuẩn
- Và sau cùng thì trục trặc về “vốn” xuất hiện: Các tổ chức tài chính buộc phải xóa một lượng vốn chủ sở hữu lớn của mình để bù đắp cho các khoản thua lỗ o giá trị tài sản giảm xuống, các khản đầu tư ngoại bảng trước đây được đưa vào bảng cân đối kế toán; tiếp thêm vốn cho các quỹ đầu tư thị trường tiền tệ ngắn hạn để ngăn các quỹ này “mất giá trị tài sản ròng”; mất vốn trực tiếp khi phải điều chỉnh giá trị các khoản đầu tư trên bảng cân đối kế toán theo giá thị trường
2.2.2 Sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản
Trang 282.2.2.1 Cú sốc thanh khoản
Theo y ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử ụng vốn khả ụng phục vụ cho hoạt động kinh oanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao ịch vốn ”
Thanh khoản là một khái niệm trừu tượng, với nhiều cách định nghĩa khác nhau Hiểu một cách đơn giản nhất, thanh khoản là mức độ ễ àng của việc giao ịch một tài sản nào đó trên thị trường và thị trường được xem là có tính thanh khoản cao khi mà các chi phí giao ịch tương ứng được tối thiểu hóa (Kyle, 1985) Hay hiểu đơn giản tính thanh khoản của một ngân hàng thương mại được xem như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín ụng đã cam kết
Trong kinh tế tài chính, cú sốc thanh khoản là sự thiếu hụt nghiêm trọng tính thanh khoản Cú sốc thanh khoản của hệ thống ngân hàng xảy ra khi vì một lý do nào đó các ngân hàng thương mại không còn tiền mặt để cho vay và trả nợ đến hạn,
mà không vay được trên thị trường liên ngân hàng Cú sốc thanh khoản thường là hệ quả đi kèm của một khủng hoảng nợ xảy ra trước đó, nhưng đôi khi là hậu quả của việc thắt chặt tiền tệ quá đột ngột Chẳng hạn, từ tháng 8 năm 2007, trong không đầy một tháng, Cục Dự trữ liên bang Mỹ phải bơm khoảng 200 tỉ USD vào hệ thống ngân hàng để tránh cú sốc thanh khoản, hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ vay mua nhà ưới chuẩn trước đó Cú sốc thanh khoản nếu không đi kèm với khủng hoảng
nợ thì dễ chữa trị Chỉ cần Ngân hàng Nhà nước bơm thêm tiền vào hệ thống liên ngân hàng đúng lúc và đúng liều lượng, giữ lãi suất liên ngân hàng ở mức ổn định
Trang 292.2.2.2 Thước đo sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản
Sự truyền dẫn cú sốc thanh khoản thể hiện qua sự thất bại của ngân hàng có thể bắt đầu và truyền dẫn ra toàn hệ thống làm thu hẹp hoặc trầm trọng thêm tình trạng thiếu thanh khoản của thị trường tài chính(Iyer và Peydró-Alcalde (2005), Khwaja và Mian (2008), Allen (2014)) hay hiểu đơn giản nó như một hiện tượng lây lan tài chính (Allen và Gale (2000))
Từ các phân tích trên có thể thấy tính thanh khoản được xem như là một tiêu chí quan trọng cho sự phát triển, tính ổn định và tính hiệu quả của thị trường tài chính bởi vai trò quan trọng nhất của thị trường tài chính là tạo ra môi trường giao dịch tự do các tài sản, từ đó giúp chia sẻ và đa ạng hóa rủi ro cho nhà đầu tư Tình hình thanh khoản của thị trường, đặc biệt là tính thanh khoản trong thời kỳ xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là mối quan tâm rất lớn của các nhà hoạch định chính sách phát triển thị trường và các doanh nghiệp niêm yết và các nhà đầu
tư Nhưng giải quyết vấn đề thanh khoản không chỉ đơn thuần dựa vào cảm nhận định tính mà chúng ta cần các thước đo thanh khoản đúng nghĩa, từ đó mới có thể bàn đến chuyện lượng hóa ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến tính thanh khoản và các khuyến nghị được đưa ra mới có căn cứ
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM thì nguồn vốn mang tính quyết định đến năng lực thanh toán và khả năng sẵn sàng chi trả cho khách hàng của ngân hàng, trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi là chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng từ 70% - 80% và nó có tính biến động, chịu tác động lớn của thị trường và môi trường kinh doanh Bên cạnh đó, ở một số đề tài đã sử dụng kênh huy động như một thước
đo thanh khoản để nghiên cứu về sự truyền tải những cú sốc thanh khoản trên toàn
hệ thống ngân hàng, như Peek và Rosengren (1997), Schnabl (2012) và Allen et al
(2014) Và đặc biệt là bài nghiên cứu gốc của Mabrouk Chouchène Zied Ftiti Wided
Khiari (2016) cũng đã cho thấy rằng kênh huy động tiền gửi khách hàng và tiền gửi
Trang 30ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền tải những cú sốc thanh khoản trong toàn hệ thống ngân hàng
Điều này cho phép tác giả xem xét kênh huy động gồm tiền gửi ngân hàng và tiền gửi khách hàng như một thước đo ảnh hưởng của cú sốc thanh khoản đối với hệ thống tài chính NHTM Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm
2.3.1 Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
2.3.1.1 Nguồn gốc của sự truyền dẫn
Sau cuộc khủng hoảng cho vay ưới chuẩn, người ta thấy rằng một cú sốc xảy ra trong một tổ chức, quốc gia, hoặc tài sản có thể truyền cho các tổ chức, quốc gia, hoặc tài sản khác và gây nguy hiểm cho toàn bộ hệ thống tài chính Trong thực
tế, kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào tháng 9 năm 2008, một số nghiên cứu đã xem xét các vấn đề về thanh khoản của hệ thống ngân hàng
và quan trọng nhất là xác định những cơ chế thích hợp truyền dẫn các cú sốc thanh khoản thông qua các thị trường tài chính Mỹ, đặc biệt là giữa các ngân hàng Thật vậy, ông Bernanke et al (1988), ông Bernanke và Gertler (1989) và Stein (1998) cho thấy rằng việc truyền tải những cú sốc tài chính cho nền kinh tế nói chung bắt nguồn từ sự không hoàn hảo của thị trường tín dụng
Các lý thuyết về thông tin không đối xứng của các cuộc khủng hoảng tài chính, được Bernanke (1983) và Mishkin (1991 – 1994) đưa ra, cho thấy CSTT thắt chặt là yếu tố chính gây ra khủng hoảng tài chính Cuộc khủng hoảng do CSTT thắt chặt thường dẫn đến tăng tính bất ổn về việc thanh toán các khoản nợ, chính vì thế gây ra khó khăn hơn trong việc tách biệt nợ tốt với các khoản nợ xấu, rủi ro cao Chính sự bất ổn tăng cao này làm cho thông tin về thị trường tài chính càng không cân xứng và làm trầm trọng hơn các vấn đề của lựa chọn đối nghịch, làm cản trở
Trang 31hoạt động cho vay và làm giảm hoạt động kinh tế Tiền tệ thắt chặt cũng làm gia tăng tâm lý bất ổn cho ngân hàng bởi vì tiền tệ thắt chặt dẫn đến bảng cân đối tài sản của các công ty bị xấu đi, làm các khoản vay ngân hàng cũng bị kém đi Những người gửi tiền thì có thể lại không phân biệt được các ngân hàng có những khoản vay tốt và những ngân hàng có các khoản vay xấu nên họ hối hả đến ngân hàng rút tiền Kết quả của việc tiền gửi bị ít đi và động thái tăng ự trữ của ngân hàng để phòng ngừa trường hợp rút tiền ồ ạt càng nhân thêm trạng thái thắt chặt tiền tệ Vấn
đề này cũng được đề cập đến trong Friedman và Schawartz (1963), dẫn đến những thất bại của hệ thống ngân hàng và khủng hoảng ngân hàng Như chúng ta đã thấy, ngân hàng có vai trò đặc biệt trong hệ thống tài chính vì ngân hàng là nhân tố thích hợp để giải quyết vấn đề bất đối xứng thông tin trên thị trường tín dụng
Theo bài nghiên cứu “Inside the Black Box: The Credit Channel of Monetary
Policy Transmission” được thực hiện bởi Bernanke và Gertler năm 1995 thì các
NHTM đóng vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng từ đó hình thành nên mối liên hệ chặt chẽ giữa các NHTM và người đi vay Do đó, một sự thay đổi trong CSTT sẽ tác động đến cung tín dụng của các NHTM từ đó tác động đến đầu tư, tiêu ùng của các cá nhân, hộ gia đình , doanh nghiệp và nền kinh tế Việc nghiên cứu rất hữu ích cho hoạch định chính sách, như xác định các kênh truyền giữa các ngân hàng góp phần phát triển một phản ứng CSTT thích hợp để vượt qua những cú sốc thanh khoản
Trong bài nghiên cứu “Financial Intermediation, Loanable Funds, and The
Real Sector” do Holmstrom Tirole thực hiện năm 1997, tác giả nghiên cứu một mô
hình thúc đẩy của trung gian tài chính, trong đó các oanh nghiệp cũng như các bên trung gian bị hạn chế về vốn Bài nghiên cứu phân tích cách thức phân phối của sự giàu có giữa các công ty, các nhà trung gian và các nhà đầu tư không biết trước thông tin (uninformed investors) có ảnh hưởng đến việc đầu tư, lãi suất và cường độ
Trang 32giám sát Tác giả chỉ ra rằng tất cả các hình thức thắt chặt vốn (khủng hoảng tín dụng, siết chặt thế chấp, hoặc siết chặt tiết kiệm) đều gây khó khăn cho các oanh nghiệp vốn hóa thấp, nhưng hiệu quả về tỷ lệ lãi suất và cường độ giám sát sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi tương đối của các thành phần vốn Các dự đoán của mô hình rất phù hợp với mô hình cho vay được quan sát thấy trong các cuộc khủng hoảng tài chính
Hơn nữa, tính thanh khoản kém có thể có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận tài sản khi các trung gian tài chính gặp phải các cú sốc về thanh khoản và những hạn
chế về vay mượn Bài nghiên cứu “Liquidity shocks and equilibrium liquidity
premia” do Huang thực hiện năm 2003, nghiên cứu về trạng thái cân bằng trong đó
các trung gian tài chính nắm giữ các tài sản không rủi ro có thanh khoản và thanh khoản kém phải đối mặt với các cú sốc bất ngờ về tài chính Việc nắm giữ các tài sản ngẫu nhiên trước các cú sốc thanh khoản thì việc tạo lợi nhuận cho các chứng khoán thanh khoản kém trở nên may rủi Phần bù rủi ro bình quân phụ thuộc vào sự ràng buộc mà các trung gian tài chính phải đối mặt với việc vay mượn để bảo toàn thu nhập trong tương lai Do đó, sự hiểu biết về cơ chế truyền dẫn cú sốc thanh khoản có thể thông báo cho các nhà đầu tư và người cho vay về tác động của cú sốc đối với các ngân hàng và các vấn đề liên quan đến các tài sản tài chính khác nhau
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu về nguồn gốc của sự truyền dẫn
Bernanke và
Gertler
1989 Sự truyền tải những cú sốc tài chính cho nền kinh tế bắt
nguồn từ sự không hoàn hảo của thị trường tín dụng
Bernanke và
Gertler
1995 Sự thay đổi trong CSTT sẽ tác động đến cung tín dụng
của các NHTM và xác địn các kênh truyền dẫn giữa các ngân hàng góp phần phát triển một CSTT thích hợp để
Trang 33vượt qua cú sốc
nhuận tài sản khi các trung gian tài chính gặp phải các cú
sốc về thanh khoản
2.3.1.2 Các kênh truyền dẫn cú sốc thanh khoản
Một số tài liệu cho thấy cú sốc thanh khoản ảnh hưởng đến mức cân bằng cho vay ngân hàng và cuối cùng là các nền kinh tế thực thông qua hai kênh: kênh cho vay ngân hàng (kênh cung cấp), thông qua sự bất lực của các ngân hàng trong việc giảm thiểu tác động của các cú sốc thanh khoản đến việc cho vay các khách hàng uy tín và kênh vay vốn công ty (kênh cầu)
Khái niệm kênh cho vay trong việc truyền ẫn CSTT ra đời từ rất sớm Điển
hình như bài nghiên cứu “Credit, Money, and Aggregate Demand” của Bernanke
và Blinder năm 1988, họ mở rộng mô hình IS-LM chuẩn thành mô hình tổng cầu,
trong đó tín ụng được xem như là một biến quan trọng giống như tiền Theo đó, kênh cho vay tồn tại trong một số điều kiện: 1) Một số người đi vay không thể tìm thấy sự thay thế hoàn hảo cho tín ụng ngân hàng và 2) Sự điều chỉnh giá không hoàn hảo hay nói cách khác nguồn cung cho nguồn vốn phi tiền gửi của các ngân hàng là không hoàn toàn co giãn Và nhiều nghiên cứu khác tìm hiểu về kênh truyền
ẫn này chi tiết hơn như kênh cho vay được tìm thấy ở Nhật Bản (Asako et al.,
1989, Hoshi and Kashyap, 1990, Hayashi and Inoue, 1991, Ogawa and Suzuki, 1998), ở châu Âu (Altunbas et al., 2002, Altunbas et al., 2009, và ở nhiều quốc gia khác như In onesia, Canan a, Thái Lan và khu vực Nam Á (Perera et al., 2014)
Một số nghiên cứu khác lại nhấn mạnh vai trò khuếch đại và truyền dẫn
những cú sốc thanh khoản của các kênh huy động, chẳng hạn như cuốn “A
Trang 34Monetary History of the United States, 1867-1960” do Friedman và Schwartz viết năm 1963
Trong bài “Bank Runs, Deposit Insurance, and Liquidity” do Diamond và
Dybvig nghiên cứu năm 1983, cho thấy các hợp đồng tiền gửi ngân hàng có thể
phân bổ tốt hơn các giao ịch của thị trường ngoại hối, đưa ra lời giải thích cách thức các ngân hàng hoạt động để thu hút tiền gửi Các nhà đầu tư phải đối mặt với những rủi ro cá nhân quan sát được dẫn đến nhu cầu thanh khoản Các hợp đồng tiền gửi không kỳ hạn truyền thống cung cấp tính thanh khoản có sự cân bằng nhiều điểm3, một trong số đó là ngân hàng chạy Ngân hàng chạy trong mô hình gây ra thiệt hại kinh tế thực sự, thay vì chỉ đơn giản là phản ánh các vấn đề khác Các hợp đồng này có thể ngăn chặn được các trường hợp chạy và phân tích cho thấy rằng có những trường hợp khi chính phủ bảo hiểm tiền gửi có thể tạo ra hợp đồng tiền gửi cao hơn
Mặt khác, sự lây lan tài chính được mô phỏng như một hiện tượng cân bằng,
nó có thể xảy ra và có tác động lớn hơn trong các mạng4 ít được kết nối hơn mạng
được kết nối hoàn toàn Vấn đề này đã được thảo luận bởi Allen và Gale năm 2000
trong bài “Financial Contagion” Sử dụng một kết cấu mạng bao gồm bốn ngân
hàng, họ đã cho thấy rằng sự lây nhiễm phụ thuộc chủ yếu vào tính kết nối giữa các ngân hàng Khi mạng được kết nối hoàn toàn, tất cả các ngân hàng có các khoản có thể tổn thất đối với nhau sao cho lượng tiền gửi liên ngân hàng nắm giữ bởi bất cứ
Trang 35ngân hàng nào cũng được phân tán đều trên tất cả các ngân hàng khác, thì tác động của một cú sốc được hấp thụ dễ dàng Mỗi ngân hàng chịu một khoản tổn thất nhỏ
và không có sự lây nhiễm Ngược lại, khi độ kết nối của mạng thấp hơn, với các ngân hàng chỉ có khoản có thể tốn thất đối với một số ít đối tác, thì hệ thống mỏng manh hơn Tác động ban đầu của một cú sốc được tập trung giữa các ngân hàng lân cận Một khi những ngân hàng này chết, việc thanh lý sớm các tài sản dài hạn và việc mất giá trị đi kèm kéo các ngân hàng trước kia chưa bị ảnh hưởng vào tuyến đầu của sự lây nhiễm Như thế, cấu trúc này của mạng làm tăng tác động của cú sốc
Và một số nghiên cứu khác nhưIyer và Pey ró-Alcalde, (2005), Khwaja và Mian (2008), và Allen et al (2014), hầu hết đều xem xét sự thất bại của ngân hàng
có thể bắt đầu và truyền dẫn cuộc khủng hoảng ra toàn hệ thống làm thu hẹp hoặc trầm trọng thêm tình trạng thiếu thanh khoản của thị trường tài chính
Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu về kênh truyền dẫn cú sốc thanh khoản
Friedman và
Schwartz
1963 Nhấn mạnh vai trò khuếch đại và truyền dẫn những cú
sốc thanh khoản của các kênh huy động
Bernanke và
Blinder
1988 Tồn tại kênh cho vay trong việc truyền dẫn CSTT
Allen và Gale
2000 Sự lây lan tài chính có thể xảy ra và có tác động lớn hơn
trong các mạng ít được kết nối hơn mạng được kết nối hoàn toàn, cấu trúc mạng ít kết nối sẽ làm tăng tác động truyền dẫn của cú sốc
Iyer và
Peydró-Alcalde
2005 Sự thất bại của ngân hàng có thể bắt đầu và truyền dẫn
cuộc khủng hoảng ra toàn hệ thống làm thu hẹp hoặc trầm trọng thêm tình trạng thiếu thanh khoản của thị
Trang 36Khwaja và
Mian
2008 trường tài chính
2.3.1.3 Hiện tượng tháo chạy ngân hàng (bank run)
Nhiều công trình khác đã cố gắng để phát triển các mô hình lý thuyết để giải thích hiện tượng truyền dẫn thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thời kỳ khủng
hoảng Ví dụ, cuốn “Lịch sử Tiền tệ của Hoa Kỳ, 1867-1960” do Friedman và
Schwartz viết năm 1963 đã tập trung vào phân tích lý thuyết để giải thích cách
người gửi tiền chạy dẫn đến những cú sốc thanh khoản trong các ngân hàng Mỹ Chính sự thất bại của các ngân hàng và việc rút tiền ồ ạt o người gửi tiền hoảng loạn đã làm giảm đáng kể nguồn cung tiền, thanh khoản ngân hàng chịu áp lực và điều này làm trầm trọng thêm tình trạng suy thoái kinh tế Cuốn sách đã chỉ trích Ngân hàng Dự trữ Liên bang vì không giữ được nguồn cung tiền ổn định và không hành động như người cho vay cuối cùng, thay vào đó là để cho các ngân hàng thương mại thất bại và để cho sự suy thoái kinh tế sâu sắc hơn các (các lực lượng tiền tệ đóng một vai trò thụ động trong sự suy giảm kinh tế)
Trong bài nghiên cứu“Bank Runs, Deposit Insurance, and Liquidity” của
Diamond và Dybvig năm 1983, đã phát triển một mô hình ba giai đoạn để có thể
phân tích rõ ràng sự tương tác giữa các nhà quản lý ngân hàng và người gửi tiền Họ cho thấy rằng ngân hàng chạy5
có thể ẫn đến các vấn đề kinh tế thực sự và bảo hiểm tiền gửi không giảm bớt hoảng loạn ngân hàng Trong suốt giai đoạn tháo chạy ngân hàng, người gửi tiền đổ xô rút tiền gửi vì họ cho rằng ngân hàng sẽ thất bại Trên thực tế, việc rút tiền đột ngột có thể buộc ngân hàng thanh lý nhiều tài sản
của mình tạo nên sự mất mát, thất bại trầm trọng hơn Ngoài ra, trong bài“Liquidity
5
Ngân hàng chạy (bank runs) là một đặc trưng chung của những cuộc khủng hoảng cực đoan đã đóng một vai trò nổi bật trong lịch sử tiền tệ
Trang 37Shortages and Banking Crises” do Diamond và Rajan nghiên cứu năm 2005, còn
cho thấy rằng tình trạng ngân hàng chạy có thể bắt đầu và truyền ẫn những cú sốc thanh khoản ra toàn hệ thống khi việc thiếu tính thanh khoản xuất phát từ phía tài sản của các ngân hàng
Trong bài nghiên cứu “Banking crises: A review” của Laeven năm 2011 đã
khảo sát các tài liệu lý thuyết và thực tiễn về nguyên nhân và hậu quả của các cuộc khủng hoảng ngân hàng và tóm tắt các bài học kinh nghiệm từ các can thiệp chính sách để giải quyết khủng hoảng ngân hàng Mặc dù có nguồn gốc khác nhau nhưng các cuộc khủng hoảng ngân hàng đều có những mô hình tương tự, nguyên nhân chủ yếu nằm ở các chính sách kinh tế vĩ mô không bền vững, thất bại của thị trường, sự biến dạng về luật lệ và sự can thiệp của chính phủ trong việc phân bổ vốn Chúng thường được đặc trưng bởi chu kỳ bùng nổ trong tín dụng và giá tài sản và chúng thường được giải quyết thông qua sự can thiệp của chính phủ có quy mô lớn Khi không được xử lý hiệu quả và nhanh chóng, khủng hoảng ngân hàng có xu hướng
áp đặt những chi phí khổng lồ cho xã hội bằng cách cắt giảm dòng tín dụng cho nền kinh tế thực, cho thấy áp lực như vậy về thanh khoản có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các ngân hàng hoặc buộc họ phải bán tài sản của họ để bù đắp
sự mất mát Hơn nữa, Laeven còn cho thấy rằng ngân hàng chạy có thể trở thành hệ thống và ảnh hưởng đến các ngân hàng khác, nếu không được phòng ngừa thông qua chính sách Bài nghiên cứu kết thúc bằng việc xem xét các đề xuất nhằm tăng cường sự ổn định về tài chính trong một hệ thống tài chính ngày càng tích hợp, bao gồm việc đưa ra các quy tắc của ngân hàng mang tính vĩ mô hơn như là tập trung vào chu kỳ rủi ro của hệ thống chứ không phải là rủi ro của các ngân hàng cá nhân
Bảng 2.3 Tóm tắt các nghiên cứu về hiện tượng tháo chạy ngân hàng
Trang 38Friedman và
Schwartz
1963 Đặt vấn đề về mối quan hệ giữa thanh khoản và hiện
tượng tháo chạy ngân hàng (Giải thích cách người gửi tiền chạy dẫn đến những cú sốc thanh khoản nội sinh)
phát từ chính sách kinh tế vĩ mô không bền vững, thất bại của thị trường, sự biến dạng về luật lệ và sự can thiệp của chính phủ trong việc phân bổ vốn
2.3.1.4 Truyền dẫn của cú sốc thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng
Tiếp đến, để làm rõ hơn sự lây lan cú sốc của cuộc khủng hoảng tài chính trên thị trường tín dụng, một số nghiên cứu như của Ivashina và Scharfstein (2010), Almei a et al (2011), và Puri et al (2011)… đã nghiên cứu về tác động của khủng hoảng đến kênh cho vay liên ngân hàng và cho thấy rằng cuộc khủng hoảng cho vay ưới chuẩn có một tác động tiêu cực đến việc cho vay tại Đức
Tương tự như vậy, trong bài nghiên cứu “Interbank Contagion: Evidence
from Real Transactions” của Iyer và Peydró-Alcalde năm 2005 cho thấy một cú sốc
thanh khoản ngoại sinh làm tăng sự mong manh về tài chính của các ngân hàng và được truyền dẫn đến thị trường liên ngân hàng Chính xác hơn, các nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của các ngân hàng cho vay trong việc gia tăng sự mong manh tài chính của các ngân hàng đi vay Hơn nữa, họ làm nổi bật vai trò của thanh khoản nội sinh trong việc truyền tải sốc thanh khoản Để giải thích cho phát hiện tượng này, giả sử rằng một ngân hàng Y có tiền gửi tại ngân hàng X và ngân hàng Z gửi tại ngân hàng
Y Bây giờ, nếu ngân hàng Z có thông tin chính xác về sự thất bại sắp xảy ra của
Trang 39ngân hàng X, nó nhận được một tín hiệu để ra quyết định có hay không việc rút sớm tiền gửi từ ngân hàng Y Sau khi tín hiệu này, bài nghiên cứu sẽ quan sát sự thất bại của ngân hàng Y Những kết quả này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ ủng hộ các liên kết tài chính như là một cơ chế quan trọng để gây nhiễm và có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng chính sách
Bài nghiên cứu“International Banking and Liquidity Risk Transmission:
Evidence from Austria” của Segalla năm 2015 cung cấp kết quả về việc truyền dẫn
các cú sốc thanh khoản của các ngân hàng mẹ của Áo thông qua kênh cho vay Ông
đã nghiên cứu cách các loại ngân hàng khác nhau điều chỉnh các vị trí bảng cân đối của họ để phản ứng với cú sốc về thanh khoản Ông cho thấy các ngân hàng nhỏ hơn (ngân hàng mẹ không có các chi nhánh) phải đối mặt với rủi ro thanh khoản phụ thuộc vào nguồn vốn huy động chính cho các khoản cho vay thương mại và công nghiệp ở nước ngoài và tổng tín dụng Hơn nữa, ông cũng nhấn mạnh rằng sự khác biệt giữa các ngân hàng lớn (ngân hàng mẹ với các chi nhánh) trong việc đối mặt rủi ro thanh khoản là không thể giải thích một cách nhất quán theo một nguyên tắc xác định trước
Các nghiên cứu khác, như bài The flight home effect: Evidence from the
syndicated loan market during financial crises của Giannetti và Laeven, 2012a, 2012bcho thấy các cú sốc thanh khoản trong nước có thể được chuyển ra nước
ngoài cho các công ty con của ngân hàng nước ngoài, với những hậu quả tiêu cực
đến hoạt động cho vay của họ Hay bài nghiên cứu của De Haas và Van Horen năm
2012 “Running for the Exit? International Bank Lending During a Financial Crisis” sử ụng số liệu mức vay để kiểm tra xem các ngân hàng quốc tế cắt giảm
khoản cho vay qua biên giới như thế nào sau sự sụp đổ của Lehman Brothers Tác giả đã cho thấy rằng các ngân hàng nước ngoài tiếp tục cho vay với các quốc gia
Trang 40gần về mặt địa lý, nơi họ có nhiều kinh nghiệm hơn và họ đã thiết lập các mối quan
hệ cho vay ài hạn
Một số các tài liệu khác mô tả các ảnh hưởng của cú sốc thanh khoản trên nền kinh tế thực và tập trung vào việc truyền tải các cú sốc thanh khoản trên các thị
trường ngân hàng quốc tế Như bài “Collateral Damage: Effects of the Japanese
Real Estate Collapse on Credit Availability and Real Activity in the United States”
do Peek và Rosengren nghiên cứu năm 1997 cho thấy việc các ngân hàng Nhật
giảm cho vay liên ngân hàng sang các ngân hàng Mỹ đã truyền ẫn những cú sốc cho các ngân hàng Hoa Kỳ Cuộc khủng hoảng ngân hàng Nhật Bản cung cấp một thí nghiệm tự nhiên để kiểm tra liệu một cú sốc cho vay có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế thực sự hay không Một cú sốc bên ngoài thị trường tín ụng ở Hoa
Kỳ, nhưng vẫn được kết nối thông qua sự thâm nhập của ngân hàng Nhật Bản vào thị trường Hoa Kỳ, sự kiện này cho phép tác giả xác định cú sốc cho vay ngoại sinh
và cuối cùng kết nối cú sốc đó với hoạt động xây ựng trong các thị trường bất động sản thương mại ở Hoa Kỳ Tác giả khai thác sự khác biệt trên các thị trường bất động sản thương mại khác nhau để xác định rằng các cú sốc thanh khoản từ Nhật Bản đã có những ảnh hưởng thực sự đối với hoạt động kinh tế ở Hoa Kỳ Trong các bài nghiên cứu khác của Puri và cộng sự (2011), Cetorelli và Goldberg (2012), Dursun (2012), Schnabl (2012), De Haas và Van Horen (2013), và Allen et
al (2014) cũng đều khai thác một thí nghiệm tự nhiên và cho thấy các tổ chức ngân hàng đã truyền những cú sốc thanh khoản cho các tổ chức ngân hàng khác từ việc giảm cho vay liên ngân hàng
Bài nghiên cứu “The International Transmission of Bank Liquidity Shocks:
Evidence from an Emerging Market” của Schnabl (2012) cũng đã phân tích sự
truyền ẫn cuộc khủng hoảng năm 1998 của Nga tới các ngân hàng quốc tế và cho thấy rằng sau cú sốc các ngân hàng quốc tế đã giảm cho vay liên ngân hàng đến các