1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn học kì – môn luật dân sự modul 1 các phương thức dân sự bảo vệ quyền sở hữu

19 885 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 219,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.” Bảo vệ quyền sở hữu được hiểu l

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC……… 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ……… 2

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……… 2

1 Khái quát chung về quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu………… 3

1.1 Quyền sở hữu……… 3

1.2 Bảo vệ quyền sở hữu………

2 Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự……

2.1 Kiện đòi lại tài sản………

2.2 Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật Đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp… 2.3 Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại………

3 Đánh giá các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự………

4 Liên hệ thực tiễn………

4.1 Các vụ kiện điển hình………

4.2 Nhận xét………

5 Một số ý kiến nhằm hoàn thiện chế định bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự………

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hệ thống pháp luật nhiều quốc gia, quyền sở hữu luôn được ghi nhận là quyền

cơ bản của con người Với ý nghĩa là cơ sở cho mọi quan hệ kinh tế, chi phối chế độ kinh

tế trong xã hội, quyền sở hữu được pháp luật bằng nhiều phương thức khác nhau Ở nước

ta cũng không ngoại lệ, bảo vệ quyền sở hữu là chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật và được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự Ngoài các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu bằng chế tài hành chính, chế tài hình sự thì các phương thức kiện dân sự được sử dụng khá phổ biến và mang tính khả thi hơn

Với tình hình pháp triển như hiện nay, một nền kinh tế thị trường hội nhập và đời sống của người dân không ngừng đổi mới Chính vì vậy mà vấn đề bảo vệ quyền sở hữu cũng như thực tế các vụ kiện xảy ra hiện nay ngày càng phức tạp Nên việc nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thực tế xét xử và các quy định trong luật liên quan đến phương thức bảo vệ quyền sở hữu là rất cần thiết

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU VÀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

Quyền sở hữu là vấn đề xương sống của luật dân sự, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản Chính vì vậy, Bộ luật dân sự của các quốc gia trên thế giới đều coi đây là chế định cơ bản cần tập trung quy định, làm cơ sở cho việc quy định các chế định khác như hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế… Bộ luật dân sự của Việt Nam năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS) đã dành Phần thứ hai với tổng số 117 điều (từ

Điều 163 đến Điều 279) để quy định về ‘‘ Tài sản và quyền sở hữu’’.

1.1 Quyền sở hữu

Quyền sở hữu là một chế định pháp luật quan trọng được Nhà nước quy định nhằm

xác định nội dung về sở hữu Theo Điều 164 BLDS (BLDS) của Việt Nam thì: “ Quyền

sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” Như vậy quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ

bản: Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản tức là việc người chiếm hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát của mình, ví dụ, cất tiền bạc, tư trang trong tủ… Quản

lý tài sản được hiểu là việc người chiếm hữu, kiểm soát sự tồn tại của tài sản và việc sử dụng tài sản; Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản; Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản Từ nội dung này cho thấy chủ sở hữu một tài sản có toàn quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình

Như vậy, BLDS đã đưa ra một định nghĩa về quyền sở hữu bằng cách liệt kê những nội dung của quyền sở hữu và chủ thể của quyền này Đây có thể xem là một phương pháp lập pháp rất riêng của Việt Nam, vì qua nghiên cứu luật dân sự của các nước trên

Trang 3

thế giới, chúng ta thấy họ không đưa ra khái niệm về quyền sở hữu trong Bộ luật dân

sự, mà khái niệm này chỉ tồn tại trong khoa học luật

1.1 Bảo vệ quyền sở hữu

Quyền sở hữu là một trong các quyền cơ bản, quan trọng nhất của công dân, nên pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có những quy định để bảo vệ quyền sở hữu Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy

định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.”

Bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là những biện pháp tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện được các quyền năng của quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu, quyền chiếm hữu của mình

Hệ thống pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền sở hữu thông qua nhiều ngành luật khác nhau Tuy nhiên, mỗi ngành luật lại bảo vệ quyền sở hữu bằng cách thức riêng biệt tùy theo chức năng vốn có của nó

Luật Hành chính bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định những thể lệ nhằm quản lí và bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân Đồng thời Luật Hành chính cũng quy định về các biện pháp hành chính mà Nhà nước sử dụng để thực hiện việc bảo

vệ quyền sở hữu khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản đó như thu hồi tài sản,

xử phạt hành chính…

Luật Hình sự cũng có nhiệm vụ bảo vệ quyền sở hữu Với tính chất cưỡng chế nghiêm khắc của chế tài hình sự, Nhà nước quy định trong BLHS những hành vi nào xâm phạm đến quyền sở hữu bị coi là tội phạm và quy định mức hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi đó

Luật dân sự, bằng những đặc điểm riêng của mình bảo vệ quyền sở hữu bằng những biện pháp, cách thức khác so với những ngành luật khác Theo quy định tại Điều

255, BLDS 2005 thì: “ Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài

sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng các quy định của pháp luật” Quyền tự bảo vệ quyền của chủ sở hữu được hiểu là quyền của chủ sở hữu,

người chiếm hữu hợp pháp có thể dùng bất kỳ biện pháp mà pháp luật không cấm để bảo vệ tài sản và quyền sở hữu tài sản của mình như cất giữ, quản lý… Ngoài ra, quyền

tự bảo vệ của chủ sở hữu còn gắn liền với quyền ngăn cản bất kỳ chủ thể nào khác có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình; có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật Bên cạnh quyền tự bảo

vệ, pháp luật dân sự còn quy định cho chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp pháp có

quyền: “ … Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm

phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại” Những phương thức này gọi chung là phương thức kiện dân sự – phương thức

được áp dụng khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ

Trang 4

được quyền sở hữu trước hành vi xâm hại của chủ thể khác gây ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền của chủ sở hữu của mình Trong các phương thức pháp lý để bảo vệ quyền

sở hữu đã nêu trên, phương thức dân sự có ý nghĩa quan trọng riêng Đây là phương thức có ý nghĩa thực tế nhất, vì nó khôi phục lại tình trạng ban đầu ( tình trạng trước khi

bị vi phạm) về mặt vật chất cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp

2 CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

2.1 Kiện đòi lại tài sản ( kiện vật quyền)

Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu

hợp pháp Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 256 BLDS: “ Chủ sở hữu, người

chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại Điều 247 của Bộ luật này Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.” Tuy

nhiên đối với những tài sản được chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai và đã được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, thì không áp dụng việc đòi lại tài sản ( theo quy định tại khoản 1 Điêu 247 hoặc các trường hợp theo quy định tại Điều 257, 258 của BLDS năm 2005 thì không đòi lại tài sản.)

 Khi áp dụng phương pháp này đòi hỏi thỏa mãn các điều kiện sau:

Thứ nhất, về chủ thể có quyền yêu cầu ( nguyên đơn): Là chủ sở hữu hoặc người

chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó như người thuê tài sản, người nhận giữ tài sản, người cầm cố… Những người này khi yêu cầu phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản hoặc phải chứng minh được mình là người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản

Thứ hai, người bị khởi kiện ( bị đơn): Phải là người chiếm hữu bất hợp pháp đối

với tài sản Điều kiện này rất quan trọng vì có nhiều khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiếm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu đó lại trở thành người chủ sở hữu của tài sản do được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu ( Điều 247 BLDS 2005) hoặc do đã hết quyền hưởng thời hiệu dân sự trong trường hợp nhận được tài sản đánh rơi, phát hiện gia súc, gia cầm thất lạc ( Điều 241,242, 243 BLDS 2005)

Trang 5

Thứ ba, tài sản phải còn trong sự chiếm hữu của chủ thể chiếm hữu bất hợp pháp.

Nếu tài sản không còn tồn tại do đã bị thất lạc hoặc bị tiêu hủy thì lúc này không thể áp dụng phương thức kiện đòi lại tài sản mà chỉ có thể áp dụng được phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, vật hiện còn có thể được hiểu là còn nguyên ở trạng thái ban đầu hoặc về cơ bản vẫn còn nhưng đã giảm sút giá trị hoặc đã được làm tăng giá trị

Thứ tư, không rơi vào các trường hợp pháp luật quy định không phải trả lại tài sản

được quy định tại Điều 257, Điều 258 BLDS 2005

Điều 257 BLDS quy định về việc đòi lại động sản không có đăng ký quyền sở hữu

từ những người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không

phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng

có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.’’ Theo đó thì chủ sở hữu chỉ đòi lại được tài sản nếu người chiếm hữu ngay tình có được động sản đó thông qua giao dịch không có đền bù với người không có quyền định đoạt đối với tài sản hoặc trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp bị người khác chiếm hữu ngoài ý muốn của chủ sở hữu Như vậy, nếu người ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch có đền bù và tài sản đó không phải bị mất cắp, bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì nguyên đơn không thể khởi kiện đòi lại tài sản

Đối với động sản thì phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản, theo Điều 258

BLDS quy định: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất

động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa ’’ Việc môt người có tài

sản thông qua việc mua bán đấu giá hoặc giao dịch với người đã được Nhà nước có thẩm quyền công nhận là chủ sở hữu của tài sản là trường hợp mà người ngay tình hoàn toàn không có lỗi họ sẽ được pháp luật bảo vệ Chính vì vậy, trong trường hợp này, chủ

sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp không thể kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình mà chỉ có thể áp dụng phương thức khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

 Hậu quả của việc áp dụng phương thức kiện đòi tài sản :

Khi phương thức kiện đòi tài sản được thỏa mãn các điều kiện đặt ra thì người chiếm hữu tài sản buộc phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu,người chiếm hữu hợp pháp Tuy nhiên hậu quả sẽ khác nhau trong hai trường hợp sau :

Trang 6

- Đối với người chiếm hữu, sử dụng, được lợi từ tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì ý chí của họ hoàn toàn ngay thẳng và họ coi đó là tài sản của chính mình và họ cần được pháp luật bảo vệ Chính vì vậy tại Điều 200 BLDS thì những người này được quyền chiếm hữu, sử dụng, được lợi không có căn cứ pháp luật ngay tình không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó ( Điều 601 BLDS 2005)

- Đối với người đang chiếm hữu tài sản thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì người đó luôn luôn phải trả lại tài sản đồng thời phải hoàn trả cả hoa lợi, lợi tức có được trong thời gian chiếm hữu tài sản cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp

Như vậy, sự ghi nhận của pháp luật đối với phương thức kiện đòi tài sản thể hiện thái độ tôn trọng, bảo vệ tuyệt đối của Nhà nước đối với quền sở hữu hợp pháp của chủ thể trong xã hội Thông thường chủ sở hữu nào cũng mong muốn lựa chọn phương thức đòi lại tài sản bởi vì đó là phương thức bảo hộ thiết thực và hiệu quả mà không cần quan tâm đến khả năng tài chính của người phải thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên nếu không thỏa mãn các điều kiện đòi lại tài sản thì chủ thể bị xâm phạm có thể áp dụng phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại để bảo vệ lợi ích cho mình

2.2 Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp

Chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình, có quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản để thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt

cũng như trong sản xuất,kinh doanh theo quy định của pháp luật Nói cách khác : ‘’

Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được làm thiệt hại và ảnh hưởng tới lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác ’’ ( Điều 165 BLDS) Bằng các quy phạm

pháp luật cụ thể, BLDS đã tạo điều kiện để các chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện quyền của mình, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp đó và cấm mọi hành vi cản trở pháp luật

Người không phải chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu của tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật ( Điều 194 BLDS)

Theo quy định tại Điều 259 BLDS thì : ‘‘ Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền

chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người

có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó; nếu không có sự chấm dứt

tự nguyện thì có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.’’

Theo quy định đó thì khi pháp hiện hành vi xâm phạm tới việc thực hiện các quyền năng của mình thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có một trong hai quyền năng sau:

Trang 7

- Tự mình yêu cầu người có hình vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó: ngay khi phát hiện ra hành vi xâm phạm hoặc khả năng xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng của mình, chủ sở hữu,người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người xâm phạm chấm dứt hành vi mà không cần chờ bất cứ một thủ tục nào Biện pháp tự bảo vệ này mang tính kịp thời, tạo khả năng ngăn chặn hành vi ngay từ đầu, tránh được

vụ việc xảy ra nghiêm trong hơn

- Yêu cầu Tòa án cơ quan có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi đó Nếu biện pháp tự yêu cầu của chủ thể đạt hiệu quả không cao và bên xâm phạm không tự nguyện, thiện chí chấm dứt hành vi xâm phạm, khắc phục hậu quả đã gây ra thì pháp luật cho phép chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết Khi đó các cơ quan này sẽ sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp tài sản của người khác phải chấm dứt hành vi xâm phạm

Như vậy, mục đích chính của phương pháp này là nhằm đảm bảo để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường Do đó khi phương pháp kiện này áp dụng thì sẽ mang lại hậu quả pháp lí buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm như dừng việc xây dựng lấn chiếm sang đất nhà hàng xóm, hay xây bịt lối đi chung…

2.3 Kiện đòi bồi thường thiệt hại ( kiện trái quyền)

Theo Điều 260 BLDS đã quy định : “ Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có

quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại.”

Trong trường hợp một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới tài sản của người khác thì chủ sở hữu của tài sản có quyền kiện tới Tòa án yêu cầu bồi thường thiệt hại Trong trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp đã không thể kiện đòi lại tài sản do tài sản đã bị hư hỏng hoặc đang nằm trong sự chiếm hữu của chủ thể khác không xác định được hoặc người chiếm hữu tài sản đó là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình và không phải trả lại tài sản

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có thể đặt ra đối với trường hợp bồi thường thiệt hại theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng

Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì các bên có thể thỏa thận

về điều kiện bồi thường, mức bồi thường, phương thức bồi thường… trong hợp đồng và khi có tranh chấp xảy ra, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng để giải quyết

Trang 8

Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì điều kiện để có thể áp dụng biện pháp khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm hại bao gồm:

Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra: đây là điều kiện đầu tiên, cần thiết để áp dụng trách

nhiệm bồi thường thiệt hại bởi lẽ trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra là nhằm khôi phục thiệt hại cho người bị thiệt hại Do đó nếu không có thiệt hại xảy ra thì cũng

sẽ không thể buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại

Thứ hai, có hành vi trái pháp luật: nếu hành vi gây thiệt hại được coi là hành vi hợp

pháp như trường hợp người gây thiệt hại đang thi hành công vụ, gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

Hành vi trái pháp luât phải là nguyên nhân và tất yếu dẫn tới một thiệt hại xảy ra về tài sản thì người có hành vi đó mới phải chịu trách nhiệm bồi thường Nếu ngyên nhân không phải do hành vi mà có thể là do tài sản đó tự bị hư hỏng do hết thời gian sử dụng hay do chất lượng kém… thì người thực hiện hành vi đó sẽ không phải bồi thường thiệt hại mà chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp phải chịu rủi ro

Thứ tư, có lỗi của người gây thiệt hại: người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường thiệt

hại nếu có lỗi gây ra thiệt hại trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Nếu gây thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng hoặc thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản thì người gây ra thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường

Tuy nhiên, trong trường hợp tài sản bị gây thiệt hại không phải do hành vi của con người gây ra thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp vẫn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra nguyên nhân là chính do tài sản

đó gây ra Trong trường hợp này chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp hoặc người chiếm hữu bất hợp pháp tài sản gây thiệt hại sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu, nguwoif chiếm hữu hợp pháp tài sản bị xâm phạm

 Hậu quả của việc áp dụng phương thức đòi bồi thường thiệt hại:

Nếu các bên không có thỏa thuận khác về mức bồi thường, phương thức bồi thường thì thiệt hại về tài sản được bồi thường toàn bộ theo nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu và có thể bao gồm những thiệt hại sau đây:

- Thiệt hại do tài sản bị mất

- Thiệt hại do tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng

- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản

- Chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế và khăc phục thiệt hại

Trang 9

III Đánh giá các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự

Có thể nhận thấy rằng, so với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác thì phương thức kiện dân sự có những điểm khác biệt và nó làm nên tính ưu việt cũng như cũng có những hạn chế nhất định so với các phương thức khác Những ưu điểm chủ yếu của phương thức kiện dân sự gồm có:

Thứ nhất, đây là phương thức mang tính thực tế rất lớn Tính thực tế này xuất phát

từ chỗ những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu thông thường nảy sinh trong đời sống xã hội, xâm phạm tới các quyền tài sản của các chủ thể và do vậy chủ yếu thuộc sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Do xuất phát điểm là các hành vi xâm phạm quyền sở hữu chủ yếu thuộc pháp luật dân sự nên biện pháp kiện dân sự cũng được áp dụng phổ biến hơn Hơn nữa, mục đích lớn nhất của chủ thể khi sử dụng phương thức kiện dân sự nhằm bảo vệ quyền sở hữu của mình chính là việc khôi phục lại tình trạng ban đầu (tình trạng trước khi bị vi phạm) về mặt vật chất hay chính là đảm bảo sự nguyên vẹn của tài sản cho chủ sở hữu hoặc cho người chiếm hữu hợp pháp Sau khi áp dụng các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có thể khôi phục lại trạng thái tài sản ban đầu hoặc được bù đắp về mặt vật chất cho những xâm phạm đến quyền sở hữu của họ, đáp ứng được lợi ích cơ bản của việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể được nhà nước ghi nhân Mặc dù phương thức bảo vệ quyền sở hữu của ngành luật hành chính cũng nhằm mục đích này nhưng thông thường tài sản bị xâm phạm lại là các tài sản của Nhà nước Còn phương thức bảo

vệ quyền sở hữu của ngành luật hình sự thì mục đích lớn nhất lại là trừng trị và răn đe

Thứ hai, phương thức kiện dân sự được áp dụng một cách rộng rãi hơn các biện

pháp khác Thông thường biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong ngành luật hình sự chỉ

áp dụng khi hành vi xâm phạm đó được cấu thành tội phạm theo quy định trong Bộ luật hinh sự sự (BLHS) Mà trong BLHS thì hiện nay quy định chỉ có vài chục hành vi xâm phạm vào 2 nhóm sở hữu chính là sở hữu Xã hội Chủ nghĩa và sở hữu của công dân (từ Điều 133 đến Điều 144 BLHS) Biện pháp thuộc ngành luật hành chính thông thường

áp dụng khi tài sản bị xâm phạm tới là tài sản của Nhà nước Chủ thể áp dụng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự chỉ có thể là các cơ quan nhà nước bởi vậy trong rất nhiều trường hợp việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế không phát huy được hiệu quả một cách tuyệt đối Riêng biện pháp kiện dân sự được áp dụng rộng rãi bởi lẽ: việc xâm phạm tài sản mang tính chất dân sự diễn ra phổ biến; các chủ thể có thể áp dụng các phương thức kiện dân sự một cách dễ dàng bằng việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu chủ thể vi phạm bồi thường thiệt hại

Thứ ba, phương thức kiện dân sự tạo điều kiện rất thuận lợi và dễ dàng cho mọi

chủ thể có quyền sở hữu bị xâm phạm tự mình chủ động thực hiện phương thức này Đây là một điểm khác biệt rất lớn so với các phương thức khác Phương thức bảo vệ trong ngành luật hành chính tuân thủ các thủ tục hành chính tương đối phức tạp của các

cơ quan Nhà nước Còn phương thức trong ngành luật hình sự thì đỏi hỏi phải đáp ứng

đủ việc cấu thành tội phạm và tuân theo thủ tục tố tụng hình sự cũng tương đối phức tạp

Trang 10

và mất thời gian, khó có thể khôi phục nhanh chóng tình trạng tái sản như ban đầu Riêng phương thức kiện dân sự vì tuân theo thủ tục tương đối nhanh gọn, khắc phục nhanh chóng tình trạng như ban đầu, hơn nữa khi các chủ thể có thể đã đệ đơn yêu cầu toà án ra quyết định buộc chủ thể có hành vi xâm phạm quyền sở hữu chấm dứt hành vi, bồi thường thiệt hại hoặc đòi lại tài sản cho mình nhưng vẫn có thể được quyền thoả thuận và rút lại đơn kiện

Đó là các điểm ưu điểm của phương thức kiện dân sự so với các phương thức bảo

vệ quyền sở hữu khác Tuy nhiên, phương thức kiện dân sự cũng mang những hạn chế nhất định, ví dụ trong nhiều trường hợp hiệu quả của các phương thức dân sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế rất thấp Trong các phương thức dân sự, tự bảo vệ là biện pháp được các chủ thể áp dụng phổ biến nhất nhưng do thiếu tính cưỡng chế và quyền lực nhà nước nên trên thực tế khi có hành vi xâm phạm các chủ thể vẫn phải áp dụng đồng thời các biện pháp khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình

Ngoài ra hiệu quả của việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự gắn liền

với việc thi hành án dân sự nên trên thực tế bị ảnh hưởng rất nhiều bởi công tác thi hành

án dân sự cũng là một hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hợp pháp, người chiếm hữu hợp pháp trên thực tế

4 LIÊN HỆ THỰC TIỄN

Theo báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao, trong những năm vừa qua, các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu có xu hướng ngày càng tăng Trong số đó chủ yếu là các tranh chấp liên quan đến tài sản và quyền sở hữu Trong điều kiện án lệ vẫn chưa được thừa nhận là một nguồn của pháp luật, thì việc vận dụng các quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan để giải quyết các tranh chấp thuộc loại này đã phát sinh những khó khăn nhất định Dưới đây là một số vụ kiện trong rất nhiều

vụ kiện xảy ra thực tế hiện nay về bảo vệ quyền sở hữu:

4.1 Một số vụ kiện điển hình

► Vụ kiện thứ nhất: “Đòi Tài sản” tại Toà án tỉnh Vĩnh Phúc.

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Th

Bị đơn: ông Đặng Huy S và bà Hoàng Thị Ch

Nội dung của vụ kiện như sau:

Ngày 20/2/2002, ông Đặng Huy S ký hợp đồng mua máy xúc đào hiệu DAEWOOSOLAR-130W-III sản xuất năm 1994 của Công ty thương mại Minh Anh với giá 115.000.000đ Ngày 22/2/2002, bà Hoàng Thị Ch (vợ ông Đặng Huy S) và bà Nguyễn Thị Th ( vợ ông Trần Văn B) ký giấy xác nhận hai gia đình mua chung máy xúc đào hiệu SOLAR 130 sản xuất năm 1998 với giá 270.000.000đ (giấy xác nhận ghi tên

Ngày đăng: 19/03/2019, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w