1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ môn Luật Dân sự Phân tích các điều kiện để một bản di chúc hợp pháp

15 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 306,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập học kỳ môn Luật Dân sự: Phân tích các điều kiện để một bản di chúc hợp pháp. Sưu tầm một bản di chúc có thật (chỉ nguồn) hoặc tự soạn một bản di chúc và chỉ ra các điều kiện hợp pháp của bản di chúc đó.

Trang 1

BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN HỌC: LUẬT DÂN SỰ

Đề 2: Phân tích các điều kiện để một bản di chúc hợp pháp Sưu tầm một bản di

chúc có thật (chỉ nguồn) hoặc tự soạn một bản di chúc và chỉ ra các điều kiện hợp

pháp của bản di chúc đó

Trang 2

MỞ ĐẦU

Pháp luật dân sự là một công cụ pháp lý của Nhà nước và công dân, góp phần thúc đẩy giao lưu dân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ dân sự phát triển trong nền kinh tế - xã hội Theo điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di chúc

là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Di chúc do cá nhân còn sống tự nguyện lập ra với mục đích dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người còn sống khác (chỉ là cá nhân mà không phải là pháp nhân hay một tổ chức, cơ quan nào khác vì di chúc thể hiện ý chí của người để lại di chúc nên phải là cá nhân) Nói khác đi di chúc là sự bày tỏ, thể hiện ý chí, nguyện vọng của một con người cụ thể, rằng họ sẽ định đoạt tài sản của mình ra làm sao sau khi họ chết, người được hưởng di chúc sẽ được hưởng

di sản theo bản di chúc đó - nếu di chúc đó là hợp pháp Hiện nay, Bộ luật Dân sự

2015 đã quy định về: Điều kiện để một di chúc được coi là hợp pháp

Trang 3

NỘI DUNG Phần I: Phân tích các điều kiện để một bản di chúc hợp pháp

I Cơ sở lí luận

1 Khái niệm di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

Theo khái niệm này thì di chúc phải có các yếu tố sau:

- Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác

- Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác

- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết

Do nội dung của di chúc chỉ thể hiện ý chí của một bên là người lập di chúc

và chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết Vì thế mà người để lại di sản thừa kế không bị rằng buộc bởi bản di chúc do mình lập ra, có thể sửa đổi di chúc hoặc hủy bỏ bằng một bản di chúc khác sau này Giữa người lập di chúc và người được chỉ định thừa kế theo di chúc còn sống sẽ không có sự rằng buộc Sau khi người lập di chúc chết thì chỉ có người được chỉ định trong bản di chúc mới có quyền quyết định là nhận hay không nhận tài sản do người chết để lại

2 Điều kiện hợp pháp của di chúc

Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định

Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức

xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật

Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc

Trang 4

Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực

Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật

Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người

di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng

2.1 Về người để lại di chúc

Điều 625 Bộ luật Dân sự đã quy định rõ về người lập di chúc :

Thứ nhất: Người lập di chúc phải là người đã thành niên, có đủ các điều kiện bao gồm: minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép Theo như điều 20 của bộ luật này thì người thành niên là người đủ 18 tuổi trở lên Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc và được lập thành văn bản, tuy nhiên cần chú ý rằng cha mẹ và người giám hộ không có quyền can thiệp vào nội dung của bản di chúc và chỉ xác định là có cho lập bản di chúc đó hay không Đây là quy định đã phù hợp và đúng với tinh thần của Bộ luật lao động về độ tuổi tối thiểu có thể tham gia lao động là 15 tuổi trở lên, nghĩa là

có thể lao động để có tài sản hợp pháp vì vậy họ có thể lập di chúc để định đoạt

về tài sản hợp pháp đó của mình Tuy nhiên do 15 tuổi chưa là người thành niên nên để bảo vệ quyền và lợi ích của những người này pháp luật nước ta quy định việc lập di chúc phải có sự chấp thuận của cha mẹ hoặc người giám hộ Người bị hạn chế về thể chất (khiếm thị, mất tay - không thể viết được ) hoặc người không biết chữ nhưng có tài sản hợp pháp có thể lập di chúc nhưng di chúc đó phải được

Trang 5

người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực Người dân tộc, khi để lại di chúc có thể viết theo ngôn ngữ của dân tộc mình, sau đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng hoặc chứng thực

Thứ hai: Người để lại di chúc có quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, quyền sử dụng hợp pháp (như quyền sử dụng đất – đất do hai vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên chỉ định đoạt đối với phần đất thuộc quyền sở hữu của mình), một phần trong khối tài sản chung với đồng chủ sở hữu khác

Thứ ba, điểm a khoản 1 điều 630 Bộ luật Dân sự quy định: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép” Người để lại di chúc trong thời gian lập di chúc phải còn minh mẫn sáng suốt bởi lập di chúc là hành vi chủ sở hữu định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nên họ phải nhận thức được hành vi của mình và thực hiện quyền định đoạt Bên cạnh đó, người để lại di chúc hoàn toàn tự nguyện không bị chi phối về mặt tâm lý hay thể chất, không bị ép lập di chúc theo ý chí nguyện vọng của chủ thể khác Đây là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá giá trị pháp lí của bản di chúc, nhằm bảo đảm tính chính xác theo ý chí nguyện vọng của người để lại di chúc Những bản di chúc được lập ra không trong các trường hợp nêu trên thì bị coi là bất hợp pháp và không có giá trị pháp lí

2.2 Nội dung của bản di chúc

Theo điểm b khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật” Đây là điều kiện rất quan trọng để bảo đảm tính hợp pháp của di chúc Di chúc được lập ra để thể hiện ý chí, nguyện vọng của người lập di chúc Tuy nhiên, không phải mong muốn, nguyện vọng nào cũng được pháp luận chấp nhận và đảm bảo Bởi di chúc đó nằm trong sự điều chỉnh của pháp luật, do đó không được trái với pháp luật Và di chúc cũng không được trái với đạo đức xã hội để tránh làm mất thuần phong mỹ tục, những chuẩn mực đạo đức của dân tộc ta

Trang 6

Đối với di chúc bằng văn bản cần đầy đủ về phần nội dung như đã được quy định:

“Ðiều 631 Nội dung của di chúc

1 Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ

2 Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác

3 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.”

2.3 Hình thức của di chúc

Hình thức của di chúc phải tuân thủ quy định của pháp luật, nếu không di chúc đã lập sẽ không được coi là hợp pháp

Theo quy định tại điều 627 Bộ luật dân sự thì di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng

Di chúc bằng văn bản cũng có nhiều hình thức theo quy định tại điều 628 Bộ luật dân sự như sau:

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Đối với loại di chúc này, điều 633 Bộ luật Dân sự có quy định như sau: “Người lập di chúc phải tự tay viết

và kí vào bản di chúc Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng còn phải tuân theo quy định tại điều 631 của Bộ luật này” Có thể hiểu di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải do người lập di chúc tự tay viết và

kí vào bản di chúc, hay di chúc đánh máy không có giá trị pháp lý dù rằng người lập di chúc tự tay đánh máy Xuất phát từ thực tế rất nhiều trường hợp vì một lí

Trang 7

do hay trở ngại nào đó mà người lập di chúc muốn giữ kín nội dung của bản di chúc hoặc do trình độ hiểu pháp luật chưa cao nên người lập di chúc không đi công chứng, chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhờ một người nào đó xác nhận làm chứng nên để đảm bảo đúng nguyên tắc bảo đảm quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc thì pháp luật vẫn thừa nhận tính pháp lý của bản

di chúc được lập ra trong trường hợp trên nếu nó đáp ứng đầy đủ điều kiện cần thiết

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Pháp luật quy định loại di chúc này nhằm đảm bảo quyền lập di chúc đối với mọi cá nhân Di chúc bằng văn bản

có người làm chứng được quy định tại điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải

có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.”

Với loại di chúc này các cá nhân dù không thể tự mình viết nhưng vẫn có thể lập được di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết Nếu thiếu một trong các yếu tố đã được nêu tại điều 634 thì bản di chúc sẽ không có hiệu lực pháp lí Hành vi lập di chúc của người có tài sản nhờ người khác viết hộ và người làm chứng phải tiến hành cùng một lúc Người làm chứng có vai trò rất quan trọng, là người chứng kiến, viết hộ di chúc và đảm bảo nội dung của bản di chúc đúng với

ý chí của người lập di chúc Người lập di chúc, người làm chứng và người viết hộ phải kí tên hoặc điểm chỉ vào di chúc trước mặt người làm chứng Người lập di chúc kí tên xác nhận người lập di chúc và người viết hộ đã kí trước mặt mình

- Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực: Điều 635 Bộ luật Dân sự quy định: “Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc” Người lập di chúc có thể lập ngay tai phòng Công chứng nhà nước,

ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn hoặc có thể tự lập di chúc sau đó mang đến

Trang 8

phòng này yêu cầu được công chứng, chứng thực Người lập di chúc phải tự mình đem bản di chúc đến công chứng, chứng thực Pháp luật không cho phép người lập di chúc ủy quyền cho người khác mang đi công chứng, chứng thực Và người được quyền công chứng, chứng thực phải có trách nhiệm thực hiện quyền công chứng cho người lập di chúc Trong những trường hợp cơ quan nhà nước có sự nghi ngờ về bản di chúc thì có quyền yêu cầu người lập di chúc chứng minh các điều trên bởi văn bản của cơ quan giám định xác minh

Việc lập di chúc theo thể thức này còn tuân thủ trình tự và thủ tục được quy định tại điều 636 Bộ luật Dân sự:

Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

“1 Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc;

2 Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản

di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”

Pháp luật cũng có những quy định đối với người công chứng, chứng thực di chúc Điều 637 Bộ luật Dân sự quy định: “Công chứng viên, người có thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc

Trang 9

- Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật

- Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.”

Quy định như vậy của pháp luật là cần thiết vì một người không thể tự công chứng, chứng thực cho quyền lợi của mình Ngoài ra, pháp luật về thừa kế còn công nhận hình thức di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực tại Điều 638 Bộ luật Dân sự:

“1 Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực

2 Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó

3 Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó

4 Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị

5 Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó

6 Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt

tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó”

Mỗi loại di chúc khi được lập đều phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định Các hình thức di chúc bằng văn bản nói trên đều có giá trị pháp lý như nhau Tuy nhiên, khi lập di chúc bằng văn bản người lập di chúc cần lưu ý phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc Vì pháp luật quy định người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế di chúc Do đó, di chúc được lập sau sẽ có giá trị pháp

lý hủy bỏ phần di chúc lập trước có nội dung trái với di chúc lập sau

Di chúc miệng: Là sự thể hiện ý chí thông qua lời nói của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

Theo quy định tại điều 629 Bộ luật Dân sự về di chúc miệng:

Trang 10

“1 Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng

2 Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ”

Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”

Với quy định trên ta có thể thấy chỉ khi nào tính mạng của một người lâm vào tình trạng nguy kịch không thể viết di chúc bằng văn bản được buộc phải dùng

di chúc miệng thì di chúc này mới được thừa nhận Tuy nhiên, do ý chí được thể hiện thông qua lời nói nên tính xác thực của nó không cao, dễ bị phản bác và xảy

ra tranh chấp vì vậy pháp luật đã quy định sự thể hiện ý chí bằng lời nói của người

để lại di sản phải là sự thể hiện ý chí cuối cùng và có sự làm chứng của ít nhất hai người và được người làm chứng ghi lại bằng văn bản của người lập di chúc đó Mặt khác do di chúc đó không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc đó cũng không thể kiểm tra việc ghi chép của người làm chứng được nên điều này ảnh hưởng đến tính xác thực của văn bản ghi chép lại di chúc miệng Vì vậy, pháp luật đã quy định sau khi người làm chứng ghi chép và xác thực đúng với nguyện vọng của người để lại di chúc thì họ cùng nhau kí tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc đó Đồng thời sau 05 ngày, kể từ ngày người để lại di chúc thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng

Mặt khác di chúc miệng là một hình thức di chúc đặc biệt nên pháp luật quy định di chúc miệng với những thủ tục chặt chẽ Theo khoản 2 điều 629 Bộ luật Dân sự có quy định: “Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập

di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ”

Ngày đăng: 04/08/2020, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w