1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BT học kỳ môn Luật dân sự 1 8 điểm

16 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 46,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời hiệu là một khoảng thời gian nhất định do pháp luật quy định cho sựphát sinh, tồn tại, hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Thời hiệu có vai trò kháquan trọng trong việc ổn định các quan hệ dân sự, nhất là thời hiệu khởi kiện nếukhông có quy định về thời hiệu khởi kiện thì tòa án sẽ gặp rất nhiều khó khăn trongviệc giải quyết tranh chấp ( ví dụ khi giải quyết tranh chấp về tài sản, tòa án cầnphải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan nên nếuthời gian đã qua đi quá lâu, quá trình thu thập chứng cứ khó đảm bảo chính xác),cũng như có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên chủ thể tham giavào quan hệ dân sự. Một trong những quy định của pháp luật hiện hành về thờihiệu khởi kiện là quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế, thực tiễn áp dụng cácquy định này vẫn còn khá lúng túng, chưa nhất quán. Để tìm hiểu rõ hơn về cácquy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện nói chung và thời hiệu khởi kiện thừakế nói riêng, em xin trình bày đề số 6: “ Phân tích quy định của pháp luật về thờihiệu khởi kiện và bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, đồng thời sưu tầm và phân tíchmột vụ việc về hết thời hiệu khởi kiện thừa kế và nêu hướng hoàn thiện pháp luậtvề vấn đề này”

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thời hiệu là một khoảng thời gian nhất định do pháp luật quy định cho sự phát sinh, tồn tại, hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Thời hiệu có vai trò khá quan trọng trong việc ổn định các quan hệ dân sự, nhất là thời hiệu khởi kiện nếu không có quy định về thời hiệu khởi kiện thì tòa án sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp ( ví dụ khi giải quyết tranh chấp về tài sản, tòa án cần phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan nên nếu thời gian đã qua đi quá lâu, quá trình thu thập chứng cứ khó đảm bảo chính xác), cũng như có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự Một trong những quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện là quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế, thực tiễn áp dụng các quy định này vẫn còn khá lúng túng, chưa nhất quán Để tìm hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện nói chung và thời hiệu khởi kiện thừa

kế nói riêng, em xin trình bày đề số 6: “ Phân tích quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện và bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, đồng thời sưu tầm và phân tích một vụ việc về hết thời hiệu khởi kiện thừa kế và nêu hướng hoàn thiện pháp luật

về vấn đề này”

NỘI DUNG

I Những quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện và bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi hết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định (khoản 1_Điều 149 BLDS 2015)

Trang 2

Căn cứ vào quy định tại Điều 150 BLDS thời hiệu gồm ba loại: thời hiệu hưởng quyền dân sự; thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự; thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Trong đó:

~ Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện (khoản 3 Điều 150 BLDS 2015) Tuy nhiên, nếu các bên không yêu cầu tòa án áp dụng thời hiệu thì tòa án tiếp tục công nhân quyền và nghĩa vụ các bên ( khoản 2 Điều 149 BLDS 2015)

- Bộ luật dân sự không quy định thời hiệu khởi kiện chung cho các quan

hệ dân sự mà chỉ xác định các nguyên tắc chung nhất về thời hiệu khởi kiện Bộ luật chỉ quy định thời hiệu khởi kiện cho từng trường hợp riêng biệt

Ví dụ: thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác

nhân quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (Điều

623 BLDS 2015); có những trường hợp thời hiệu khởi kiện không bị hạn chế như thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo hay do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (khoản 3 Điều 132 BLDS 2015)

- Cách tính thời hiệu khởi kiện:

+ Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 1 Điều 154 BLDS 2015)

Ví dụ: A cho B vay 100 triệu đồng ( không lấy lãi), thời điểm trả

nợ hai bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng là ngày 20/05/2018; đến ngày 20/05/2018 B không trả thì kể từ thời điểm này A có quyền khởi kiện trước tòa yêu cầu B trả nợ

+ Trường hợp các bên không quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì tùy theo tính chất của từng quan hệ mà pháp luật có những quy định riêng như “

Trang 3

bất cứ lúc nào”, “ngay lập tức”, “khoảng thời gian hợp lí” hoặc “ khi có yêu cầu”… chỉ sau khi kết thúc thời hạn đó mới coi là thời điểm vi phạm và bắt đầu tính thời hiệu Trong một số trường hợp, thời điểm vi phạm là thời điểm xác lập quan hệ ( tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu) hoặc là thời điểm xảy ra sự kiện nào

đó ( thời điểm mở thừa kế)…

- Thời hiệu khởi kiện có thể bị gián đoạn khi xảy ra những sự kiện nhất định mà pháp luật dự liệu ( thời gian có những sự kiện xảy ra không tính vào thời hiệu khởi kiện) Điều 156 BLDS năm 2015 quy định một số sự kiện làm gián đoạn thời hiệu khởi kiện:

+ Có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm người

có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu Ví dụ: sự kiện bất

khả kháng như: bị tai nạn, thiên tai…; trở ngại khách quan như: đi công tác đột xuất, thư tín bị thất lạc…

+ Người có quyền khởi kiện chưa thành niên, đang bị mất năng lực hành vi dân sự, đang bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đang có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nhưng chưa có người đại diện những người này không thể tự mình yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của họ nên pháp luật quy định tạm ngừng thời hiệu khởi kiện

Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự như sau:

“1 Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.

2 Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa

án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.

Trang 4

Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.

Theo quy định tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nêu trên, việc

áp dụng thời hiệu này sẽ không tự động phát sinh mà chỉ được áp dụng nếu như có yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên và yêu cầu phải được đưa ra trước khi Tòa án đưa ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc Điều này trên thực tế được hiểu là Tòa án sẽ không được từ chối thụ lý vụ việc vì đã hết thời hiệu khởi kiện Bất cứ yêu cầu hợp lý của nguyên đơn (nguyên đơn chứng minh được mình

là người có quyền yêu cầu) thì Tòa án đều phải thụ lý giải quyết Sau khi Tòa án thụ lý thì theo yêu cầu của một bên hoặc hai bên Tòa án sẽ áp dụng thời hiệu khởi kiện để xét xem vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện chưa, nếu có căn cứ để cho rằng

vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện thì tòa án khi đó mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc với lý do là vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện

Điều này khác biệt và tiến bộ hơn so với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 ở ý cuối: “Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu

có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ” Như vậy, nếu người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu thực hiện quyền từ chối áp dụng thời hiệu nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì Tòa án sẽ tước quyền này của họ

Ví dụ: Nếu ông A kiện ông B về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại trong

hợp đồng dân sự, vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện Theo quy định của pháp luật tại Điều 184 viện dẫn nêu trên, ông B có quyền từ chối áp dụng thời hiệu khởi kiện

và khi đó Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung Tuy nhiên, nếu ông B từ chối áp dụng thời hiệu khởi kiện nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì sẽ bị Tòa án có thể tước quyền từ chối áp dụng thời hiệu của ông B

Có nghĩa vụ án vẫn có thể được Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung

Trang 5

~ Về nguyên tắc, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người

có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Tuy nhiên, theo Điều 157 BLDS 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra một trong sự kiện sau đây:

- Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình

đối với ngườu khởi kiện Ví dụ: A bị B gây thiệt hại về tài sản vào ngày 24/3/2016

thì A có quyền khởi kiện trong thời hạn là 03 năm, kể từ ngày 24/3/2016 Tuy nhiên, giả sử sau 05 tháng (ngày 24/8/2016) B mới thừa nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mình đối với A thì thời hiệu khởi kiện vụ án này là 03 năm, tính từ ngày 24/8/2016

- Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với

người khởi kiện Ví dụ: A cho B vay một khoản tiền trong thời hạn 06 tháng (từ

ngày 20/3/2016 đến ngày 20/9/2016) và B không trả nợ khi đến hạn Thời hiệu khởi kiện của A là 03 năm tính từ ngày bị B vi phạm (ngày 20/9/2016 đến ngày 20/9/2019) Giả sử ngày 25/10/2017, B trả nợ cho A ½ số nợ thì thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại từ ngày 25/10/2017 và thời điểm kết thúc của thời hiệu là ngày 25/10/2020

- Các bên đã tự hòa giải Sự hòa giải giữa các bên là một căn cứ chứng minh

rằng bên kia đã thừa nhận nghĩa vụ Vì vậy, nếu các bên đã tự hòa giải thì thời hiệu

được bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày hòa giải Ví dụ: A bị B gây thiệt hại

về tài sản ngày 24/3/2016 thì A có quyền khởi kiện trong thời hạn là 03 năm, kể từ ngày 24/3/2016 đến ngày 24/3/2019 Tuy nhiên giả sử sau 03 tháng (ngày 24/6/2016) hai bên tự hòa giải, theo đó, B chấp nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho A thì thời hiệu khởi kiện vụ án này là 03 năm, tính từ ngày 24/6/2016

Về cơ bản, quy định trong Điều luật này kế thừa quy định tại điều 162 BLDS năm 2005

Trang 6

II Phân tích vụ việc tranh chấp thừa kế tại bản án số 166/2015/DS-ST về hết thời hiệu khởi kiện thừa kế và một số hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

2.1 Thông tin về bản án.

Đây là vụ án tranh chấp thừa kế_ vụ án thụ lý số 438/2014/TLST-DS ngày 28/10/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức Ngày 03 tháng 6 năm 2015, Tòa án nhân dân quận TĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án trên theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số 176/QĐST-DS ngày 05/5/2015 Sau phiên tòa, Hội đồng xét xử

đã ra quyết định bản án số 166/2015/DS- ST

2.2 Tóm tắt bối cảnh dẫn đến tranh chấp.

Theo đơn khởi kiện và trình bày của các nguyên đơn:

- Ông Nguyễn Văn Năm chết năm 1996 và bà Nguyễn Thị Sáo chết năm

2005 Ông Năm và bà Sáo chung sống có tất cả 06 người con chung gồm: Bà Doan (sinh năm 1951), Bà Xanh (sinh năm 1953), Ông Xông (1955), Ông Dũng (sinh năm 1957), Bà Hương (sinh năm 1959), Bà Quốc (sinh năm 1962) Trong quá trình chung sống ông Năm, bà Sáo có tạo lập được 471,5 m2 đất tọa lạc tại số 62, đường

số 6, khu phố 5, phường LT, quận TĐ thuộc một phần thửa 52, 53 tờ bản đồ số 30 (tài liệu năm 2003), bộ địa chính phường LT, quận Thủ Đức, phần đất này nằm trong tổng diện tích đất khoảng 1.800 m2 mà ông Năm, bà Sáo đã nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Bảng vào năm 1978

- Ngày 09/4/2004 ông Nguyễn Hồng Xông và bà Lâm Siêng (sinh năm 1960) đã được Ủy ban nhân dân quận TĐ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

số 1380/2004 với diện tích 471,5 m2 Khi còn sống ông Năm và bà Sáo đã cho ông Xông 200 m2 đất, ông Xông cũng chỉ đăng ký sử dụng đất năm 1999 có

200 m2 nhưng sau khi ông Năm, bà Sáo chết không để lại di chúc, các anh em cũng không có thỏa thuận phân chia di sản thì ông Nguyễn Hồng Xông, bà Lâm

Trang 7

Siêng lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 471,5 m2 đất là không đúng Ông Năm, bà Sáo chỉ cho ông Xông 200 m2 đất nên phần đất còn lại 271,5 m2 là

di sản của ông Năm, Bà Sáo để lại, do ông Năm, bà Sáo chết không để lại di chúc nên nay bà Doan, ông Dũng, bà Xanh, bà Quốc khởi kiện yêu cầu chia 271,5 m2 đất nói trên theo quy định của pháp luật

- Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế thì diện tích chỉ có 243,7 m2; nên nay các nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu chia 243,7 m2 đất làm 06 phần bằng nhau cho các đồng thừa kế và bà Doan, ông Dũng, bà Xanh, bà Quốc yêu cầu nhận giá trị bằng hiện vật, các nguyên đơn gồm bà Doan, ông Dũng, bà Xanh, bà Quốc sẽ cùng đứng tên sở hữu chung đối với phần di sản được nhận Quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn xác định yêu cầu của nguyên đơn là chia di sản của ông Năm, bà Sáo để lại như đã nêu ở trên theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung và chia thừa kế

Theo bị đơn trình bày:

- Ông Nguyễn Văn Năm chết năm 1996 và bà Nguyễn Thị Sáo chết năm

2005 Ông Năm và bà Sáo chung sống có tất cả 06 người con chung như đại diện nguyên đơn đã trình bày Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý

vì phần đất này là tài sản chung của ông Nguyễn Hồng Xông và bà Lâm Siêng chứ không phải là di sản do ông Năm, bà Sáo để lại Nguồn gốc đất là do ông Năm bà Sáo cho ông Xông từ năm 1982 và ông Xông đã xây dựng nhà ở từ năm 1982 Khi ông Năm, bà Sáo cho là cho đất trống, ông Xông, bà Lâm Siêng xây dụng nhà Năm 1983 thì sửa chữa lại nhà

- Năm 1999 do nhà nước kê khai đại trà chỉ cho kê khai 200 m2 đất ở nên ông Xông chỉ kê khai 200 m2 Năm 2003 khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà thì ông Xông đo đạc thực tế diện tích đất sử dụng là 471,5 m2 đất Do có sự chênh lệch diện tích thực tế sử dụng và kê khai nên bà Sáo

đã đến UBND phường LT để làm giấy tái xác nhận đã cho ông Xông 471,5 m2 đất

Trang 8

vào năm 1982 Phần đất này ông Xông đã sử dụng ổn định từ năm 1982 xây dựng nhà, trồng cây, đào giếng nước và sử dụng ổn định từ đó đến nay không có ai tranh chấp Nay các nguyên đơn chỉ căn cứ vào tờ kê khai năm 1999 để yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất có diện tích 243,7 m2 là không có cơ sở nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

- Bà Nguyễn Thị Hương: thống nhất với ý kiến của các nguyên đơn, yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế đối với di sản do ông Nguyễn Văn Năm và bà Nguyễn Thị Sáo để lại là 243,7 m2 thành 06 phần bằng nhau cho 06 anh chị em, bà yêu cầu nhận giá trị bằng hiện vật

2.3 Phân tích vụ việc tranh chấp thừa kế giữa các bên đương sự.

2.3.1 Phân tích lập luận các bên.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế là di sản do ông Nguyễn Văn Năm và bà Nguyễn Thị Sáo chết để lại là 243,7 m2 đất làm 06 phần bằng nhau cho các đồng thừa kế và bà Doan, ông Dũng, bà Xanh, bà Quốc yêu cầu nhận giá trị bằng hiện vật và cùng đứng tên sở hữu chung đối với phần di sản được nhận, ngoài ra không yêu cầu gì khác Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

+ Thứ nhất: Lời khai của bị đơn giải trình về việc kê khai này là bất nhất

Tờ đăng ký nhà đất do ông Xông tự khai năm 1999 xác nhận tài sản của ông Xông

là nhà diện tích 90 m2 trên toàn bộ diện tích sử dụng là 200 m2 Lúc đầu cho rằng theo quy định của Nhà nước nhưng đến khi Luật sư cung cấp các tờ khai cùng thời điểm nhưng có diện tích lớn hơn 200 m2 thì bị đơn lại thay đổi lời khai là do phỏng đoán (theo biên bản hoà giải) hoặc do thiếu hiểu biết (biên bản hoà giải) hoặc để tránh thuế (tại phiên toà)

Trang 9

+ Thứ hai: Về giấy tái xác nhận ngày 27/5/2003, phía bị đơn không cung cấp được bản chính hoặc bản sao có chứng thực Bà Nguyễn Thị Bảy là hàng xóm của bà Sáu xác nhận bà Sáo đã bệnh rất lâu, một hai ngày bà qua thăm bà Sáo một lần,có lúc bà Sáo nhớ bà, có lúc không nhớ

+ Thứ ba: Khi đó ông Năm đã chết thì bà Sáo không thể một mình định đoạt toàn bộ tài sản; ngày ghi trên bản tường trình nguồn gốc nhà đất ghi 23/5/2003 nhưng ghi nhận giấy tái xác nhận ngày 27/5/2003; theo biên lai đóng thuế thì ông Xông đóng chỉ thuế từ năm 2008, truy thu 3 năm là từ năm 2005, nên

bị đơn cho rằng sử dụng ổn định từ năm 1982 là không có cơ sở

+ Về tố tụng, tất cả các đương sự đều thừa nhận tài sản tranh chấp là di sản của ông Năm, căn cứ Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP, các thừa kế không tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận là di sản của người chết để lại chưa chia thì không áp dụng thời hiệu về thừa kế Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn về chia tài sản chung là tài sản của ông Năm để lại là có cơ sở pháp luật Tổng số kỷ phần của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 5/6 diện tích được hưởng là

203 m2, diện tích này là phù hợp với quy định tại Quyết định 19, Quyết định 54 của UBND Tp.HCM, ngay cả trong trường hợp chỉ chia di sản của bà Sáo thì cũng

có thể chia hiện vật

Ở đây, chia phần tài sản của ông Năm là không đúng Căn cứ Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP như đại diện nguyên đơn nêu trên, các thừa kế không tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận là di sản của người chết để lại chưa chia thì không áp dụng thời hiệu về thừa kế, nhưng trong trường hợp này ông Xông khẳng định di sản của ông Năm cụ Sáo là đã chuyển hết sang cho ông nên không thể nói “các thừa kế đều thừa nhận là di sản người chết để lại chưa chia” được Trong trường hợp trên vẫn áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với phần di sản ông Năm Xét thấy, đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là 10 năm đối với di sản của ông Năm, và không có chứng cứ về phần sở hữu của mỗi người trong khối tài sản

Trang 10

chung nên di sản của bà Sáo được xác định là ½ trong khối tài sản chung là 121,85

m2 đất.Vậy nên, trong trường hợp này chỉ được chia phần đất 121, 85 m2 là di sản

bà Sáo để lại.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị Hương: giữ nguyên yêu cầu độc lập, yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế đối với di sản do ông Nguyễn Văn Năm và bà Nguyễn Thị Sáo để lại là 243,7m2 đất Bà Hương trình bày bà Lâm Siêng, ông Xông kết hôn năm 1986 nên việc bà Lâm Siêng cho rằng được ông Năm, bà Sáo cho đất từ năm 1982 là vô lý Tại thời điểm tái xác nhận, bà Sáo không được sáng suốt, còn không nhận ra các con do bà Sáo bị tai biến từ năm 1999 nên xác nhận này không được công nhận Anh em bà tôn trọng quyết định của cha mẹ, nhưng ông Xông, bà Lâm Siêng lợi dụng lòng tin,

đã lén làm giấy tờ nhà đất toàn bộ tài sản của cha mẹ nên anh em bà chỉ thừa nhận cha mẹ cho ông Xông, bà Lâm Siêng 200 m2, diện tích đất còn lại chia làm 6 phần

- Bị đơn có đại diện là ông Nguyễn Văn Phúc trình bày về giấy tái xác nhận ngày 27/5/2003 đã có bản sao có công chứng từ Ủy ban nhân dân quận TĐ; diện tích đất 471,5 m2 là tài sản riêng của ông Xông, bà Lâm Siêng, được ông Năm, bà Sáo cho từ năm 1982, đã là thủ tục hợp lệ và được cấp giấy chứng nhận, vì vậy không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Ở đây, ông Phúc đại diện bị đơn vẫn chưa đưa ra được chứng cứ phản biện lại lập luận của luật sư nguyên đơn và lời trình bày của bà Hương: theo biên lai đóng thuế thì ông Xông đóng chỉ thuế từ năm 2008, truy thu 3 năm là từ năm

2005, nên bị đơn cho rằng sử dụng ổn định từ năm 1982 là không có cơ sở; khi kê khai ông Năm đã chết thì bà Sáo không thể một mình định đoạt toàn bộ tài sản;

Bà Hương trình bày bà Lâm Siêng, ông Xông kết hôn năm 1986 nên việc cho rằng được ông Năm, bà Sáo cho đất từ năm 1982 là vô lý Tại thời điểm tái xác nhận, bà

Ngày đăng: 18/04/2020, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w