1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BT học kì Môn luật dân sự phần hợp đồng

12 1,9K 33

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 31,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại đoạn "Xét về lỗi của các bên dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu thì thấy rằng: vợ chồng ông Thành là người cho rằng là chủ quyền sử dụng đất nói trên buộc phải biết và được nhiên phải

Trang 1

Vấn đề 1: Thông tin trong giao kết hợp đồng

Tóm tắt Bản án số 18A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của TAND TP Tuy Hòa tỉnh Phú Yên:

Ngày 29/09/2015, vợ chồng ông Linh và bà Lộc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Thành và bà Dinh Vợ chồng ông Linh đã đặt cọc 50.000.000đ Tuy nhiên, vợ chồng ông Thành đã không cung cấp rõ thông tin về lô đất.

Cụ thể lô đất này là đất vườn, không phải đất thổ cư như mục đích mua đất ban đầu của

vợ chồng ông Linh và đất này đã có thông báo thu hồi đất trước đó Mặc khác vợ chồng ông Thành cũng không phải là chủ sở hữu của lô đất này Hai bên có tranh chấp đã khởi kiện ra tòa Tòa xác định hai bên đều có lỗi Vợ chồng ông Linh không tìm hiểu kỹ thông trị trước khi mua đất, vợ chồng ông Thành cung cấp sai thông tin dẫn đến sự nhầm lẫn nên vợ chồng ông Linh đã xác lập giao dịch Hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu, hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và các bên đều có lỗi nên không phải bồi thường thiệt hại.

Câu 1: Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng không?

Trả lời:

Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng Tại đoạn "Xét về lỗi của các bên dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu thì thấy rằng:

vợ chồng ông Thành là người cho rằng là chủ quyền sử dụng đất nói trên buộc phải biết

và được nhiên phải biết toàn bộ diện tích đất mua bán với vợ chồng ông Linh là thuộc đất nông nghiệp cấp theo Nghị định 64 và đã được thông báo nằm trong quy hoạch giải tỏa, mặt khác đất này không đứng tên của vợ chồng ông Thành nhưng đã cung cấp thông tin sai dẫn đế sự nhầm lẫn nên vợ chồng ông Linh đã xác lập giao dịch."

Câu 2: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng không? Vì sao?

Trả lời:

Đối với hoàn cảnh trên, BLDS 2015 buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô

đất chuyển nhượng Theo Khoản 1 Điều 387 của BLDS 2015: "Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết" Vợ chồng ông Thành đã không cung cấp thông tin về mình không

phải là chủ sở hữu của lô đất này, hơn nữa lô đất đã có thông báo nằm trong quy hoạch giải tỏa Những thông tin vừa nêu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua đất của bên mua

Câu 3: Việc Tòa án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết phục không? Vì sao?

Trang 2

Trả lời:

Việc Tòa án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn là không thuyết phục Theo Khoản 1 Điều 126 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự có sự nhầm lẫn thì sự nhầm lẫn đó là do hành vi có lỗi (vô ý) của bên kia Ở đây ta thất bên bán "buộc phải biết

và đương nhiên phải biết toàn bộ diện tích đất mua bán với vợ chồng ông Linh là thuộc đất nông nghiệp cấp theo nghị định 64 và đã được thông báo nằm trong quy hoạch giải tỏa, mặt khác đất này không đứng tên của vợ chồng ông Thành" Việc không cung cấp những thông tin này không phải là hành vi có lỗi vô ý mà bên bán đã cố tình che giấu thông tin để bên mua có sự nhầm lẫn, hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng giao dịch Hợp đồng này đã được các lập do bị lừa dối

Câu 4: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn không? Vì sao?

Trả lời:

- Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 không cho phép xử ký theo hướng giao

dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn Theo Điều 127 BLDS 2015: "lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu dai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó".Theo quy định này, một bên hoặc bên thứ ba bị cou là lừa dối nếu hành

vi của họ có dấu hiệu:

+ Cố ý của một bên hoặc của bên thứ ba cung cấp thông tin sai sự thật Liệu một sự

im lặng không cung cấp thông tin có phải là lừa dối hay không Thường thì một sự im lặng không bị coi là lừa dối Nhưng nếu bên cung cấp thông tin có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin nhưng họ vẫn im lặng nhằm mục đích bỏ qua sự thật (cố ý bỏ qua sự thật đáng

lẽ phải được tiết lộ) thì cũng bị coi là có lừa dối, hoặc chí ít hành vi đó cũng có lỗi làm bên kia nhầm lẫn giao kết hợp đồng

+ Nội dung lừa dối gồm: lừa dối về chủ thể, lừa dối về đối tượng và lừa dối về nội dung hợp đồng

+Sự lừa dối đó là nguyên nhân làm bên kia tin vài các thông tin đó, và "hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng mà đã xác lập hợp đồng bất lợi cho họ hoặc trái với nguyện vọng đích thực của họ."

- Ở đây người bán đã cố tình che giấu những thông tin sẽ là dấu hiệu để chấp nhận cho bên mua được lấy đó làm căn cứ để từ chối giao kết hợp đồng

Vấn đề 2: Hậu quả hợp đồng vô hiệu.

1/ Tóm tắt Quyết định số 319/2011/DS-GĐT ngày 28/03/2011 của Tòa dân sự TANDTC:

Trang 3

Ngày 9/9/2005, vợ chồng ông Lộc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

có diện tích 953m2 cho ông Vinh và vợ là bà Lan với giá 120.000.000đ, đặt cọc trước 10.000.000đ Ngày 17/7/2006 hai bên lập hợp đồng lại với nội dung vợ chồng ông Lộc chuyển nhượng cho vợ chồng ông Vinh diện tích đất 953m2 với giá 100.000.000 đồng, ông Vinh đã trả 45.000.000đ , sau 8 tháng ông Vinh phải trả tiếp 45.000.000 đồng, nếu sai hẹn bên chuyển nhượng có quyền hủy hợp đồng, số tiền 10.000.000đ còn lại trả đợt 3 Ông Lộc cam kết sau khi nhận tiền đợt 2 sẽ giao “sổ đỏ” cho ông Vinh nhưng Tuy nhiên sau đó ông ông Vinh không giao tiếp tiền cho ông Lộc và ông Lộc cũng không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vinh.

2/ Tóm tắt Quyết định số 58/2011/DS-GĐT của Tòa dân sự TANDTC:

Nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông Nhơn và anh Long là đất của vợ chồng ông Khải bà Linh, bà Linh chuyển nhượng đất cho ông Nhơn mà chưa có ý kiến của ông Khải, ông Khải khiếu nại đến chính quyền địa phương, chính quyền địa phương có đưa biện pháp hòa giải nhưng ông Khải không thực hiện Sau đó, ông Nhơn được Ủy ban nhân dân xã An Hòa công nhận quyền sử dụng đất và các bên không khiếu nại nên diện tích đất nêu trên thuộc thẩm quyền sử dụng hợp pháp của ông Nhơn Ông Nhơn nhờ bà Ngẫu trông coi quản lí dùm diện tích đất trên, ngày 9-4-1991, ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu lập giấy tay sang nhượng đất trên cho anh Long (giấy có xác nhận của tự quản ấp) Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh Long chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên (trong đó có cả diện tích của ông Long) cho doanh nghiệp tư nhân Tấn Hưng Tòa án cấp phúc thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu với ông Long là vô hiệu, Tòa giám đốc thẩm cho rằng, khi giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu, Tòa án cấp phúc thẩm cần xác minh khi bà Ngẫu chết có để lại những tài sản gì và ai là người thừa kế để từ đó xác định ai là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thay cho bà Ngẫu, đồng thời khi giải quyết

vụ án cần lấy ý kiến chính của anh Long về việc hỗ trợ cho ông Nhơn để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Câu 1: Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?

Trả lời:

- Thay đổi thứ nhất: BLDS 2015 đã tách vấn đề “hoa lợi, lợi tức” là đối tượng của hợp đồng vô hiệu ra khỏi quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu và có quy định mới là việc trả “hoa lợi, lợi tức” cần phải có yếu tố “ngay tình” của người nhận tài sản Cụ thể:

+ BLDS 2005: Khoản 2 Điều 137:“Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận;…trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật ”.

+ BLDS 2015: Khoản 2, 3 Điều 131: “2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận…

Trang 4

3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.”

Theo BLDS 2005, “hoa lợi, lợi tức” là vấn đề của “khôi phục lại tình trạng ban đầu” Tuy nhiên ở thời điểm trước khi giao dịch được xác lập thì hoa lợi, lợi tức chưa tồn tại nên nếu buộc bên nhận tài sản (như bên mua, bên được tặng cho) làm phát sinh hoa lợi, lợi tức trả cho bên giao tài sản (như bên bán, bên tặng cho) thì sẽ dẫn đến tình trạng bên giao tài sản được nhận những thứ không có ở tình trạng ban đầu Tức là đã không hề khôi phục lại tình trạng ban đầu mà làm cho bên giao tài sản vào hoàn cảnh hơn cả tình trạng ban đầu Do thế, khó có thể giải quyết số phận của hoa lợi, lợi tức (phát sinh từ tài sản là đối tượng của hợp đồng vô hiệu) cơ sở quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu

BLDS 2015 đã khắc phục được hạn chế, sai sót đó khi tách đã tách vấn đề “hoa lợi, lợi tức” là đối tượng của hợp đồng vô hiệu ra khỏi quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu ra thành một khoản riêng

BLDS 2005 quy định về số phận của hoa lợi, lợi tức khi giao dịch dân sự vô hiệu không thống nhất với Điều 601 BLDS 2005 (được duy trì trong BLDS 2015) Tại Điều

601 thì tiêu chí để xác định số phận của hoa lợi, lợi tức khi giao dịch dân sự vô hiệu là sự ngay tình của người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật và trên thực tế Tòa án nhân dân tối cao “không xử lý hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản là đối tượng của hợp đồng vô hiệu trên cơ sở Điều 137 BLDS 2005 mà xử lý hoa lơi, lợi tức trên cơ sở Điều

601 BLDS 2005”

BLDS 2015 đã giải quyết được bất cập trên thông qua quy định tại Khoản 3 Điều 131:

“Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó”.

Tạo ra sự thống nhất với tiêu chí để xác định số phận của hoa lợi, lợi tức của người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật đó chính là dựa vào có hay không có yếu tố “ngay tình”

- Thay đổi thứ hai: BLDS 2015 thêm Khoản 5 Điều 131 với nội dung: “Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

- Thay đổi thứ ba: về vấn đề tịch thu tài sản, BLDS 2015 có sự thay đổi là đã bỏ hẳn quy định về tịch thu tài sản, hoa lợi, lợi tức được quy định tại Điều 137 BLDS 2005 Việc sửa đổi này với lý do việc tịch thu tài sản, hoa lợi, lợi tức là việc của pháp luật hành chính, hình sự và không phải việc của BLDS

Câu 2: Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định như thế nào?

Trả lời:

Trang 5

Tòa án giám đốc thẩm xác định cả hai bên cùng có lỗi Vì trong trường hợp này, ông Vinh mới trả được 45.000.000 đồng trên tổng giá trị thửa đất 100.000.000 đồng tức là mới trả 45% giá trị thửa đất Ông Lộc cam kết sau khi nhận tiền đợt hai sẽ giao sổ đỏ cho ông Vinh Tuy nhiên sau đó ông Vinh không giao tiền tiếp cho ông Lộc và ông Lộc cũng không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vinh Và cả hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 9/9/2005 và ngày 17/7/2006 đều chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng hoặc chứng thực

Câu 3: Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như thế nào?

Trả lời:

Theo Quyết định số 319, Tòa dân sự cho rằng ông Vinh mới trả được 45.000.000 đồng trên tổng giá trị thửa đất là 100.000.000 đồng, tức là mới trả 45% giá trị thửa đất và

cả hai bên cùng có lỗi Do đó ông Vinh chỉ được bồi thường ½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự.

Trả lời:

Ở đây Tòa dân sự xác định lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu thuộc về cả hai bên tham gia hợp đồng nên dẫn tới trách nhiệm bồi thường, hướng giải quyết này là hợp lý Về việc xác định khoản tiền được bồi thường: Trong Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất,

“thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thỏa thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có” Trong Quyết định được bình luận, Tòa dân sự đã đưa khoản tiền chênh lệch giá

do các bên thỏa thuận với giá trị tài sản tại thời điểm xét xử vào loại thiệt hại do hợp đồng

vô hiệu Ngoài ra, trong trường hợp này, xét thấy cả hai bên cùng có lỗi nên ông Vinh chỉ được bồi thường thiệt hại là ½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường

Câu 5: Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

Trả lời:

Khung giá đất của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ban hành đối với đất nông nghiệp tại thị xã Lagi là 72.000đ/1m2, diện tích đất trong giao dịch là 95 m2 Vì ông Vinh

sẽ được bồi thường ½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường nên khoản tiền bồi thường mà ông Vinh nhận được là:

(953 * 72.000) * 45% * 1/2 = 15.438.600 đồng

Trang 6

Câu 6: Trong Quyết định số 58, đoạn nào cho thấy sau khi nhận chuyển nhượng của ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu (giao dịch thứ nhất), anh Long đã chuyển nhượng đất (giao dịch thứ hai) cho Doanh nghiệp Tấn Hưng?

Trả lời:

Trong Quyết định số 58 có đoạn: “Ngày 9-4-1991, mặc dù không có mặt ông Nhơn

và không có ý kiến của ông Nhơn, nhưng ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu làm giấy sang nhượng phần đất thổ cư của ông Nhơn cho ông Long với giá 1.600.000 đồng (giấy có xác nhận của tự quản ấp)…do ông Long đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng nhà kho và chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên (trong đó có đất của ông Long) cho Doanh nghiệp tư nhân Tấn Hưng”

Câu 7: Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy anh Long đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi nhận chuyền nhượng từ ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu?

Trả lời:

Trong Quyết định số 58 có đoạn: “…do ông Long đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Câu 8: Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy giao dịch thứ nhất vô hiệu?

Trả lời:

Trong Quyết định số 58 có đoạn: “Như vậy, giao dịch dân sự về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu với anh Long vi phạm điểm

b khoản 1 và khoản 2 Điều 122 Bộ luật dân sự nên bị vô hiệu theo Điều 128, và Điều 134

Bộ luật dân sự.”

Câu 9: Trong Quyết định số 58, Tòa dân sự có cho biết giao dịch thứ hai vô hiệu không?

Trả lời:

Quyết định không cho biết giao dịch thứ hai vô hiệu hay không

Câu 10: Theo anh/chị, giao dịch thứ hai có vô hiệu không? Vì sao?

Trả lời:

Theo quan điểm của nhóm em thì giao dịch thứ hai không vô hiệu Bởi Doanh nghiệp tư nhân Tấn Hưng là người thứ ba ngay tình, doanh nghiệp tư nhân Tấn Hưng giao dịch quyền sử dụng đất với ông Long khi ông Long đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và doanh nghiệp tư nhân Tấn Hưng căn cứ vào giấy chứng nhận đó để xác lập giao dịch với ông Long, điều này đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại khoản 2 Điều

Trang 7

133 BLDS 2015 để giao dịch giữa ông Long và doanh nghiệp tư nhân Tấn Hưng không bị

vô hiệu

Vấn đề 3: Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thời hạn.

Tóm tắt Quyết định số 18/2014/KDTM-GĐT ngày 09/10/2014 của HĐTP TANDTC:

Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) khởi kiện yêu cầu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho hợp đồng giữa VNPT và Công ty Hồng Quang Trong quá trình thực hiện hợp đồng, VNPT giao cho Công ty Hồng Quang số tiền là 1.820.000.000.000 đồng Công ty Hồng Quang thống nhất với VNPT là còn nợ 48.184.875.000 đồng Nhưng theo Công ty Hồng Quang thì công ty được hưởng chiết khấu bổ sung từ 0,3%-0,8% tương đương 8.678.251.973 đồng, đối trừ với số nợ phải trả thì Công ty chỉ phải trả cho VNPT 39.506.623.027 đồng

và có quyền mua 2.691.489 bộ Kit Hai bên không thống nhất khoản nợ dẫn đến chậm thanh toán Về phía Ngân hàng cho rằng hai bên chưa thống nhất được cụ thể khoản nợ nên Ngân hàng chưa có căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho công ty Hồng Quang Sau đó, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) khởi kiện yêu cầu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Câu 1: Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào?

Trả lời:

Trong quyết định có phần quy định về thời hạn “Thư bảo lãnh”: “Nghĩa vụ trả nợ của Công ty Hồng Quang đối với VNPT phát sinh từ giao dịch được giao kết trong thời hạn từ ngày 20/12/2010 đến ngày 10/3/2011, là thời hạn Thư bảo lãnh có hiệu lực nên người bảo lãnh là Ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi Công ty Hồng Quang không thực hiện hoặc thực hiện đúng nghĩa vụ.”

Câu 2: Nghĩa vụ của Công ty Hồng Quang đối với VNP1 có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng không?

Trả lời:

Nghĩa vụ của Công ty Hồng Quang đối với VNPT vẫn phát sịnh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng Trong bản án có đoạn “…là thời hạn Thư bảo lãnh có hiệu lực nên người bảo lãnh là Ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi Công ty Hồng Quang không thực hiện hoặc thực hiện đúng nghĩa vụ”, nên ta thấy Công ty Hồng Quang vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ như đã cam kết với VNPT và nếu Công ty Hồng Quang không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì lúc này Ngân hàng mới đứng ra thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Câu 3: Theo Viện kiểm sát, khi người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay thì Thư bảo lãnh còn ràng buộc Ngân hàng không? Vì sao?

Trang 8

Trả lời:

Khi người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay thì Thư bảo lãnh không còn ràng buộc Ngân hàng Vì, Viện kiểm sát cho rằng thời hạn bảo lãnh không còn hiệu lực

Câu 4: Theo Tòa án nhân dân tối cao, khi người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả

nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng có còn trách nhiệm của người bảo lãnh không? Đoạn nào của Quyết định có câu trả lời?

Trả lời:

Theo Tòa án nhân dân tối cao, khi người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng vẫn còn trách nhiệm của người bảo lãnh

Ở trong Quyết định có đoạn: “Kháng nghị cho rằng, ngày 12/12/2011, VNPT khởi kiện yêu cầu Ngân hàng trả nợ thay Công ty Hồng Quang thì Thư bảo lãnh không còn hiệu lực theo quy định tại khoản 4 Điều 20 Quy chế bảo lãnh (Ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) là không đúng.”

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao.

Trả lời:

Theo tối hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao là hoàn toàn hợp lí Việc Ngân hàng chưa chịu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không phải là do Ngân hàng trốn tránh thực hiện mà ở đây VNPT và Công ty Hồng Quang chưa thống nhất được với nhau khoản nợ cụ thể là bao nhiêu, chỉ cần hai bên thống nhất thì phía Ngân hàng sẽ ngay lập tức thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Thêm vào đó, nếu việc người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng cũng chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh là khồn hợp lí, không đảm bảo quyền lợi cho bên có quyền

Vì vậy, hướng giải quyết của Tòa án khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng vẫn còn trách nhiệm là hoàn toàn hợp lí

Vấn đề 4: Giảm mức bồi thường do hoàn cảnh kinh tế khó khăn

Câu 1: Từng điều kiện được quy định trong BLDS để giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế?

Trả lời:

Người chịu trách nhiệm bồi thường có thể được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu

do lỗi vô ý hoặc không có lỗi mà gây ra thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình (khoản 2 điều 585 BLDS 2015) Như vậy để được giảm mức bồi thường cần có 2 điều kiện:

- Thứ nhất, gây thiệt hại với lỗi vô ý hoặc không có lỗi

Trang 9

- Thứ hai, người chịu trách nhiệm bồi thường có khó khăn hoặc không thể thực hiện được việc bồi thường (như không có tài sản có giá trị lớn, thu nhập thấp hoặc không

ổn định, phải nuôi cha mẹ già hoặc con nhỏ)

Câu 2: Trong tình huống nêu trên, việc Tòa án áp dụng các quy định về giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định mức bồi thường có thuyết phục không? Vì sao?

Trả lời:

Việc Tòa án áp dụng các quy định về giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định mức bồi thường không thuyết phục Theo

Bộ luật dân sự, người gây thiệt hại chỉ được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu do “lỗi vô ý” mà gây thiệt hại Nếu do “lỗi cố ý” mà gây thiệt hại thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, dù thiệt hại đó là quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt hoặc lâu dài của họ Xét trong tình huống, anh Nam trong lúc thực hiện công việc do UBND giao do vô ý gây thiệt hại cho bà Chính thì được giảm mức bồi thường Tuy nhiên, lỗi “vô ý” không đủ để giảm mức bồi thường vì như chúng ta đã biết còn phải thêm điều kiện nữa liên quan đến hoàn cảnh kinh tế của người phải bồi thường Tòa án Tòa án đã áp dụng các quy định về giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định mức bồi thường, Như vậy, Tòa án chỉ mới xem xét về hoàn cảnh, điều kiện nhưng không lý giải hoàn cảnh, điều kiện nào cho phép giảm thiệt hại cần bồi thường Do đó, chưa đủ cơ sở để áp dụng việc giảm mức bồi thường

Vấn đề 5: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Tóm tắt Quyết định số 30/2010/DS-GĐT ngày 22/01/2010 của Tòa dân sự TANDTC:

16h30’ ngày 10/05/2003, cháu Nguyễn Hữu Lợi, sinh năm 1997, con của anh Nguyễn Hữu Công bị giật điện chết tại nhà anh Huỳnh Chí Dũng do đường dây hạ thế bị

hở mạch, khi cháu chạy ngang qua chạm vào dây chằng thì bị giật chết, đường dây do Chi nhanh điện Cái Bè quản lý Anh Nguyễn Hữu Công đòi Chi nhánh điện Cái Bè phải bồi thường thiệt hại cho gia đình.

Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy Tòa án đã vận dụng chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?

Trả lời:

Trong phần xét thấy có đoạn: “ Theo quy định tại điều 627 Bộ luật dân sự năm

1995 (Điều 623 Bộ luật dân sự 2005) thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi (trừ các trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết…)”

Trang 10

Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Trả lời:

Việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cả độ gây ra

là hoàn toàn hợp pháp, hợp lý Vì theo khoản 1, Điều 623 BLDS 2005; khoản 1, Điều 601 BLDS 2015 quy định: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải

cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định” Ở đây, cháu Dũng chết là do bị giật điện do hệ thống điện sau công tơ tổng bị

hở (tức là do hệ thống tải điện)

CSPL: khoản 1, Điều 623 BLDS 2005; khoản 1, Điều 601 BLDS 2015

Câu 3: Tòa dân sự có cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại không?

Trả lời:

Tòa án dân sự không cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây ra thiệt hại

Câu 4: Theo anh/chị, ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại?

Trả lời:

Theo nhóm em, Công ty Điện lực 2 là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại “Ngày 17-01-2003, Công ty Điện lực 2 do ông Nguyễn Văn Bạch làm đại diện có hợp đồng mua bán điện sinh hoạt cho với bên mua điện do ông Nguyễn Văn Sua đại diện.”

Câu 5: Theo Tòa dân sự, chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân?

Trả lời:

Theo Tòa dân sự, bên quản lý, sử dụng đường dây điện là Tổ điện 4 thuộc ấp 3, xã Tân Hưng, huyện Cái Bè sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân

Trả lời:

Ngày đăng: 04/03/2019, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w