1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Tập Học Kì Môn Luật Dân Sự Đại Học Luật Hà Nội (9đ)

18 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 35,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của cá nhân đó chính là năng lực hành vi dân sự, hay nói cách khác nếu như năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chính là điều kiện cần

Trang 1

MỞ ĐẦU

Cá nhân là chủ thể đầu tiên của các quan hệ xã hội, là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Để tham gia vào quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng thì cá nhân phải có tư cách chủ thể Một trong những yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của cá nhân đó chính là năng lực hành vi dân sự, hay nói cách khác nếu như năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chính là điều kiện cần thì để một cá nhân có thể tự mình xác lập thực hiện các hành vi dân sự thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi dân sự (NLHVDS), đây chính là điều kiện đủ BLDS năm 2005 đã quy định cụ thể về NLHVDS của cá nhân và phân chia thành các mức độ khác nhau, tuy nhiên, quy định về NLHVDS vẫn còn một số vướng mắc

và bất cập BLDS năm 2015 đã có một số điểm sửa đổi, bổ sung liên quan đến chủ thể này, chẳng hạn quy định bổ sung về người có khó khăn trong nhận thức

và làm chủ hành vi, không sử dụng cụm từ “người không có năng lực hành vi dân sự”, quy định cụ thể về phạm vi giao dịch dân sự của nhóm người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được phép tham gia Để hiểu thêm về chế định này,

em xin chọn đề bài số 04: “Phân tích, đánh giá và nêu ví dụ minh họa đối với các quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2015” để làm bài tập học kỳ môn Nhập môn Luật Dân sự của mình.

NỘI DUNG

I Những vấn đề lý luận về năng lực hành vi dân sự của cá nhân

1 Khái niệm năng lực hành vi dân sự

Cá nhân được hiểu là một con người cụ thể Về phương diện vật chất, cá nhân là hình hài con người cụ thể, nhận biết được bằng các giác quan của con người.Về mặt xã hội, cá nhân là chủ thể của các mối quan hệ giao tiếp, là nơi

Trang 2

phát ra các tín hiệu giao tiếp và là nơi nhận các tín hiệu giao tiếp của các chủ thể khác, trong khuôn khổ đời sống xã hội.Còn về phương diện pháp lý, cá nhân là thực thể có năng lực hưởng quyền, là chủ thể của quan hệ pháp luật.Trong pháp luật dân sự Việt Nam, cá nhân là chủ thể thường xuyên, quan trọng, chủ yếu và phổ biến.Có thể nói cá nhân tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật dân sự, ngay cả các quan hệ pháp luật dân sự mà pháp nhân Hộ gia đình, tổ hợp tác tham gia thì cũng phải thông qua hành vi của cá nhân Năng lực chủ thể của cá nhân được xác định bởi hai yếu tố đó là năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của

cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy, có thể hiểu rằng ănng lực hành vi dân sự là khả năg hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền và cũng như khả năng thực hiện các quyền

và nghĩa vụ của họ Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực

tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự

2 Một số đặc điểm của năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân do Nhà nước quy định dựa trên sự phát triển về độ tuổi cũng như khả năng nhận thức về hành vi và hậu quả của hành vi, khả năng làm chủ hành vi của cá nhân Việc quy định năng lực hành vi dân sự của mỗi nước có sự khác biệt Ví dụ, tuổi trưởng thành về mặt pháp lý của Việt Nam là 18 tuổi, Hàn Quốc quy định là 19, Cuba 16 tuổi… nhưng chủ yếu các nước trên thế giới đều quy định là 18 tuổi

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là không giống nhau Vì pháp luật xác định mức độ của năng lực hành vi dân sự căn cứ vào khả năng nhận thức và

Trang 3

điều khiển hành vi và hậu quả của hành vi của cá nhân Mà những cá nhân khác nhau có nhận thưucs khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện Việc nhận thức độ được hình thành trong quá trình sống, mà mỗi cá nhân

có một cuộc sống khác nhau nên sự phát triển về tâm sinh lý cũng như sự hiểu biết của các cá nhân là khác nhau dẫn đến sự khác nhau trong nhận thức Việc nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân phụ thuộc vào ý chí và lý chí của cá nhân đó là phụ thuộc vào khả năng “nhận thức và điều khiển hành vi” của chính họ

Tuy nhiên, khó có tiêu chí nào để xác định và phân chia khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân thành các mức nhất định Do đó, độ tuổi của cá nhân được xem là tiêu chí chung nhất để phân biệt mức độ năng lực hành

vi của cá nhân

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đạt một độ tuổi nhất định và được hoàn thiện dần Năng lực hành vi của cá nhân có thể bị mất hoặc ị hạn chế khi cá nhân còn sống Khác với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi sinh ra, năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đó đạt đến một độ tuổi nhất định Vì chỉ khi đến một độ tuổi nhất cá nhân mới có năng lực nhận thức và làm chủ hành vi của mình Năng lực pháp luật dân sự của

cá nhân không thay đổi trừ một số trường hợp do pháp luật quy định, còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân từ khi bắt đầu có thì trong một khoảng nhất định

sẽ thay đổi và hoàn thiện dần Mặt khác, trong quá trình sống cá nhân có thể bị mất hoặc bị hạn chế khả năng nhận thức và làm chủ hành vi dân sự của mình từ

đó cá nhân có thể bị tuyên bố mất hoặc hạn chế năn lực hành vi dân sự khi có đủ những điều kiện nhất định

II Các quy định của pháp luật về năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Trang 4

Căn cứ vào Điều 20 của BLDS ta có thể xác định được các điều kiện của người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

“1 Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.

2 Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.

(Điều 22 BLDS quy định về mất năng lực hành vi dân sự, Điều 23 BLDS quy định hạn chế năng lực hành vi dân sự và Điều 24 BLDS quy định về hạn chế năng lực hành vi dân sự)

Như vậy, cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị Tòa án ra quyết định tuyên

bố mất năng lực hành vi dân sự, không bị Tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự, không bị tòa án ra quyết định khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi thì có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự và

có nghĩa vụ phải thực hiện các giao dịch dân sự mà mình xác lập, phải tự chịu trách nhiệm về những hành vi mà mình thực hiện (Ví dụ: gây thiệt hại thì phải tự bồi thường)

2 Năng lực hành vi dân sự một phần

Năng lực hành vi dân sự một phần hay có thể hiểu là năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ Người có năng lực hành vi dân sự một phần bắt đầu có sự nhân thức

về hành vi và hậu quả của hành vi mà mình thực hiện nhưng còn nhiều hạn chế và đang trong quá trình phát triển của nhận thức Người có năng lực hành vi dân sự một phần chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định Căn cứ vào Điều 21 BLDS năm

Trang 5

2015 ta có thể xác định được các điều kiện để xác định người có năng lực hành vi dân sự một phần

“Điều 21 Người chưa thành niên

1 Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

2 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

3 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân

sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

4 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”

Như vậy, cá nhân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là người có năng lực hành vi dân sự một phần Họ có thể sử dụng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia giao dịch với những giao dịch có giới hạn nhất định theo quy định của luật dân sự Theo Khoản 1 Điều 20 BLDS 2005 quy định thì người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể tự thực hiện một số giao dịch dân sự được coi là người đại diện của họ cho phép thực hiện mà không cần

sự đồng ý trực tiếp của những người đại diện với mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác Tuy

pháp luật không quy định những giao dịch nào là giao dịch “phục vụ nhu cầu hằng ngày” và “phù hợp với lứa tuổi” nhưng chúng ta có thể hiểu đó là các giao

Trang 6

dịch có giá trị nhỏ, nhằm phục vụ cho hoạt động vui chơi, học tập trong cuộc sống (như mua đồ dùng học tập, ăn quà…)

Nếu cá nhân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện các giao dịch dân

sự mà các giao dịch đó không được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu theo quy định tại Điều 125 BLDS năm 2015:

1 Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2 Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:

a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

Còn nếu người đại hiện theo pháp luật của cá nhân đó không yêu cầu Tòa

án xem xét tính hiệu lực của những giao dịch dân sự này thì những giao dich đó

Trang 7

mặc nhiên được coi là có hiệu lực, và người đại diện phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong những giao dịch dân sự đó

Theo Khoản 4 Điều 21 BLDS năm 2015 thì người từ đủ 15 tuổi đến chưa

đủ 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà không cần

sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật nếu tài sản riêng của họ đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch dân sự đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Pháp luật dân sự quy định như vậy vì: người từ đủ

15 tuổi trở lên đã có thể tham gia lao động, có thu nhập do căn cứ theo quy định

tại Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012: “1 Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương

và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” Với các trường hợp khác mà pháp luật quy định ví dụ như quy định tại Khoản 2 Điều 652 BLDS: “2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.”

3 Không có năng lực hành vi dân sự

Người không có năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 21 BLDS:

“Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.”Họ được xem là không có năng lực hành vi dân

sự vì họ chưa bao giờ có năng lực hành vi dân sự bởi với những người chưa đủ 6 tuổi họ không có khả năng nhận thức và năng lực hành vi do chưa đủ ý chí cũng như lý trí để hiểu được hành vi và hậu quả của những hành vi đó

a. Mất năng lực hành vi dân sự

Có thể hiểu “mất” là một sự vật, hiện tượng đang tồn tại nhưng do một nguyên nhân nào đó mà không còn sự vật, hiện tượng đó nữa Một cá nhân có năng lực hành vi dân sự khi đạt đến một độ tuổi nhất định (là từ đủ 6 tuổi theo

Trang 8

quy định của pháp luật Việt nam) Thông thường, năng lực hành vi của cá nhân chấm dứt cùng với sự chấm dứt của năng lực pháp luật của cá nhân đó (chết hoặ

bị Tòa án tuyên bố đã chết), nhưng năng lực hành vi dân sự đó còn có thể bị mất

đi do những điều kiện nhất định Các điều kiện đó thường là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan đến cá nhân mất năng lực hành vi dân sự thì Nhà nước ta quy định về mất năng lực hành vi dân sự tại Điều 22 BLDS:

“1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của

cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.”

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 BLDS thì có thể thấy việc tuyên bố một cá nhân mất năng lực hành vi dân sự diễn ra theo trình tự sau:

- Khi có yêu cầu tuyên bố một cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự của người có quyền và lợi ích lien quan đến cá nhân đó đến Tòa án nhân dân

- Tòa án nhân dân xét đơn yêu cầu

Trang 9

- Tòa án yêu cầu cơ sở tổ chức giám định có thẩm quyền xác định cá nhân

đó có bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình hay không? Nếu xác định cá nhân đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi vủa mình thì Tòa

án ra quyết định tuyên bố cá nhân đó mất năng lực hành vi dân sự

Sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một cá nhân là mất năng lực hành vi dân

sự thì người đại diện của cá nhân mất năng lực hành vi dân sự đó được xác định theo quan hệ giám hộ Việc xác định người giám hội cho người mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 53 và Điều 54 BLDS:

Điều 53 Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự

Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

1 Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

2 Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám

hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.

3 Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Điều 54 Cử, chỉ định người giám hộ

Trang 10

1 Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không

có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.

Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.

Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.

2 Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ.

3 Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.

4 Trừ trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật này Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.

Mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Việc này được quy định rõ tại Điều 59 BLDS:

Điều 59 Quản lý tài sản của người được giám hộ

Ngày đăng: 05/09/2019, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w