1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương Môn Nhà Nước và Pháp luật Thi Cao cấp chính trị

102 216 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, chính phủ điện tử là thuật ngữ chỉ “Sự hoạt động liên thông của cả hệ thống các cơ quan trong bộ máy hànhchính nhà nước có ứng dụng một cách có hiệu quả những thành tựu của khoa

Trang 1

HỆ THỐNG CÂU HỎI NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT LOẠI CÂU HỎI 5 ĐIỂM/CÂU

1 Tại sao phải xây dựng chính phủ điện tử ở

Việt Nam? Phân tích các tiêu chí của chính phủ

điện tử?

2 Thực trạng và các giải pháp xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay

3 Thực trạng đạo đức công vụ và các giải pháp

nâng cao đạo đức cán bộ, công chức ở địa

phương hoặc đơn vị công tác hiện nay

4 Thực trạng và các giải pháp xây dựng, hoàn thiện văn hóa công sở ở Việt Nam hiện nay

5 Tại sao phải tiến hành xã hội hóa dịch vụ công?

Đánh giá kết quả xã hội hóa một số dịch vụ công ở

địa phương hiện nay và nêu các giải pháp nâng

cao chất lượng dịch vụ công

6 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay

7 Những đổi mới trong mô hình tổ chức hành

chính nhà nước địa phương ở Viêt Nam theo

Luật tổ chức chính quyền địa phương

8 Vai trò của thể chế hành chính trong nền hành chính nhà nước Giải pháp nâng cao chất lượng thể chế hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

9 Giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện

nay Liên hệ việc thực hiện trên thực tế

10 So sánh mô hình hành chính truyền thống và mô hình hành chính hiện đại

11 Chứng minh sự cần thiết phải hoàn thiện hệ

thống pháp luật Việt Nam?

12 Giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

13 Chứng minh Hiến pháp là đạo luật cơ bản ? 14 Đánh giá sự hoàn thiện của hệ thống

pháp luật Việt Nam hiện nay

15 Ý nghĩa của nguyên tắc khách quan, công

khai và minh bạch trong hoạt động lập pháp

Làm rõ những biểu hiện của việc thực hiện

nguyên tắc đó trong hoạt động lập pháp ở nước

ta hiện nay

16 Thực trạng áp dụng pháp luật ở địa phương hiện nay Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật

17 Thực trạng ban hành văn bản quy phạm

pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng ban

hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa

phương

18 Thực trạng giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật đất đai ở địa phương

19 Bằng lý luận và thực tiễn về nhà nước và pháp

luật, đồng chí hãy làm rõ nguyên tắc “Quyền lực

nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp,

kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc

thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

được quy định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 của

VN

20 Giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Những khó khăn, cản trở trong quá trình thực hiện

Trang 2

21 Vận dụng kiến thức nhà nước, pháp luật hãy

làm rõ lý do xây dựng nhà nước pháp quyền ở

Việt nam hiện nay

22 Phân tích đặc trưng mang tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

23 Đánh giá biểu hiện trên thực tế bản chất của

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

hiện nay

24 Đánh giá thực trạng tính được bảo đảmbằng nhà nước của pháp luật Việt Nam hiện nay

25 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả

cải cách thủ tục hành chính ở địa phương?

26 Tại sao xdựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cbộ, cc,vc được xđịnh là nvụ trọng tâm trong Chương trình cải cách hành chính

ở VN 2011-2020?

27 Phân tích những thách thức trong quản lý

nhà nước đối với ngành, lĩnh vực xã hội Biện

pháp khắc phục

28 Phân tích các nhân tố tác động đến qlý XH

ở VN Theo anh (chị), nhân tố nào quan trọng nhất? Tại sao?

29 Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt

động của tổ chức hành chính nhà nước ở Việt

Nam Liên hệ việc thực hiện trên thực tế

30 Thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ, công chức ở địa phương hiện nay

Trang 3

ĐÁP ÁN THI MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Câu 1: Tại sao phải xây dựng chính phủ điện tử ở VN? phân tích các tiêu chí của

- Định nghĩa của World Bank: “Chính phủ điện tử đề cập đến việc các cơ quan chínhphủ sử dụng các công nghệ thông tin (chẳng hạn như mạng diện rộng, mạng Internet và mạng

di động) mà có khả năng chuyển đổi mối quan hệ với công dân, doanh nghiệp và với các cơquan chính phủ khác Những công nghệ này có thể phục vụ cho những mục đích khác nhau:cung cấp các dịch vụ tốt hơn, cải thiện sự tương tác với doanh nghiệp, tăng cường quyền lựccho công dân thông qua việc truy cập thông tin hoặc quản lý chính phủ hiệu quả hơn Các lợiích mang lại có thể giảm tham nhũng, nâng cao sự minh bạch, thuận tiện hơn, tăng doanh thuvà/hoặc giảm chi phí”

- Định nghĩa của Liên Hợp quốc: “Chính phủ điện tử được định nghĩa là việc sử dụngInternet và mạng toàn cầu (world-wide-web) để cung cấp thông tin và các dịch vụ của chínhphủ tới công dân”

- Định nghĩa của Nhóm nghiên cứu về chính phủ điện tử trong một thế giới phát triển:

“Chính phủ điện tử là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thúc đẩy chínhphủ một cách hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ truy cập tới các dịch vụ của chính phủ, cho phéptruy cập nhiều hơn vào thông tin và làm cho chính phủ có trách nhiệm với công dân Chínhphủ điện tử có thể bao gồm việc cung cấp các dịch vụ qua Internet, điện thoại, các trung tâmcộng đồng, các thiết bị không dây hoặc các hệ thống liên lạc khác”

Qua một số các định nghĩa về chính phủ điện tử kể trên, có thấy được một số các điểmchung nhất Đó là, chính phủ điện tử bao gồm việc sử dụng công nghệ thông tin và đặc biệt làInternet, để cải thiện việc cung cấp dịch vụ của chính phủ tới công đân, doanh nghiệp và các

cơ quan nhà nước khác Chính phủ điện tử cho phép công dân tương tác và nhận dịch vụ từchính phủ liên bang, bang và địa phương 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần Qua nghiêncứu một số các tài liệu về chính phủ điện tử, nhóm nghiên cứu nhận thấy định nghĩa về chínhphủ điện tử của World Bank thường được các quốc gia tham chiếu đến khi định nghĩa vềchính phủ điện tử

Tại Việt Nam, mặc dù chính phủ điện tử thường được nhắc đến trong các hội nghị, hộithảo, báo cáo nghiên cứu khoa học nhưng một định nghĩa cụ thể, rõ ràng về chính phủ điện tửvẫn chưa được pháp điển hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật Nhóm nghiên cứu tìmhiểu được một giải thích về chính phủ điện tử trong cuốn “Thuật ngữ hành chính” do ViệnNghiên cứu hành chính – Học viện Hành chính quốc gia xuất bản Theo đó, chính phủ điện

tử là thuật ngữ chỉ “Sự hoạt động liên thông của cả hệ thống các cơ quan trong bộ máy hànhchính nhà nước có ứng dụng một cách có hiệu quả những thành tựu của khoa học, công nghệthông tin điện tử để bảo đảm việc chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhànước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và cung ứng đầy đủ, khẩn trương các thông tincho tất cả mọi tổ chức, cá nhân thông qua các phương tiện thông tin điện tử” Theo nhómnghiên cứu đánh giá thì chính phủ điện tử của Việt Nam trong thời gian hiện tại đang tập

Trang 4

trung nhiều về phía ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, có

sự kết hợp chặt chẽ với cải cách hành chính và phát triển thương mại điện tử

2 Tại sao phải xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Lợi ích của chính phủ điện tử: Tạo lập, cung cấp, chia sẻ, khai thác thông tin và cungcấp dịch vụ giữa nhà nước với nhân dân Đối với nhà nước thì gần dân hơn, dân chủ hơn,tính phục vụ cao hơn nên giảm phiền hà Nhanh chóng hơn, hiện đại hơn, tiết kiệm hơn dẫnđến hiệu lưc, hiệu quả hơn

Lợi ích của CPĐT

CPĐT là chính phủ đảm bảo được cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết và đúng lúc cho việc

ra quyết định CPĐT lý tưởng là một chính phủ cung cấp đầy đủ thông tin, đúng thời điểmcho những người quyết định, đó là lợi thế lớn nhất của CNTT

CPĐT sử dụng CNTT để tự động hoá các thủ tục hành chính của chính phủ, áp dụng CNTTvào các quy trình quản lý, hoạt động của chính phủ do vậy tốc độ xử lý các thủ tục hànhchính nhanh hơn rất nhiều lần

CPĐT cho phép công dân có thể truy cập tới các thủ tục hành chính nà thông qua phươngtiện điện tử, ví dụ như: Internet, điện thoại di động, truyền hình tương tác

CPĐT giúp cho các doanh nghiệp làm việc với chính phủ một cách dễ dàng bởi mọi thủ tụcđều được hiểu, hướng dẫn và mỗi bước công việc đều được đảm bảo thực hiện tốt, tin cậy.Mọi thông tin kinh tế mà chính phủ có đều được cung cấp đầy đủ cho các doanh nghiệp đểhoạt động hiệu quả hơn

Đối với công chức, CNTT dùng trong CPĐT là một công cụ giúp họ hoạt động hiệu quả hơn,

có khả năng dáp ứng nhu cầu của công chúng về thông tin truy cập và xử lý chúng

Đối với người dân và doanh nghiệp

Giảm thiểu thời gian cho công dân, doanh nghiệp và người lao động khi truy nhập và sửdụng dịch vụ của chính phủ và do đó giảm thiếu chi phí của nhân dân Khuyến khích sự thamgia của cộng đồng vào các hoạt động của chính phủ

Đối với Chính phủ

Giảm “ nạn giấy tờ ” văn phòng – công sở, tiết kiệm thời gian, hợp lý hoá việc vận hành côngviệc, cho phép các cơ quan Chính phủ cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn và giảm ngânsách chi tiêu của chính phủ

- Toàn cầu hóa: Trong điều kiện toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay,các quốc gia trở nên gắn bó với nhau về kinh tế, văn hóa và xã hội Điều này là cơ sở choviệc hình thành nền văn hóa toàn cầu Để tham gia vào sự hình thành nền văn hóa toàn cầunày, củng như việc thừa nhận những nét đặc sắc trong văn hóa của mình Các quốc gia phảigiúp các công dân của mình cạnh tranh trong toàn cầu hóa Do đó việc cung cấp thông tin làrất quan trong cần có sự tham gia của chính phủ Nếu vẫn tồn tại dưới hình thức chính phủkhông có sự trợ giúp của công nghệ hiện đại thì chính phủ sẽ gặp khó khăn trong việc cungcấp thông tin Chính phủ điện tử ra đời dễ dàng đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa bằng cách

áp dụng công nghệ hiện đại

3 Phân tích các tiêu chí của chính phủ điện tử

- Định hướng công dân và dễ dùng

- Có tinh thần trách nhiệm, một cửa và định hướng kết quả

- Nhiều khả năng truy nhập: Người dân có thể truy nhập vào các mạng dịch vụ chính phủbằng nhiều cách (ở nhà, ở công sở, ở trường học, ở nơi công cộng v.v )

- Tính cộng tác: CPĐT phải được thiết kế, xây dựng và triển khai trên cơ sở hợp tác phốihợp giữa Chính phủ và cá nhân công dân

Trang 5

- Tính đổi mới: CPĐT không chỉ thuần tuý là ứng dụng công nghệ mới, là Web site hayviệc chuyển giao các dịch vụ trên mạng, mà còn tính đến việc cải tiến quy trình công tác và

tổ chức bộ máy

- Chi phí hợp lý: Giảm được chi phí cho bộ máy Chính phủ

- An toàn và tôn trọng riêng tư

Những vấn đề nêu trên là nói về thực thể một CPĐT (ứng với từ tiếng Anh là Government) Bàn về xây dựng CPĐT, nhiều hội nghị quốc tế và một số quốc gia còn đưa ramột khái niệm đứng trước các khái niệm về CPĐT nêu trên, đó là vấn đề “cầm quyền điện tử,hay điều hành nhà nước điện tử " Khái niệm này được dịch từ tiếng Anh "E-Governance"

E-Từ Governance được nhiều tài liệu dịch là " Quản lý nhà nước", song vì từ "Quản lý" chúng

ta hay dùng đôi khi có nghĩa khác với vấn đề đang bàn, do vậy tôi xin tạm dùng từ "cầmquyền", hay "điều hành nhà nước"

Đi theo hướng này, chúng ta cần đề cập đến một số vấn đề, mà ở đây, xin chỉ nêu tên từngvấn đề :

- Phương pháp luận, kỹ thuật hay công nghệ điều hành nhà nước

- Điều hành nhà nước tốt trong mối quan hệ với thể chế và cấu trúc kinh tế xã hội

- Đổi mới cách điều hành, bao hàm quan hệ giữa CNTT, viễn thông với việc điều hànhnhà nước tốt

- Vai trò của Chính phủ trong việc chuyển đổi sang số hoá: Việc xây dựng một xã hội trithức

- Vai trò của Chính phủ trong việc nâng cao quyền hạn, vai trò của các cá thể, cộng đồng

và các tổ chức xã hội, như chúng ta thường nói: Nâng cao quyền làm chủ của nhân dân Giải quyết được các vấn đề trên, điều hành nhà nước điện tử được coi là một cơ hội đểchính phủ tự cải tiến đổi mới mình, gắn kết chặt chẽ hơn với người dân, với quyền lợi củacác nhóm dân cư, có thực tế hơn và vì sự phát triển của quốc gia

Điều hành nhà nước điện tử tạo ra một phong cách lãnh đạo mới, cách bàn luận và quyếtđịnh chiến lược mới, một phương thức mới trong giao dịch, trong cung cấp dịch vụ cho côngdân, trong đào tạo nguồn lực, trong việc lắng nghe nhân dân và trong việc tổ chức , cung cấpthông tin

Mục tiêu chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơquan nhà nước 2011-2015 (Quyết định 1605/QĐ-TTg) là: Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạtầng thông tin, tạo nền tảng phát triển chính phủ điện tử; cung cấp thông tin, dịch vụ côngtrực tuyến mức độ cao, trên diện rộng cho người dân và doanh nghiệp, làm cho hoạt độngcủa cơ quan nhà nước minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn

Cục Tin học thống kê tài chính cho biết, theo kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tincủa Chính phủ từ nay đến năm 2015 sẽ cung cấp trực tuyến từ mức độ 3 trở lên với hầu hếtcác dịch vụ công của Chính phủ cho người dân và doanh nghiệp Với dịch vụ liên quan đếnthuế bao gồm kê khai nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân, 50% hồ sơ khaithuế của người dân và doanh nghiệp được nộp qua mạng, 90% cơ quan hải quan các tỉnhthành phố triển khai thủ tục hải quan điện tử

Bộ Tài chính lại đưa ra mục tiêu cao hơn: 80% hồ sơ khai thuế của người dân và doanhnghiệp được nộp qua mạng, 70% các khoản nộp thuế được thực hiện dưới hình thức điện tử.90% thủ tục hải quan điện tử Tính đến ngày 31-5-2011 đã có hơn 23.000 doanh nghiệp đăng

ký kê khai điện tử và có hơn 18.000 doanh nghiệp đã thực hiện kê khai và tổng số tờ khaiđiện tử là 259,337 tờ khai

Vừa qua, theo Đề án 30, Chính phủ công bố cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính

ở 4 cấp chính quyền trên mạng internet để người dân có thể truy cập bất cứ đâu Thông qua

Trang 6

đó có thể thống kê truy cập và xử lý các thủ tục hành chính, đồng thời rà soát và xử lý các bấtcập đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ phía cơ quan chính quyền, người dân vàdoanh nghiệp

Để phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông giai đoạn 2011-2015,trước hết, chúng ta cần tiếp tục có sự ủng hộ chính trị cao với sự nghiệp xây dựng chính phủđiện tử Thứ hai, phải đẩy mạnh cải cách hành chính, gắn cải cách hành chính với phát triển

và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông Thứ ba, các Bộ ngành, địa phương cần chủđộng trong xây dựng chính quyền điện tử và chính phủ điện tử theo sự hướng dẫn của BộThông tin và Truyền thông, xây dựng các ứng dụng thật sự hữu ích và tiện lợi có học tập kinhnghiệm của các nước tiên tiến Thứ tư, Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin và BộThông tin và Truyền thông cần sâu sát, tháo gỡ các khó khăn, thúc đẩy các ứng dụng tại bộngành, địa phương; thực hiện các chính sách đặc thù phù hợp đơn vị để xã hội hóa xây dựng

và phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông

Câu 2: Thực trạng và các giải pháp xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay.

Trả Lời:

1 Khái niệm

Cho đến nay, đã có rất nhiều các tổ chức quốc tế đưa ra định nghĩa về chính phủ điện tử, cóthể kể đến một số định nghĩa bởi các tổ chức quốc tế mà đang được sử dụng phổ biến hiệnnay như:

- Định nghĩa của World Bank: “Chính phủ điện tử đề cập đến việc các cơ quan chínhphủ sử dụng các công nghệ thông tin (chẳng hạn như mạng diện rộng, mạng Internet và mạng

di động) mà có khả năng chuyển đổi mối quan hệ với công dân, doanh nghiệp và với các cơquan chính phủ khác Những công nghệ này có thể phục vụ cho những mục đích khác nhau:cung cấp các dịch vụ tốt hơn, cải thiện sự tương tác với doanh nghiệp, tăng cường quyền lựccho công dân thông qua việc truy cập thông tin hoặc quản lý chính phủ hiệu quả hơn Các lợiích mang lại có thể giảm tham nhũng, nâng cao sự minh bạch, thuận tiện hơn, tăng doanh thuvà/hoặc giảm chi phí”

- Định nghĩa của Liên Hợp quốc: “Chính phủ điện tử được định nghĩa là việc sử dụngInternet và mạng toàn cầu (world-wide-web) để cung cấp thông tin và các dịch vụ của chínhphủ tới công dân”

- Định nghĩa của Nhóm nghiên cứu về chính phủ điện tử trong một thế giới phát triển:

“Chính phủ điện tử là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thúc đẩy chínhphủ một cách hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ truy cập tới các dịch vụ của chính phủ, cho phéptruy cập nhiều hơn vào thông tin và làm cho chính phủ có trách nhiệm với công dân Chínhphủ điện tử có thể bao gồm việc cung cấp các dịch vụ qua Internet, điện thoại, các trung tâmcộng đồng, các thiết bị không dây hoặc các hệ thống liên lạc khác”

Qua một số các định nghĩa về chính phủ điện tử kể trên, có thấy được một số các điểmchung nhất Đó là, chính phủ điện tử bao gồm việc sử dụng công nghệ thông tin và đặc biệt làInternet, để cải thiện việc cung cấp dịch vụ của chính phủ tới công đân, doanh nghiệp và các

cơ quan nhà nước khác Chính phủ điện tử cho phép công dân tương tác và nhận dịch vụ từchính phủ liên bang, bang và địa phương 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần Qua nghiêncứu một số các tài liệu về chính phủ điện tử, nhóm nghiên cứu nhận thấy định nghĩa về chínhphủ điện tử của World Bank thường được các quốc gia tham chiếu đến khi định nghĩa vềchính phủ điện tử

Trang 7

Tại Việt Nam, mặc dù chính phủ điện tử thường được nhắc đến trong các hội nghị, hộithảo, báo cáo nghiên cứu khoa học nhưng một định nghĩa cụ thể, rõ ràng về chính phủ điện tửvẫn chưa được pháp điển hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật Nhóm nghiên cứu tìmhiểu được một giải thích về chính phủ điện tử trong cuốn “Thuật ngữ hành chính” do ViệnNghiên cứu hành chính – Học viện Hành chính quốc gia xuất bản Theo đó, chính phủ điện

tử là thuật ngữ chỉ “Sự hoạt động liên thông của cả hệ thống các cơ quan trong bộ máy hànhchính nhà nước có ứng dụng một cách có hiệu quả những thành tựu của khoa học, công nghệthông tin điện tử để bảo đảm việc chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhànước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và cung ứng đầy đủ, khẩn trương các thông tincho tất cả mọi tổ chức, cá nhân thông qua các phương tiện thông tin điện tử” Theo nhómnghiên cứu đánh giá thì chính phủ điện tử của Việt Nam trong thời gian hiện tại đang tậptrung nhiều về phía ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, có

sự kết hợp chặt chẽ với cải cách hành chính và phát triển thương mại điện tử

2 Thực trạng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay

- Cụ thể, 70% bộ ngành có website riêng, 80% cơ quan hành chính có trang tin điện tử,trên 60% cơ quan nhà nước cấp tỉnh có mạng LAN, trên 90% có internet Đặc biệt, nhậnthức của các lãnh đạo về chính phủ điện tử đã có những chuyển biến vô cùng tích cực.Ngành công nghệ thông tin - truyền thông Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng trung bình20-25%/năm, gấp 3 lần mức tăng trưởng của GDP Tình hình phát triển và ứng dụng côngnghệ thông tin - truyền thông của Việt Nam ngày càng phát triển 100% cơ quan nhà nước

có mạng máy tính; 15% hộ gia đình có máy tính cá nhân nối mạng internet; 62,5% gia đình

có điện thoại cố định, tỷ lệ điện thoại di động đạt 1,27 máy/người sử dụng Cả nước có trên94.000 dịch vụ công trực tuyến, trong đó có 775 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4dịch vụ công trực tuyến mức độ 4

- Hạ tầng kỹ thuật CNTT dần được hoàn thiện, tạo điều kiện triển khai ứng dụngCNTT; số lượng cán bộ, công chức được trang bị máy tính phục vụ công việc ngày càngtăng, đạt khoảng 90%; hệ thống mạng nội bộ (LAN) được triển khai tại tất cả các Bộ,ngành, địa phương; Mạng truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối các cơ quan nhà nước đếncấp quận, huyện

- Các ứng dụng CNTT nội bộ trong cơ quan nhà nước được triển khai mạnh mẽ, gần100% các cơ quan nhà nước đã trang bị hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thốngthư điện tử để trao đổi văn bản, điều hành qua mạng

- Tất cả các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương đã có cổng hoặc trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin và

dịch vụ công trực tuyến, hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 2;

ngày càng nhiều dịch vụ công trực tuyến mức 3 được các cơ quan nhà nước cung cấp

- Một số hệ thống thông tin chuyên ngành đã được triển khai và phát huy hiệu quả nổibật, góp phần phát triển kinh tế, tiêu biểu như các hệ thống thuế, hải quan điện tử

2.2 Mặt yếu

- Các ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa kết

Trang 8

nối, chia sẻ thông tin trên diện rộng.

- Các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao cung cấp cho người dân và doanhnghiệp còn chưa nhiều

- Các hệ thống thông tin chuyên ngành quy mô quốc gia, tạo nền tảng phát triểnCPĐT chậm được triển khai Các hệ thống đã được xây dựng còn thiếu kết nối, chia sẻ, traođổi thông tin

- Việc đầu tư CNTT còn chưa được đồng bộ, nhiều khi có sự trùng lặp giữa các cơquan nhà nước, giữa các cấp

3 Các giải pháp xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay

Để xây dựng thành công chính phủ điện tử ở việt nam cần phải thực đồng bộ các giảipháp sau:

3.1.Nâng cao nhận thức và thay đổ cách nghĩ về chính phủ điện tử.

Trước tiên là nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương.Đây là công việc có tầm quan trọng vì đây là cấp có vai trò quyết định Một khi các cấp lãnhđạo trung ương nhận thức đầy đủ về vai trò và tác dụng của chính phủ điện tử và có ý kiếnchỉ đạo cụ thể về vấn đề này thì việc xây dựng chương trình kế hoạch phát triển chính phủđiện tử sẽ thuận lợi hơn

Nâng cao nhận thức của cán bộ công chức Đây là bộ phận trực tiếp thực hiện cácchương trình ứng dụng phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính do vậy nhận thức của các

bộ, công chức tốt sẽ tạo điều kiện để cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn nóichung cũng như trình độ tin học nói riêng, tránh lãng phí tài sản quốc gia khi thực hiện các

dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý hành chính

Nâng cao nhận thức của người dân, các doanh nhiệp và các tổ chức, bằng việc tuyêntruyền, phổ biến giúp họ hiểu về thế nào là chính phủ điện tử và những tiện ích mà chính phủđiện tử mang lại, khi đó mức độ nhận thực của người dân, các doanh nghiệp, tổ chức sẽ đượcnâng cao họ sẽ tự giác hơn trong việc học tập cũng như nâng cao trình độ tin học của bảnthân khi đó việc xây dựng chính phủ điện tử sẽ thuận lợi hơn

3.2 Hình thành khung pháp lý chung về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong

quảng lý hành chính nhà nước.

Đây là việc cần thiết vì xây dựng chính phủ điện tử là một chương trình quốc gia, sửdụng nguồn lực quốc gia và để thành công thì bắt buộc phải có sự tham gia của các cơ quancủa chính phủ do vậy phải có môt khung pháp lý chung nhằm định hướng cho các cơ quancủa chính phủ xây dựng và thực hiện đồng bộ Cơ sở pháp lý để xây dựng và triển khai cácứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông không đầy đủ dẫn đến tình trạng lúng túng,không rõ phương hướng phát triển, nhiều hệ thống thông tin sau khi được tin học hoá xonglại không được sử dụng vì không đồng bộ với các quy chế, quy trình làm việc hiện hành

Ở nước ta với nghị định 64/2007/ND-CP và chỉ thị 43/2008/QĐ-TTg cùng với chủtrương chính sách của đảng và nhà nước và sự hưỡng dẫn đôn đốc của các cơ quan quản lýchuyên ngành việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước đã bắt đầu đạtđược một số thành công

Tuy nhiên thực tế hiện nay ta có thể thấy việc triển khai chính phủ điện tử chưa xácđịnh rõ ràng cơ quan cụ thể nào chịu trách nhiệm trong việc chỉ đạo theo một chương trìnhthống nhất Hiện nay, Văn phòng chính phủ, bộ bưu chính viễn thông và một số cơ quan kháccùng tham gia triển khai Việc có nhiều cơ quan tham gia triển khai và quản lý sẽ làm mọiviệc trở nên phức tạp đôi khi không thồng nhất khó thực hiện

Do vậy việc tạo lập khung pháp lý xác định rõ một hoặc hai cơ quan cùng tham giathực hiện, điều hành và chịu trách nhiệm về sự thành công và thất bại của chính phủ điện tử

Trang 9

là việc có ý nghĩa quan trọng, một khi đã xác định rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan tiếnhành, mọi công việc sẽ được tập trung về đầu mối khi đó sẽ dễ phát hiện được những vướngmắc khi thực hiện và kịp thời điều chỉnh, đồng thời có thể biết chính sác được tiến độ dự án

Xây dựng một đề án tổng thể thật cụ thể về chính phủ điện tử để trình các cơ quan cóthẩm quyền xem xét, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xây dựng chính phủ điện tử Bản đề ánphải thật chi tiết về các bước đi cũng như tiến trình thực hiện đề án, thời gian cũng nhưnguồn nhân vật lực tham gia vận hành dự án Các bước xây dựng mô hình chính phủ điện tửphải theo một quy trình Đầu tiên phải định nghĩa rõ tầm nhìn về chiến lược, sau đó phải đưa

ra thiết kế Kế tiếp là phải xây dựng hình mẫu triển khai và sau đó phải tiếp tục củng cố, cậpnhật Bởi tất cả các công nghệ đều thay đổi theo thời gian nên sau khi chúng ta kiểm tra phảitiếp tục duy trì nó nhưng bên cạnh đó cũng phải củng cố và có những thay đổi cần thiết trongquá trình áp dụng

Xác định nhiệm vụ rõ ràng, phân công phân cấp và phối hợp thực hiện giữa trungương và địa phương một cách đồng bộ, trung ương làm gì và địa phương phải làm những gìkhi xây dựng chính phủ điện tử Khi trung ương và địa phương xây dựng xong thì kết hợp lại

sẽ thành một chính phủ điện tử thống nhất từ trung ương đến địa phương Người dân vàdoanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận các dịch vụ hành chính công mà không gặp các trở ngạinhư khi thực hiện các giao dịch với các cơ quan hành chính

3.3 Gắn việc xây dựng chính phủ điện tử với cải cách thủ tục hành chính.

Hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ và chính quyền các cấp, giúpngười dân và doanh nghiệp làm việc với các cơ quan chính phủ được nhanh chóng, thuậntiện, tiếc kiệm và hiệu quả hơn

Chính phủ điện tử phải tính đến yêu cầu của người dân và các doanh nghiệp cũng nhưcác tổ chức xem họ cần gì, họ trông đợi gì ở chính phủ điện tử, một khi đã xác định được cácyêu cầu cụ thể, một nền hành chính phục vụ xem người dân như là khách hành và các cơquan hành chính là những người cung cấp dịch vụ, yêu cầu đối với người cung cấp dịch vụ làphải nhanh, thủ tục đơn giải và dễ thực hiện

Xây dựng chính phủ điện tử gắn với việc cải cách thủ tục hành chính là một công việckhó khăn phức tạp, hiện tại còn khoảng 6500 thủ tục hành chính có hiệu lực Một khi trungtâm cơ sở dữ liệu quốc gia được xây dựng thì trung tâm này xẽ rà soát và kiến nghị loại bỏbớt những thủ tục không phù hợp Trung tâm này sẽ tiến hành xây dựng các chương trìnhphần mềm ứng dụng để người dân, các doanh nghiệp và các tổ chức có thể dễ dàng khi tiếpcân và thực hiện các thủ tục, đảm bảo được các yếu tố nhanh, hiệu quả Khi đó mục tiêu xâydựng chính phủ điện tử gắn với các cách thủ tục hành chính sẽ được thực hiện một cách hiệuquả

3.4 Hạ tầng kỹ thuật và công nghệ cho chính phủ điện tử và tài chính đầu tư cho chính

phủ điện tử.

Đây là hai vấn đề quan trọng đối với việc xây dựng chính phủ điện tử Muốn xây dựngđược hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thì phải có tài chính đầu tư vấn đề này có thể giải quyếtbằng nguồn vốn ODA hoặc lấy từ ngân sách nhà nước Tuy nhiên, để đảm bảo nguồn vốnmày được sử dụng hiệu quả thì phải có kế hoạch về việc phân bổ kinh phí và giải ngân, tránhthất thoát, lãng phí trong quá trình triển khai dự án

Còn đối với hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thì chúng ta có thể xây dựng, nhập khẩuhoặc kêu gọi đầu tư Xây dựng mạng truyền số liệu chuyên dung và hạ tầng viễn thông –Internet phục vụ cho chính phủ điện tử, trước đây khi thực hiện đề án 112 hạ tầng kỹ thuật tinhọc của các bộ và các tỉnh đã được đầu tư khá đáng kể như mạng LAN hay máy tính, chúng

ta có thể tận dụng những thiết bị còn có thể sử dụng được đồng thời xây dựng kết cấu hạ tầng

Trang 10

mới phù hợp với trình độ công nghệ trên thế giới chính phủ phải hỗ trợ người dân đến mứctối đa như: triển khai hạ tầng, nối mạng đến tận người dân, thiết bị giá rẻ, dự án phổ cập tinhọc Như vậy mới có thể tạo ra được nền tảng để phát triển chính phủ điện tử và hướng tớimột xã hội thông tin

3.5 Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

Để xây dựng thành công CPĐT thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ hiểu rõ tầm quan trọngcủa CPĐT và biết cách ứng dựng CPĐT vào giải quyết công việc hàng ngày là nhân tố quantrọng hàng đầu Cần phải có chính sách khuyến khích, đãi ngộ về điều kiện làm việc cho cán

bộ hoạt động chuyên trách về công nghệ thông tin, đào tạo Giám đốc chuyên nghiệp về côngnghệ thông tin, đào tạo cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin và xây dựng các tiêu chuẩnngành nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế Nâng cao trình độ dân trí, phổ cập tin học cho người dân,đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cùng với đó, tăng cường triểnkhai nội dung giảng dạy môn tin học ứng dụng vào hệ thống giáo dục quốc dân, phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin và truyền thông Theo đó, đến năm

2015, 100% học sinh trung học cơ sở và 80% học sinh tiểu học được học vi tính; 100% họcsinh trung cấp chuyên nghiệp và học nghề được đào tạo kiến thức ứng dụng công nghệ thôngtin, 30% cử nhân công nghệ thông tin, viễn thông có đủ trình độ chuyên môn và ngoại ngữtham gia thị trường lao động quốc tế; 100% giảng viên đại học, cao đẳng có máy tính Đếnnăm 2020, chúng ta phải có 70% lao động trong doanh nghiệp sử dụng tốt công nghệ thôngtin; 90% giảng viên đại học, 75% giáo viên cao đẳng ngành công nghệ thông tin có trình độthạc sĩ và 30% giảng viên đại học ngành công nghệ thông tin có trình độ tiến sĩ

Câu 3: Thực trạng đạo đức công vụ và các giải pháp nâng cao đạo đức cán bộ, công

chức ở địa phương hoặc đơn vị công tác hiện nay

Trả Lời:

1 Khái niệm về đạo đức công vụ

Đạo đức công vụ là những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng chonhững đối tượng cụ thể - công chức trong lĩnh vực hoạt động công vụ Đạo đức công vụ củacông vụ công chức thể hiện ở lương tâm và trách nhiệm của họ đối với lợi ích chung và lợiích của người khác, ý thức rõ về cái cần phải làm và mong muốn được làm vì những lợi íchđó

Đạo đức công vụ, một khái niệm không mới Tuy nhiên, nội dung của nó là gì, đâu làchuẩn mực, cơ quan nào đánh giá và giám sát lại là những câu hỏi bỏ ngỏ Do vậy, phảichăng các chuẩn mực đạo đức công vụ chỉ gói gọn trong các khuynh hướng trau dồi một

số phẩm chất và những quy tắc của văn hóa giao tiếp

Trong nền công vụ, những giá trị đạo đức của cán bộ, công chức có thể cần bao gồm:Trung thực và tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt; Biết giải quyết những tình huống xung đột;Hoàn thành trách nhiệm công vụ và tuân thủ quy chế công sở; Đủ khả năng xác định chínhsách nhà nước và công vụ; Biết hiệp đồng và không chấp nhận tiêu cực xã hội

Từ phương diện khác, có thể coi cán bộ, công chức là có đạo đức, khi có những phẩmchất sau đây: Công dân tính; Đứng đắn; Có lương tâm; Chuyên nghiệp; Tinh thần tráchnhiệm; Tích cực xã hội

2 Thực trạng đạo đức công vụ đạo đức cán bộ, công chức ở Hà Nam

Vấn đề đạo đức và trách nhiệm công chức là một vấn đề mà Đảng và Nhà nước rất quantâm, vì vậy, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TW ngày 14/5/2011 về việc tiếp tụcđẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chính phủ đãban hành Chỉ thị 1973/CT-TTg ngày 07/11/2011, về việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm

Trang 11

theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, qua đó đã quán triệt và tổ chức thực hiện thườngxuyên, nghiêm túc việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tạo sự chuyểnbiến mạnh mẽ, sâu rộng trong việc tu dưỡng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng; nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu củaĐảng, chống suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, công chức, viên chức là nhiệm vụquan trọng của công tác xây dựng Đảng và xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩahiện nay.

3.1 Thực trạng vấn đề đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức hiện nay

Theo thống kê của Sở Nội vụ, tổng số cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh là20.151 người, trong đó Cán bộ, công chức khối Đảng là 962 người, khối Nhà nước là 2168người; viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập là 14.119 người, cán bộ, công chức cấp

xã là 1.497, cán bộ bán chuyên trách cấp xã 1.405 người

Nhìn chung số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã cơ bản đápứng được các yêu cầu nhiệm vụ Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tham gia công tácquản lý, lãnh đạo các cấp phát huy tốt vai trò và khả năng của mình, không ngừng nâng caohiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành, góp phần quan trọng vào sự đổi mới hoạt động của hệthống chính trị

Đa phần cán bộ, công chức viên chức của tỉnh đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ dặt ra,

có tinh thần trách nhiệm trong công việc, giữ vững đạo đức, phẩm chất cách mạng, có ý thức

tổ chức kỷ luật và chấp hành sự phân công của tổ chức, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn

bó với nhân dân và góp to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh ta trong thời kỳhội nhập nền kinh tế của đất nước với nền kinh tế của thế giới

Trong tình hình hiện nay, tỉnh đang có nhiều chuyển biến phát triển hội nhập nền kinh tếquốc tế, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, xã hội ngày càng phát triển đã ảnhhưởng tích cực và tiêu cực về nhiều mặt đến lực lượng cán bộ, công chức, viên chức, tạo sựchuyển biến lớn về tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, công chức, viên chức do vậy đã cómột bộ phận cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái, thiếu gương mẫu về đạođức và lối sống

Có thể thấy những việc liên quan sai phạm về đạo đức của cán bộ, công chức, viênchức trong giai đoạn hiện nay xuất hiện chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như: đất đai,xây dựng, công an, kiểm lâm, y tế, giao thông Trong đó, có nhiều vụ việc cán bộ, côngchức, viên chức vi phạm đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp gây hậu quả nghiêmtrọng, như một số viên chức ngành y tế lợi dụng vị trí việc làm vi phạm pháp luật, viphạm đạo đức nghề nghiệp, xâm phạm nhân phẩm, danh dự và thể xác của người khác;một số cán bộ dự án "rút ruột" công trình xây dựng; một số công chức, viên chức thanh tragiao thông, công an giao thông nhận tiền “mãi lộ” của lái xe và doanh nghiệp; một sốcông chức địa chính cố ý sai phạm để trục lợi cá nhân; có cán bộ làm công tác đền bù, giảitỏa thiếu quản lý, tắc trách để cấp dưới gây ra những sai phạm gây nhiều dư luận, bức xúccho người dân; thậm chí công chức làm công tác văn thư, lưu trữ của cơ quan chuyên mônthuộc UBND tỉnh cũng hách dịch, rề rà, gây khó dễ cho các cá nhân đến liên hệ công tác Bên cạnh đó, tình trạng cán bộ, công chức, viên chức bớt xén thời gian làm việc, đùn đẩytrách nhiệm, giải quyết công việc sai quy định, hướng dẫn, giải thích công việc cho ngườidân một cách lòng vòng, khó hiểu, thái độ làm việc hời hợt, thiếu nhiệt tình và thiếu hẳntính thân thiện hoặc thiếu nhiệt tình trong việc tiếp công dân

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh tăng cường công tác cải cáchthủ tục hành chính, giảm bớt thủ tục và thành phần hồ sơ, đây là một chủ trương, chính sáchđược nhân dân đồng tình ủng hộ, hoan nghênh Qua đó các cơ quan, đơn vị đã tiến hành thực

Trang 12

hiện nghiêm túc, bước đầu đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên qua một thời gian đã bắt đầu xuấthiện sự nhũng nhiễu của một số cán bộ, công chức, viên chức, bắt đầu có việc yêu cầu bổsung thêm một số thành phần hồ sơ không có trong thủ tục hành chính, công tác tiếp côngdân bị lơ là, hình thức; công chức làm công tác địa chính hướng dẫn không đầy đủ, nhiều lần

và có hiện tượng vòi vĩnh, ngâm hồ sơ nhằm mục đích vụ lợi

Sinh thời Hồ Chủ tịch đã nói: "Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân", tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều cán bộ, công chức, viên chức giải quyết

công việc cho dân, thậm chí cho cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vịkhác theo kiểu "ban ơn, làm phúc” chưa thực sự đúng nghĩa là “công bộc” của dân, chưađúng nghĩa là quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ mà còn đặt nặng tínhthủ tục, nguyên tắc cứng nhắc, thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng

Trong việc thực hiện nhiệm vụ, công tác tiếp xúc, tiếp nhận hồ sơ giải quyết công việccho nhân dân, một số cán bộ, công chức, viên chức tỏ rõ thái độ hách dịch, nhũng nhiễu khigiải quyết công việc, gợi ý, vòi vĩnh trong khi thực hiện nhiệm vụ

Còn hiện tượng đùn đẩy, né tránh trách công việc, chưa thường xuyên học tập bồi dưỡng,nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác hạn chế; một số đơn vị, tình trạng mất đoànkết nội bộ vẫn còn xảy ra, có biểu hiện cục bộ, kèn cựa địa vị, ganh tị, bè phái, lợi ích nhóm,trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn không phối hợp với nhau, làm việc theo kiểu “mạnh ainấy làm” dẫn đến hiệu quả công việc không cao

Trong khi đó việc nhận xét đánh giá cán bộ, công chức, viên chức cuối năm các cơ quan,đơn vị thực hiện chưa nghiêm túc, vẫn còn mang tính hình thức, đánh giá chung chung và cảnể; công tác thực hiện chế độ báo cáo không trung thực, bao che cho những cán bộ, côngchức, viên chức vi phạm

Như theo thống kê báo cáo của các cơ quan, đơn vị năm 2014, về tình hình đánh giá côngchức cuối năm tỉ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp huyện, tỉnh là2,31%, hoàn thành tốt nhiệm vụ là 73,39%, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về nănglực là 24,31% Đối với cấp xã tỉ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là 6,1%, hoàn thành tốtnhiệm vụ là 63,62%, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực là 30,26% Không

có cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ

Tuy nhiên trên thực tế dựa trên việc theo dõi, quản lý về cán bộ, công chức của Sở Nội

vụ, số cán bộ, công chức cấp tỉnh, huyện không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỉ lệ 3,2% Sốcán bộ, công chức cấp xã không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỉ lệ 4,1%

Như vậy, trên thực tế cán bộ, công chức, viên chức có vi phạm kỷ luật và bị xử lý kỷ luật,tuy nhiên công tác đánh giá cuối năm các cơ quan, đơn vị vẫn đánh giá cán bộ, công chức, viênchức hoàn thành hoặc hoàn thành tốt nhiệm vụ, ở một số đơn vị thủ trưởng đơn vị bị xử lý kỷluật nhưng khi báo cáo lên cấp trên cơ quan, đơn vị không báo cáo, do đó đã ảnh hưởng đếncông tác thống kê báo cáo chung

Việc vi phạm đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức đã gây ra những hậuquả khó lường cho bản thân và nhân dân, trong đó chính người dân là người phải gánhchịu những nhũng nhiễu, hách dịch, gợi ý vụ lợi những điều đó đã gây nên sự bất bìnhcủa nhân dân, tạo dư luận không tốt

3.2 Nguyên nhân

Nguyên nhân sự trì trệ, sách nhiễu, cửa quyền, suy thoái đạo đức ở một bộ phận cán bộ,công chức, viên chức trong bộ máy hành chính ở tỉnh ta chủ yếu tập trung vào một số nguyênnhân sau:

Việc triển khai Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước của các cơquan, đơn vị còn chậm, thiếu quyết liệt nên hiệu quả chưa cao

Trang 13

Một số nơi người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thật sự gương mẫu trongvấn đề đạo đức lối sống và trách nhiệm trong công việc nên đã tác động tiêu cực đến tưtưởng của cấp dưới trong thực thi nhiệm vụ.

Năng lực, đạo đức của nhiều cán bộ, công chức, viên chức còn rất hạn chế, chưa đáp ứngđược yêu cầu trong công tác quản lý nhà nước Một sốcán bộ, công chức, viên chức có nănglực công tác nhưng phẩm chất đạo đức còn hạn chế trong việc thực hiện nhiêm vụ, công vụgây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của bộ máy công quyền

Các cơ quan, đơn vị chưa có sự quan tâm đúng mức đối với việc giáo dục tinh thần tráchnhiệm, cũng như việc xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp vi phạm đạo đức công vụ chưanghiêm nên chưa thật sự có tính răn đe, làm gương

Thiếu những quy định cụ thể trong các đơn vị về trách nhiệm của cán bộ, công chức; cơchế quản lý, kiểm tra giám sát của tổ chức và thủ trưởng trực tiếp cũng như của nhân dân đốivới hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế, chưa thường xuyên, chưanghiêm túc và thiếu đồng bộ

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa thường xuyên, và còn mang tínhhình thức Nhiều cán bộ, công chức, viên chức thiếu nghiêm khắc với bản thân, khôngthường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức

4 Các giải pháp nâng cao đạo đức cán bộ, công chức ở Hà Nam

Để nâng cao đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan,đơn vị trên địa bàn tỉnh Hà Nam, cần thực hiện một số giải pháp sau:

- Tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống đối với cán bộ, côngchức, viên chức kịp thời chỉnh đốn, uốn nắn những lệch lạc trong tư tưởng, đạo đức và hànhđộng của cán bộ, công chức; nâng cao vai trò, trách nhiệm và tính gương mẫu của ngườiđứng đầu cơ quan, đơn vị

- Triển khai thực hiện tốt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2011 – 2020 theo Nghị quyết số 30c /NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ Trong đó cầntập trung quyết liệt cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát về đạo đức công vụ đảm bảo tính khách quan, công bằng,đồng thời đưa ra hình thức xử lý trách nhiệm nghiêm khắc và phù hợp

- Khi xem xét, đề bạt, bố trí cán bộ cần làm rõ những dư luận không tốt liên quan đến cán

bộ, công chức, viên chức trước khi quyết định

- Phát huy vai trò của Mặt trận trong công tác phản biện xã hội

- Nghiêm khắc trong việc giới thiệu để đua ra xét kỷ luật đối với người đứng đầu cơquan, đơn vị, địa phương chưa thật sự gương mẫu trong vấn đề đạo đức, lối sống và tráchnhiệm trong việc để ảnh hưởng đến cơ quan, đơn vị

- Xây dựng và hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướngcông khai, dân chủ, có sự tham gia của dư luận xã hội và công dân

- Cải cách hệ thống tiền lương nâng cao chất lượng cuộc sống cho cán bộ, công chức, đểcán bộ, công chức, viên chức đảm bảo các điều kiện thiết yếu và nhu cầu cơ bản cho cuộcsống bản thân và gia đình; xây dựng các chế độ, chính sách khen thưởng thích đáng về vậtchất và tinh thần đối với cán bộ, công chức, viên chức làm việc tốt, tận tụy và trong sạch

- Xử lý nghiêm, kịp thời và công bằng những sai phạm của cán bộ, công chức, viên chứcnhằm giáo dục và chấn chỉnh cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời củng cố niềm tin củanhân dân vào Nhà nước và pháp luật

Trang 14

- Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chứcnăng phát huy dân chủ, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng và giám sát hoạt độngcủa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan nhà nước.

- Nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị, xây dựng đạo đức lối sống lành mạnh, đấu tranh,ngăn chặn đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống

Câu 4: Thực trạng và các giải pháp xây dựng, hoàn thiện văn hóa công sở ở Việt Nam

2 Thực trạng văn hóa công sở ở Việt Nam hiện nay.

Nói đến thực trạng thì ai cũng biết trong cơ quan hành chính, thực trạng về văn hóa công

sở tại các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay:

2.1 Ứng xử nơi công sở

Công sở là nơi công dân, các cơ quan hữu quan, bạn đồng nghiệp trong ngành… đến liên

hệ, công tác Vì vậy, cán bộ, công chức làm việc ở đây cần có những ứng xử văn minh, thanhlịch trong giao tiếp Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở một số công sở, chúng ta vẫn bắt gặpnhững cách ứng xử thiếu thanh lịch

Ăn nói, giao tiếp cũng là một biểu hiện văn hóa nơi công sở, nhưng xung quanh việc nàyvẫn còn nhiều điều đáng bàn Là cơ quan công quyền nhưng một số người vẫn mang nặng tưduy cửa quyền khi tiếp xúc với dân Vì thế, không ít nơi, chúng ta vẫn phải nghe những câuhỏi thiếu chủ ngữ, kiểu như: “Cần gì?”, “Đi đâu?”, “Gặp ai?” hoặc bắt gặp những khuôn mặtcau có, thái độ hách dịch, lạnh lùng

Xưng hô nơi công sở là biểu hiện văn hóa Trong thời kỳ mở cửa, cùng với hội nhập vàphát triển kinh tế, các luồng văn hóa nước ngoài cũng theo đó mà vào Có nhiều luồng giómát nhưng cũng không ít luồng gió độc Làm sao điều chỉnh những hành vi ứng xử để bảotồn văn hóa mà vẫn du nhập được văn minh, tiến bộ nhân loại? Điều này hết sức khó Nó đòihỏi mọi thành viên trong xã hội phải biết tự mình điều chỉnh quan điểm hành vi ứng xử saocho phù hợp

2.2 Thái độ và cách làm việc trong công sở

Thực trạng văn hóa công sở trong thái độ làm việc, cách làm việc và mọi cử chỉ của các

cơ quan trong công việc vẫn còn thấp kém, không có sự chủ động, nghiêm túc trong giờ làm

và trong mọi công việc không được xử lý tốt

Môi trường công sở ở một số cơ quan Nhà nước hiện nay đã tạo cho người ta nhiềukhoảng thời gian ngồi chơi xơi nước dẫn đến tình trạng "buôn chuyện”, dòm ngó chức vụ tạo

bè, kéo cánh để tranh ghế, tranh chức và cuốn hút người lao động vào vòng xoáy của quyềnlực mà quên đi cả nhiệm vụ chuyên môn của mình

Ở nhiều nơi vẫn xảy ra tình trạng khách cứ phải chờ đợi lâu, còn cán bộ đang bận… trànước, tán gẫu Có cơ quan, còn nửa tiếng mới hết giờ làm việc, nhưng khi có khách đến liên

hệ công việc, cán bộ tiếp dân đã trả lời là hết giờ nhận giấy tờ, mai quay lại Thái độ tuỳ tiệnthiếu trách nhiệm này làm ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh các “công bộc” của dân

Lại có những cá nhân lấy cớ vì hiệu quả chung của công việc mà cố tình không thừa nhậnnăng lực, làm khó dễ cho những thành viên khác

Trang 15

Trong khi đó, đáng lẽ ra trên cương vị của mình, họ phải là người dẫn dắt những người đisau, chỉ bảo và giúp họ tiến bộ, trưởng thành hơn trong từng công việc được giao.

2.3 Thời gian đi làm chưa được cải thiện

Nói người đi làm trễ giờ là người “lười” cũng không hoàn toàn đúng, bởi có người rấtchăm chỉ đôi khi vì một lý do đột xuất nào đó mà đi làm trễ giờ, tất nhiên không phải thườngxuyên Nhưng hiện tượng đi muộn về sớm trong đội ngũ cán bộ công chức của ta hiện naycũng không hiếm với nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như bận việc riêng, hư xe hay rẽ vàođâu đó để bàn “công chuyện" chẳng ai kiểm soát được lý do ấy chính đáng hay không màhoàn toàn dựa vào sự tự giác

Ở một số nước người ta dùng máy quét để quản lý giờ làm việc của công chức Còn khikhông có máy quét thì ta quản lý bằng các biện pháp giáo dục nâng cao ý thức tự giác củamỗi người Tấm gương về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh đã học rồi, bây giờ đến giaiđoạn mỗi cơ quan, mỗi đơn vị, mỗi cá nhân tổ chức chương trình hành động làm theo gươngBác Thiết nghĩ xây dựng một quy chế làm việc trong công sở, từ giờ giấc đến thái độ laođộng, từ trang phục đến lời ăn tiếng nói, sao cho văn minh và hiện đại, lịch sự và hiệu quả,cũng là một việc làm thiết thực và giàu ý nghĩa

2.4 Trách nhiệm đối với công việc

Tình trạng nhiều cán bộ, công chức còn chưa nghiêm túc trong giờ làm việc, thiếu tráchnhiệm vào việc mình làm Nhiều cán bộ, công chức vẫn uống rượu, bia vào buổi sáng, buổitrưa tại những cơ quan làm việc

Nhưng điều cần phải chống và chống một cách quyết liệt là thái độ thờ ơ, thiếu tinh thầntrách nhiệm đối với công việc mà mình được giao Có cơ quan cán bộ, nhân viên đến sở rồimới rủ nhau đi ăn sáng, ngồi trước máy vi tính nhưng là để chơi games hay facebook, đến cơquan không để làm việc mà để tán gẫu, bàn tán việc riêng

3 Các giải pháp xây dựng, hoàn thiện văn hóa công sở ở Việt Nam hiện nay.

3.1 Thống nhất nhận thức về văn hóa công sở

Để thống nhất nhận thức về văn hóa công sở làm cơ sở cho sự thống nhất hành độngxây dựng và hoàn thiện văn hóa công sở, có thể có nhiều lựa chọn Thí dụ như xây dựngquy chế văn hóa công sở Ngoài ra, cần có tủ sách về văn hóa tổ chức nói chung, văn hóacông sở nói riêng Cũng có thể cung cấp các tài liệu có liên quan cho cá nhân đọc, sau đóthảo luận nhóm để tăng cường chia sẻ và thống nhất ý kiến

Xây dựng và hoàn thiện văn hóa công sở tích cực cần đến các chế tài chính thức Ở cấp

độ quốc gia hay nền công vụ, một trong những văn bản có hiệu lực cao là Quy chế văn hóacông sở trong các cơ quan hành chính nhà nước do Chính phủ ban hành - là cơ sở cho sựthống nhất với chủ trương chung của Chính phủ

Quy chế đó cần được cụ thế hóa thành các quy tắc xử sự cho các tổ chức thành viêncủa nền công vụ - các công sở

3.2 Đảm bảo các nguyên tắc điều hành

+ Việc điều hành phải đảm bảo xây dựng và củng cố quyền lực và uy tín

+ Điều hành đảm bảo đúng quy trình thủ tục

+ Đảm bảo hài hòa nhiệm vụ và lợi ích trong phân công công việc

3.3 Tôn vinh hiểu biết liên quan đến mục tiêu xây dựng tổ chức có tính học hỏi

Học hỏi, nhất là học hỏi từ sai lầm là một điều không dễ dàng Chúng ta luôn gặp khókhăn khi phải tự đối diện những thất bại của mình và điều đó cũng tương tự khi bị ngườikhác tạo ra áp lực đó Tuy nhiên, có thể làm được điều đó nếu chúng ta cùng làm vớinhau Theo đó, sai lầm là một phần trải nghiệm, một phần “tài sản” của tổ chức mà tổchức phải trả giá Chúng ta không muốn phải trả giá cho những sai lầm, vì những sai lầm,

Trang 16

nhưng khi sai lầm đã xảy ra mà không được phân tích và rút kinh nghiệm, chúng ta tiếptục phải trả giá và đương nhiên, giá sau cao hơn giá trước.

Các nhà lãnh đạo, nhà quản lý có thể tạo dựng tổ chức của mình thành tổ chức học hỏinếu họ:

+ Có các quy trình thủ tục làm việc rõ ràng và được điều chỉnh khi cần thiết;

+ Thiết lập các kênh cần thiết cho chia sẻ và lưu truyền thông tin;

+ Đánh giá, thưởng phạt phân minh trên cơ sở kết quả thực thi;

+ Dũng cảm nhận lỗi và trách nhiệm cá nhân;

3.4 Tổ chức hiệu quả các phong trào

Thay đổi nền hành chính bằng con đường văn hóa tổ chức là một sự lựa chọn, nhưtrên đã nói Con đường văn hóa tổ chức lại chỉ ra rằng, không thể áp đặt mà tạo rađược kết quả như mong muốn Văn hóa không phải là thứ có thể “đập bỏ để xây mới”

mà chỉ có thế nhen nhóm, gieo cấy “văn hóa” để có kết quả Đó là quản lý quá trìnhthay đổi một cách đặc biệt Con đường văn hóa là con đường thẩm thấu, vì vậy, cácthay đổi hay định hướng giá trị có thể bắt đầu một cách khôn ngoan bằng các sự kiện

+ Các hoạt động vì cộng đồng, từ thiện như quyên góp, chăm sóc Bà mẹ Việt Namanh hùng, những bệnh nhân nghèo

+ Tổ chức lao động công ích như: tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh, an toàn khuvực (tham gia điều khiển giao thông thường ngày hay trong các dịp lễ lớn, )

+ Duy trì một lối sống lành mạnh, không bon chen, không đố kị Lấy chân - thiện - mỹlàm giá trị gốc để cá nhân và cơ quan theo đuổi

Từ thực trạng văn hóa công sở trên địa bàn tỉnh đến nay cho thấy, nhận thức về văn hóacông sở của các ngành, các cấp, các địa phương nhìn chung chưa đầy đủ, một số cơ quan,đơn vị chưa thấy được mối liên hệ qua lại giữa trình độ văn hóa công sở với hiệu quả, năngsuất của công việc tại công sở Cần phải nhìn nhận rằng, chúng ta còn thiếu các quy địnhchuẩn mực về văn hóa công sở và các chế tài xử lý vi phạm, thiếu đào tạo, bồi dưỡng về vănhóa công sở Điều đó đã dẫn đến hiệu quả công việc của các cơ quan hành chính Nhà nướcthấp, cản trở quá trình hội nhập

Thực tế cho thấy, nơi nào cán bộ công nhân viên chức càng gương mẫu, thực hiện tốt quychế văn hóa công sở, nơi đó càng có sự đoàn kết, thống nhất nội bộ cao, chất lượng, hiệu quảcông việc tốt hơn, nhiệm vụ chính trị luôn đảm bảo, thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch đề ra.Chính điều này đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của công tác cải cách hành chính,đồng thời nhận được sự đồng tình cao của quần chúng nhân dân

Ngoài ra, để tạo môi trường văn hóa tốt trong công sở, vấn đề quan trọng là người đứngđầu một cơ quan phải tạo được cơ chế tốt để các nhân viên có điều kiện phát triển, một môitrường hòa đồng thân thiện có tính đoàn kết cao Và điều cốt lõi là người lãnh đạo cần giải

Trang 17

quyết tốt được bài toán về quyền lợi của mỗi thành viên trong cơ quan sao cho công bằng,phù hợp với năng lực làm việc và khả năng cống hiến của từng người

Câu 5: Tại sao phải tiến hành xã hội hóa dịch vụ công? Đánh giá kết quả xã hội hóa một

số dịch vụ công ở địa phương hiện nay và nêu các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Trả Lời:

1 Khái niệm

- Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của ngườidân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảmnhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm bảo đảm hiệu quả, ổnđịnh và công bằng xã hội

Quan niệm về dịch vụ công không phải là đã có sự thống nhất hoàn toàn, tuy nhiên cóthể chỉ ra một số nét cơ bản của dịch vụ công là:

- Đó là việc làm của Chính phủ, chính quyền, hoặc của tư nhân được Chính phủ ủynhiệm phục vụ cộng đồng, nhân dân;

- Vì lợi ích chung, thiết yếu;

- Không vì mục tiêu lợi nhuận

2 Tại sao phải tiến hành xã hội hóa dịch vụ công

Sự phát triển dịch vụ công là một tất yếu cả kinh tế và chính trị khi một quốc gia đãchuyển sang nền kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền Vì vậy, sự phát triển về lượng

và chất của dịch vụ công là một tiêu chí để đánh giá nền kinh tế thị trường và Nhà nước phápquyền Mức độ phát triển dịch vụ công phản ánh mức độ phát triển tính chất xã hội của kinh

tế thị trường, tính chất nhân dân của Nhà nước pháp quyền Nó khác hẳn tính chất bao cấpban ơn của Nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa, nhà nước hóa

Thời gian gần đây, thuật ngữ “xã hội hóa” trong cải cách dịch vụ công không chỉ được đềcập trong các văn bản mang tính chất định hướng của Đảng, Nhà nước, mà còn được sự quantâm khá đặc biệt từ phía các nhà nghiên cứu Thậm chí, nó đã không còn xa lạ với đa số ngườidân, mặc dù không hẳn ai cũng hiểu tường tận khái niệm này Liên quan đến công việc quản lýnhà nước, thuật ngữ này được sử dụng như một “giải pháp” cho cải cách việc cung ứng các dịch

vụ công ích gắn liền với một số lĩnh vực như công chứng, xã hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa, bảo

vệ môi trường… Theo cách này, vai trò cung ứng dịch vụ của các đối tượng sẽ có sự thay đổi:chuyển từ sự độc quyền của Nhà nước sang hướng mở rộng cung ứng các dịch vụ này ra ngoàikhu vực nhà nước nhằm tập hợp nguồn lực của xã hội để cùng thực hiện mục tiêu cải thiện chấtlượng cung ứng dịch vụ công Phá bỏ sự độc quyền, bao cấp của Nhà nước một mặt sẽ giảm tảiđược gánh nặng cho các cơ quan công quyền, mặt khác huy động được các nguồn lực trong xãhội Không chỉ vậy, xã hội hóa còn được hiểu là quá trình để mọi người được tham gia bình đẳngvào môi trường lành mạnh, được thụ hưởng những lợi ích công bằng do dịch vụ công đem lại

Xã hội hóa dịch vụ công là một xu hướng tất yếu gắn liền với phát triển kinh tế thịtrường và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở từng giai đoạn phát triển Do sự phát triểnkhông ngừng của đời sống kinh tế - xã hội, nhu cầu của con người và xã hội ngày càng tăngcao, vì vậy việc cải cách, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công đáp ứng kịp thời cácyêu cầu của công dân và xã hội là vấn đề luôn được Nhà nước quan tâm

Xã hội hóa cung ứng dịch vụ ngoài công lập là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhànước Qua hoạt động này, nhu cầu của các tổ chức và công dân được đáp ứng nhiều hơn,giảm bớt gánh nặng ngân sách của Nhà nước; phát huy được tiềm lực chủ động sáng tạocủa nhân dân Tuy nhiên, hoạt động này, Nhà nước phải quản lý chặt chẽ thông qua các

Trang 18

hoạt động chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các dịch vụ tư, đảm bảo nhu cầu của nhân dân đượcđáp ứng tốt hơn, công bằng hơn.

Trong xu thế dân chủ hóa đời sống xã hội ngày càng mạnh mẽ, cải cách dịch vụ công đangtrở thành một nội dung quan trọng trong cải cách hoạt động của Nhà nước, nhằm nâng caohiệu quả và hiệu lực hoạt động của Nhà nước, làm cho Nhà nước đáp ứng ngày càng tốthơn nhu cầu của công dân

Trước đây, dịch vụ công do nhà nước cung cấp, nhưng nay đã lỗi thời Nhà nước không đủsức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các tổ chức và công dân, do vậy buộc phải xã hộihóa trong lĩnh vực này vì các lý do sau:

Thứ nhất, việc chuyển giao một số dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước sẽ tạo ra môitrường cạnh tranh, tạo điều kiện cho người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng những dịch vụ tốtnhất Qua đó, tổ chức ngoài Nhà nước có điều kiện để khẳng định chính mình, đáp ứng nhucầu tốt hơn và ngày càng cao của công dân Các tổ chức này luôn phải đổi mới quản lý,nâng cao hiệu quả để tồn tại và phát triển

Thứ hai, có nhiều dịch vụ công Nhà nước làm được, nhưng xét chung thì tư nhân sẽ làm tốthơn, tốc độ nhanh, trọn gói, gọn gàng, đội ngũ nhân viên làm việc nhiệt tình và thuận lợihơn

Thứ ba, xã hội hóa dịch vụ công nhằm để huy động mọi nguồn lực xã hội đáp ứng dịch vụcho công dân Tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào hoạt động này, phát huykhả năng, năng lực tiềm tàng trong xã hội; khơi dậy tính sáng tạo, chủ động, tích cực củangười dân nhờ đó đa dạng hóa và tăng nguồn cung ứng dịch vụ công cho xã hội Ngoài racòn huy động, động viên sự đóng góp kinh phí của mỗi người cho hoạt động cung ứng dịch

vụ công cho Nhà nước; làm giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước để Nhà nước tậptrung ngân sách vào những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa cáchoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao… đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy xãhội hóa dịch vụ công ở nước ta trong những năm qua Cụ thể, việc ủy quyền cho các tổ chứcngoài Nhà nước thực hiện một số dịch vụ công đã tạo ra môi trường cạnh tranh và cơ hộicho người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng những dịch vụ tốt nhất Sự ra đời và hoạt độngbước đầu có hiệu quả của các bệnh viện tư, các hãng phim tư nhân và những công ty tổ chứcbiểu diễn, các trường đại học tư thục; các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và làm ăn cóhiệu quả… đã từng bước thể hiện tính đúng đắn của chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ dịch vụcông trên phạm vi rộng

Việc xã hội hóa các dịch vụ công đã và đang tạo điều kiện cho mọi người tham gia chủđộng và tích cực, phát huy được tiềm năng trong xã hội trong việc cung ứng các dịch vụcông; đồng thời góp phần làm giảm bớt gánh nặng của ngân sách nhà nước trong điều kiệnngân sách còn hạn hẹp

Thực tiễn cho thấy, dịch vụ công hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, cácquyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay

ủy quyền cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xãhội Xã hội hóa dịch vụ công là quá trình huy động sự tham gia dưới các hình thức khácnhau của các chủ thể và cộng đồng xã hội nhằm nâng cao chất lượng, số lượng và mở rộngcác hình thức cung ứng dịch vụ công, đồng thời đổi mới vai trò của Nhà nước trong việcquản lý, hỗ trợ cung ứng dịch vụ công từ khu vực công sang khu vực tư; huy động kinh phíđóng góp của dân vào việc cung ứng các dịch vụ công của Nhà nước; động viên, tổ chức sựtham gia hoạt động rộng rãi nhằm đa dạng hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ công

3 Đánh giá kết quả xã hội hóa một số dịch vụ công ở Hà Nam hiện nay

Trang 19

Nhìn lại một số thành quả đã đạt được từ việc xã hội hóa dịch vụ công trên tất cả các lĩnhvực đời sống có thể thấy, nó đem lại những lợi ích không thể phủ nhận Bắt đầu từ thay đổinhận thức về vai trò của Nhà nước đối với các dịch vụ công liên quan đến thủ tục hành chính

- lĩnh vực mà trước đây chỉ có Nhà nước đảm trách - thì hiện nay đã đã chuyển giao mộtphần cho các tổ chức ngoài nhà nước Có thể kể đến các dịch vụ: công chứng, giáo dục, y tế,dịch vụ vệ sinh môi trường đã từng bước được thừa nhận hiệu quả; sự ra đời của những công

ty tổ chức biểu diễn đã đem đến diện mạo mới cho lĩnh vực văn hóa giải trí; các trường đạihọc tư thục ra đời; các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa nhanh chóng trong một thời gianngắn và làm ăn có hiệu quả Các ví dụ này đã từng bước thể hiện tính đúng đắn của chủtrương xã hội hóa mạnh mẽ dịch vụ công trên phạm vi rộng

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình xã hội hóa dịch vụ công ở Hà Namhiện nay đang đặt ra nhiều thách thức mà nếu không giải quyết triệt để thì sẽ ảnh hưởng đếnhiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước

Đó là, các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân chú trọng nhiều đến lợi nhuận, luôn có

xu hướng đẩy giá dịch vụ lên cao, các loại phí dịch vụ bị điều chỉnh tùy tiện, chất lượngdịch vụ yếu, cơ chế tài chính không minh bạch Một số cơ sở tư nhân được thành lập dướidạng tự phát nên khó kiểm soát chất lượng

Hàng loạt trường mầm non tư thục không đủ tiêu chuẩn như thiếu không gian cho trẻ,thực phẩm không an toàn, các điều kiện chăm sóc trẻ không đảm bảo; các cơ sở khám chữabệnh không đáp ứng được yêu cầu, tùy tiện nâng giá thuốc; các trường học tư thục thiếugiáo viên cơ hữu…Tất cả đang đặt ra vấn đề về kiểm soát chất lượng đối với các dịch vụđược khối tư nhân cung ứng cho xã hội

4 Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tại Hà Nam

Trong thời gian tới, nhằm thực hiện xã hội hóa các dịch vụ công trên địa bàn có hiệu quảcần phải thực hiện các giải pháp sau:

- Trước hết về mặt nhận thức, cần có cái nhìn đúng về bản chất và mục tiêu xã hội hóadịch vụ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Xã hội hóa khôngphải chạy theo số lượng, hay mức độ xã hội hóa nhiều hay ít, rộng hay hẹp mà phải tính đếnchất lượng, sự cần thiết của nó trong thực tiễn quản lý và trên hết là phải xuất phát từ thựctiễn đòi hỏi đáp ứng các nhu cầu của xã hội

Về mặt nội dung, xã hội hóa dịch vụ công đòi hỏi phải đảm bảo một số nguyên tắc cơbản: Các dịch vụ công nào mà kinh tế ngoài nhà nước không làm được, không muốn làmhoặc không được phép làm nhưng xã hội có nhu cầu thì Nhà nước phải tiến hành cung cấp;Nhà nước phối hợp tổ chức xã hội và tư nhân thực hiện cung ứng dịch vụ công theo pháp luật

và quy chế; các dịch vụ công nào mà các thành phần kinh tế khác có khả năng và muốn thamgia thì Nhà nước khuyến khích họ tham gia cung ứng cho xã hội, nhưng Nhà nước vẫn chịutrách nhiệm trước xã hội về số lượng và chất lượng các dịch vụ công để chuyển giao cho khuvực tư

- Về cách thức thực hiện, nâng cao vai trò công tác thông tin, tuyên truyền để xã hội,công dân và cả cán bộ, công chức nhận thức rõ hơn về chủ trương xã hội hóa dịch vụ công

Cơ quan Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập cần cải cách hoạt động của các tổ chứccung ứng dịch vụ và đổi mới phương thức phục vụ để nâng cao cạnh tranh với khu vực tư.Tiến tới bổ sung và hoàn thiện hành lang pháp lý cùng với các cơ chế, chính sách ưu đãi hữuhiệu và khả thi để khuyến khích việc tham gia cung ứng các dịch vụ công cho xã hội Trong

đó đặc biệt quan tâm đến việc chuyển đổi mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệpbán công và công lập sang hình thức tư thục, thành lập các cơ sở ngoài công lập, cổ phầnhóa…; xây dựng và duy trì sự cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ Tạo lập môi

Trang 20

trường để tăng cường tiếng núi và sự phản hồi của người dõn đối với cỏc chớnh sỏch của Nhànước núi chung và trong việc cung ứng cỏc dịch vụ cụng núi riờng Đồng thời, phỏt huy vaitrũ của Nhà nước về tăng cường kiểm tra kiểm soỏt hợp lý nhằm đảm bảo chất lượng cungứng dịch vụ cụng Cụ thể, phải rà soỏt lại số lượng, chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụcụng của khu vực cụng và cả khu vực tư hiện nay để cú những kiến nghị phự hợp cho cụngtỏc quy hoạch, định hướng phỏt triển; xử lý nghiờm cỏc trường hợp cú hành vi vi phạm phỏp

luật trong cung ứng cỏc dịch vụ cụng (cú thể bổ sung thờm giải phỏp ở cõu 6)

Cõu 6: Thực trạng và giải phỏp nõng cao chất lượng quản lý dịch vụ cụng ở Việt Nam hiện nay

Trả Lời:

1 Khỏi niệm

Dịch vụ cụng là những hoạt động phục vụ cỏc nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dõn

vỡ lợi ớch chung của xó hội, do Nhà nước chịu trỏch nhiệm trước xó hội (trực tiếp đảmnhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm bảo đảm hiệu quả, ổnđịnh và cụng bằng xó hội

Quan niệm về dịch vụ cụng khụng phải là đó cú sự thống nhất hoàn toàn, tuy nhiờn cúthể chỉ ra một số nột cơ bản của dịch vụ cụng là:

- Đú là việc làm của Chớnh phủ, chớnh quyền, hoặc của tư nhõn được Chớnh phủ ủynhiệm phục vụ cộng đồng, nhõn dõn;

- Vỡ lợi ớch chung, thiết yếu;

- Khụng vỡ mục tiờu lợi nhuận

2 Thực trạng quản lý dịch vụ cụng ở Việt Nam hiện nay

* Ưu điểm

- Về dịch vụ sự nghiệp cụng

Trong những năm qua, cựng với sự tham gia của nhiều chủ thể khỏc nhau trong cung ứngdịch vụ cụng, Nhà nước ta luụn đặc biệt quan tõm đầu tư cho cỏc lĩnh vực sự nghiệp với ngõnsỏch chi tiờu được duy trỡ ở mức 30% tổng chi tiờu của Chớnh phủ Trong hoàn cảnh ngõn sỏchnhà nước luụn phải chịu sức ộp từ nhiều phớa, cú thể thấy rằng chớnh phủ đó thực sự quan tõmđến việc cung cấp cho người dõn cỏc dịch vụ cụng thiết yếu như giỏo dục, y tế và an sinh xóhội Nhỡn chung, người dõn đó được hưởng thụ những điều kiện giỏo dục, y tế và văn húa,…tốt hơn

Điều đú được chứng minh qua bằng chứng chỉ số phỏt triển con người (HDI) của nước ta

đó đạt được mức cao hơn so với trỡnh độ phỏt triển kinh tế Chỳng ta đó hoàn thành việc xoỏ

mự chữ và phổ cập giỏo dục tiểu học, đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở và phỏt triểnmạnh cỏc trường dạy nghề, giỏo dục đại học và chuyờn nghiệp Số trẻ em trong độ tuổi từngcấp học được đi học đạt tỷ lệ cao Cỏc trường phổ thụng hầu hết là cụng lập, số trường dõn lậpngày càng tăng, nhưng tỷ trọng chưa cao Sinh viờn, học sinh nghốo được nhà nước trợ giỳpthụng qua chớnh sỏch học phớ và cho vay dài hạn; nhiều địa phương đó vận động nhõn dõn lậpquỹ khuyến học để giỳp cho học sinh nghốo và khuyến khớch học sinh giỏi Bờn cạnh việckhụng

Trong lĩnh vực y tế, hệ thống y tế nhà nước đã được xây dựng và phát triển tương đốirộng khắp Từ cấp Trung ương, Bộ Y tế và các bệnh viên Trung ương, đến các tỉnh,huyện, xã đều có một mạng lưới các tổ chức về các dịch vụ phòng và chữa bệnh Nhà nước

đó cú quy hoạch tổng thể phỏt triển sự nghiệp chăm súc, bảo vệ và nõng cao sức khỏe ngườidõn Ngõn sỏch nhà nước dành cho ngành y tế (chiếm khoảng 3,1% tổng chi ngõn sỏch) đượcphõn bổ theo hướng ưu tiờn cho y tế dự phũng, hoàn thiện mạng lưới cơ sở, phỏt triển bảo

Trang 21

hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, hiện đại hoá các trung tâm y tế chuyên sâu và pháttriển y học cổ truyền, …Các chính sách trợ giúp của nhà nước cùng với các hình thức hỗ trợcủa cộng đồng qua các quỹ từ thiện, làm việc nghĩa thể hiện sự quan tâm và cố gắng của cảnhà nước và xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe người nghèo, người già cô đơn, người tàntật,…Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia đã được thực hiện có hiệu quả Có thể thấy rõthành công này thông qua việc thực hiện tốt các dự án tiêm chủng mở rộng, phòng chống dịchbệnh Nhờ vậy, nhiều dịch bệnh nguy hiểm đã được khống chế; số người mắc và chết do cácbệnh truyền nhiễm ngày càng giảm Tuổi thọ bình quân của người Việt nam thuộc loại cao ởĐông Nam Á Nhà nước cũng có các chính sách nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng hệthống khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền từ trung ương đến cơ sở, tăng cường đầu tư nhằmđẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin trong hoạtđộng y tế; đẩy mạnh sản xuất thuốc chữa bệnh và cải tiến quản lý thị trường dược phẩm Việcđổi mới chính sách viện phí được thực hiện đi đôi với chính sách trợ cấp cho người nghèo,khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, phát triển bảo hiểm y tế Nguồn nhân lựccho ngành y tế được quan tâm đầu tư phát triển, kể cả việc gửi cán bộ y tế ra nước ngoài đàotạo Đội ngũ cán bộ ngành y được hưởng các chính sách đãi ngộ, phụ cấp đặc thù …

Văn hóa, thông tin đã đạt được nhiều thành tích đáng kể Bản sắc văn hóa dân tộc đượcgiữ gìn, đồng thời những tinh hoa văn hóa của nhân loại được tiếp thu Mức độ tiếp nhận,hưởng thụ văn hóa của người dân qua các kênh khác nhau được cải thiện rõ rệt Đã có nhiềucông trình văn hóa được các ngành, các cấp quan tâm đầu tư giữ gìn, tôn tạo, các di sản vănhóa phi vật thể được bảo tồn và phát huy Tại các địa phương, các công trình, thiết chế văn hóađược xây dựng rộng khắp, nhất là phong rào xây dựng nhà văn hóa thôn, bản Mạng lưới thưviện từ cấp tỉnh, huyện, cho tới xã, thôn đã được xây dựng mới và nâng cấp, tạo điều kiện chongười dân tiếp cận nguồn tri hức qua sách, báo, tài liệu Những thành tựu đó đã góp phần nângcao đời sống tinh thần cho người dân

- Về dịch vụ hành chính công

Trong những năm qua, Nhà nước ta đã chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng cungứng dịch vụ hành chính công, coi đó là một khâu quan trọng trong việc thực hiện chương trìnhcải cách nền hành chính cả về thể chế, thủ tục, tổ chức bộ máy và cán bộ Nhà nước đã bắt đầu

áp dụng các phương tiện kỹ thuật điện tử, tin học để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chínhcông, như trong việc cung cấp thông tin về thể chế, tổ chức, đấu thầu các dự án chi tiêu công,đăng ký cấp phép kinh doanh, cấp phép đầu tư, hỏi đáp pháp luật hay đăng ký xe máy… Nhìnchung việc cung ứng dịch vụ hành chính công có một số tiến bộ, nhưng không đều Ngườidân và doanh nghiệp được tạo thuận lợi và dễ dàng hơn trong một số việc cần giải quyết với

cơ quan nhà nước, như đăng ký kinh doanh, làm thủ tục hộ tịch, tìm hiểu luật pháp…, songcòn gặp nhiều rắc rối, phiền hà trong nhiều lĩnh vực khác, như cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng nhà, đất, cho thuê đất, cấp phép xây dựng nhà, công chứng, hộ khẩu … Người dân vàdoanh nghiệp vẫn tiếp tục là “nạn nhân” của tình trạng phiền nhiễu, bất hợp lý, chậm trễ, thiếuhiệu quả trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính các cấp

* Tồn tại:

Ở Việt nam, với cơ chế bao cấp trong nhiều thập kỷ qua, Nhà nước hầu như đảm nhiệm tất

cả việc cung cấp các loại dịch vụ công, dưới các hình thức khác nhau, như thông qua cácdoanh nghiệp nhà nước công ích, hệ thống trường học, bệnh viện công, các tổ chức phụ nữ,đoàn thanh niên hoạt động bằng ngân sách nhà nước,… Hậu quả là Nhà nước đã phải chịugánh nặng về biên chế, chi phí hành chính, đồng thời bộ máy của các bộ, ngành và địa phươngrất cồng kềnh và kém hiệu quả

- Hiệu quả cung ứng dịch vụ công thấp

Trang 22

Hiệu quả thấp trong cung ứng dịch vụ công của Nhà nước khiến cho người dân khôngthỏa mãn với các dịch vụ công mà Nhà nước đang cung cấp hoặc độc quyền cung cấp Cácdịch vụ này nhìn chung không chỉ thiếu về số lượng, mà chất lượng phục vụ cũng còn thấp, dokhối lượng dịch vụ công do Nhà nước đảm nhận cung ứng trực tiếp còn quá lớn và hệ thốngcung ứng dịch vụ công còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện.

Sự độc quyền của các cơ quan nhà nước trong việc cung ứng một số loại dịch vụ công là mộtnguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả cung ứng dịch vụ công thấp Tình trạng độc quyền

đã làm tăng tính quan liêu, cửa quyền của bộ máy nhà nước Hoạt động dưới sự bao bọc củaNhà nước, các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng dịch vụ công chưa thực sự phảiđối mặt với cạnh tranh và nguy cơ phá sản, nên họ chưa có động lực để giảm chi phí, hạ giáthành và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công Đối với những dịch vụ thu tiền, giá cả dịch

vụ không phản ánh đúng chi phí bỏ ra; trong một số trường hợp, quy định giá của Nhà nướcthấp hơn chi phí, trong khi có những dịch vụ do đơn vị cung ứng tự định giá lại nâng lên quácao Có thể thấy rõ vấn đề này trong ngành điện, một ngành thuộc nhà nước độc quyền trongviệc cung ứng dịch vụ Người dân và doanh nghiệp bất bình vì giá điện tăng liên tục, làm ảnhhưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất Trong khi đó, ngành điện đưa ra rất nhiều lý do đểtăng giá Giá điện có thể không tăng, hoặc tăng ở một mức độ hợp lý nếu ngành điện cải tiếnphương thức quản lý, tránh thất thoát điện năng, và giảm bớt tham nhũng, lãng phí trong việcxây dựng, vận hành các nhà máy phát điện và mạng lưới phân phối điện

Các loại trợ cấp và ưu đãi của Nhà nước đối với các cơ quan cung ứng dịch vụ công nhưtrợ giá, tín dụng ưu đãi, miễn thuế sử dụng đất,…trong nhiều trườnghợp lại đem đến các kếtquả tiêu cực Việc được hưởng những ưu đãi đã không làmcho các đơn vị này hoạt động hiệuquả hơn, mà thay vào đó lại nuôi dưỡng tư tưởngỷ lại, dựa dẫm vào Nhà nước, và triệt tiêutính năng động, sáng tạo của các đơn vịđó Trong cung ứng dịch vụ công của các đơn vị nhànước, sự bao cấp về cung ứng dịch vụ công cũng có thể dẫn đến tình trạng tiêu dùng quá mứccần thiết, làm tăng gánh nặng ngân sách trong khi số lượng và chất lượng của việc cung cấpdịch vụ vẫn không được bảo đảm

Một hạn chế nữa trong việc cung cấp dịch vụ công của Nhà nước là sự thiếu vắng các dịch

vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dân Các hoạt động cung cấp dịch vụcông mang tính “cào bằng” không còn khả năng đáp ứng đầy đủ, kịp thời và tốt các nhu cầukhác nhau của các bộ phận dân chúng trong xã hội Người dân hiện nay không còn là nhữngngười thụ động cầu xin dịch vụ của Nhà nước, mà họ đã trở thành những khách hàng, do vậy

họ có quyền sử dụng dịch vụ và đòi hỏi được phục vụ một cách tốt nhất Cơ chế cung ứngdịch vụ công hiện nay của Nhà nước ta chưa thích ứng với thực tế này Thực tế cho thấy rằng,trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, Nhà nước ta đã cố gắng rất nhiều nhằm đáp ứng cácyêu cầu của xã hội Ở một mức độ nhất định, Nhà nước đã đảm bảo được việc cung ứng cácdịch vụ công thiết yếu cho toàn xã hội Trong một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, chúng ta đãđạt được những kết quả đáng kể Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu nói trên, hoạt động cungứng dịch vụ công của Nhà nước còn nhiều thiếu sót Để hoạt động cung ứng dịch vụ côngđược tốt hơn nữa, chúng ta cần từng bước cải tiến hoạt động của những cơ quan nhà nướccung ứng dịch vụ công, đổi mới cơ cấu tổ chức và quy trình cung ứng dịch vụ Điều quantrọng là phải thúc đẩy sự cạnh tranh trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công thông qua việcchuyển giao một phần các dịch vụ công cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội dân sự Đóchính là những yêu cầu về đổi mới cung ứng dịch vụ công được đề cập đến trong phần sau -Bộ máy hành chính nhà nước còn nhiều bất cập

Cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước đang bộc lộ nhiều điểm yếu, không phù hợp với chứcnăng của nền hành chính nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường và do đó không có khả

Trang 23

năng cung ứng những dịch vụ mà thực tế đòi hỏi Nền hành chính vẫn còn mang nặng dấu ấncủa cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu của cơ chế quản lýmới cũng như yêu cầu phục vụ người dân trong điều kiện mới, hiệu quả quản lý còn thấp Các

bộ, ngành, địa phương vẫn theo mô hình quản lý cũ, mang nặng tính quan liêu, hình thức Cónhiều loại dịch vụ mà dân có nhu cầu đã không được quan tâm giải quyết đúng mức, thí dụnhư dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn, hỗ trợ việc làm,… Ngoài ra, chức năng, nhiệm vụquản lý của bộ máy hành chính chưa được xác định phù hợp; sự phân công, phân cấp giữa cácngành và các cấp chưa thật rành mạch Việc quy định thẩm quyền, phân công trách nhiệmkhông rõ ràng cùng với sự thiếu phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong những công việc

có tính chất liên ngành đã làm giảm chất lượng cung ứng dịch vụ công của Nhà nước Một vấn

đề nghiêm trọng nữa là hệ thống thể chế hành chính còn chưa đồng bộ, còn chồng chéo vàthiếu thống nhất; thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp; trật tự kỷcương chưa nghiêm

Phương thức tổ chức bộ máy hành chính chưa khoa học, còn cồng kềnh, vừa tập trungquan liêu, vừa phân tán; chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với hoạt độngcủa cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công Việc các đơn vị nhànước cung ứng dịch vụ công chịu sự quản lý của cơ quan chủ quản tương tự như đơn vị hànhchính, đã dẫn đến tình trạng các cơ quan này không phát huy được tính tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong hoạt động và phát triển của mình Tất cả mọi kế hoạch và chương trình hoạt độngthường được cấp trên giao cụ thể, như chỉ tiêu tuyển sinh, số giường bệnh, số phim phát hànhtrong năm,…

Về tài chính, đơn vị sự nghiệp là đơn vị dự toán như cơ quan hành chính, chỉ dựa vào mộtnguồn đầu vào từ ngân sách nhà nước, chi và thu đều theo dự toán được cấp trên duyệt Về tổchức cán bộ, cấp trên quyết định định biên, tuyển chọn cán bộ nhân viên; việc sắp xếp lươngbổng, cử cán bộ đi nước ngoài, thành lập đơn vị trực thuộc, v.v đều phải được cấp trên phêduyệt Điều đó dẫn tới sự trì trệ trong nâng cao tính sáng tạo và cải tiến hiệu quả công việc củacán bộ, nhân viên trong các cơ quan nhà nước

Với cơ chế vận hành như hiện nay của bộ máy hành chính, người dân khó có thể tham gia

và giám sát một cách có hiệu quả, qua đó cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công của khuvực nhà nước Tình trạng thiếu trách nhiệm giải trình và vô ý thức trách nhiệm từ phía các cơquan công quyền về việc cung cấp thông tin cho công chúng đã cản trở đáng kể việc tham gia

và giám sát của người dân đối với hoạtđộng cung ứng dịch vụ hành chính công Ngoài ra,nhiều ý kiến đóng góp tích cực của người dân không được các cơ quan hữu quan đón nhận.Nghiêm trọng hơn, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân còn nhiều vướng mắc,không dứt điểm,và không tuân thủ pháp luật Hiện tượng né tránh giải quyết hoặc giải quyếtkhông đúng các yêu cầu của người dân diễn ra phổ biến, làm cho người dân mất dần lòng tinvào các cơ quan công quyền, yếu tố về lâu dài có thể gây ra những bất ổn xã hộinghiêm trọng Bên cạnh đó, phương thức và thủ tục cung ứng dịch vụ công còn rườm rà, nặng về tạo ra

sự thuận tiện cho bên cung ứng chứ chưa nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của người dân Có thểthấy rõ điều này nhất trong lĩnh vực dịch vụ hành chính công Để nhận được một giấy phépnào đó, người dân phải đi đến nhiều cơ quan nhà nước khác nhau; thời gian giải quyết côngviệc kéo dài, làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc tốn thời gian của người dân

Vì những lý do như vậy, để đỡ mất thời gian và công sức, nhiều người đã phải chọn cáchkhoán trọn gói cho các “cò dịch vụ” thay mình đi làm các thủ tục Ngoài ra, thủ tục hành chínhcòn thiếu rõ ràng, thiếu thống nhất, không công khai và tùy tiện thay đổi, thiên về xử lý cácgiải pháp tình thế, bị động trước yêu cầu phát triển nhanh của thực tế Điều nguy hiểm là ởmột số nơi còn xảy ra tình trạng thương mại hóa các loại dịch vụ do Nhà nước đảm trách

Trang 24

Một yếu tố cơ bản khác làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng cung ứng dịch vụ công củaNhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần tráchnhiệm, năng lực chuyên môn và kỹ năng hành chính; phong cách làm việc chậm đổi mới, tệquan liêu, tham nhũng, sách nhiễu dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng trong một bộ phận cán bộ,công chức Trong các cơ quan cung ứng dịch vụ công, đặc biệt là ở các cơ quan có tráchnhiệm tiếp xúc trực tiếp với người dân, thái độ của nhiều công chức còn mang nặng tính quanliêu, cửa quyền, gây rất nhiều phiền hà cho người dân

Có thể thấy rằng, với những tồn tại trong bộ máy hành chính như phần trên đã đề cập, thìchất lượng cung ứng dịch vụ công do khu vực nhà nước cung cấp sẽ bị ảnh hưởng nghiêmtrọng Do vậy, trước những yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới,đòi hỏi Nhà nước, mà trực tiếp là bộ máy hành chính phải hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệulực quản lý theo cơ chế mới nhằm phục vụ tốt hơn những yêu cầu chung của toàn xã hội

- Thiếu hụt ngân sách trong cung ứng dịch vụ công

Mặc dù nguồn kinh phí từ ngân sách cho hoạt động sự nghiệp tăng nhanh hơn các lĩnh vựckhác, song vẫn ở mức rất hạn chế, không bảo đảm được chi phí cần thiết của các đơn vị nhànước cung ứng dịch vụ công

Mức ngân sách hạn hẹp như vậy đã ảnh hướng rất lớn đến hiệu quả cung ứng dịch vụcông, làm thu hẹp diện dịch vụ được cung ứng cũng như chất lượng dịch vụ, trước hết làkhông đủ trả lương thỏa đáng cho cán bộ, nhân viên trong các ngành cung ứng dịch vụ công,nhất là các giáo viên, cán bộ y tế, công nhân vệ sinh môi trường, tiếp đó là không đáp ứngđược yêu cầu phát triển Trong khi ấy, nhu cầu của nhân dân về các lĩnh vực này đang tăng lênnhanh chóng với đòi hỏi cao hơn về chất lượng khi mức sống ngày một cải thiện Thực trạngnày dẫn đến những bất cập trong việc cung ứng dịch vụ công của Nhà nước, đồng thời làmphát sinh những hiện tượng tiêu cực, phá huỷ nền tảng đạo đức của xã hội

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự eo hẹp của nguồn ngân sách nhà nước Xét trên bìnhdiện vĩ mô, do Việt Nam là một nước nghèo, với mức thu nhập bình quân đầu người thuộcnhóm thấp nhất trên thế giới, nên ngân sách nhà nước dành cho các dịch vụ công hạn hẹp cũng

là điều dễ hiểu Trong khi đó, việc phân bổ cũng như việc huy động các nguồn thu cho ngânsách lại không hợp lý Trường hợp cung ứng dịch vụ công cũng vậy Rõ ràng rằng, thu nhậpcủa các tầng lớp trong xã hội hiện nay đã có sự phân hóa rõ rệt, nhưng Nhà nước vẫn duy trìchế độ thu phí mang tính chất bình quân, không phân biệt mức thu nhập Chính điều này đãgóp phần dẫn tới tình trạng không đủ nguồn lực để trang trải các chi phí cần thiết để đảm bảochất lượng cũng như số lượng về cung ứng dịch vụ công

3 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay

3.1 Xác định ranh giới giữa khu vực công và khu vực tư trong cung ứng dịch vụ công

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, việc chính phủ nên làm đến đâu còn phụthuộc rất lớn vào năng lực quản lý hiện có và nguồn lực tài chính của chính phủ Trongđiều kiện năng lực và nguồn lực của chính phủ hạn chế, chính phủ chỉ nên thực hiện cácchức năng tối thiểu như cung cấp các dịch vụ y tế công cộng, xóa đói giảm nghèo, trợ giúpthiên tai, địch họa Khi năng lực và nguồn lực cao hơn, chính phủ mới nên cung cấp cácdịch vụ về giáo dục, vệ sinh môi trường, các chính sách an sinh

Những thực tế trên cho thấy, điều kiện cần cho sự can thiệp của chính phủ là khi thịtrường thất bại, kém ổn định và không bảo đảm công bằng trong cung ứng các dịch vụthiết yếu cho cộng đồng Song, điều kiện đủ cho sự can thiệp của chính phủ là khi chínhphủ có nguồn lực tài chính và năng lực quản lý phù hợp

3.2 Quản lý chất lượng và phí dịch vụ

Dịch vụ công phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của đa số nhân dân, bao gồm

Trang 25

những người có thu nhập thấp Nhà nước sử dụng tiền đóng thuế của nhân dân để bảođảm cung ứng dịch vụ công và chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm các dịch vụcông Vì vậy, chất lượng và mức phí dịch vụ là những vấn đề mà Nhà nước phải quan tâmquản lý và điều tiết Đặc biệt, với việc xã hội hóa các dịch vụ công, cho phép tư nhân thamgia cung ứng dịch vụ công, cho phép các cơ sở cung ứng dịch vụ công công lập được thuphí dịch vụ, rủi ro về việc tăng phí dịch vụ và không bảo đảm về chất lượng dịch vụ là khótránh khỏi.

Để kiểm soát chất lượng dịch vụ công, nhà nước cần quy định những chuẩn mực về chấtlượng cho từng loại dịch vụ Các chuẩn mực đó càng được lượng hóa càng tốt Nhà nước sẽcăn cứ vào những tiêu chuẩn định lượng đó để kiểm tra các đầu ra của các tổ chức cung ứngdịch vụ công

3.3 Tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ công

Để tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ công, cần chútrọng các giải pháp sau:

- Cải cách cơ cấu chi tiêu công theo hướng tập trung ngày càng nhiều hơn vào cácdịch vụ công thiết yếu nhằm tạo cơ hội lớn hơn cho người nghèo trong tiếp cận đến cácdịch vụ này

- Cải tiến cách thức phân bổ ngân sách để khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa cáckhu vực về các dịch vụ công thiết yếu, cần tính đến mức thu nhập của dân cư trong việcphân bổ ngân sách cho các lĩnh vực dịch vụ công

- Tăng cường hỗ trợ trực tiếp người nghèo Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạnhẹp và thu nhập của người nghèo không đủ chi trả cho các dịch vụ công thiếtyếu, chính phủ nên tập trung hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo

- Để bảo đảm ưu đãi đến đúng đối tượng, điều quan trọng là phải nhận diện đúng ngườinghèo và giám sát các khoản trợ cấp

- Việc xây dựng các chương trình trợ cấp cần có sự định hướng vừa theo vùng địa lý,vừa theo loại hàng hóa Định hướng theo vùng địa lý sẽ bảo đảm chương trình trợ cấp đếnvới các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa là nơi có nhiều người nghèo sinh sống

4.4 Tạo cơ chế hoạt động tự chủ cho các tổ chức cung ứng dịch vụ công công lập

- Trao quyền tự chủ đồng bộ về các yếu tố có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình

tạo các đầu ra của đơn vị

- Hình thành các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của mỗi đơn vị, trong đó lưu ý cáctiêu chí về hoàn thành nhiệm vụ cung ứng dịch vụ cho xã hội về số lượng, chất lượng dịch

vụ và sự hài lòng của người dân về dịch vụ đó

- Đổi mới việc chi trả thu nhập cho người lao động trên cơ sở đánh giá đúng đắn sựđóng góp của mỗi người Mặc dù việc đánh giá sự đóng góp của người lao động đã cótiến bộ nhất

4.5 Tạo ra cơ chế phản hồi của khách hàng đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ công

Khuyến khích các tổ chức cung ứng dịch vụ công phát triển cơ chế phản hồi củakhách hàng về dịch vụ công Cần công bố cho người dân biết cách thức phản hồi hay khiếunại về các dịch vụ và cách thức cung ứng dịch vụ Các thủ tục phản hồi này phải dễ dàngđối với khách hàng Các khiếu nại phải được xem xét một cách nghiêm túc

4.6 Cải cách dịch vụ hành chính công

Dịch vụ hành chính công thể hiện trực tiếp nhất hình ảnh của Nhà nước trước người dân,phản ánh cụ thể nhất mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền của Nhà nước với nhândân Việc cải cách dịch vụ hành chính công đang trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao hiệulực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

Trang 26

Câu 7: Những đổi mới trong mô hình tổ chức hành chính nhà nước địa phương ở

Viêt Nam theo Luật tổ chức chính quyền địa phương

Trả Lời:

Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tổ chức chính quyền địaphương, Luật này đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương,định hướng của Đảng về chính quyền địa phương; đồng thời kế thừa những nội dung hợp lý

và sửa đổi, bổ sung các bất cập, vướng mắc trong 12 năm thực hiện Luật tổ chức Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 Luật tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lựcvào ngày 01 tháng 01 năm 2016 và có 08 chương, 143 điều so với Luật Tổ chức Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì tăng 02 chương, 03 điều

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016 –2021; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính tiếp tục giữ nguyên cơcấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tổ chức Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 Cũng từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, chấm dứt việcthực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụQuốc hội

Nhằm đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển đấtnước trong thời kỳ mới, Hiến pháp 2013 đã quy định một cách khái quát và nguyên tắc về

mô hình chính quyền địa phương làm cơ sở Hiến định để Luật Tổ chức chính quyền địaphương sau này cụ thể hóa Hiến pháp 2013 quy định những vấn đề có tính nguyên tắc vềphân công, phân cấp giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địaphương, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, cụ thể như sau:

Một là, về đơn vị hành chính, Hiến pháp 2013 bổ sung quy định về đơn vị hành chính –

kinh tế đặc biệt và đơn vị hành chính tương đương với quận, huyện, thị xã thuộc thành phố

trực thuộc trung ương, theo đó, “nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập” (Khoản 1, Điều 110) Ngoài ra, Hiến pháp bổ sung quy định “Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính phải lấy ý kiến nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định” (Khoản 2, Điều

110)

Hai là, về tổ chức chính quyền địa phương, Hiến pháp 2013 quy định khái quát theo

hướng việc tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cụ thể ở từng đơn vị hành chính sẽđược quy định tại văn bản Luật; việc tổ chức chính quyền địa phương cần phù hợp với đặcđiểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (Khoản 2, Điều 111)

Ba là, về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, Hiến pháp 2013 quy định

“chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của

cơ quan nhà nước cấp trên”, và “nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương” (Khoản 1, 2, Điều 112).

Luật Tổ chức chính quyền địa phương có một số điểm mới như sau:

1 Về đơn vị hành chính (Điều 2)

Trang 27

Luật Tổ chức chính quyền địa phương xác định các đơn vị hành chính gồm có:

- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chunglà cấp tỉnh);

- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trungương (sau đây gọi chung là cấp huyện);

- Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chunglà cấp xã);

- Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt

Như vậy, so với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổchức chính quyền địa phương đã bổ sung thêm đơn vị hành chính: thành phố thuộc thành phốtrực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Đây là quy định nhằm cụ thểhóa Điều 110 Hiến pháp năm 2013

2 Về tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính (Điều 04)

Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cấp chính quyền địa phương được tổchức ở các đơn vị hành chính gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộctrung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trungương, phường, thị trấn

Trong một thời gian dài thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện,quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địaphương đã quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính đềuphải có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bậtcủa Luật Tổ chức chính quyền địa phương so với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy bannhân dân năm 2003 đó là có sự phân biệt giữa chính quyền địa phương ở nông thôn và ở đôthị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗiđịa bàn

3 Về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương:

a) Đối với Hội đồng nhân dân

- Về cơ cấu tổ chức, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định Hội đồng nhân dân

thành phố trực thuộc trung ương được thành lập thêm Ban đô thị (khoản 3 Điều 39) vì đây lànhững đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khácvới các địa bàn đô thị thị xã, thành phố thuộc tỉnh

- Về số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

từ 95 đại biểu lên 105 đại biểu để phù hợp với quy mô dân số, đặc điểm, tính chất của các đôthị lớn này (Điều 39) Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (số lượng là 2)hoạt động chuyên trách và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã (số lượng là 1) hoạt độngchuyên trách;

Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện hoạt động chuyên trách; PhóTrưởng Ban cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách; Trưởng, Phó Ban của HĐND cấp

xã hoạt động kiêm nhiệm

b) Đối với Ủy ban nhân dân:

- Về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân nếu như trước đây, theo quy định của Luật tổchức HĐND và UBND năm 2003, không phải người đứng đầu của các cơ quan chuyên môncủa UBND nào cũng là ủy viên của UBND thì đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã

mở rộng cơ cấu tổ chức UBND theo đó tất cả người đứng đầu của các cơ quan chuyên môncủa UBND đều là ủy viên của UBND Đây là quy định nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các

Trang 28

thành viên UBND, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối với UBND cùng cấp thôngqua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.

- Về số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp được quy định theo phân loại đơn vị hànhchính, theo đó đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (Hà Nội và Thành phố Hồ ChíMinh) có không quá 05 Phó Chủ tịch, loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch, loại II và loại III

có không quá 03 Phó Chủ tịch Đối với đơn vị hành chính cấp huyện loại I có không quá 03Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch Đối với đơn vị hành chính cấp

xã loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có 01 Phó Chủ tịch

Ngoài ra, Luật còn bổ sung Điều 124 quy định về việc điều động, cách chức Chủ tịch,Phó Chủ tịch UBND cho phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ

- Thủ tướng Chính phủ quyết định điều động Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủyban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định điều độngChủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp

- Thủ tướng Chính phủ quyết định cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủyban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định cách chứcChủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp khi Chủ tịch Ủyban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân có hành vi vi phạm pháp luật hoặc không thựchiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao

- Người được điều động hoặc bị cách chức chấm dứt việc thực hiện nhiệm vụ Chủ tịch

Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân kể từ khi quyết định điều động, cách chức

có hiệu lực

- Người đã quyết định điều động, cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân giao quyền Chủtịch Ủy ban nhân dân; thông báo cho Hội đồng nhân dân về việc điều động, cách chức Chủtịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân

để Hội đồng nhân dân bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân mới tại

kỳ họp gần nhất

4 Về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính:

Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định khi có trên 50% tổng số cử tri trên địabàn đồng ý với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính thì

cơ quan xây dựng đề án mới được hoàn thiện đề án, trình HĐND các cấp thông qua chủtrương

Luật còn bổ sung quy định về thẩm quyền đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính và giải quyếttranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính tại Điều 129như sau:

- Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hànhchính cấp tỉnh; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh; giải quyết tranh chấp liên quanđến địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh

- Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địagiới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp huyện, cấpxã; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã

- Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc thành lập, giảithể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính; giảiquyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính

Như vậy, Luật tổ chức chính quyền địa phương đã phân định thẩm quyền giữa cáccấp chính quyền địa phương theo hướng đẩy mạnh phân cấp, tăng quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương trong việc quyết định các vấn đề của địaphương Theo đó, các luật chuyên ngành khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của

Trang 29

chính quyền địa phương các cấp phải đẩy mạnh phân cấp phù hợp với các nguyên tắc

và các nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương, bảo đảm sự quản lýthống nhất của Trung ương, tính thông suốt của nền hành chính quốc gia

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, HĐND, UBND các cấpđược ban hành các văn bản hành chính theo thẩm quyền; đồng thời quy định chính quyềncấp huyện, cấp xã không ban hành văn bản quy phạm pháp luật; việc ban hành văn bảnquy phạm pháp luật của chính quyền cấp tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bảnquy phạm pháp luật

Những quy định mới này sẽ là cơ sở cho một nền hành chính thông suốt, thật sự củadân, do nhân dân và vì nhân dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đấtnước trong giai đoạn hiện nay

Câu 8: Vai trò của thể chế hành chính trong nền hành chính nhà nước Giải pháp nâng cao chất lượng thể chế hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Trả Lời:

1 Vai trò của thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

1.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý của nền HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Hoạt động quản lý của các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC là sự tác động củaquyền lực NHÀ NƯỚC đến các chủ thể trong xã hội: công dân và tổ chức, thể nhân haypháp nhân, công pháp hay tư pháp (công quyền) mang đặc trưng cưỡng bức kết hợp vớithuyết phục, giáo dục HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC phải hợp pháp và đòi hỏi công dân, tổchức xã hội phải thực hiện pháp luật

– Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC với một hệ thống pháp luật (bao gồm Luật, cácvăn bản pháp quy dưới Luật) do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành chính là cơ

sở pháp lý cho các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, các cấp thực hiện quản lý, bảođảm thống nhất quản lý Nhà nước trên phạm vi quốc gia

– Hệ thống văn bản luật ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, hoàn thiện Nhà nước ngàycàng hướng đến một Nhà nước dân chủ hiện đại, pháp quyền với ý nghĩa đầy đủ của nó thìtính hiệu lực của các thể chế Nhà nước và các thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC ngàycàng được nâng cao

– Hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực của pháp luật là một yếu tố đảm bảocho hệ thống HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC quản lý tốt đất nước theo hướng Nhà nước quản

lý Nhà nước bằng pháp luật và mọi công dân, mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức xã hộibình đẳng trước pháp luật

1.2 Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC là cơ sở cho việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước.

Một trong những vấn đề quan trọng của hoạt động quản lý hành chính NHÀ NƯỚC ởmọi quốc gia là vấn đề quyền lực và sự phân chia, phân công thực thi quyền lực đó giữa các

cơ quan NHÀ NƯỚC cũng như giữa các cấp chính quyền NHÀ NƯỚC

Trong NHÀ NƯỚC hiện đại, Hiến pháp là đạo luật cơ bản xác định những thể thứcgiành và thực thi quyền lực chính trị và quyền lực NHÀ NƯỚC Nó quy định về thể chếchính trị, tức là tổng thể các vấn đề nguồn gốc, chủ thể và cơ chế phân bố quyền lực giữa các

cơ quan và quyết định những thể thức liên hệ với nhau trong các mối quan hệ ngang dọc, trêndưới

Thể chế tổ chức bộ máy HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC là một vấn đề được mọi quốc giatrên thế giới quan tâm dựa trên những quan điểm, nguyên tắc nhất định Cách thức tổ chức đóphải được thể chế hoá trong văn bản pháp luật của Nhà nước Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ

Trang 30

NƯỚC về tổ chức xác định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền, trách nhiệmcũng như các phương tiện kỹ thuật vật chất, nhân sự cho các cấp đó hoạt động.

Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC quy định sự phân chia chức năng, quyền hạn giữacác cơ quan hành chính của Chính phủ trung ương và giữa các cấp một cách cụ thể: Chínhphủ trung ương, các Bộ có quyền trên những vấn đề gì; HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN và ỦYBAN NHÂN DÂN ở địa phương có những quyền gì; mối quan hệ giữa các cơ quan của bộmáy hành chính trung ương và giữa trung ương với các cấp chính quyền địa phương như thếnào; thẩm quyền về việc ban hành các văn bản pháp luật như thế nào; nhiều vấn đề chi tiếtkhác về tổ chức các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC phải được quy định

Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC càng rành mạch thì cơ cấu tổ chức của bộ máy các

cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC các cấp càng rõ ràng và gọn nhẹ Thiếu các quy định

cụ thể, khoa học trong việc phân chia quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ trong hoạt động quản

lý Nhà nước của các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC sẽ làm cho bộ máy HÀNHCHÍNH NHÀ NƯỚC cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ chồng chéo và sẽ dẫn đến một bộmáy hoạt động kém năng lực, kém hiệu lực và hiệu quả Vấn đề phân công, phân chia quyềnhạn trong tổ chức bộ máy hành chính sẽ là cơ sở cho việc xác định:

- Cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG cần bao nhiêu Bộ, bao nhiêuđầu mối thực hiện chức năng quản lý HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC thống nhất trên tất cả lĩnhvực

- Có bao nhiêu đơn vị chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TRUNG ƯƠNG ,huyện, quận, thị xã, xã phường và thị trấn; những căn cứ chính trị, kinh tế, xã hội và nhữngtiêu chí gì để xác định số lượng và quy mô của các đơn vị hành chính lãnh thổ

Nghiên cứu phân chia một cách khoa học chức năng, quyền hạn của bộ máy HÀNHCHÍNH NHÀ NƯỚC để huy động cao nhất mọi khả năng của các chủ thể trong hoạt độngquản lý là một trong những vấn đề và là nội dung quan trọng của thể chế HÀNH CHÍNHNHÀ NƯỚC

1.3 Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC là cơ sở xác lập nhân sự trong các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

Yếu tố con người trong các tổ chức nói chung và trong các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng Con người trong bộ máy đó có thể được đặtvào các vị trí khác nhau.Về cơ bản có 3 loại:

– Những người có quyền ban hành các quyết định quản lý (các văn bản pháp luật) bắtbuộc XÃ HỘI , cộng đồng phải chấp nhận và thực hiện (công quyền)

– Những người trong bộ máy thực hiện chức năng tư vấn giúp cho những nhà lãnh đạoban hành quyết định (tham mưu, giúp việc)

– Những người thực thi các văn bản pháp luật, các thể chế, các thủ tục của nền hànhchính (công lực)

Nếu như chức năng, nhiệm vụ không được xác định một cách rõ ràng, khoa học thì khó

có thể bố trí hợp lý được từng người vào các chức vụ cụ thể Thể chế HÀNH CHÍNH không

cụ thể, khoa học sẽ không thể bố trí được cán bộ, công chức hành chính vào đúng vị trí,những người có năng lực, có trình độ không được bố trí đúng vị trí trong khi đó có thể bày raquá nhiều đơn vị với chức năng, nhiệm vụ chồng chéo hoặc quá vụn vặt để có đủ chỗ bố trícán bộ một cách lãng phí

Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC được hiểu rõ, quy định cụ thể chức năng quản lýhành chính và quyền ban hành và giải quyết các đề nghị yêu cầu, khiếu nại tố cáo của côngdân từ đó có thể xác định rõ hệ thống các hoạt động cụ thể: Ai phải làm cái gì, được traoquyền gì và phải làm như thế nào, do đó có thể bố trí được đội ngũ nhân sự hợp lý

Trang 31

- Thể chế hành chính nhà nước là cơ sở để xác định mối quan hệ giữa nhà nước với côngdân và tổ chức trong xã hội;

- Nhà nước hiểu theo nghĩa hiện đại không có nghĩa chỉ thực hiện chức năng cai trị màngày càng thể hiện rõ hơn vai trò dịch vụ Công chức trong bộ máy HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC không chỉ là người có quyền mệnh lệnh mà còn là “công bộc” của dân, người đầy tớcủa dân Các tổ chức và công dân đòi hỏi NHÀ NƯỚC ban hành các quyết định, tổ chứcthực hiện các quyết định để đáp ứng các loại yêu cầu của dân

Sự quyết định mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân các tổ chức xã hội thể hiện ở 2mặt:

– Nhà nước với tư cách quyền lực công, có chức năng tạo ra một khung pháp lý cần thiết(luật và các văn bản hệ thống lập quy) để quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Như vậy xét trênphương diện này, mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và các tổ chức xã hội mang ýnghĩa không bình đẳng, có tính bắt buộc, cưỡng bức

– Nhà nước thể hiện quyền lực nhân dân và thực hiện dịch vụ công, có trách nhiệm đápứng đầy đủ mọi yêu cầu chính đáng của công dân và tổ chức xã hội đã được pháp luật ghinhận Mối quan hệ này, theo quan niệm nhà nước hiện đại để hiện công dân, tổ chức xã hội là

“khách hàng” của Nhà nước Yêu cầu đòi hỏi của công dân trong khuôn khổ pháp luật nhànước quy định bắt buộc Nhà nước phải đáp ứng Điều này phản ánh thực sự bản chất củaNhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Thể chế hành chính xác định mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân cũng phản ánh tínhchất tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Nhà nước Xét về bản chất, Nhà nước ta làNhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Người dân có quyền và nghĩa vụ thamgia vào hoạt động quản lý nhà nước trong khuôn khổ pháp luật Mối quan hệ giữa Nhà nước

và công dân được thấm nhuần trong phương châm: “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểmtra” Sức mạnh và hiệu lực của thể chế hành chính phụ thuộc vào việc giải quyết mối quan hệgiữa Nhà nước với công dân và các tổ chức xã hội

Ngoài ra, Thể chế hành chính nhà nước là căn cứ để xác lập mức độ và phạm vi can thiệpcủa nhà nước đối với hoạt động của các đối tượng trong xã hội;

Thể chế hành chính nhà nước là căn cứ để quản lý, điều chỉnh việc sử dụng các nguồnlực của xã hội một cách có hiệu lực và hiệu quả

2 Giải pháp nâng cao chất lượng thể chế hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Để thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, phát huy được vai trò của mình trong hoạtđộng QUẢN Lí NHÀ NƯỚC thì việc cải cách thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC là việclàm hết sức cần thiết Vấn đề đặt ra là cải cách thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC thì cảicách trên các phương tiện nào, tập trung vào mặt nào, Hội nghị lần thứ tám (khoá VII) BANCHẤP HÀNH trung ương Đảng đã khẳng định cải cách thể chế HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC ở nước ta tập trung vào 5 vấn đề cơ bản:

- Cải cách một bước cơ bản hệ thống thủ tục HÀNH CHÍNH nhằm góp phần giải quyếttốt mối quan hệ giữa công dân, các tổ chức xã hội đối với Nhà nước

- Cải cách việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân với cán bộ, công chứctrong bộ máy HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC và các tổ chức của bộ máy HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế mới đặc biệt là các thể chế về tài chính

- Đổi mới quy trình lập pháp lập quy ban hành các văn bản pháp luật Nhà nước

- Nâng cao kỷ luật và hiệu lực thi hành pháp luật

Cải cách hệ thống thể chế của nền hành chính là một công việc khó khăn, phức tạp vì nóđộng chạm đến hệ thống thể chế HÀNH CHÍNH cũ, tức là động chạm đến lợi ích cục bộ, bản

Trang 32

vị của cá nhân, của cơ quan Quản lý HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC với cung cách quản lýđiều hành của cơ chế bao cấp, thiếu kỷ luật, kỷ cương Nhưng công cuộc đổi mới của đấtnước ta đang đặt ra những đòi hỏi phải cải cách hệ thống HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC trong

đó cải cách thể chế là một bộ phận cơ bản nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội của sự phát triểnnền kinh tế thị trường, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của sự hoàn thiện nềndân chủ XÃHỘI HÀNH CHÍNH , của đòi hỏi về sự hội nhập khu vực và quốc tế

Câu 9: Giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt

Nam hiện nay Liên hệ việc thực hiện trên thực tế

Trả Lời:

Gần 30 năm qua, Đảng ta luôn xác định xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là khâu thenchốt trong sự nghiệp phát triển đất nước Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VII đã chỉ

rõ trong công cuộc đổi mới “cán bộ có vai trò quan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến

trình đổi mới” Đến Đại hội XI của Đảng, Đảng ta vẫn tiếp tục xác định: “phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những

yếu tố quyết định đến sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” Nghị quyết Đại hội XI của

Đảng cũng đề ra mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn 2011 - 2020 là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân”.

Những thành tựu đạt được trong gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới có sự đóng góp

to lớn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Đó là thế hệ những cán bộ đã được tôi luyện,trưởng thành qua thử thách, có ý chí vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, là những người cóbản lĩnh chính trị vững vàng, có tư duy đổi mới, đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế thịtrường, góp phần vào việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế củađất nước

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, góp phần quan trọng xây dựng đội ngũ trong sạchvững mạnh Cán bộ, công chức nhà nước đa số đã được rèn luyện, thử thách và trưởng thànhqua công tác; số lượng, chất lượng, cơ cấu có sự chuyển biến theo hướng tích cực; có bảnlĩnh chính trị vững vàng, luôn có ý thức rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, xây dựngkhối đoàn kết nội bộ; thường xuyên trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, có lốisống giản dị, lành mạnh, gần gũi với quần chúng nhân dân; thể hiện vai trò tiên phong,gương mẫu trên các mặt, nêu cao trách nhiệm, năng động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu hoànthành nhiệm vụ được phân công

Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn bộc lộ một số hạn chế: Một bộ phậncán bộ, công chức giảm sút ý chí chiến đấu; có biểu hiện sa sút về phẩm chất chính trị, daođộng về mục tiêu, lí tưởng cách mạng; tác phong làm việc quan liêu; có biểu hiện lơ là, mấtcảnh giác trước “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; một số khác thoái hoá, biếnchất về đạo đức, lối sống; tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỉ luật còn kém; khôngnghiêm túc tự phê bình và phê bình; thiếu dân chủ trong sinh hoạt; một số cán bộ, công chứclười học tập, rèn luyện, bộc lộ những yếu kém so với yêu cầu nhiệm vụ được giao; giải quyếtcông việc còn lúng túng, thiếu chủ động; cơ cấu cán bộ không đồng bộ, tuyển dụng, đào tạo,bồi dưỡng chưa gắn với yêu cầu công việc Cơ chế quản lí, sử dụng và chế độ chính sách cònnhiều bất hợp lí, chưa tạo được động lực khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức nâng caotinh thần trách nhiệm, phấn đấu học tập, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn

và phẩm chất đạo đức

Trang 33

1 Giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đangchủ động hội nhập quốc tế, đã đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ, đòi hỏi độingũ này phải nâng cao chất lượng, đồng thời phải vững vàng cả về ý thức chính trị, giữ đượcphẩm chất, đạo đức tốt, lối sống đúng mực, tránh được những tác động tiêu cực từ kinh tế thịtrường và hội nhập quốc tế

Để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực thực sự ngang tầm, đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt các giảipháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ phù hợp với

tình hình mới Phải lấy đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm trọng tâm Trong đào tạo, bồi dưỡngkhông chỉ chú ý đến bồi dưỡng về chính trị mà phải đặc biệt chú ý đến chất lượng chuyênmôn, phải có kế hoạch xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên gia giỏi trên nhiều lĩnh vực,đồng thời có ý thức chính trị cao, có phẩm chất đạo đức tốt; cần rà soát thực tế đội ngũ cán

bộ công chức một cách cụ thể về năng lực, trình độ, phẩm chất, từ đó có sự phân loại đểthanh lọc đội ngũ Đảng chỉ đạo việc nhanh chóng xây dựng đầy đủ, hệ thống các chuẩn củatừng loại chức danh cán bộ, công chức trên cơ sở Luật cán bộ, công chức mới ban hành vàcác quy chế, quy định khác Đảng lãnh đạo việc xây dựng và có kế hoạch trong việc tuyểnchọn cần sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống các chuẩn đối với từng loại chức danh côngchức nhà nước Các chuẩn này được xây dựng phải rõ ràng, công khai, minh bạch, cụ thể, dễhiểu, dễ nhớ và dễ thực thi Cụ thể hoá được nội hàm của công chức chuyên nghiệp nêutrên.Quy định chuẩn đối với công chức Nhà nước thuộc cả 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện,

xã Tiến hành công việc này đồng bộ, triệt để, quyết liệt, làm từ trên xuống, từ trong ra; làmđồng bộ từ tiêu chuẩn cán bộ, đảng viên của Đảng ra ngoài; làm từ công chức cao cấp tới cơ

sở Đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn

xã hội mà đòi hỏi trước tiên ở đội ngũ cán bộ công chức nhà nước Tiếp tục thực hiện nghiêmtúc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đã tạo nên một không khíhọc tập khá sôi nổi trong các cấp, các ngành, trong mỗi cán bộ lãnh đạo, đảng viên Làm tốtcông tác luân chuyển, tạo điều kiện cho cán bộ trưởng thành trong thực tiễn Những môitrường, điều kiện làm việc khác nhau ở cơ sở sẽ giúp cho cán bộ phát huy được năng lựcsáng tạo, đồng thời, tránh được tình trạng xa rời thực tiễn, nhất là với những cán bộ sau đócông tác ở các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách

Thứ hai, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng sự đòi hỏi của yêu cầu cách

mạng mới Trong việc đào tạo, bồi dưỡng có nhiều nội dung, phù hợp với sự đòi hỏi của đặcthù lĩnh vực, tuy nhiên “Bộ ba” thẩm quyền - quy trình - thủ tục nhằm cụ thể hoá quyền,nghĩa vụ của công chức là vô cùng quan trọng Với bất kỳ nghiệp vụ nào của bất kỳ chứcdanh công chức nào cũng cần coi trọng và được đào tạo kỹ bộ ba này Thực tiễn cho thấy, cán

bộ công chức sai lầm về thẩm quyền trong bộ máy nhà nước là loại nguy hại nhất, sau đó đếnviệc dù có phẩm chất tốt, động cơ phục vụ nhân dân trong sáng nhưng không nắm vững quytrình và thủ tục sẽ tạo ra mất lòng tin từ dân, hiệu quả làm việc thấp Bên cạnh đó, việc đàotạo, bồi dưỡng các loại kỹ năng nghề nghiệp là vô cùng quan trọng Những kỹ năng được chútrọng hiện nay gồm: Kỹ năng sử dụng các công nghệ hiện đại (sử dụng thành thạo kỹ thuậtthông tin phục vụ cho chính phủ điện tử và quản lý tốt đối với các “doanh nghiệp điện tử”);

Kỹ năng làm việc với con người (kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng quan hệ trong hệ thốnghành chính nhà nước và kỹ năng giao tiếp với nhân dân, với doanh nghiệp); Kỹ năng liênngành (biết vận dụng lý luận về tổ chức và sự vận động của bộ máy tổ chức hành chính nhà

Trang 34

nước, hiểu được tâm lý cá nhân, tâm lý tập thể, tâm lý người lãnh đạo và người quản lý).Trong bối cảnh hội nhập hiện nay cần trang bị cho công chức của ta (không riêng gì lĩnh vựcngoại giao) những hiểu biết và kỹ năng tối thiểu về lễ tân, đối ngoại nhân dân trong giaotiếp quốc tế, quản lý các doanh nghiệp FDI

Thứ ba, tạo động lực mạnh mẽ để thu hút đội ngũ công chức có chất lượng cao, đạo đức công

vụ trong sáng Đảng cần phải lãnh đạo việc sớm thực thi “Tam trọng” đối với đội ngũ công

chức chuyên nghiệp, gồm: Trọng thị: có cách nhìn mới đối với công chức của ta, đặt họ đúng

vị thế cần có; Trọng đãi: khi họ đạt chuẩn, họ được hưởng đúng giá trị tinh thần và đãi ngộ vật chất; Trọng dụng: họ được đặt đúng chỗ để có thể cống hiến tối đa.Nếu thực hiện được

điều này sẽ tạo sức hút hiền tài từ các doanh nghiệp, từ xã hội vào bộ máy nhà nước Do đó,Đảng phải chỉ đạo việc xây dựng được chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ,công chức Đây là một trong những giải pháp quan trọng Đãi ngộ tốt thì không chỉ hấp dẫnđược những cán bộ có trình độ, chuyên môn giỏi mà còn gìn giữ được phẩm chất tốt đẹp củangười cán bộ cách mạng, ngăn ngừa được tình trạng tham ô, tham nhũng, cửa quyền, gây khó

dễ cho người dân trong thực thi công vụ của mỗi cán bộ Đãi ngộ theo hiệu quả công việc sẽkhuyến khích sự sáng tạo, đề cao trách nhiệm cá nhân

2 Liên hệ việc thực hiện trên thực tế Hà Nam

Theo thống kê của Sở Nội vụ, tổng số cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh là20.151 người, trong đó Cán bộ, công chức khối Đảng là 962 người, khối Nhà nước là 2168người; viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập là 14.119 người, cán bộ, công chức cấp

xã là 1.497, cán bộ bán chuyên trách cấp xã 1.405 người

Nhìn chung số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã cơ bản đápứng được các yêu cầu nhiệm vụ Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tham gia công tácquản lý, lãnh đạo các cấp phát huy tốt vai trò và khả năng của mình, không ngừng nâng caohiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành, góp phần quan trọng vào sự đổi mới hoạt động của hệthống chính trị

Đa phần cán bộ, công chức viên chức của tỉnh đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ dặt ra,

có tinh thần trách nhiệm trong công việc, giữ vững đạo đức, phẩm chất cách mạng, có ý thức

tổ chức kỷ luật và chấp hành sự phân công của tổ chức, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn

bó với nhân dân và góp to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh ta trong thời kỳhội nhập nền kinh tế của đất nước với nền kinh tế của thế giới

Trong tình hình hiện nay, tỉnh đang có nhiều chuyển biến phát triển hội nhập nền kinh tếquốc tế, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, xã hội ngày càng phát triển đã ảnhhưởng tích cực và tiêu cực về nhiều mặt đến lực lượng cán bộ, công chức, viên chức, tạo sựchuyển biến lớn về tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, công chức, viên chức do vậy đã cómột bộ phận cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái, thiếu gương mẫu về đạođức và lối sống

Có thể thấy những việc liên quan sai phạm về đạo đức của cán bộ, công chức, viênchức trong giai đoạn hiện nay xuất hiện chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như: đất đai,xây dựng, công an, kiểm lâm, y tế, giao thông Trong đó, có nhiều vụ việc cán bộ, côngchức, viên chức vi phạm đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp gây hậu quả nghiêmtrọng, như một số viên chức ngành y tế lợi dụng vị trí việc làm vi phạm pháp luật, viphạm đạo đức nghề nghiệp, xâm phạm nhân phẩm, danh dự và thể xác của người khác;một số cán bộ dự án "rút ruột" công trình xây dựng; một số công chức, viên chức thanh tragiao thông, công an giao thông nhận tiền “mãi lộ” của lái xe và doanh nghiệp; một sốcông chức địa chính cố ý sai phạm để trục lợi cá nhân; có cán bộ làm công tác đền bù, giảitỏa thiếu quản lý, tắc trách để cấp dưới gây ra những sai phạm gây nhiều dư luận, bức xúc

Trang 35

cho người dân; thậm chí công chức làm công tác văn thư, lưu trữ của cơ quan chuyên mônthuộc UBND tỉnh cũng hách dịch, rề rà, gây khó dễ cho các cá nhân đến liên hệ công tác Bên cạnh đó, tình trạng cán bộ, công chức, viên chức bớt xén thời gian làm việc, đùn đẩytrách nhiệm, giải quyết công việc sai quy định, hướng dẫn, giải thích công việc cho ngườidân một cách lòng vòng, khó hiểu, thái độ làm việc hời hợt, thiếu nhiệt tình và thiếu hẳntính thân thiện hoặc thiếu nhiệt tình trong việc tiếp công dân.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh tăng cường công tác cải cáchthủ tục hành chính, giảm bớt thủ tục và thành phần hồ sơ, đây là một chủ trương, chính sáchđược nhân dân đồng tình ủng hộ, hoan nghênh Qua đó các cơ quan, đơn vị đã tiến hành thựchiện nghiêm túc, bước đầu đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên qua một thời gian đã bắt đầu xuấthiện sự nhũng nhiễu của một số cán bộ, công chức, viên chức, bắt đầu có việc yêu cầu bổsung thêm một số thành phần hồ sơ không có trong thủ tục hành chính, công tác tiếp côngdân bị lơ là, hình thức; công chức làm công tác địa chính hướng dẫn không đầy đủ, nhiều lần

và có hiện tượng vòi vĩnh, ngâm hồ sơ nhằm mục đích vụ lợi

Sinh thời Hồ Chủ tịch đã nói: "Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân", tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều cán bộ, công chức, viên chức giải quyết

công việc cho dân, thậm chí cho cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vịkhác theo kiểu "ban ơn, làm phúc” chưa thực sự đúng nghĩa là “công bộc” của dân, chưađúng nghĩa là quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ mà còn đặt nặng tínhthủ tục, nguyên tắc cứng nhắc, thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng

Trong việc thực hiện nhiệm vụ, công tác tiếp xúc, tiếp nhận hồ sơ giải quyết công việccho nhân dân, một số cán bộ, công chức, viên chức tỏ rõ thái độ hách dịch, nhũng nhiễu khigiải quyết công việc, gợi ý, vòi vĩnh trong khi thực hiện nhiệm vụ

Còn hiện tượng đùn đẩy, né tránh trách công việc, chưa thường xuyên học tập bồi dưỡng,nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác hạn chế; một số đơn vị, tình trạng mất đoànkết nội bộ vẫn còn xảy ra, có biểu hiện cục bộ, kèn cựa địa vị, ganh tị, bè phái, lợi ích nhóm,trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn không phối hợp với nhau, làm việc theo kiểu “mạnh ainấy làm” dẫn đến hiệu quả công việc không cao

Trong khi đó việc nhận xét đánh giá cán bộ, công chức, viên chức cuối năm các cơ quan,đơn vị thực hiện chưa nghiêm túc, vẫn còn mang tính hình thức, đánh giá chung chung và cảnể; công tác thực hiện chế độ báo cáo không trung thực, bao che cho những cán bộ, côngchức, viên chức vi phạm

Như theo thống kê báo cáo của các cơ quan, đơn vị năm 2014, về tình hình đánh giá côngchức cuối năm tỉ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp huyện, tỉnh là2,31%, hoàn thành tốt nhiệm vụ là 73,39%, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về nănglực là 24,31% Đối với cấp xã tỉ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là 6,1%, hoàn thành tốtnhiệm vụ là 63,62%, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực là 30,26% Không

có cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ

Tuy nhiên trên thực tế dựa trên việc theo dõi, quản lý về cán bộ, công chức của Sở Nội

vụ, số cán bộ, công chức cấp tỉnh, huyện không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỉ lệ 3,2% Sốcán bộ, công chức cấp xã không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỉ lệ 4,1%

Như vậy, trên thực tế cán bộ, công chức, viên chức có vi phạm kỷ luật và bị xử lý kỷ luật,tuy nhiên công tác đánh giá cuối năm các cơ quan, đơn vị vẫn đánh giá cán bộ, công chức, viênchức hoàn thành hoặc hoàn thành tốt nhiệm vụ, ở một số đơn vị thủ trưởng đơn vị bị xử lý kỷluật nhưng khi báo cáo lên cấp trên cơ quan, đơn vị không báo cáo, do đó đã ảnh hưởng đếncông tác thống kê báo cáo chung

Trang 36

Việc vi phạm đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức đã gây ra những hậuquả khó lường cho bản thân và nhân dân, trong đó chính người dân là người phải gánhchịu những nhũng nhiễu, hách dịch, gợi ý vụ lợi những điều đó đã gây nên sự bất bìnhcủa nhân dân, tạo dư luận không tốt.

Nguyên nhân

Nguyên nhân sự trì trệ, sách nhiễu, cửa quyền, suy thoái đạo đức ở một bộ phận cán bộ,công chức, viên chức trong bộ máy hành chính ở tỉnh ta chủ yếu tập trung vào một số nguyênnhân sau:

Việc triển khai Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước của các cơquan, đơn vị còn chậm, thiếu quyết liệt nên hiệu quả chưa cao

Một số nơi người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thật sự gương mẫu trongvấn đề đạo đức lối sống và trách nhiệm trong công việc nên đã tác động tiêu cực đến tưtưởng của cấp dưới trong thực thi nhiệm vụ

Năng lực, đạo đức của nhiều cán bộ, công chức, viên chức còn rất hạn chế, chưa đáp ứngđược yêu cầu trong công tác quản lý nhà nước Một sốcán bộ, công chức, viên chức có nănglực công tác nhưng phẩm chất đạo đức còn hạn chế trong việc thực hiện nhiêm vụ, công vụgây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của bộ máy công quyền

Các cơ quan, đơn vị chưa có sự quan tâm đúng mức đối với việc giáo dục tinh thần tráchnhiệm, cũng như việc xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp vi phạm đạo đức công vụ chưanghiêm nên chưa thật sự có tính răn đe, làm gương

Thiếu những quy định cụ thể trong các đơn vị về trách nhiệm của cán bộ, công chức; cơchế quản lý, kiểm tra giám sát của tổ chức và thủ trưởng trực tiếp cũng như của nhân dân đốivới hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế, chưa thường xuyên, chưanghiêm túc và thiếu đồng bộ

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa thường xuyên, và còn mang tínhhình thức Nhiều cán bộ, công chức, viên chức thiếu nghiêm khắc với bản thân, khôngthường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức

Các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ở Hà Nam

Để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị trên địabàn tỉnh Hà Nam, cần thực hiện một số giải pháp sau:

- Tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống đối với cán bộ, côngchức, viên chức kịp thời chỉnh đốn, uốn nắn những lệch lạc trong tư tưởng, đạo đức và hànhđộng của cán bộ, công chức; nâng cao vai trò, trách nhiệm và tính gương mẫu của ngườiđứng đầu cơ quan, đơn vị

- Triển khai thực hiện tốt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2011 – 2020 theo Nghị quyết số 30c /NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ Trong đó cầntập trung quyết liệt cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát về đạo đức công vụ đảm bảo tính khách quan, công bằng,đồng thời đưa ra hình thức xử lý trách nhiệm nghiêm khắc và phù hợp

- Khi xem xét, đề bạt, bố trí cán bộ cần làm rõ những dư luận không tốt liên quan đến cán

bộ, công chức, viên chức trước khi quyết định

- Phát huy vai trò của Mặt trận trong công tác phản biện xã hội

- Nghiêm khắc trong việc giới thiệu để đua ra xét kỷ luật đối với người đứng đầu cơquan, đơn vị, địa phương chưa thật sự gương mẫu trong vấn đề đạo đức, lối sống và tráchnhiệm trong việc để ảnh hưởng đến cơ quan, đơn vị

Trang 37

- Xây dựng và hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướngcông khai, dân chủ, có sự tham gia của dư luận xã hội và công dân

- Cải cách hệ thống tiền lương nâng cao chất lượng cuộc sống cho cán bộ, công chức, đểcán bộ, công chức, viên chức đảm bảo các điều kiện thiết yếu và nhu cầu cơ bản cho cuộcsống bản thân và gia đình; xây dựng các chế độ, chính sách khen thưởng thích đáng về vậtchất và tinh thần đối với cán bộ, công chức, viên chức làm việc tốt, tận tụy và trong sạch

- Xử lý nghiêm, kịp thời và công bằng những sai phạm của cán bộ, công chức, viên chứcnhằm giáo dục và chấn chỉnh cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời củng cố niềm tin củanhân dân vào Nhà nước và pháp luật

- Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chứcnăng phát huy dân chủ, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng và giám sát hoạt độngcủa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan nhà nước

- Nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị, xây dựng đạo đức lối sống lành mạnh, đấu tranh,ngăn chặn đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống

Câu 10: So sánh mô hình hành chính truyền thống và mô hình hành chính hiện đại Trả Lời:

So với các nghành khoa học xã hội khác, khoa học hành chính công ra đời tương đốimuộn, năm 1887 Woodrow Wilon (1856-1924) viết cuốn sách “Nghiên cứu về Hành chínhcông”, với việc khẳng định: “Thực hiện Hiến pháp khó hơn là xây dựng nên nó”, Ông đã đặtviên gạch đầu tiên cho việc phát triển một lĩnh vực khoa học liên quan đến sự quản lý củaChính phủ và vận dụng nguồn lực tri thức để thực hiện có hiệu quả công việc quản lý củamột quốc gia Hành chính công là khoa học nghiên cứu các quy luật quản lý có hiệu quảnhững công việc xã hội của các tổ chức hành chính Nhà nước Kể từ khi khoa học Hànhchính công ra đời đã có nhiều mô hình lý thuyết khác nhau với các bước phát triển thăngtrầm

Trong những năm gần đây (thập kỷ 80 và những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX) rấtnhiều nước trên thế giới đặt vấn đề xem xét lại khu vực công về quy mô và khả năng điềuhành sự phát triển của đất nước, đặc biệt một số nước như Anh, Mỹ Những nước này đã đưa

ra mô hình Quản lý công mới (Hành chính phát triển) thay thế cho mô hình Hành chính côngtruyền thống Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh cải cách hành chính, hội nhập ngàycàng sâu rộng vào nền kinh tế của thế giới

Để hội nhập thành công, ngoài sự quyết tâm về mặt chính trị, Việt Nam cần phải tự xâydựng mô hình quản lý có hiệu quả Ở Việt Nam, khoa học hành chính ra đời và phát triển rấtmuộn, lại phải chịu sự tác động trực tiếp của Chính trị, chính vì vậy tính độc lập của khoahọc hành chính mờ nhạt Chúng ta thực sự chưa có một mô hình hành chính công Trongphạm vi bài viết này, với phương pháp hành chính so sánh, tác giả trình bày một cách hệthống hai mô hình hành chính phổ biến trên thế giới hiện nay

Trong điều kiện kính tế - xã hội phát triển nhanh chóng như ngày nay, khi nền hành chínhnhà nước có sự phát triển theo xu hướng tiến bộ tích cực (chuyển từ hành chính cai trị sanghành chính phục vụ): trong khoa học hành chính đã xuất hiện thuật ngữ “hành chính pháttriển” Từ đó, thuật ngữ “hành chính truyền thống” cũng được quan tâm, nghiên cứu trongmối tương quan với “Hành chính phát triển” Hành chính truyền thống được hiểu là cách thức

tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước thuộc các kiểu nhà nước trong lịch sử, cũngnhư các cơ quan, tổ chức khác, trên cơ sở những nguyên tắc, quy tắc nhất định (bao gồm cảnguyên tắc chính trị-xã hội và nguyên tắc tổ chức - kỹ thuật) do nhà nước hoặc các chủ thểđặt ra mà bản chất chủ yếu thiên về tính “cai trị”, phương thức hoạt động dựa trên cơ sở thi

Trang 38

hành các quy định một cách “cứng nhắc”, lấy tổ chức thứ bậc chặt chẽ, trình tự, thủ tục vàviệc thực hiện nghiêm ngặt các thủ tục đó làm biện pháp tối ưu mà ít quan tâm đến kết quảhoạt động của nhà nước, của các cơ quan, tổ chức hay của công chức nhà nước.

Hành chính phát triển (Quản lý công mới) thường được sử dụng khi nói đến “Mô hìnhhành chính công theo các tiêu chí hiện đại, chủ động, năng động, nhạy bén, thích nghi caonhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và dịch vụ tối đa trong các điều kiện kinh tế thị truờngphát triển mạnh mẽ và những quan hệ quốc tế ngày càng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau”Chuyển đổi từ Hành chính công truyền thống sang Quản lý công (Hành chính phát triển) là

xu hướng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là những nước kinh tế thi trường phát triển

Phải chuyển sang mô hình hành chính mới vì:

- Thứ nhất: Về quy mô của Chính phủ, nhiều quốc gia cho rằng bộ máy của Chính phủ

quá lớn, chi phí cho việc duy trì bộ máy đó ngày càng tăng trong khi đó hiêu quả hoạt độngcủa nó ngày càng giảm đi Do đó cần phải xem xét lại quy mô và vai trò của Chính phủ Theoquan điểm mới, vai trò của Chính phủ chuyển từ “chèo thuyền” sang “lái thuyền” Nhà nướckhông nên ôm đồm làm hết mọi dịch vụ mà nên dân chủ hoá gắn liền với phân quyền, xã hộihoá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý của Nhà nước

- Thứ hai, chất lượng dịch vụ công chất lượng thấp, loại hình kém đa dạng, phong phú

giá cả lại cao hơn khu vực tư Mặt khác, về bối cảnh và xu hướng thời đại tác động đến môhình hành chính công truyền thống dẫn đến sự xuất hiện mô hình hành chính phát triển Đólà: Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đòi hỏi sự đièu chỉnh kinh tế và phát triểnnền hành chính; sự phát triển nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá kinh tế điều chỉnh cácmối quan hệ quốc tế và do đó ảnh hưởng đến nền hành chính công của mỗi nước trong quátrình hội nhập Xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội do trình độ dân trí được nâng cao; tìnhthế chung buộc Nhà nước phải một mặt xã hội hoá, tư nhân hoá, chấp nhận sự tham gia củacông chúng vào công việc quản lý nhà nước, đồng thời phải can thiệp ngày càng sâu vào cácquá trình kinh tế- xã hội và cải tiến mô hình nền hành chính công và nâng cao chất lượngdịch vụ đối với người dân những “khách hàng” của nền hành chính

Như vậy về bản chất, hành chính truyền thống và hành chính phát triển đều là đối tượngnghiên cứu của khoa học hành chính công được xây dựng bởi một hệ thống các khái niệm,hệthống lý thuyết hành chính công với nhiều cách tiếp cận khác nhau Sự khác nhau cơ bản ởđây là “mô hình”, mỗi “mô hình” có những thế mạnh và phù hợp với điều kiện kinh tế - xãhội trong những giai đoạn lịch sử nhất định của các quốc gia Đi sâu vào nghiên cứu hai “môhình” dựa trên một số tiêu thức chúng ta nhận thấy những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

So sánh tiêu thức mục tiêu: hành chính công truyền thống; bảo đảm đúng chu trình, đúngquy tắc, thủ tục hành chính (đầu vào) Đánh giá việc quản lý hành chính thông qua xem xétmức độ thực thi các quy tắc, thủ tục hành chính Trong khi đó, mục tiêu của hành chính pháttriển là: Bảo đảm kết qua tốt nhất, hiệu quả cao nhất (đầu ra); dùng các tiêu chí cụ thể đểđánh giá kết quả quản lý hành chính

Đối với công chức của hành chính công truyền thống: trách nhiệm của người công chức;nhà quản lý là giám sát việc thực hiện và giải quyết công việc theo quy chế thủ tục Nhữngquy định, điều kiện để công chức thực thi công vụ theo một hệ thống thứ bậc rất chặt chẽ,cứng nhắc theo quy định Thời gian làm việc của công chức được quy định chặt chẽ, có thờigian công (làm việc ở cơ quan) và thời gian tư (thời gian không làm việc ở cơ quan) Côngchức mang tính trung lập, không tham gia chính trị, thực hiện một cách trung lập các chínhsách do các nhà chính trị đề ra

Trong khi đó, đối với công chức của hành chính phát triển: Trách nhiệm của người côngchức, nhà quản lý chủ yếu là bảo đảm thực hiện mục đích, đạt kết quả tốt, hiệu quả cao Những

Trang 39

quy định, điều kiện để công chức thực thi nhiệm vụ có hình thức linh hoạt, mềm dẻo hơn Thờigian làm việc linh hoạt hơn, có thể họ làm việc trong một thời gian nhất định, có thể làm chínhthức hoặc hợp đồng (có một phần thời gian làm công vụ tại nhà) Công chức cam kết về mặtchính trị cao hơn trong các hoạt động của mình, các hoạt động hành chính mang tính chính trịnhiều hơn.

Đối với Chính phủ của hành chính công truyền thống: Mọi công vụ được Chính phủ thựcthi, giải quyết theo pháp luật quy định Chức năng của Chính phủ nặng về hành chính xã hội,trực tiếp tham gia các công việc công ích xã hội Chức năng của Chính phủ thuần tuý mangtính hành chính không trực tiếp liên hệ đến thị trường

Trong khi đó, đối với Chính phủ của hành chính phát triển: Các công vụ mang tính chínhtrị nhiều hơn, ảnh hưởng của chính trị ngày càng lớn trong hành chính Chức năng tham giatrực tiếp các dịch vụ công cộng ngày càng giảm bớt mà thông qua việc xã hội hoá các dịch

vụ đó để quản lý xã hội, nhưng vẫn có sự quản lý của Nhà nước Chức năng của Chính phủđối mặt với những thách thức của thi trường Nền hành chính phát triển của các nước đềuphải quan tâm và gánh vác nghĩa vụ chung đối với những vấn đề của loài người như nghèođói, dịch bệnh, môi truờng, ma tuý, tội phạm…

Nói tóm lại, Quản lý công mới (Hành chính phát triển) có cách tiếp cận mới đối với

hành chính công truyền thống Sự xuất hiện của mô hình này đã làm cho cách thức hoạt độngcủa khu vực công có nhiều thay đổi đáng kể Với các đặc tính của mô hình mới: hiệu quảhoạt động quản lý, phi quy chế hoá, phân quyền, áp dụng một số yếu tố của cơ ché thitrường, gắn bó với chính trị, tư nhân hoá một phần hoạt đọng của Nhà nước, vận dụng nhiềuphương pháp quản lý doanh nghiệp, xu hướng quốc tế hoá ; mô hình hành chính phát triểnxuất hiện nhằm khắc phục những yếu kém không phù hợp của mô hình hành chính truyềnthống Nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo cơ chế thị trường và ngày càng hội nhậpsâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Chức năng của Chính phủ chắc chắn sẽ phải đối mặt vớinhững thách thức của thị trường trong nước và thị trường thế giới Vận dụng những nhân tốhợp lý của mô hình Quản lý công mới (Hành chính phát triển) để xây dựng một mô hìnhmang tính đặc sắc Việt Nam, đẩy mạnh cải cách hành chính theo kịp cải cách kinh tế đang làcâu hỏi đặt ra đối với các nhà lãnh đạo, quản lý và các nhà khoa học hành chính

Câu 11: Chứng minh sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam?

Trả Lời:

1 Các KN

- Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm PL có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,

được phân định thành chế định PL, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quyphạm PL do các cơ quan NN có thẩm quyền ban hành theo những trình tự, thủ tục luật định

- Hệ thống pháp luật Việt Nam, là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định

hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, được phânđịnh thành các ngành luật, các chế định pháp luật và được thể hiện trong các văn bản do cơquan nhà nước Việt Nam có thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tục nhất định

2 Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

*Vai trò của PL đối với NN

Pháp luật là nhân tố quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, là phương tiện để nhà nước quản lý các mặt quan trọng của đời sống xã hội và thực hiện các chức năng của mình.Pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng đối với Nhà nước:

Trang 40

Là công cụ để nhà nước quản lý hiệu quả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội,

là phương tiện để thể chế hoá đường lối,chủ trương, chính sách của nhà nước làm cho đường lối đó có hiệu lực thi hành và bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội,

Là công cụ để cho nhà nước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, các cơ quan, các nhân viên nhà nước và mọi công dân

Là công cụ để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của các cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức

Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý, khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước

Pháp luật cũng là phương tiện để nhà nước kiểm tra tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo chỉ đạo của mình đối với xã hội

Pháp luật là công cụ giúp nhà nước tổ chức, quản lý và điều tiết nền kinh tế

Pháp luật còn là công cụ để thiết lập, củng cố, mở rộng và bảo vệ nền dân chủ, đảm bảo công bằng xã hội, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình đấutranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng CNHXH đầy khó khăn và do đó,không tránh khỏi sự thăng trầm Ngay từ khi mới thành lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủcộng hoà trước đây, Cộng hoà XHCN Việt Nam ngày nay đã có rất nhiều đặc điểm của mộtnhà nước pháp quyền Tuy nhiên, mãi đến những năm Đổi mới, nhà nước pháp quyền XHCNmới trở thành một khái niệm chính trị - pháp lý chính thức trong xã hội ta và để từ đó đượchiện thực hoá trong sự nghiệp Đổi mới và trở thành một trong những nền tảng của công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay Tuy nhiên, do được xây dựng trên nền tảng của một

hệ thống chính trị - pháp lý đặc thù của thời kỳ chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trungsang kinh tế thị trường, nên nhiều cấu trúc, định chế, đặc biệt là hệ thống pháp luật của Nhànước XHCN Việt Nam, cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nướcpháp quyền

*Những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành

Hệ thống pháp luật nước ta trong hai thập kỷ qua đã có sự phát triển mạnh mẽ, với nhiềuthành tựu to lớn Chính những thành tựu này trong lĩnh vực lập pháp đã giúp Việt Nam vượtqua những điều kiện về mặt thể chế mà WTO đặt ra đối với việc kết nạp các thành viên vàđương nhiên đáp ứng được rất nhiều nhu cầu phát triển nội tại của đất nước

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, hệ thống pháp luật hiện hành có một số hạn chế lớn sau:

Thứ nhất, rất đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm

pháp luật Do có quá nhiều loại văn bản, được nhiều cấp ban hành, nhưng lại thiếu cơ chế cânnhắc toàn diện các lĩnh vực pháp luật khác nhau, nên mâu thuẫn và chồng chéo là khó tránhkhỏi Tính cồng kềnh, sự tồn tại các bất cập và mâu thuẫn làm giảm tính minh bạch của phápluật, khiến cho pháp luật trở nên phức tạp, khó hiểu và khó áp dụng và, vì thế, kém hiệu lực.Với hệ thống pháp luật như vậy, việc áp dụng, thực hiện không hề dễ dàng đối với cán bộpháp luật có trình độ, chưa nói đến các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân

Thứ hai, pháp luật thường xuyên thay đổi Thực tế này là hệ quả tất yếu của việc chuyển

từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường Trong quá trình thể chế hoácác yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, có không ít các quan điểm e ngại với những vấn

đề mới, chỉ chấp nhận những vấn đề đã chín muồi, có sự đồng thuận cao, do đó khó tạo ranhững đột phá và từ đó, có sự ổn định cần thiết Thực tế này có nguyên nhân ở sự thiếu vắngnhững tầm nhìn và quan điểm chiến lược cho sự phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội cụ thể

và từ đó, của cả hệ thống pháp luật Chính vì vậy, nhiều văn bản pháp luật tuổi thọ rất ngắn,thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn thực hiện hoặc phải sửa đổi, bổ sung Pháp luật

Ngày đăng: 24/10/2018, 17:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w