Ăngghen tiếp tục pháthiện thêm những nội dung của chủ nghĩa xã hội khoa học, trên nhiều khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất, hai ông cho rằng: Để giành được quyền thống trị về chính trị, giai
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN CNXHKH
I Phần câu hỏi 6 điểm Câu 1 Bằng lí luận và thực tiễn , đồng chí hãy phân tích rõ những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan quyết định đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học vào giũa thế kỷ XIX Liên hệ thực tiễn thời đại ngày nay?
1 Nêu khái niệm CNXH và CNXHKH
Khái niệm chủ nghĩa xã hội: là những ước mơ, nguyện vọng của quần
chúng lao động về một xã hội tốt đẹp, không có áp bức bóc lột, con người sống
tự do, bình đẳng và bác ái
Khái niệm CNXHKH:
Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác-Lênin nóichung, với tư cách là sự luận chứng toàn diện về sự diệt vong tất yếu của chủnghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội, là biểu hiện khoa họccủa những lợi ích cơ bản và nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp công nhân
Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một bộ phân hợp thành củachủ nghĩa Mác-Lênin, là lý luận chính trị-xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, là sựbiểu hiện lập trường của giai cấp công nhân, là sự khái quát các điều kiện giảiphóng giai cấp công nhân, giải phóng con người khỏi chế độ làm thuê
Vậy CNCNXHKH là một trong 3 bộ phận hợp thành CN Mác Lê nin, làbiểu hiện về mặt lý luận của phong trào CN, là khoa học đấu tranh giai cấp đểgiải phóng giai cấp công nhân, giải phóng người lao động và giải phóng xã hộikhỏi tình trạng áp bức bóc lột
2 Những điều kiện và tiền đề khách quan:
- Điều kiện kinh tế - xã hội
(i) Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa đã phát triển mạnh mẽ gắn liền với sự ra đời và lớn mạnh của nền côngnghiệp lớn Cùng với sự lớn mạnh của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân có sựgia tăng nhanh chóng về số lượng và sự chuyển đổi về cơ cấu Tỷ trọng công
1
Trang 2nhân công nghiệp đã tăng đáng kể và trở thành bộ phận hạt nhân của giai cấp.Đây là lực lượng công nhân lao động trong khu vực sản xuất then chốt có trình
độ công nghệ và kỹ thuật hiện đại nhất
(ii) Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức củagiai cấp tư sản, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn ngày càng quyết liệt giữalực lượng sản xuất có tính chất xã hội ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trênchế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Nhiều cuộc khởinghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu có tổ chức và trên quy mô rộng khắp.Tuy nhiên các phong trào đấu tranh thời kỳ này bị thất bại nặng nề
(iii) Điều kiện kinh tế, xã hội ấy đòi hỏi phải có lý luận tiên phong dẫnđường, điều mà chủ nghĩa xã hội không tưởng trước đó một vài thập kỷ đãkhông thể đảm đương; không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng củagiai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự sinh thành ra lý luậnmới, tiến bộ soi sáng sự vận động đi lên của lịch sử
- Tiền đề văn hoá và tư tưởng
Đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vựckhoa học, văn hoá và tư tưởng
(i) Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lýhọc và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng: Thuyết tếbaod, thuyết tiến hóa của Đác Uyn, định luật bảo toàn và chuyển hóa nănglượng Những phát minh này là cơ sở khoa học cho chủ nghĩa duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử và là cơ sở vững chác cho việc nghiên cứu các vấn đềchính trị của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học
(ii) Trong triết học và khoa học xã hội, phải kể đến sự ra đời của triết học
cổ điển Đức với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại: Hêghen, Phoiơbắc; củakinh tế chính trị học cổ điển Anh: A Smít và Đ Ricácđô; của chủ nghĩa xã hộikhông tưởng - phê phán: H Xanh Ximông, S Phuriê và R Ôoen Những giá trịkhoa học, cống hiến mà các ông để lại đã tạo ra tiền đề cho các nhà tư tưởng,
Trang 3các nhà khoa học thế hệ sau kế thừa Vấn đề còn lại là ở chỗ ai là người có đủkhả năng kế thừa phát triển những di sản ấy và kế thừa, phát triển như thế nào?
3 Nhân tố chủ quan quyết định đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học:
Vai trò của Các Mác và Ph.Ăngghen đối với sự ra đời của chủ
nghĩa xã hội khoa học: C Mác (1818 - 1883) và Ph Ăngghen (1820 - 1895) đã
kế thừa các giá trị khoa học trong kho tàng tư tưởng nhân loại, quan sát, phântích với một tinh thần khoa học những sự kiện đang diễn ra đã cho phép cácông từng bước phát triển học thuyết của mình, đưa các giá trị tư tưởng lý luậnnói chung, tư tưởng xã hội chủ nghĩa nói riêng phát triển lên một trình độ mới vềchất
Vai trò của Mác và Angghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoahọc thể hiện ở hai điểm sau:
- Thứ nhất, sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị
Hai ông là thành viên của câu lạc bộ Heghen trẻ Tuy nhiên, từ những giátrị của phép biện chứng, tính vô lý của “lý luận suông trừu tượng” của triết họcHeghen cũng như thực tế xã hội Đức, các ông đã chuyển từ:
(i) Lập trường triết học duy tâm sang duy vật: sự tiếp thu phép biện chứngHeghen và triết học duy vật phoibac;
(ii) Lập trường chính trị dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩacộng sản
- Thứ hai, ba phát kiến lớn của Mác và Angghen:
(i) Học thuyết duy vật lịch sử;
(ii) Học thuyết giá trị thặng dư;
(iii) Học thuyết sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân.Nhờ hai phát kiến vĩ đại: chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trịthặng dư, các ông đã luận giải một cách khoa học sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân, (đây được coi là phát kiến lớn thứ ba của C Mác và Ph Ăngghen),
Trang 4khắc phục một cách triệt để những hạn chế có tính lịch sử của chủ nghĩa xã hộikhông tưởng.
4 Liên hệ thực tiễn Việt Nam Câu 2 Bằng lý luận và thực tiễn , đồng chí hãy phân tích rõ vai trò của các Mác và Ph.Ăngghen trong việc phát triển chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học?
1. Khái niệm CNXH không tưởng, CNXHKH
2 Vai trò của Mác- Ăngghen
a Giai đoạn trước khi công bố Tuyên ngôn ĐCS
- C Mác (1818-1883) và Ph Ăngghen (1820-1895) đều sinh ra và trưởngthành ở Đức (Phổ) - một quốc gia có nền triết học cổ điển phát triển rực rỡ, vớinhững luận điểm nổi bật của những triết gia nổi tiếng
- Nhờ kiên định lập trường của giai cấp vô sản và bằng thực tiễn đấu tranhcách mạng, Mác và Ăngghen đã có bước chuyển căn bản từ chủ nghĩa duy tâmsang chủ nghĩa duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộngsản chủ nghĩa
- Công lao vĩ đại của hai ông là ở chỗ đã phát hiện ra quan điểm duy vật
về lịch sử và lý luận về giá trị thặng dư, đó là những phát kiến vĩ đại có ý nghĩavạch thời đại
- Những phát kiến đó là những căn cứ khoa học, lý luận vững chắc đểMác và Ăngghen xây dựng nên học thuyết của mình gồm 3 bộ phận hợp thành.Sau này, Ăngghen đã xác định: Nhờ hai phát hiện đó của Mác, chủ nghĩa xã hội
từ không tưởng đã trở thành khoa học
- Những phạm trù và những nguyên lý cơ bản về chủ nghĩa xã hội khoahọc được C Mác và Ph Ăngghen lần lượt trình bày trong các tác phẩm đầu tiênnhư "Lời nói đầu" của cuốn "Góp phần phê phán triết học pháp quyền củaHêghel" và "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844" do Mác viết Đồng thời vớiMác, khi ở Anh, Ăngghen đã hoàn thành tác phẩm "Tình cảnh của giai cấp laođộng ở Anh" Hai ông còn cộng tác viết chung tác phẩm "Gia đình thần thánh"
Trang 5và "Hệ tư tưởng Đức" Và với sự ra đời của "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản"
do hai ông viết và hoàn thành vào tháng 2 năm 1848 là tác phẩm đánh dấu sựhình thành về cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học
+ Khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người xoá bỏ chủnghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội, CNCS
+ Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, nhân tố quyết định việcthực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
+ Chứng minh cách mạng XHCN là điều kiện, con đường tất yếu để giaicấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình
+ Chỉ rõ sự cần thiết phải liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và các tầng lớp lao động khác trong xã hội
+ Thực hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản…
Tuyên ngôn được thừa nhận là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế
Tuyên ngôn ra đời, từ đây chủ nghĩa xã hội khoa học - học thuyết khoahọc và cách mạng soi sáng con đường và quá trình chuyển biến cách mạng củaloài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Lựclượng xã hội tiên phong và là động lực cơ bản nhất của quá trình cũng là giaicấp công nhân, giai cấp có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựngchủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi thế giới
b Giai đoạn từ giữa những năm 40 đến 1895: C Mác và Ph Ăngghen đặt nền móng và tiếp tục phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học
Sau Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen tiếp tục pháthiện thêm những nội dung của chủ nghĩa xã hội khoa học, trên nhiều khía cạnh:
Khía cạnh thứ nhất, hai ông cho rằng: Để giành được quyền thống trị về
chính trị, giai cấp công nhân cần đập tan bộ máy quan liêu trong nhà nước tưsản, thiết lập chuyên chính vô sản, xem như công cụ chủ yếu để xây dựng chủnghĩa xã hội
Trang 6Khía cạnh thứ hai, Mác và Ăngghen nêu lên luận điểm cần phải thực hiện
liên minh công - nông để hình thành lực lượng căn bản của cách mạng
Khía cạnh thứ ba, Mác nêu lên là cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa vấn
đề giai cấp và dân tộc, tức quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở lậptrường của giai cấp công nhân, vì tính chất giai cấp và mục đích chính trị củacác cuộc chiến tranh dân tộc khác nhau
Khía cạnh thứ tư, Mác nêu lên là cần nhận thức rõ giữa xã hội tư bản và xã
hội cộng sản là một thời kỳ "cải biến cách mạng" từ xã hội nọ sang xã hội kia vàthích ứng với thời kỳ đó là một thời kỳ quá độ chính trị, trong đó nhà nước không
phải là gì khác ngoài "chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản ".
Song toàn bộ những nguyên lý cơ bản nhất về chủ nghĩa duy vật lịch sử,học thuyết về giá trị thặng dư đã được Mác trình bày một cách có hệ thống trong
Bộ Tư Bản Theo Lênin, Bộ Tư bản cũng là "tác phẩm chủ yếu và cơ bản trình
bày chủ nghĩa xã hội khoa học"
Câu 3 :V.I.lênin viết: “chúng ta không hề coi lý luận như là một cái gì
đó đã xong xuôi và bất khả xâm phạm, traí lại chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” (V.I.lênin, toàn tập, tập 4, nxb, mátxcova, 1974, trang 232)
Bằng kiến thức của môn chủ nghĩa xã hội khoa học và thực tiễn công tác, đồng chí hãy làm rõ luận điểm trên.
1 Các giai đoạn phát triển :
Trang 7+ Giai đoạn Mác- Ăngghen (1848-1895):
C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học
- Thời kỳ từ 1848 đến Công xã Pari (1871)
Thời kỳ này bao quát những sự kiện của cách mạng dân chủ tư sản củacác nước Tây Âu (1848-1851), việc thành lập Quốc tế I (1864) Điều nổi bậttrong thời kỳ này được đánh dấu bằng việc xuất bản tập I bộ Tư bản của Mác(1867) khẳng định thêm một cách vững chắc địa vị kinh tế - xã hội và vai tròlịch sử của giai cấp công nhân
Trong thời kỳ này, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học được phát triểnphong phú thêm nhờ tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp công nhân.Mác đã rút ra kết luận hết sức quan trọng là, để giành lại quyền thống trị vềchính trị, giai cấp công nhân cần đập tan bộ máy nhà nước quan liêu tư sản, xâydựng một nhà nước mới, nhà nước chuyên chính vô sản Các nhà sáng lập chủnghĩa khoa học đã viết nhiều tác phẩm để bổ sung, phát triển các luận điểm củachủ nghĩa xã hội khoa học đã được khởi xướng trong tác phẩm Tuyên ngôn:Ngày mười tám tháng Sương mù của Lui Bônapactơ, Chiến tranh nông dân ởĐức, Cách mạng và phản cách mạng ở Đức…
Để giành được chính quyền thống trị về chính trị, giai cấp công nhân nhấtthiết phải đập tan bộ máy nhà nước tư sản
Hai ông bổ sung tư tưởng về cách mạng không ngừng bằng tư tưởng về sựkết hợp cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản với phong trào đấu tranh của giai cấpnông dân; xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân
và xem đó là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho cuộc cách mạng phát triển khôngngừng để đi tới mục tiêu cuối cùng
- Thời kỳ sau Công xã Pari đến 1895
C Mác và Ph.Ăngghen phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trên cơ sởtổng kết kinh nghiệm Công xã Pari, được thể hiện trong các tác phẩm chủ yếuNội chiến ở Pháp, Phê phán Cương lĩnh Gôta, Chống Đuyrinh, Sự phát triển của
Trang 8chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học, Nguồn gốc của gia đình, của chế
độ tư hữu và của nhà nước, bộ Tư bản…
Trong các tác phẩm này, các ông đã nêu nhiều luận điểm quan trọng vềphá hủy bộ máy nhà nước tư sản, về một số nguyên lý xây dựng nhà nước mới,thừa nhận Công xã Pari là một hình thái nhà nước của giai cấp công nhân Ởthời kỳ này, chiếm vị trí nổi bật trong việc phát triển lý luận chủ nghĩa xã hộikhoa học của Mác, Ăngghen là tác phẩm "Chống Đuy rinh" Trong tác phẩmnày, tất cả ba bộ phận của chủ nghĩa Mác được nêu lên trong mối quan hệ chặtchẽ, phụ thuộc vào nhau và thống nhất với nhau một cách hữu cơ Lý luận vềchủ nghĩa xã hội khoa học đã được trình bày một cách khái quát
Hai ông phân tích chủ nghĩa xã hội không tưởng, chỉ rõ những điểm tíchcực và tiến bộ chứa đựng trong học thuyết của ba nhà không tưởng vĩ đại của thế
kỷ XIX (Xanh Ximông, Phuriê và O-oen), và đã nhấn mạnh rằng, trong quátrình xây dựng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của mình, hai ông đã kế thừanhững mặt tích cực trên cơ sở phê phán những điểm hạn chế học thuyết của banhà'khhông tưởng này
Ph.Ăngghen viết: chủ nghĩa xã hội lý luận Đức không bao giờ quên rằng
nó dựa vào Xanh Xi mông, Phuriê và O-oen Mặc dù các học thuyết của ba nhà
tư tưởng này có tính chất ảo tưởng, nhưng họ vẫn thuộc vào hàng ngũ những bậctrí tuệ vĩ đại nhất Họ đã tiên đoán được một cách thiên tài rất nhiều chân lý màngày nay chúng ta đang chứng minh sự đúng đắn của chúng một cách khoa học
Trong tác phẩm này, có một phần sau này tách ra thành tác phẩm "Chủnghĩa xã hội phát triển từ không tưởng thành khoa học", trong đó phân tích rấtchi tiết những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và những tiền đề tư tưởng, lýluận trực tiếp cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học Đồng thời các ôngcũng nêu lên đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học Theo Ph.Ăngghen: Nghiên cứu những điều kiện lịch sử mới của quá trình lật đổ giai cấp tưsản, thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội, và làm cho giai cấp
vô sản hiểu rõ sứ mệnh lịch sử phải hoàn thành kỳ công ấy, hiểu rõ được những
Trang 9điều kiện và bản chất của sự nghiệp của chính họ - đó là nhiệm vụ của chủ nghĩa
xã hội khoa học, biểu hiện về lý luận của phong trào vô sản
Một nội dung quan trọng khác của tác phẩm này có liên quan đến cácnguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học là hai ông đã dự đoán về tương lai củachủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Đó là khi tình trạng vô chính phủ trongnền sản xuất xã hội được thay thế bằng sản xuất có tổ chức, có kế hoạch thìnhững điều kiện sống xung quanh con người chi phối và kiểm soát, lúc đó conngười trở thành những người làm chủ thực sự và có ý thức của tự nhiên Chỉ từlúc đó, con người mới bắt đầu sự sáng tạo ra lịch sử của mình một cách hoàntoàn có ý thức Đó là bước nhảy vọt của con người từ vương quốc tất yếu sangvương quốc của tự do
Như mọi hệ thống khoa học khác, chủ nghĩa Mác nói chung, chủ nghĩa xãhội khoa học nói riêng là một hệ thống chỉnh thể tri thức Trong hệ thống ấy, cócác tri thức về các nguyên lý cơ bản phản ánh các quy luật vận động biến đổicủa xã hội là những tri thức phản ánh bản chất của khách thể, chúng tồn tại mãimãi với thời gian và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện Các tri thức vềcách thức, biện pháp và phương pháp vận dụng các quy luật ấy có thể thay đổi
và cần phải thay đổi theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể Điều này, với tư cách
là những nhà khoa học chân chính, sinh thời chính C Mác và Ph.Ăngghen cũng
đã căn dặn chúng ta Điều quan trọng là không thể và không bao giờ được chorằng những hạn chế, nhược điểm thậm chí cả sai lầm trong các cách thức, biệnpháp tác động mà các ông nêu ra là những sai lầm của cả các tri thức phản ánhquy luật đã được nhận thức Điều này cũng giống như, không thể vì những thấtbại của hàng nghìn thí nghiệm của Êđixơn nhằm sáng chế ra đèn điện mà lại nóirằng nguyên lý về sự có thể chuyển điện năng thành nhiệt năng là sai lầm
+ Giai đoạn Lênin (1895-1924)
V.I Lênin (1870-1924) là người đã kết tục một cách xuất sắc sự nghiệpcách mạng và khoa học của C Mác và Ph.Ăngghen Công lao to lớn nhất củaV.I.Lênin là đã chuyển chủ nghĩa xã hội khoa học từ dạng lý luận sang dạng
Trang 10hiện thực được đánh dấu bằng sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiêntrên thế giới – nhà nước Xô viết, năm 1917.
Những đóng góp to lớn của Người vào sự vận dụng sáng tạo, phát triểnchủ nghĩa xã hội khoa học có thể được chia thành hai thời kỳ cơ bản: thời kỳtrước Cách mạng Tháng Mười và thời kỳ từ sau Cách mạng Tháng Mười đếnkhi Người từ trần
+ Giai đoạn sau Lênin (1924-1991)
Sau khi V.I.Lênin mất, Xtalin kế tục là người lãnh đạo cao nhất của đảngCộng sản (b) Nga và sau đó là đảng Cộng sản Liên Xô, đồng thời là người ảnhhưởng lớn nhất đối với Quốc tế III cho đến năm 1943, khi Đi-mi-trốp là chủ tịchQuốc tế III Từ năm 1924 đến năm 1953, có thể gọi là “Thời đoạn Xtalin” (trựctiếp) vận dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học
Đây cũng là thời đoạn mà chính Xtalin và đảng Cộng sản Liên Xô đã đưa
ra khái niệm ghép “Chủ nghĩa Mác - Lênin” Sự thật này chứng tỏ thời đoạnXtalin” trực tiếp lãnh đạo, về cơ bản vẫn trung thành, vận dụng và phát triển chủnghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác - Lênin Xtalin cũng là một thiên tài chínhtrị, kinh tế, quân sự và là lãnh đạo cao nhất của đảng, nhà nước Liên Xô, trongmấy thập kỷ bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với những thành quả to lớn vànhanh chóng về nhiều mặt để Liên Xô trở thành một cường quốc xã hội chủnghĩa đầu tiên và duy nhất trên toàn cầu, buộc thế giới phải thừa nhận và nểtrọng
Nhưng, Liên Xô trong những thập kỷ đó bị nằm trong vòng vây và sự pháhoại rất thâm hiểm, to lớn và tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc toàn cầu, đứng đầu
là đế quốc Mỹ Đặc biệt là Liên Xô trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại và Đạichiến thế giới lần thứ hai đã tiêu diệt chủ nghĩa phát xít toàn cầu, kết thúc Đạichiến vào ngày 07/5/1945 mặc dù chịu hy sinh và tàn phá cực kỳ to lớn! Nhờchiến thắng vĩ đại này mà hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành, hoạtđộng và nhanh chóng trở thành một thế lực, một xu thế toàn cầu, khiến cho thếgiới chia thành hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đối lập nhau
Trang 11Có thể nêu một cách vắn tắt nhưng đầy đủ những nội dung cơ bản phảnánh sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong khoảng 80 năm quanhư sau:
- Mọi thắng lợi cơ bản, quan trọng của nhân dân lao động, của cách mạngthế giới trong thế kỷ XX đều có phần đóng góp trực tiếp, cơ bản và rất quantrọng của chủ nghĩa xã hội, của sự vận dụng thành công những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn phong trào cộng sản và công nhânquốc tế ở mỗi nước cũng như của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới Trong
đó thắng lợi vĩ đại nhất là đã đưa nhân dân thế giới thoát khỏi họa phát xít, làtiền đề quan trọng nhất dẫn đến sự tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, là
sự hình thành và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa… Điều này đã đẩynhanh tiến trình vận động của quy luật lịch sử nhân loại về phía trước Cùng vớinhững thành tựu trong đấu tranh, cách mạng, trong hòa bình xây dựng, các nước
xã hội chủ nghĩa đã góp phần quan trọng vào đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, tiến
bộ xã hội trên toàn thế giới
- Các đảng Cộng sản và công nhân quốc tế đã tổng kết nêu ra và tiếp tụcphát triển bổ sung nhiều nội dung quan trọng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, cả
về lý luận dẫn các vấn đề về phương hướng, giải pháp tác động, chủ trươngchính sách xây dựng chế độ xã hội mới ở mỗi nước, góp phần quan trọng vàoquá trình vận dụng sáng tạo, phát triển bổ sung và hoàn thiện chủ nghĩa xã hộikhoa học Điều này có thể minh chứng qua các hội nghị quốc tế các đảng Cộngsản và công nhân quốc tế, các diễn đàn và hội nghị khoa học, lý luận chính trị,các cuộc viếng thăm trao đổi song phương và đa phương, nhất là các kỳ đại hộicủa các đảng cộng sản và công nhân quốc tế ở các nước trong hệ thống xã hộichủ nghĩa trước đây, các nước đang tiến hành lựa chọn con đường phát triển xãhội chủ nghĩa hiện nay
- Sự thắng lợi, phát triển rực rỡ và sau đó là sụp đổ của chế độ xã hội chủnghĩa ở Đông Âu và Liên Xô có thể được coi là minh chứng cho sự thành công
và thất bại của vận dụng, áp dụng các nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa xã hội
Trang 12khoa học vào thực tiễn Chừng nào và ở đâu, đảng cộng sản nhận thức đúng,sáng tạo hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà trong đó cách mạng đang vận động, để đề
ra các chủ trương chiến lược và sách lược đúng đắn vì mục tiêu xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội, chừng đó và ở đó, cách mạng phát triển và thu đượcnhững thắng lợi Trong trường hợp ngược lại, cách mạng sẽ lâm vào thoái trào
và bị thất bại Vấn đề đặt ra đối với chủ nghĩa xã hội khoa học là từ trong nhữngthành công và thất bại của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thập kỷ cuối thế kỷ
XX, cần nghiêm túc phân tích, khái quát và rút ra các vấn đề lý luận, những bàihọc kinh nghiệm, từ đó có những phương thức, biện pháp chủ trương chiến lược
và sách lược hợp lý trong hoàn cảnh mới, tiếp tục bổ sung và phát triển sáng tạochủ nghĩa xã hội khoa học, tiếp tục thực hiện thắng lợi trên thực tế chế độ xã hộimới: xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Cũng trong thời đoạn này, vừa do đối phó với chủ nghĩa đế quốc, vừa donhững nhận thức sai lệch, cực đoan về chủ nghĩa xã hội mà Xtalin và đảng Cộngsản Liên Xô có những biểu hiện chủ quan, nóng vội-“đốt cháy giai đoạn”…mong xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô nhanh hơn Xtalin vàđảng Cộng sản Liên Xô đã đưa ra một “mô hình chủ nghĩa xã hội Xô viết” Môhình đó trở thành một lý luận về chủ nghĩa xã hội chung sau này cho cả hệ thống
xã hội chủ nghĩa thế giới…Đặc biệt là đã quá nhấn mạnh “chuyên chính vôsản”, “Chủ nghĩa xã hội” đến mức như những vấn đề đó đã hoàn thiện ngay từkhi cách mạng vô sản vừa thắng lợi…cho nên đã rời xa về cơ bản những luậnđiểm của V.I.Lênin cả về “ Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”
và “Chính sách kinh tế mới”; đối đầu trực tiếp “địch-ta”, không giao lưu, khôngkhoang nhượng, không kế thừa bất kỳ một giá trị nào của chủ nghĩa tư bản Đặcbiệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 (1945 đến năm1953 - năm Xtalin mất),Liên Xô vẫn áp đặt những chủ trương trong hoàn cảnh chiến tranh vào điều kiệnhòa bình để xây dựng kinh tế, xã hội Thực hiện tập trung quan liêu, hành chính,bao cấp, tuyệt đối hóa kinh tế toàn dân và tập thể, cắt đứt hoàn toàn quan hệ vớichủ nghĩa tư bản… cho nên đã kìm hãm rất nhiều tiềm năng, động lực ở trong và
Trang 13ngoài nước có thể khơi dậy, phát triển để xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên
Xô (và phe xã hội chủ nghĩa đến những năm 1990…)
Song, từ bản chất và sức sống của chủ nghĩa xã hội trong bước đầu khíthế chiến thắng… đã làm cho Liên Xô chỉ sau khoảng 20 năm (1950 - 1970) đãtrở thành “Siêu cường thứ hai” mà Mỹ và thế giới đều thừa nhận và cả hệ thống
xã hội chủ nghĩa trở thành một lực lượng hùng mạnh về mọi mặt và quyết địnhviệc giữ gìn hòa bình thế giới, giải phóng hoàn toàn “sân sau của chủ nghĩa đếquốc” (chủ nghĩa thực dân cũ và mới đã qua nhiều thế kỷ): đó là hơn 100 quốcgia đã giành lại độc lập dân tộc…
Nhưng, chính những hiện thực bước đầu đó đã tạo ra “bệnh kiêu ngạocộng sản”, “đốt cháy giai đoạn”… (như Lênin đã cảnh tỉnh), làm cho Liên Xô vàcác nước xã hội chủ nghĩa từ thời Xtalin ngày càng có nhiều sai lầm nghiêmtrọng hơn Về mặt chủ quan: do kéo dài hàng thập kỷ việc áp đặt “mô hình Xôviết” một cách rập khuôn, máy móc, sơ cứng đã làm cho Liên Xô và hệ thống xãhội chủ nghĩa thế giới dần dần lâm vào suy thoái, khủng hoảng trầm trọng, đặcbiệt về kinh tế, xã hội Về lý luận và tư tưởng chính trị đã bị chủ nghĩa cơ hộixét lại trong cấp cao nhất của nhiều đảng Cộng sản ngày càng lấn át Mâu thuẫn
và chia rẽ trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là giữa Liên Xô - TrungQuốc đã tác động ngày càng xấu, làm giảm sức mạnh và vị thế của cả phe xã hộichủ nghĩa và của mỗi nước Về mặt khách quan: chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là
Mỹ liên tục có chiến lược, chiến thuật ngày càng thâm hiểm, toàn diện, nhất là
“Diễn biến hòa bình” đã làm cho chủ nghĩa cơ hội xét lại ngày càng biểu hiệncông khai và nặng nề ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa “Cái hích” cuốicùng để các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô sụp đổ hoàn toàn là sựphản bội trắng trợn của những cán bộ cấp cao nhất trong Đảng Cộng sản Liên
Xô và một số đảng Cộng sản khác Tiêu biểu và nguy hại bao quát rộng toàn cầu
là sự phản bội của Mikhaiin Gooc Ba Chốp - Tổng Bí thư kiêm Tổng thống Liên
Xô và Bôrít Enxin - ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Mátxcơva đã làm cho
hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ năm 1991
Trang 14Đó là thoái trào và thất bại tạm thời nhưng nặng nề nhất của phong tràocộng sản và công nhân quốc tế trong lịch sử hình thành và phát triển của nó, dovậy, cũng là thoái trào và khó khăn nhất của quá trình vận dụng và phát triển chủnghĩa xã hội khoa học trên toàn cầu.
+ Giai đoạn từ 1991 đến nay
Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, trên thế giới chỉ cònmột vài nước xã hội chủ nghĩa hoặc nước có xu hướng tiếp tục theo chủ nghĩa
xã hội, do vẫn có một đảng Mác - Lênin lãnh đạo Đó là Việt Nam, Trung Quốc,
Cu Ba, Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Những đảng Mác -Lêninđang lãnh đạo các nước này đã chưa bao giờ để chủ nghĩa cơ hội xét lại, bè phái,tiêu cực nẩy sinh lấn át trong đảng; đồng thời bước đầu thấy được những nguyênnhân cơ bản làm cho Đông Âu và Liên Xô sụp đổ cho nên vẫn kiên trì hệ tưtưởng Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, từng bước giữ ổn định để cảicách, đổi mới
Trước hết là Trung Quốc - nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên đã tiến hành cảicách - “mở của” với thế giới, ngay từ năm 1978 Về mặt tư tưởng - lý luận đãxác định trước hết là: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, Lýluận Đặng Tiểu Bình và vẫn khẳng định Chủ nghĩa xã hội khoa học để “xâydựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc” có bổ sung về nhận thức quanhững nhiệm kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc kế tiếp như “Lý thuyết Bađại diện” thời Giang Trạch Dân đề xuất; “Chủ nghĩa xã hội hài hòa”, thời HồCẩm Đào đề xuất… cho đến nay Những phát triển về lý luận như vậy, dù tachưa đánh giá đó có còn với tư cách lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học haykhông, thì cũng đã làm cho Trung Quốc, về mặt kinh tế, đã vươn lên rất nhanhtrở thành “Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ” cùng những vấn đề phứctạp, tiêu cực mới nẩy sinh
Mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Cộng hoà Cuba, Cộng hòa dân chủnhân dân Lào cũng đã có nhiều nhận thức mới về mô hình xã hội xã hội chủnghĩa cần xây dựng Quan niệm về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa xuất phát
Trang 15trước hết từ đặc điểm, nhu cầu của mỗi quốc gia, có tham khảo thêm những bàihọc kinh nghiệm đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở một số nước
Đảng Cộng sản Cuba cũng như Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã từngbước tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận từng bước hoàn thiện "chủ nghĩa xãhội mang đặc sắc" của mình về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại…trong đó có những nét nổi bật như: Phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận dụngkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vào điều kiện cụ thể của nướcmình; từng bước chuyển đổi kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá; từng bướccông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tăng cường mở rộng giao lưu hợp táckinh tế với các nước trong khu vực và quốc tế Hoàn thiện chế độ dân chủ nhândân, từng bước xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Đảng lấy chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng xã hội chủ nghĩa làm nền tảng tư tưởng của Đảng.Tích cực chủ động hội nhập quốc tế; tăng cường quan hệ hợp tác với các nướctrong khu vực và quốc tế
2.Vận dụng lý luận CNXH ở VN:
+ Kiên định CN Mác trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận: Ở Việt Nam, côngcuộc đổi mới từ Đại hội lần thứ VI đảng Cộng sản Việt nam (năm 1986), dođảng khởi xướng và lãnh đạo cả nước thực hiện Thành tựu to lớn trước tiên làđổi mới tư duy lý luận của đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt từ cấp Trungương, với phương châm được vận dụng đúng đắn từ quan điểm lý luận thể hiệntính quy luật và có ý nghĩa về nguyên tắc trong xây dựng, phát triển của đảngCộng sản là “Tự phê bình và phê bình”, đó là : “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giáđúng sự thật, nói rõ sự thật”1, trong đó có các vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa xãhội khoa học
Những đóng góp, bổ sung và phát triển cũng như sự vận dụng sáng tạochủ nghĩa xã hội khoa học của Hồ Chí Minh và Đảng ta có thể được tóm tắt trênmột số vấn đề cơ bản như sau:
Trang 16- Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một tính quy luật củacách mạng Việt Nam, trong điều kiện thời đại ngày nay;
- Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấyđổi mới kinh tế làm trung tâm, đồng thời đổi mới từng bước về chính trị, đảmbảo giữ vững sự ổn định chính trị, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để đổimới và phát triển kinh tế, xã hội;
- Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước Giải quyết đúng đắn mối quan
hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.Đây được xem như một nội dung cơ bản, thể hiện sự ưu việt của xã hội xã hộichủ nghĩa ngay từ những chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội Xây dựng phát triển kinh tế phải đi đôi với giữ gìn, phát huy bản sắc vănhóa dân tộc, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái;
- Mở rộng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnhcủa mọi giai cấp và tầng lớp nhân dân, mọi thành phần dân tộc và tôn giáo, mọicông dân Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài, tạo cơ sở xã hội rộng lớn vàthống nhất cho sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới;
- Tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới,khai thác mọi khả năng có thể hợp tác nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnhthời đại;
Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Khâu then chốt để đảmbảo tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là phải coi trọng công tác xây dựngĐảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của Đảng
Trang 17-+ Kiên định mục tiêu, con đường xây dựng CNXH; gắn lý luận với thựctiễn, bổ sung phát triển lý luận: Từ thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng ta đã rút ramột số bài học lớn, góp phần phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học.
"Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh…
Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức vàcách làm phù hợp…
Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huyvai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cáimới…
Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kếthợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới…
Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khôngngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dânchủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Câu 4: Khi bàn về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Lênin viết:
“Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa” (V.I.Lênin toàn tập, tập 23, Nxb, Tiến bộ, Matxcorva, 1980, trang 1).
Bằng lí luận và thực tiễn, đồng chí hãy làm rõ luận điểm trên.
Trả lời:
1 Khái niệm GCCN:
* Theo C Mác và Ph Ăngghen, GCCN mang 2 tiêu chí cơ bản sau
- Về phương thức lao động, PTSX: GCCN là lao động trực tiếp hay giántiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại
và xã hội hóa cao
- Về vị trí trong QHSX của GCCN
Trang 18Dưới chế độ TBCN: GCCN là những người vô sản hiện đại, không cóTLSX, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thểgiai cấp tư sản bóc lột Tức là giá trị thặng dư mà GCCN tạo ra bị nhà tư bảnchiếm đoạt Chính căn cứ vào tiêu chí này mà người công nhân dưới chủ nghĩa
tư bản được gọi là giai cấp vô sản
Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, có thể định nghĩa GCCN như sau:
“GCCN là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng vớiquá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, là một lực lượng sản xuất
cơ bản tiên tiến trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất và tái sản xuất củacải vật chất quyết định sự tồn tại xã hội và cải tạo các quan hệ xã hội, là giai cấpduy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo và tổ chức quá trình cách mạng XHCN,xây dựng chế độ XHCN và cộng sản chủ nghĩa”
2 Nội dung của sứ mệnh lịch sử:
Theo Mác, Ăngghen nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đólà: Thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toànthế giới”
Phát triển tư tưởng đó của Mác- Ăngghen đối với những nước đang pháttriển nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là: Xó bỏ chế độ xã hội
cũ, xây dựng chế độ xã hội mới: “dân giàu, nước mạnh xã hội dân chủ côngbằng, văn minh”
3 Những điều kiện khách quan quy định SMLS của GCCN
* Xuất phát từ địa vị kinh tế xã hội:
- GCCN là con đẻ của nền đại công nghiệp nên GCCN có tính tổ chức,tính kỷ luật, và có tri thức
- GCCN có khả năng đoàn kết với các lực lượng khác: đoàn kết giai cấptrong cuộc đấu tranh chống lại GCTS và xây dựng XH mới, đoàn kết với cácgiai cấp lao động khác chống CNTB, đoàn kết toàn thể GCCN và các dân tộc bị
áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc
Trang 19- Nền đại công nghiệp là nền SX quốc tế, do vậy GCCN mang bản chấtquốc tế GCCN không sở hữu TLSX, có lợi ích cơ bản đối lập với XHTB ngay
từ đầu GCCN trong XHTB là 1 giai cấp lạc hậu, có đồng lợi ích với các giai cấpkhác GCCN luôn đứng ở vị trí trung tâm của XH Vì vậy, GCCN có khả năngtập hợp đông đảo quần chúng nhân dân lao động trong quá trình đấu tranh xóa
bỏ sự thống trị của GCTS để giành chính quyền và tập hợp lực lượng để xâydựng xã hội XHCN
- GCCN gắn liền với LLSX tiên tiến nhất của 1 phương thức sản xuất mới(phương thức SX CSCN)
* Vai trò của lý luận cách mạng và khoa học
SMLS của GCCN được quy định một cách khách quan do địa vị KTXHnhưng người công nhân ko thể tự nhận thức được điều đó Để phong trào đấutranh của công nhân xác định được mục tiêu, điều kiện và các con đường tiến tới
sự nghiệp giải phóng, GCCN phải được giác ngộ về chính trị và có được nhữngtri thức khoa học và lý luận cách mạng
Lý luận thâm nhập vào phong trào công nhân, giúp cho GCCN:
- Chuyển đấu tranh từ tự phát lên tự giác
- Hình thành được các tổ chức cộng sản: Xác định được mục tiêu, cươnglĩnh, soi sáng con đường đấu tranh, có được các phương pháp đấu tranh phù hợpvới từng thời kỳ CM
- Giành được chính quyền
- Hình thành được hệ tư tưởng riêng, từ đó có giúp cho giai cấp côngnhân có được sự đoàn kết gắn bó và các tri thức mới và hệ tư tưởng này đóngvai trò như một triết lý để xây dựng một thể chế chính trị, kinh tế, VHXH
4 Nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành SMLS
+ Sự giác ngộ của GCCN
+ Vai trò của Đản Cộng sản
+ Chính quyền
Trang 20+ Sự đoàn kết trong phong trào công nhânĐồng chí hãy làm rõ điều kiệnkhách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
5 Liên hệ giai cấp công nhân ở Việt Nam?
* Hoàn cảnh ra đời giai cấp công nhân VN:
Giai cấp CN Việt Nam ra đời vào những năm đầu thế kỷ XX, ở một nướcthuộc địa nửa phong kiến với nền công nghiệp què quặt nghèo nàn và lạc hậu.Giai cấp công nhân VN ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, được hình thành vàphát triển thông qua 2 lần khai thác thuộc địa của người Pháp Do vậy giai cấpcông nhân VN đối đầu trực tiếp với thực dân Pháp và tư sản mại bản Pháp
- GCCNVN ra đời không gắn với nền SX đại công nghiệp Song nó lại đcsinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất, chống giặcngoại xâm Nó được hình thành và lớn lên trong bầu không khí sôi sục của mộtloạt các phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp Điềukiện lịch sử ấy đã giúp cho g/cấp công nhân VN sớm nhận thức được kẻ thù củag/cấp, của dân tộc để đi tới khẳng định không đấu tranh giải phóng toàn dân tiicjthì cũng không thể giải phóng được mình Truyền thống yêu nước đã hình thànhnên ý chí bất khuất, tính cách mạng và lòng quyết tâm phấn đấu vì sự nghiệpđộc lập dân tộc và CNXH trong g/cấp công nhân VN
Ra đời từ một nước nông nghiệp đại đa số công nhân được hình thànhtrực tiếp từ người nông dân Do đó lợi ích của g/cấp công nhân, g/cấp nông dân
và của cả dân tộc là thống nhất Đây là điều kiện thuận lợi để g/cấp công nhânxây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc, và khối đại đoàn kết dân tộcrộng rãi Tạo ra động lực, tạo ra sức mạnh trong suốt quá trình lãnh đạo cáchmạng ở nước ta
- GCCNVN ra đời vào thời kỳ mà phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế phát triển mạnh Lý luận CNXHKH đã thức tỉnh niềm tin và sức mạnh ở tất cảnhững người nghèo khổ và vô sản khắp nơi trên thế giới Phong trào giải phóngdân tộc đã lan rộng với quy mô ngày càng lớn Cuộc cách mạng Tháng MườiNga nổ ra thắng lợi đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào dân tộc, dân chủ ở các
Trang 21nước thuộc địa và phụ thuộc Con đường cứu nước, con đường giải phóng mọi
sự nô dịch và áp bức của các dân tộc đã được mở ra Đây là điều kiện thuận lợi
để GCCNVN tiếp thu và hiểu được lý luận Chủ nghĩa Mác – Leenin Thành lậpđược Đảng Cộng sản và trở thành giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng VN
*Đặc điểm của giai cấp công nhân VN
GCCNVN là một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế Song nó ra đờimuôn hơn và ra đời trước g/cấp tư sản trong nước Ra đời không từ cái nôi củanền đại công nghiệp, g/cấp công nhân VN mang trong mình những đặc điểmsau:
- Về số lượng và chất lượng: Số lượng ít, chất lượng thấp, tính đến năm
1929 (trước khi thành lập Đảng) cả nước mới có 22 vạn người (chiếm 1,1% tổng
số dân cư cả nước) Không qua Đại công nghiệp, g/c công nhân VN được hìnhthành trực tiếp từ người nông dân – trình độ văn hóa thấp, số mù chữ nhiều Laođộng chân tay là chủ yếu, tính tổ chức, tính kỳ luật và tay nghề kỹ thuật cònnhiều hạn chế Công nhân kỹ thuật chiếm tỷ lệ rất ít trong tổng số công nhân
- Về cơ cấu: Các bộ phận cấu thành g/cấp công nhân VN là khá đa dạngtrong đó công nhân nhà máy là bộ phận tiên tiến nhất có vị trí quan trọng vàtrình độ cao trong công nhân VN thì chiếm tỷ trọng rất ít Đại đa số là công nhânđồn điền và công nhân dưới dạng phu mỏ
- Công nhân đồn điền có khoảng 81.188 người, chiếm 36,8%
- Công nhân mỏ có khoảng 53.240 người, chiếm 24%
- Công nhân các ngành công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải và thươngnghiệp có khoảng 86.622 người, chiếm 39,2%
Có thể thấy trong hoàn cảnh rất khó khăn, người Pháp đã đặt được nềnthống trị trong cả nước; giai cấp tư sản thì chưa được hình thành: Vì kinh tếnông nghiệp thì nghèo nàn, nhà nước thì lạc hậu, giai cấp công nhân còn non trẻ,
ít về số lượng và kém về chất lượng, đội ngũ còn đa dạng lực lượng nòng cốtchưa nhiều) Song g/cấp công nhân VN đã khẳng định được sứ mệnh lịch sử củamình Nó đã bước lên vũ đài chính trị - đưa phong trào đấu tranh của dân tộc từ
Trang 22chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩaquốc tế vô sản.
- Về năng lực và hoạt động chính trị: Mặc dù ra đời muôn song giai cấpcông nhân đã sớm tiếp thu được lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin, sớm giác ngộđược ý thức g/cấp và tinh thần yêu nước của dân tộc Do đó đã nhanh chónghình thành nên chính đảng của mình G/cấp công nhân và Đảng đã xác địnhđược mục tiêu và con đường đi của cách mạng Độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa XH đã tạo ra động lực, giúp giai cấp công nhân sớm giành được chínhquyền và sớm trở thành giai cấp thống trị về chính trị đối với toàn XH VN Nó
đã nhanh chóng thực hiện thành công giai đoạn thứ nhất của sứ mệnh lịch sử
- Giai cấp công nhân VN có được vị lãnh tụ thiên tài đó là Chủ tịch HồChí Minh
“Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng VN, là kết quả của sự vận dụng và pháttriển sáng tạo của Chủ nghĩa Mác – Leenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kếthừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoavăn hóa nhân loại Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với công nhân xã hội
Tư tưởng HCM soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắnglợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và Chủ tich Hồ Chí Minh, g/cấpcông nhân VN đã thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình trong sự gắn bó chặt chẽ
và hòa quyện với sự nghiệp cách mạng của đất nước của dân tộc và thế giới
* Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
Năm 1930, g/cấp công nhân đã hình thành được chính đảng của mình, cóđược mục tiêu, đường lối và phương pháp cải tiến cách mạng
Năm 1945 thông qua đảng cộng sản lãnh đạo giành chính quyền thànhcông, thiết lập nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Giai cấp công nhân
Trang 23thông qua chính đảng của mình lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành cuộc khángchiến toàn dân, toàn diện đầy khó khăn gian khổ.
Sau năm 1954, chính quyền công nông ở VN đã chuyển thành chínhquyền chuyên chính vô sản – sứ mệnh lịch sử của g/cấp công nhân VN đượcthực hiện dưới hai chức năng, đó là tổ chức xây dựng chế độ XHCN và trấn ápnhững kẻ thù của chủ nghĩa XH – hai chức năng đó được thể hiện dưới hainhiệm vụ chiến lược
Miền Nam: G/cấp công nhân VN và Đảng CS VN với tinh thần cáchmạng triệt để và kiên quyết đã tạo nên bạo lực cách mạng tiêu diệt kẻ thù củaCNXH, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Miền Bắc: G/cấp CN VN và Đảng CS VN đã tạo lập được tinh thần đoànkết thống nhất trông phong trào cộng sản và công nhân Quốc tế đồng thời lãnhđạo nhân dân VN vừa chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt, vừa xây dựng vàtạo lập cơ sở vật chất, xã hội chi viện cho miềm Nam đảm bảo đánh thắng
Sau năm 1975 đất nước thống nhất, thông qua vai trò lãnh trò lãnh đạocủa Đảng CS VN, giai cấp công nhân VN đã cùng với toàn thể nhân dân laođộng thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị -văn hóa – xã hội – tư tưởng nhằm xây dựng một nước VN thống nhất giàumạnh
Ngày nay bước vào giai đoạn cách mạng, cơ cấu giai cấp công nhân cónhiều biến đổi nó trở lên đa dạng và phức tạp hơn Giai cấp công nhân còn cónhiều hạn chế nhất định về trí thức, về trình độ văn hóa, về tay nghề, So vớiyêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH Song giai cấp công nhân VN vẫn đóng vaitrò là lực lượng xã hội tiên tiến nhất trong các tầng lớp dân cư ở nước ta Bằnghành động tiên phong và gương mẫu của mình giai cấp công nhân VN đã vàđang tập hợp các tầng lớp nhân dân lao động thực hiện sự nghiệp CNH – HĐH,phấn đấu cho mục tiêu: dân giàu nước mạnh, XH dân chủ, công bằng và vănminh
* Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam:
Trang 24Để xây dựng GCCN Việt Nam ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu củacông cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân lao động,
đặc biệt là người lao động ở các KCN, KCX
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển đội ngũ công nhân
có trình độ cao, làm chủ được khoa học công nghệ, có kỹ năng lao động, tácphong công nghiệp, ý thức kỷ luật Cần kịp thời bổ sung, sửa đổi, xây dựngchính sách đào tạo và đào tạo lại công nhân; tạo điều kiện cho họ tự học tậpnâng cao trình độ; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghềgắn với các ngành, các vùng kinh tế trọng điểm Khuyến khích các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế dành kinh phí thích đáng và thời gian cho đào tạo,đào tạo lại công nhân
Thứ ba, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật
liên quan đến việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân
Thứ tư, tăng cường vai trò của các cấp uỷ Đảng, Đoàn Thanh niên và đặc biệt là
của Công đoàn trong việc nâng cao đời sống, đảm bảo quyền lợi cho công nhânnhất là công nhân ở các KCN, KCX Tăng tỷ lệ tham gia của công nhân trong cơcấu tổ chức chính trị - đoàn thể ở doanh nghiệp, nhất là tổ chức Công đoàn đểtăng cường tính đại diện cho lợi ích của công nhân
Câu 5 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.Đảng cộng sản Việt Nam văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb, chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 69)
Bằng kiến thức của môn chủ nghĩa xã hội khoa học và thực tiễn công tác, đồng chí hãy làm sáng tỏ luận điểm trên.
Trang 25Trả lời:
- Quan điểm của CNMLN về CNXH
Tổng hợp những luận điểm mang tính dự báo của C.Mác, Ph.Ăngghen về
xã hội xã hội chủ nghĩa và những quan điểm của V.I.Lênin về chế độ xã hội chủnghĩa ở nước Nga Xô viết, có thể thấy được những đặc trưng thể hiện bản chấtcủa xã hội xã hội chủ nghĩa, bao gồm:
Thứ nhất, mục tiêu cao cả của xã hội xã hội chủ nghĩa là giải phóng giaicấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, là tạo điều kiện để con người pháttriển toàn diện
Ngay trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đãchỉ rõ: "Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của
nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điềukiện phát triển tự do của tất cả mọi người"1
Luận điểm vừa nêu cho thấy mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩacộng sản đã phản ánh tính nhân văn cao cả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội, chủ nghĩa cộng sản Đây cũng chính là giá trị khoa học - thực tiễn bền vữngcủa học thuyết Mác
V.I.Lênin, trên cơ sở vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm củaC.Mác, Ph.Ăngghen về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, đãchỉ rõ trong Báo cáo về việc sửa đổi Cương lĩnh và đổi tên Đảng, tại Đại hội VIIbất thường của Đảng Cộng sản (b) Nga: "… Khi bắt đầu những cải tạo xã hộichủ nghĩa, chúng ta phải đặt rõ cái mục đích mà những cải tạo xã hội chủ nghĩa
đó rút cục nhằm tới, cụ thể là thiết lập một xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xãhội không chỉ hạn chế ở việc tước đoạt các công xưởng, nhà máy, ruộng đất và
tư liệu sản xuất, không chỉ hạn chế ở việc kiểm kê, kiểm soát một cách chặt chẽviệc sản xuất và phân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nữa, đi tới việc thực hiệnnguyên tắc: làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu Vì thế cái tên gọi "ĐảngCộng sản là duy nhất chính xác về mặt khoa học"1
Trang 26V.I.Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt được mục đích caonhất, giai cấp công nhân và đảng cộng sản phải hoàn thành các mục đích, nhiệm
vụ của từng giai đoạn Trong đó có những mục đích, nhiệm vụ cụ thể cho thời
kỳ xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
Bản chất nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản thểhiện trong mục đích lâu dài, cao cả như đã nêu đã tạo ra hàng loạt động lực để
xã hội loài người vươn tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
Thứ hai, xã hội xã hội chủ nghĩa phải dựa trên lực lượng sản xuất pháttriển, chế độ công hữu từng bước được xác lập, tổ chức quản lý có hiệu quả,năng suất lao động cao, phân phối chủ yếu theo lao động
Xã hội xã hội chủ nghĩa là một chế độ xã hội ra đời trên cơ sở những tiền
đề đã được tạo ra trong lòng xã hội tư bản Đó là lực lượng sản xuất hiện đại,thành quả của nền đại công nghiệp phát triển
Phân tích mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trongphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: sự tồntại của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là lực cản lớn nhất, kìm hãm
sự phát triển của tiến bộ xã hội Chính vì vậy, cuộc cách mạng cộng sản phảixoá bỏ chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất Hai ông đã khẳng định:
"Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội không phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nóichung, mà là xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản
Nhưng chế độ tư hữu tư sản hiện thời, lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủnhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đốikháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột của những người kia
Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mìnhmột luận điểm duy nhất là: xoá bỏ chế độ tư hữu"1
C.Mác và Ph.Ăngghen còn chỉ rõ: xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản khôngđồng nghĩa với xoá bỏ sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao độngcủa mỗi cá nhân và do hoạt động độc lập của mỗi cá nhân Các ông đã khẳngđịnh: "Điều chúng tôi muốn, là xoá bỏ tính chất bi thảm của các phương thức
Trang 27chiếm hữu nó khiến cho công nhân chỉ sống để làm tăng thêm tư bản, và chỉsống trong chừng mực mà những lợi ích của giai cấp thống trị đòi hỏi"2.
Xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập từng bước chế độ công hữu là bản chất ưuviệt của xã hội xã hội chủ nghĩa Đó là cơ sở kinh tế để xây dựng một xã hộicông bằng, bình đẳng, tiến bộ, quan hệ tốt đẹp giữa người và người Tuy nhiên,đây là quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, không thể thực hiện chóng vánh,ngay lập tức được Ph.Ăngghen trong "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộngsản" đã từng khẳng định điều vừa nêu khi trả lời câu hỏi: Liệu có thể thủ tiêuchế độ tư hữu ngay lập tức được không: "Không, không thể được cũng y nhưkhông thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cầnthiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu Cho nên cuộc cách mạng của giaicấp vô sản đang có tất cả những triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xãhội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng
tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ
tư hữu"1
Một mặt, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những đặctrưng kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó có đặc trưng là xác lập từngbước chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Mặt khác, các ông rất coi trọng việcđổi mới cách thức tổ chức quản lý, thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa
tư bản, là phải tăng năng suất lao động V.I.Lênin chỉ rõ: Sau khi giai cấp vô sản
đã làm xong nhiệm vụ giành được chính quyền rồi "thì tất nhiên có một nhiệm
vụ căn bản khác được đề lên hàng đầu, đó là: thiết lập một chế độ xã hội cao hơnchủ nghĩa tư bản, nghĩa là nâng cao năng suất lao động và do đó (và nhằm mụcđích đó) phải tổ chức lao động theo một trình độ cao hơn"2
Người còn chỉ rõ: chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực và chủyếu là bạo lực, cơ sở kinh tế của chuyên chính vô sản chính là việc giai cấp vôsản đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so vớichủ nghĩa tư bản
Trang 28Tạo ra năng suất lao động cao là nét đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa
và của chủ nghĩa cộng sản nói chung Trên cơ sở phát triển cao của lực lượngsản xuất, của khoa học kỹ thuật, năng suất lao động còn được tạo ra bởi ý thứclao động tự giác của giai cấp công nhân, của những người lao động V.I.Lêninkhẳng định: "chủ nghĩa cộng sản có nghĩa là năng suất lao động cao hơn (so vớinăng suất lao động dưới chế độ tư bản) của những công nhân tự giác, liên hiệpvới nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại"3 Theo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen,V.I.Lênin, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, phân phối theo lao động là nguyên tắc
cơ bản Nguyên tắc này thể hiện tính công bằng trong phân phối của chế độ xãhội chủ nghĩa
Thứ ba, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội dân chủ, Nhà nước xã hộichủ nghĩa vừa mang bản chất của giai cấp công nhân vừa mang tính nhân dânrộng rãi
Trong rất nhiều tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận bàn về tính cầnthiết phải tạo lập một chế độ xã hội dân chủ, một xã hội công dân với tư cách làtiêu chí của tiến bộ xã hội Ngay trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các ông
đã viết: "… bước thứ nhất trong cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biếnthành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ"1 Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước Nga Xô viết, V.I.Lênin đã khẳng định tính ưu việt của chế độ dânchủ vô sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa; tính ưu việt của chính quyền Xô viết,một hình thức của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
"Chế độ dân chủ vô sản so với bất kỳ chế độ dân chủ tư sản nào cũng dânchủ hơn gấp triệu lần; chính quyền Xô viết so với nước cộng hoà dân chủ nhấtthì cũng dân chủ gấp triệu lần"2 Tính chất rộng rãi của Nhà nước xã hội chủnghĩa, theo V.I.Lênin là ở chỗ Nhà nước này do đông đảo nhân dân quản lý Khitrả lời câu hỏi: chính quyền Xô viết là gì? V.I.Lênin viết: "Bản chất của nó, cái
mà ngày càng thu hút được công nhân tất cả các nước là ở chỗ: xưa kia nhà nước
là do bọn nhà giàu hay bọn tư bản quản lý bằng cách này hay cách khác, thìngày nay, lần đầu tiên nhà nước là do đông đảo quần chúng quản lý Ngay cả
Trang 29trong một nước cộng hoà dân chủ nhất, tự do nhất, chừng nào mà sự thống trịcủa tư bản còn tồn tại, chừng nào mà ruộng đất còn là của tư hữu, thì nhà nướcluôn luôn do một thiểu số nhỏ bé quản lý, và chín phần mười thiểu số này làgồm những tên tư bản hoặc những kẻ giàu có"3.
Bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi của nhà nước Xôviết do V.I.Lênin chủ trương xây dựng là thực tiễn sinh động để các đảng cộngsản trên thế giới tham khảo, vận dụng vào xây dựng Nhà nước dân chủ trongđiều kiện cụ thể từng quốc gia, khu vực
Thứ tư, trong xã hội xã hội chủ nghĩa phải có nền văn hoá phát triển cao,
kế thừa và phát huy những giá trị của văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá củanhân loại
Trên quan điểm duy vật về lịch sử, khi phân tích về đời sống tinh thần ởcác thời đại, C.Mác đã đi đến kết luận: chính sự thay đổi của phương thức sảnxuất mà trước hết do sự thay đổi của lực lượng sản xuất sẽ quyết định sự biếnđổi của đời sống tinh thần, quyết định sự chuyển biến từ một nền văn hóa nàysang một nền văn hoá cao hơn
Trong các chế độ xã hội dựa vào chế độ chiếm hữu tư nhân, nhất là trong
xã hội tư bản, đã gây ra tình trạng tha hoá của người lao động
Chỉ có trong xã hội xã hội chủ nghĩa và trong tương lai của nó là xã hộicộng sản thì tình trạng tha hoá con người mới bị loại bỏ Con người trong xã hội
đó mới có thể tiến từ "vương quốc tất yếu" sang "vương quốc tự do"
V.I.Lênin trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga đã luậngiải sâu sắc về "nền văn hoá vô sản" - nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Ngườikhẳng định: "nếu không hiểu rõ rằng chỉ có sự hiểu biết chính xác về nền vănhoá được sáng tạo ra trong toàn bộ quá trình phát triển của loài người và việc cảitạo nền văn hoá đó mới có thể xây dựng được nền văn hoá vô sản thì chúng takhông giải quyết được vấn đề"1 Ông còn chỉ rõ thêm: "… văn hoá vô sảnkhông phải bỗng nhiên mà nó, nó không phải do những người tự cho mình làchuyên gia vè văn hoá vô sản phát minh ra Đó là điều ngu ngốc Văn hoá vô sản
Trang 30phải là sự phát triển hợp quy luật, của tổng số kiến thức mà loài người đã tíchluỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ, xã hội củabọn quan liêu"1 Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, cần phải cónhững người cộng sản Theo V.I.Lênin thì "người ta chỉ có thể trở thành ngườicộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những khotàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra"2.
Thứ năm, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội bảo đảm công bằng bìnhđẳng giữa các dân tộc
Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêuluận điểm giá trị: xoá bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc nàybóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ
V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển những quan điểm của C.Mác,Ph.Ăngghen về quan hệ giữa dân tộc trong điều kiện mới Trong "Cương lĩnh vềvấn đề dân tộc", V.I.Lênin đã chỉ rõ những nội dung mang tính nguyên tắc cầnthực hiện khi giải quyết vấn đề dân tộc trong xã hội xã hội chủ nghĩa Ông viết:
"các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệpcông nhân tất cả các dân tộc lại: đó là Cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác,kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân"3.V.I.Lênin đã nêu lên những quan điểm mới về mối quan hệ giữa các dân tộc,trong đó đặc biệt quan tâm đến "các dân tộc bị áp bức" cũng như quá trình hìnhthành dân tộc xã hội chủ nghĩa - một hình thức cộng đồng tiến bộ, ưu việt hơn sovới dân tộc tư sản Vấn đề công bằng, bình đẳng giữa người và người đượcV.I.Lênin cụ thể hoá trong vấn đề công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, cáctộc người Những luận điểm của V.I.Lênin bàn về dân tộc, quyền tự quyết dântộc là những chỉ dẫn rất có giá trị giúp cho các đảng cộng sản, đảng công nhânvận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc trong các quốc gia, khu vực
Thứ sáu, quan hệ giữa dân tộc và quốc tế được giải quyết trên cơ sở kếthợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
Trang 31C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều thống nhất trong luận điểm: chủ nghĩacộng sản, chủ nghĩa xã hội là có tính chất quốc tế Cuộc cách mạng mà giai cấpcông nhân và chính đảng của nó tiến hành không chỉ thu hẹp trong phạm vi lợiích dân tộc, mà cao hơn thế phải hướng tới sự nghiệp giải phóng toàn thể nhânloại khỏi mọi áp bức, bất công C.Mác và Ph.Ăngghen từng nêu lên đặc điểmnổi bật của giai cấp công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế - do nền sản xuấtđại công nghiệp tư bản chủ nghĩa tạo ra Chủ nghĩa yêu nước chân chính phùhợp với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Khẩu hiệu "Vô sản tất cảnước, đoàn kết lại" được C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên thể hiện tinh thần đoànkết cách mạng và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Sau khi Quốc tế II
đã bị bọn cơ hội lũng đoạn, phá hoại, V.I.Lênin đã sáng lập Quốc tế III (Quốc tếcộng sản) Một khẩu hiệu mới được V.I.Lênin tán thành và nhiệt liệt ủng hộtrong điều kiện mới: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kếtlại" Khẩu hiệu này thể hiện trong đó phương châm giải quyết mối quan hệ giữadân tộc và quốc tế, mở rộng khối đoàn kết quốc tế V.I.Lênin còn chỉ rõ: "… chỉ
có chế độ Xô viết là chế độ có thể thật sự đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dântộc, bằng cách thực hiện trước hết sự đoàn kết tất cả những người vô sản, rồi đếntoàn thể quần chúng lao động, trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản"1.Ông khẳng định: "Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sựthống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể quần chúng cần laothuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắnghoàn toàn chủ nghĩa tư bản được"
- Nhận thức của Đảng ta trước 1986 về XDCNXH
Trước hết, cần đánh giá một cách khách quan, trung thực về những thànhtựu, hạn chế trong nhận thức và vận dụng những quan điểm Mác - Lênin về chủnghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳtrước đổi mới (trước năm 1986)
Trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1954 đến
1986 đã cho thấy nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về xã hội xã hội chủ
Trang 32nghĩa trên những nét phác thảo ban đầu về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội, về chính sách đối ngoại.
Về kinh tế: Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng một nền kinh
tế quốc dân "có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa học, kỹ thuậttiên tiến"
Về chính trị: quan điểm đúng đắn xuyên suốt từ khi thành lập đảng chođến thời kỳ này vẫn là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Việt Nam lànước duy nhất thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược cùng một lúc: tiếnhành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc
Về văn hoá: Vận dụng các quan điểm Mác Lênin về văn hoá vô sản văn hoá xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phải xây dựngvăn hoá mới - văn hoá xã hội chủ nghĩa trong xã hội xã hội chủ nghĩa
-Về xã hội: Thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội, chủ trương phân phốitheo lao động
Về con người: Quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người thể hiệntrong xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ này
- Về chính sách đối ngoại: Việt Nam chủ trương tranh thủ tối đa sự giúp
đỡ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, của các lực lượng yêu chuộng hoàbình, dân chủ trên thế giới
Có thể thấy rằng, thời kỳ này Đảng Cộng sản Việt Nam đã có một số nhậnthức đúng về chủ nghĩa xã hội, vận dụng những nét khái quát về đặc trưng phổbiến của xã hội xã hội chủ nghĩa theo quan điểm Mác - Lênin
Tuy nhiên, ở thời kỳ này, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan,nhận thức về chủ nghĩa xã hội, về mô hình của xã hội xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam vẫn còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết Việc xác định mục tiêu xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chưa phân rõ, đôi lúc còn nhầm lẫn giữa mục tiêulâu dài với những nhiệm vụ cấp bách trước mắt Những đặc trưng mang sắc thái
từ đặc điểm lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hoá của Việt Nam chưa được đề cập cụ
Trang 33thể trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội mà chúng ta cần xây dựng Trong nhậnthức về xã hội xã hội chủ nghĩa thời kỳ này còn nhiều hạn chế, giáo điều, máymóc Trên thực tế thời kỳ này, chưa xác định được đâu là mô hình với nhữngđặc trưng cụ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trong nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳtrước đổi mới cũng cho thấy ít nhiều thành tựu bước đầu
Về phương châm chiến lược luôn luôn được Đảng Cộng sản Việt Namquán triệt Đó là gắn độc lập dân tộc với xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây làphương châm chiến lược đúng đắn, sáng tạo và thiết thực đối với điều kiện cụthể của Việt Nam
Về phương hướng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa: Đảng Cộng sản ViệtNam chủ trương xây dựng cả về cơ sở vật chất - kỹ thuật lẫn đời sống văn hoátinh thần Chủ trương tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng trong xây dựng chủnghĩa xã hội thể hiện nhận thức đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam vềphương hướng cơ bản cần thực hiện trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam Trong tương quan với cách mạng thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cónhận thức đúng về phát huy sức mạnh các nguồn lực bao gồm nội lực và ngoạilực Trong đó chủ trương dựa vào sức mạnh nội lực là chủ yếu đồng thời tranhthủ tối đa sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân các nước trong phe xã hội chủ nghĩa,các lực lượng yêu chuộng hoà bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bước đầu xâydựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam thời kỳ này đã chứng minh nhữngnhận thức đúng đắn vừa nêu
Bên cạnh những nhận thức đúng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội,thời kỳ này còn rất nhiều hạn chế Vì vậy đã làm ảnh hưởng lớn đến công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội, thậm chí đưa đất nước đi vào khủng hoảng kinh tế -
xã hội trầm trọng Việc giải quyết quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất còn nhiều hạn chế, yếu kém Với chủ trương "lấy quan hệ sản xuất tiến
Trang 34bộ mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển" là quan điểm chủ quan, duy ýchí, vi phạm quy luật khách quan.
Thời kỳ trước năm 1986 ở cả 2 miền Bắc, Nam (sau khi thống nhất đấtnước) đều duy trì quá lâu dài cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Cơ chế này đãlàm triệt tiêu nhiều động lực để phát triển đất nước
Trong phương hướng phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội đãkhông chú ý đúng đắn đến các lợi ích chính đáng; chưa giải quyết thoả đáng mốiquan hệ lợi ích giữa cá nhân - tập thể - xã hội
Nhiều quy luật, đặc biệt là các quy luật kinh tế trong thời kỳ quá độ đã bịnhận thức sai lệch hoặc quá máy móc, giáo điều Việc để tồn tại hai hình thức sởhữu, hai thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể đã làm triệt tiêucác nguồn lực cần thiết, vốn có trong nhiều thành phần kinh tế khác, đòi hỏi tấtyếu phải tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nhiều vấn đề khác như dân chủ xã hội chủ nghĩa, văn hoá xã hội chủnghĩa, con người mới xã hội chủ nghĩa cũng có nhiều nhận thức mơ hồ, chủquan, duy ý chí…Các phương hướng, giải pháp để xây dựng còn chung chung,trừu tượng Vì vậy, trên thực tế chỉ tồn tại ở hình thức mà không có nội dung,thực chất Một số vấn đề về xã hội như bình đẳng xã hội, công bằng xã hội giữacác tộc người, giữa miền núi với miền xuôi, giữa nông thôn và thành thị…đều
có những nhận thức chưa đầy đủ Tính hiệu quả, thiết thực của các chính sách xãhội còn nhiều hạn chế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(1986) đã chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm trong nhận thức về xã hội xã hộichủ nghĩa và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đảng Cộng sảnViệt Nam cũng đã chỉ rõ những nguyên nhân của hạn chế, yếu kém (cả nguyênnhân khách quan và chủ quan), trong đó những nguyên nhân chủ quan là chính
và trực tiếp của những hạn chế, khuyết điểm vừa nêu
- Nhận thức của Đảng ta sau 1986
Trang 35Từ năm 1986 đến nay, đặc biệt là từ năm 1991 khi Đảng Cộng sản ViệtNam thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội và gần đây tại Đại hội XI (tháng 1 năm 2011) với sự bổ sung, pháttriển Cương lĩnh năm 1991, nhận thức về xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã
có những bước phát triển mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm đổi mới, 20năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991
Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định 8đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là:
Đặc trưng thứ nhất: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.Đây là đặc trưng khái quát nhất bao trùm hệ mục tiêu cần đạt tới của cả thời kỳxây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện từng bước xã hội xãhội chủ nghĩa phù hợp với nhu cầu, đặc điểm thực tế của Việt Nam trên cácphương diện
Đây cũng là đặc trưng mới được bổ sung so với Cương lĩnh năm 1991.Đặc trưng thứ hai: Do nhân dân làm chủ
Đặc trưng này thể hiện bản chất chính trị của xã hội xã hội chủ nghĩa vốn
đã được xác định từ năm 1991: Do nhân dân lao động làm chủ Trong quá trìnhxây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từ thực tiễn của việc mởrộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của công dân, trong Cương lĩnh (bổ sung,phát triển) đã xác định rõ ràng thiết thực hơn; xã hội xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam phải là xã hội do nhân dân làm chủ, thể hiện bản chất dân chủ rộng rãi, mọiquyền lực thuộc về nhân dân
Đặc trưng thứ ba: Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sảnxuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp
So với Cương lĩnh năm 1991 đặc trưng về kinh tế này có sự điều chỉnhcách thức diễn đạt Nếu như trong Cương lĩnh 1991, diễn đạt có quan hệ sảnxuất "dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu" thì Cươnglĩnh bổ sung, phát triển diễn đạt gọn hơn: "và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp"
Trang 36Cách diễn đạt này ít nhiều cho thấy "tính mở" trong phát triển các thành phầnkinh tế, đồng thời tránh được một vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra: xácđịnh đâu là tư liệu sản xuất chủ yếu? đâu là tư liệu sản xuất thứ yếu…
Đặc trưng thứ tư: Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Đây là đặc trưng về phương diện văn hoá mà xã hội xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam cần có Đặc trưng này là sự kế thừa nội dung vốn có của Cương lĩnhnăm 1991 Nền văn hoá tiên tiến bao gồm: những tinh hoa, giá trị văn hoá tiến
bộ, hiện đại, nhân văn trên cơ sở mở rộng giao lưu, tiếp biến văn hoá Mặt khác,bản sắc, giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc Việt Nam cần được lưugiữ, bảo tồn, phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế
Đặc trưng thứ năm: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cóđiều kiện phát triển toàn diện
Trên cơ sở kế thừa, có chọn lọc và điều chỉnh cách thức diễn đạt, đặctrưng này đã được xác định từ việc diễn đạt gọn, rõ hơn những nội dung màCương lĩnh 1991 đã nêu, phản ánh mối quan hệ giữa con người và xã hội trong
xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đặc trưng thứ sáu: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển
Đây là đặc trưng về các quan hệ dân tộc - tộc người ở Việt Nam Tuynhiên nếu so với đặc trưng đã được xác định từ Cương lĩnh năm 1991 có sự điềuchỉnh và bổ sung thêm một vài thuật ngữ: không dùng thuật ngữ "các dân tộctrong nước" mà thay bằng các "dân tộc trong cộng đồng Việt Nam"; bổ sungthêm thuật ngữ "tôn trọng" trong giải quyết các quan hệ tộc người ở Việt Namnhằm tăng cường khối đại đoàn kết giữa các tộc người
Đặc trưng thứ bảy: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Đây là đặc trưng hoàn toàn mới được bổ sung so với các đặc trưng trongCương lĩnh năm 1991
Trang 37Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải được xác định trong bản chấtcủa Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đó là Nhà nước của dân, do dân, vìdân Nhà nước này phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quan điểm vềNhà nước của dân, do dân, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiệntrong đặc trưng vừa nêu.
Đặc trưng thứ tám: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân cácnước trên thế giới
Đặc trưng này đã kế thừa nội dung đã có từ Cương lĩnh năm 1991 khi xácđịnh về quan hệ đối ngoại Với tinh thần tăng cường hội nhập quốc tế cả chiềurộng và chiều sâu, đặc trưng vừa nêu thể hiện quan điểm về chính sách đối ngoạicủa Việt Nam trong điều kiện mới
Quá trình phát triển nhận thức về đặc trưng bản chất của xã hội xã hội chủnghĩa ở Việt Nam đã có những bước phát triển mới từ năm 1991 đến năm 2011:
từ 6 đặc trưng của Cương lĩnh năm 1991 đã phát triển thành 8 đặc trưng trongCương lĩnh (bổ sung phát triển) năm 2011
Nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện tậptrung nhất trong các phương hướng quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Nếu như trong Cương lĩnh năm 1991 xác định 7 phương hướng quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thì trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm
2011 đã xác định 8 phương hướng với sự điều chỉnh, bổ sung cả nội dung vàcách diễn đạt các phương hướng đã có từ Cương lĩnh 1991
Thực tiễn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện hiệnnay phải gắn bó mật thiết với phát triển kinh tế tri thức Mặt khác, việc đẩy
Trang 38mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải luôn luôn tính đến việc bảo vệ tàinguyên và môi trường.
Hai là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Công cuộc đổi mới đất nước đã cho Đảng và Nhà nước Việt Nam nhìnnhận đúng vai trò của kinh tế thị trường đối với phát triển kinh tế - xã hội đấtnước Kinh tế thị trường là thành quả chung của nhân loại Mặt khác, có nhiềuloại kinh tế thị trường, ở Việt Nam kinh tế thị trường phải gắn liền với địnhhướng xã hội chủ nghĩa Thị trường sẽ được phát triển trong điều kiện tăngcường vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựngcon người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Đây là phương hướng phát triển văn hoá Việt Nam trong điều kiện hộinhập quốc tế Phát triển văn hoá gắn với xây dựng con người, nâng cao mọi mặtđời sống của nhân dân Văn hoá được phát triển cùng với việc thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, coi conngười vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, antoàn xã hội
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn liền với bảo vệ Tổ quốc xã hộichủ nghĩa Trong đó một phương châm đặt ra cần thực hiện là phải bảo đảm tăngcường quốc phòng, an ninh, quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội Đây làđiều kiện góp phần ổn định để phát triển đất nước trong điều kiện mới hội nhậpquốc tế
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hoà bình, hữunghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Nội dung mới của phương hướng này là bên cạnh quan điểm về chínhsách đối ngoại phải tuân thủ các nguyên tắc độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị,hợp tác và phát triển thì Việt Nam luôn luôn chủ động và tích cực hội nhập quốc
tế để phát triển đất nước
Trang 39Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kếttoàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất
Dân chủ hoá đời sống xã hội đang là xu thế chung của phát triển loàingười Để thể hiện bản chất ưu việt của nền dân chủ chủ nghĩa xã hội, Việt Namphải xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ, mở rộng quyền dân chủ củacông dân Mặt khác, phải thường xuyên củng cố, tăng cường khối đoàn kết toàndân tộc Trong đó thực hiện tốt vai trò, chức năng của mặt trận dân tộc thốngnhất trong việc phát huy các quyền công dân để phát triển đất nước
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là Nhà nước phápquyền (quản lý đất nước chủ yếu bằng pháp luật) Bản chất của Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn thể hiện cụ thể ở việc đó là Nhà nướccủa dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
8 phương hướng vừa nêu chỉ là những phương hướng cơ bản, bảo đảmtính tương ứng với 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đangxây dựng Các phương hướng này về cơ bản đã thể hiện rõ phương thức, conđường xây dựng chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xãhội, các chủ trương trong đường lối đối nội, đối ngoại Mặt khác, trong một sốphương hướng đã thể hiện vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị xã hội chủ
Trang 40nghĩa ở Việt Nam cũng như trách nhiệm của từng thành viên trong hệ thốngchính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Câu 6: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”
(Đảng cộng sản việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb.Chính trị quốc gia Hà Nội, 2011, trang 70)
Bằng kiến thức của môn chủ nghĩa xã hội khoa học và thực tiễn công tác, đồng chí hãy làm rõ luận điểm trên.
Trả lời:
- Quan điểm của CNMLN về CNXH
Tổng hợp những luận điểm mang tính dự báo của C.Mác, Ph.Ăngghen về
xã hội xã hội chủ nghĩa và những quan điểm của V.I.Lênin về chế độ xã hội chủnghĩa ở nước Nga Xô viết, có thể thấy được những đặc trưng thể hiện bản chấtcủa xã hội xã hội chủ nghĩa, bao gồm:
Thứ nhất, mục tiêu cao cả của xã hội xã hội chủ nghĩa là giải phóng giaicấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, là tạo điều kiện để con người pháttriển toàn diện
Ngay trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đãchỉ rõ: "Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của
nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điềukiện phát triển tự do của tất cả mọi người"1
Luận điểm vừa nêu cho thấy mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩacộng sản đã phản ánh tính nhân văn cao cả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội, chủ nghĩa cộng sản Đây cũng chính là giá trị khoa học - thực tiễn bền vữngcủa học thuyết Mác