1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ôn thi Triết học Cao cấp lý luận chính trị

83 187 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 842,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêngđối với nước ta, một nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiếntranh tàn phá, thì rõ ràng, cái lôgíc của sự phát triển trước hết phải là: phát triển l

Trang 1

1 Đồng chí hãy phân tích những đặc điểm cơ bản

của Triết học Mác - Lênin

2 Đồng chí hãy phân tích những điều kiện và tiền

đề ra đời của Triết học Mác

3 Đồng chí hãy phân tích nội dung định nghĩa

"Vật chất" của V.I.Lênin

5 Đồng chí hãy phân tích quan điểm triết học Mác

- Lênin về quan hệ biện chứng giữa cái riêng và

cái chung

6 Đồng chí hãy phân tích khỏi niệm thực tiễn và

các hình thức cơ bản của thực tiễn

7 Đồng chí hãy phân tích khỏi niệm, kết cấu của

hình thái kinh tế - xã hội và ý nghĩa của lý luận

hình thái kinh tế - xã hội

8 Đồng chí hãy phân tích quan điểm Triết học

Mác - Lênin về quan hệ biện chứng giữa kinh tế và

chính trị

9 Đồng chí hãy phân tích nội dung và ý nghĩa

định nghĩa giai cấp của V.I Lênin

10 Đồng chí hãy phân tích quan điểm Triết học

Mác - Lênin về chức năng của nhà nước

11 Đồng chí hãy phân tích quan điểm Triết học

Mác - Lênin về quan hệ giữa cá nhân và xã hội

12 Đồng chí hãy phân tích quan điểm Triết học

Mác - Lênin về khỏi niệm, kết cấu và tính độc lập

tương đối của ý thức xã hội

Câu hỏi 6 điểm

1 Đồng chí hãy phân tích sự vận dụng nguyên tắc

thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của Triết học

Mác - Lênin trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

2 Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, Đảng ta nhận định: "Trong lãnh đạo, Đảng

có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những

sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều,

chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan"

(Trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb CTQG_ST, Hà Nội, 2011, tr.64)

3 Bằng tri thức triết học và dẫn chứng thực tế,

đồng chí hay làm từ sự vận dụng nguyên tắc khách

quan trong quá trình đổi mới ở Việt Nam

4 Đồng chí hay phân tích sự vận dụng nguyên tắc

toàn diện trong quá trình đổi mới ở Việt Nam

5 Đồng chí hay phân tích sự vận dụng nguyên tắc phát triển trong quá trình đổi mới ở Việt Nam

6 Đồng chí hay làm từ sự vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong Triết học Mác - Lênin của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

7 Đồng chí hay phân tích sự vận dụng lý luận về quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình xây dựng CNXH

ở Việt Nam

8 Bằng tri thức lý luận và thực tiễn đổi mới, đồng chí hay phân tích mối quan hệ biện chứng giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay

9 Vận dụng quan điểm Triết học Mác - Lênin và dẫn chứng thực tế đồng chí hay phân tích những biểu hiện đặc thù của mối quan hệ giai cấp và dân tộc ở Việt Nam

10 Đồng chí hay phân tích sự vận dụng quan điểmtriết học Mác - Lênin về bản chất nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

11 Đồng chí hay phân tích sự vận dụng quan điểmTriết học Mác - Lênin về vấn đề con người trong việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay

12 Vận dụng quan điểm Triết học Mác - Lênin và dẫn chứng thực tế, đồng chí hay phân tích nguyên nhân lạc hậu của ý thức xã hội và đề xuất các biện pháp khắc phục sự lạc hậu của ý thức xã hội trong thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước

Câu hỏi 4 điểm

1 Đồng chí hãy phân tích những đặc điểm cơ bản của Triết học Mác - Lênin.

- Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khách quan khoa học trong triết học Mác - Lênin

Triết học nào cũng có tính đảng, tính giaicấp Trước hết, tính đảng thể hiện ở chỗ, hệthống triết học ấy đứng trên lập trường của chủnghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm Hơn nữa,triết học là sản phẩm của thời đại, là thế giớiquan, hệ tư tưởng của một giai cấp nhất định Vìvậy, triết học bao giờ cũng biểu hiện những yêu

Trang 2

cầu của một thời đại, bảo vệ lợi ích của một giai

cấp hay một tập đoàn người nhất định Bởi vậy,

tính đảng của một hệ thống triết học còn có

nghĩa là nó phục tùng lợi ích của giai cấp này

hay giai cấp khác Tính đảng và tính giai cấp của

triết học gắn liền chặt chẽ với nhau

Triết học Mác - Lênin là thế giới quan của giai

cấp công nhân, của lực lượng tiến bộ nhất, tiêu biểu

của thời đại Triết học này tuyên bố công khai tính

đảng của nó là đứng vững trên lập trường của chủ

nghĩa duy vật biện chứng, chống mọi thứ chủ nghĩa

duy tâm, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân

dân lao động và các lực lượng tiến bộ của xã hội,

thúc đẩy sự phát triển xã hội Nó sẽ phá và mọi cản

trở trên con đường đi lên của nó để giải phóng con

người và xã hội loài người, phát triển trí tuệ con

người, nhằm xây dựng một xã hội thực sự tự do, bình

đẳng và bác ái - những khẩu hiệu mà bản thân cuộc

cách mạng tư sản cũng chỉ có thể đạt tới trên danh

nghĩa

Tính đảng của triết học Mác - Lênin thống

nhất một cách hữu cơ với tính kurtiykhách quan

khoa học Cơ sở thực tế của sự thống nhất đó là lợi

ích của giai cấp công nhân, lợi ích của dân tộc thống

nhất với tiến trình khách quan của lịch sử xã hội loài

người, thống nhất với sự phát triển tự nhiên, tiến bộ

của nhân loại Chính vì vậy, bảo vệ và phục vụ lợi

ích của giai cấp và của dân tộc phải phản ánh trung

thực quy luật khách quan của sự vật Xuất phát từ

thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo

quy luật khách quan phải là nguyên tắc trong hoạt

động của các đảng cộng sản và công nhân trong sự

nghiệp cải biến cách mạng

- Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

trong triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin là triết học cải tạo

thế giới, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài

người C.Mác đã nói: "Các nhà triết học đã chỉ

giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau,

song vấn đề là cải tạo thế giới"1

Lý luận triết học chỉ trở thành khoa học khi

nó gắn với thực tiễn chính trị cải tạo thế giới của

các giai cấp tiến bộ Chính vì vậy, C.Mác kêu gọi

triết học hướng tới chính trị và cho rằng đó là

liên minh duy nhất mà nhờ nó, triết học hiện nay

có thể trở thành chân lý

1 C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.3, tr 13.

Triết học Mác - Lênin có sức sống khi nógắn với cuộc cách mạng giải phóng các dân tộckhỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân; giảiphóng con người và xã hội loài người, thúc đẩytiến bộ xã hội Tách rời thực tiễn, triết học sẽnhạt nhẽo, vô bổ Chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sửkhông phải là cái gì khác, mà là sự tổng kết kinhnghiệm thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản

và nhân dân lao động, là thành quả của tri thức

và tinh hoa nhân loại Vì vậy, mỗi bước tiến củakhoa học và của thực tiễn chính là cơ sở tạo mộtbước phát triển của triết học mácxít nói riêng,chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung Nếu dừng lại ởtrình độ tư duy lý luận cũ chính là chúng ta đãtước bỏ linh hồn sống của chủ nghĩa Mác-Lêninsáng tạo Thực vậy, chỉ cần xem lại những bướcthăng trầm của chủ nghĩa xã hội trong nhữngnăm qua, chúng ta đã thấy lý luận phải phát triểnnhư thế nào thì mới phản ánh và bắt nhập đượccuộc sống, chỉ đường cho sự phát triển Riêngđối với nước ta, một nước đi lên chủ nghĩa xã hội

từ một nền nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiếntranh tàn phá, thì rõ ràng, cái lôgíc của sự phát

triển trước hết phải là: phát triển lực lượng sản

xuất, thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa;chủ động hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế vớinước ngoài nhằm thu hút vốn, kỹ thuật và kinh

nghiệm quản lý của thế giới; thực hiện dân giàu

nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Chúng ta phải sáng tạo, bắt nhập với xu thế pháttriển của thế giới mà đi lên Và lý luận triết họcphải được phát triển cùng với sự phát triển củathực tiễn và khoa học

- Tính sáng tạo của triết học Mác - Lênin

Sáng tạo là thuộc tính bản chất của chủnghĩa Mác - Lênin Phép biện chứng duy vậtkhẳng định rằng tất cả mọi sự vật và hiện tượngcủa thế giới khách quan đều vận động và pháttriển không ngừng Điều đó đòi hỏi tư duy củacon người cũng như bản thân triết học phải luônluôn năng động, đổi mới Mọi sự ngưng đọng, trìtrệ, bảo thủ, mọi thứ giáo điều trong nhận thứcđều trái với bản chất sáng tạo, cách mạng của

Trang 3

triết học Mác - Lênin.

Ngày nay, việc nghiên cứu để hiểu một

cách sâu sắc những quan điểm lý luận của C.Mác,

Ph.Ăngghen, V.I.Lênin có tầm quan trọng đặc

biệt Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và cấp

bách Nghiên cứu tư tưởng, các quan điểm của

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin phải gắn liền

với hoàn cảnh lịch sử phát sinh và phát triển của

nó Chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung, triết học

mácxít nói riêng là một hệ thống mở, phát triển

cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn

Do vậy, phát triển sáng tạo triết học Mác - Lênin

là một tất yếu, một đòi hỏi của thực tiễn và của

chính bản thân triết học mácxít

Việc phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác

khác hẳn với "chiêu bài sáng tạo" của bọn xét lại

và chủ nghĩa chống cộng Chúng dùng chiêu bài

"sáng tạo" để vô hiệu hoá chủ nghĩa Mác-Lênin,

phủ định những nguyên lý phổ biến của chủ

nghĩa Mác-Lênin, đưa ra tính đa dạng của chủ

nghĩa Mác-Lênin để làm biến dạng chủ nghĩa

Mác-Lênin

Sáng tạo phải trên cơ sở kế thừa quá khứ,

trên cơ sở trân trọng những tinh hoa của nhân

loại Tiếp thu những thành quả của tư duy nhân

loại cần được gắn chặt với việc tôn trọng và phát

huy những di sản quý báu trong sự phát triển tư

tưởng của dân tộc ta

2 Đồng chí hãy phân tích những điều kiện và tiền đề ra đời của Triết học Mác.

- Điều kiện kinh tế-xã hội

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa

tư bản ở Tây Âu đó bước sang giai đoạn mới nhờtác động của cuộc cách mạng công nghiệp; từ đótính hơn hẳn của chế độ tư bản so với chế độphong kiến được thể hiện một cách rõ nét TheoC.Mác, giai cấp tư sản trong vòng chưa đầy mộtthế kỷ, đó tạo ra những lực lượng sản xuất nhiềuhơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cảcác thế hệ trước gộp lại Với sự phát triển đó mâuthuẫn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gaygắt mà biểu hiện thứ nhất là cuộc khởi nghĩa củathợ dệt Lyông (Pháp) năm 1831, 1834, đó vạch

ra một điều bí mật quan trọng, đó là cuộc đấutranh bên trong giữa giai cấp những người có của

và giai cấp những kẻ không có gì hết; phong tràoHiến chương ở Anh, phong trào cách mạng vôsản to lớn đầu tiên thật sự có tính chất quầnchúng và mang hình thức chính trị; khởi nghĩacủa thợ dệt Xilêdi ở Đức năm 1844, với sự xuấthiện Đồng minh những người chính nghĩa, một

tổ chức vô sản cách mạng đầu tiên trên thế giới.Giai cấp vô sản, giai cấp đại diện cho lực lượngsản xuất tiên tiến xuất hiện trên vũ đài của lịch

sử cần phải có một lý luận cách mạng soi đường

sử khoa học xã hội đó chứng minh rằng chủnghĩa Mác không có gì là giống “chủ nghĩa bèphái” hiểu theo nghĩa một học thuyết bo bo chỉbiết có mình và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài conđường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới.Trái lại, thiên tài của Mác là ở chỗ đó giải đápđược những vấn đề mà nhân lọai tiến tiến đó nêu

ra Học thuyết của ông ra đời là kế thừa thẳng vàtrực tiếp học thuyết của các đại biểu xuất sắcnhất trong triết học, kinh tế chính trị học và chủnghĩa xã hội Nó là sự kế thừa chính đáng của tất

cả những gì tốt đẹp nhất mà loài người đó tạo ra

Trang 4

hồi thế kỷ XIX: triết học Đức, kinh tế chính trị

học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp

- Triết học cổ điển Đức mà đại diện là Hêghen và

Phoiơbắc là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết

học Mác Theo Mác, Hêghen là người đầu tiên

trình bày một cách bao quát và có ý thức hình

thái vận động chung của phép biện chứng, mặc

dù dưới dạng thần bí, duy tâm Thần bí ở chỗ ông

viện đến cái gọi là “ ý niệm tuyệt đối” tha hóa

thành mọi cái, kể cả giới tự nhiên Duy tâm ở

chỗ phép biện chứng của ông là phép biện chứng

lộn ngược Do đó chỉ cần dựng nó lại sẽ phát

hiện được cái hạt nhân hợp lý ẩn sau cái vỏ thần

bí Không chỉ kế thừa hạt nhân hợp lý trong phép

biện chứng của Hêghen, Mác còn kế thừa hạt

nhân hợp lý trong chủ nghĩa duy vật của

Phoiơbắc, cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc

phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử của

nó, hình thành nên một hệ thống triết học mới,

trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là

thống nhất với nhau, không tách rời nhau Theo

V.I.Lênin, trong khi phát triển sâu rộng chủ nghĩa

duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới

chỗ triệt để và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ

nhận thức tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài

người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là

thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học

- Kinh tế chính trị học Anh mà đại biểu là

A.Xmít và Đ.Ricácđô hai ông đó mở bước đầu

của lý luận về giá trị lao động Mác tiếp tục sự

nghiệp của hai nhà kinh tế đó và đưa lại cho lý

luận ấy một cơ sở hết sức khoa học và phát triển

nó một cách nhất quán Ông chỉ cho chúng ta

thấy rằng giá trị của mọi hàng hóa là do thời gian

lao động xã hội tất yếu để sản xuất ra hàng hóa

ấy quyết định Theo V.I.Lênin, phàm ở chỗ nào

các nhà kinh tế học tư sản nhân thấy quan hệ

giữa vật với vật, thì ở chỗ đó, Mác đó tìm thấy

quan hệ giữa người với người Sự trao đổi hàng

hóa biểu thị sự liên hệ giữa người sản xuất riêng

lẻ với nhau, do thị trường làm trung gian Tiền tệ

xuất hiện có nghĩa là sự liên hệ ấy ngày càng

thêm chặt chẽ Tư bản xuất hiện có nghĩa là mối

liên hệ ấy phát triển đến mức sức lao động của

con người trở thành hàng hóa Người công nhân

dùng một phần thời gian lao động để bù vào chi

phí nuôi thân và nuôi gia đình mình (tiền công);còn phần thời gian kia thì để làm công không, tao

ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, đó là nguồnlợi nhuận, nguồn giàu có của giai cấp tư bản chủnghĩa Lênin cho rằng lý luận về giá trị thặng dư

là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác

- Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp mà đạidiện là X.Ximông và S.Phuriê Theo V.I.Lênin,khi chế độ phong kiến bị lật đổ, khi xã hội tư bảnchủ nghĩa ra đời, hình thành nên một hệ thống ápbức, bóc lột mới Ngay sau đó các loại học thuyết

xã hội chủ nghĩa bắt đầu mọc ra phản ánh và phêphán tình trạng áp bức ấy Nhưng nó khôngtưởng ở chỗ, nó chỉ chỉ trích, kết tội nguyền rủa

xã hội tư bản chủ nghĩa; nó mơ ước xãa bỏ xãhội này và tưởng tượng ra một chế độ xã hội tốtđẹp hơn; nó tìm cách thuyết phục những ngườigiàu để họ thấy rằng bóc lột những người nghèokhổ là vô nhân đạo V.I.Lênin cho rằng chủ nghĩa

xã hội không tưởng không thể vạch ra được mộtlối thoát thật sự Nó không giải thích được bảnchất của chế độ nô lệ làm thuê trong chế độ tưbản chủ nghĩa, cũng không phát hiện ra đượcnhững qui luật phát triển của chế độ ấy và cũngkhông tìm thấy lực lượng xã hội có khả năng trởthành người sáng tạo xã hội mới Chỉ có lý luậnkinh tế của Mác là đã giải thích được vị trí chânchính của giai cấp vô sản trong toàn bộ chế độ tưbản chủ nghĩa

- Tiền đề khoa học

- Định luật bảo toàn chuyển hoá năng lượng nóilên rằng năng lượng luôn vận động, biến đổi,chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác Nếunăng lượng là một dạng cụ thể của vật chất, thìđiều đó cũng nghĩa rằng vật chất không khôngbiến mất, mà nó luôn vận động chuyển hóa từdạng này sang dạng khác Định luật bảo toàn vàchuyển hoá năng lượng trong vật lý đó chứngminh cho quan điểm biện chứng với tư tưởng chủđạo là mọi cáI đều vận động, biến đổi; chonguyên lý triết học về tính bất diệt của vật chất

và vận động

- Học thuyết tế bào chứng minh mọi cơ thể sinhvật đều được cấu tạo từ tế bào, từ vật chất chứkhông phải do một lực lượng siêu nhiên, một vịthần linh nào đó sáng tạo ra; và những tế bào này

Trang 5

không phải là bất biến, mà chúng luôn trong quá

trình biến đổi, phát sinh, phát triển

- Học thuyết tiến hoá của Đácuyn đó chứng minh

rằng tất cả các sinh vật từ những cơ thể đơn giản

nhất cho đến những cơ thể có tổ chức cao nhất là

con người, đều là kết quả của một quá trình tiến

hoá lâu dài của vật chất và tuân theo các qui luật

khách quan

- Với những phát minh này khiến cho quan điểm

siêu hình thế kỷ XVII - XVIII trở nên chật chội

và không còn phự hợp Từ đó, "Quan niệm mới

về giới tự nhiên đó được hoàn thành trên những

nét cơ bản: tất cả cái gì cứng nhắc đều bị tan ra,

tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khói;

và tất cả những gì đặc biệt mà người ta cho là tồn

tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời; và người

ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều

vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh

cửu" Vật chất vận động theo một chu trình bất

diệt (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb

CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1994, t.20, tr 471)

Phép biện chứng khẳng định cái gì có sinh ra thì

rồi sẽ có mất đi, có sinh thì có diệt, tất cả cái gì

đã phát sinh thì đều phải tiêu vong, trái đất, hệ

thống mặt trời cũng vậy khi đã hoàn thành sự

nghiệp của chúng ttừ vật chất đang vĩnh viễn

chuyển hoá, vĩnh viễn vận động và các qui luật

của sự vận động và chuyển hoá đó Đó cũng

Tình hình mới của lịch sử và thời đại đặt ra

là phải chống lại chủ nghĩa duy tâm các loại vàkhắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vậttrước Mác trong quan niệm về vật chất Muốnvậy phải có một quan niệm khoa học về vật chất.V.I Lênin đã hoàn thành nhiệm vụ đó

Một mặt, trên cơ sở phân tích một cách sâusắc và khỏi quát những thành tựu mới nhất của khoahọc tự nhiên; mặt khác, kế thừa và tiếp tục pháttriển những tư tưởng triết học của C.Mác vàPh.Ăngghen về sự đối lập giữa vật chất và ý thức,

về bản chất và tính thống nhất vật chất của thế giới,

về tính khỏi quát của phạm trù vật chất và sự tồn tạicủa vật chất dưới các dạng cụ thể v.v, vào năm

1908, trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ

nghĩa kinh nghiệm phê phán V.I Lênin đã nêu ra

định nghĩa khoa học về vật chất:

"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để

chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng

ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không

lệ thuộc vào cảm giác" 2

Để nắm nội dung định nghĩa vật chất của

V.I Lênin, trước hết cần tìm hiểu phương pháp

định nghĩa vật chất V.I.Lênin chỉ ra rằng, không

thể định nghĩa vật chất bằng phương pháp địnhnghĩa các khỏi niệm thông thường Phươngpháp định nghĩa các khỏi niệm thông thường làquy khỏi niệm cần định nghĩa vào khỏi niệm

rộng hơn nó, rồi chỉ ra đặc điểm của nó Chẳng

hạn định nghĩa: hình vuông là hình tứ giác có 4cạnh bằng nhau, 4 góc vuông và có 2 đường chéobằng nhau, giao điểm giữa hai đường chéo vuônggóc và chia đường chéo thành hai nửa bằng nhau.Nhưng đối với phạm trù vật chất, với tư cách làmột phạm trù triết học - một phạm trù rộng nhất,rộng đến cùng cực, không thể có một phạm trùnào rộng hơn phạm trù vật chất - thì duy nhất về

mặt phương pháp luận chỉ có thể định nghĩa vật

chất bằng cách đối lập tuyệt đối nó với ý thức,

xem vật chất là thực tại khách quan tồn tại độclập với ý thức là cái phản ánh nó V.I Lênin chỉ

ra rằng,"không thể đem lại cho hai khỏi niệm

2 2. Sđd, tr.151.

Trang 6

nhận thức luận này một định nghĩa nào khác

ngoài cách chỉ rõ rằng trong hai khỏi niệm đó,

cái nào được coi là có trước"1 Vì vậy, trong định

nghĩa vật chất đã xuất hiện từ cảm giác (tức ý

thức)

Định nghĩa vật chất của V.I Lênin bao hàm

các nội dung sau đây:

Một là, vật chất là một phạm trù triết học

dùng để chỉ thực tại khách quan Khi nói vật chất

với tư cách là một phạm trù triết học thì nó là một

sự trìu tượng Vì vậy "chúng ta không biết, vì chưa

có ai nhân được và cảm thấy vật chất với tính cách

là vật chất bằng con đường cảm tính nào khác"1

Song sự trìu tượng này chỉ cái đặc tính chung nhất,

bản chất nhất mà mọi sự vật, hiện tượng, quá trình

cụ thể nào của vật chất cũng có, đó là đặc tính tồn

tại khách quan * và độc lập với ý thức của loài

người Đặc tính này là tiêu chuẩn cơ bản duy nhất

để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là

vật chất Khi nghiên cứu nội dung này cần phải

chú ý cả hai khía cạnh phân biệt nhau, nhưng lại

gắn bó với nhau, đó là tính trìu tượng và tính hiện

thực cụ thể của vật chất Nếu chỉ thấy tính trìu

tượng, thổi phồng tính trìu tượng mà quên mất

những biểu hiện cụ thể của vật chất thì không thấy

vật chất đâu cả, sẽ rơi vào lập trường duy tâm Ph

Ăngghen chỉ ra rằng, "có thể nhận biết được vật

chất bằng cách nghiên cứu những vật thể riêng

biệt"2 "Chúng ta rất có thể ăn được trái anh đào và

trái mận, nhưng chúng ta không thể ăn được trái

cây vì chưa có ai ăn được trái cây với tính cách là

trái cây"3 Ngược lại, nếu chỉ thấy tính hiện thực cụ

thể của vật chất sẽ đồng nhất vật chất với vật thể

Cần khẳng định rằng, chủ nghĩa duy vật mácxit

không bao giờ quy vật chất thành những "viên

gạch nhỏ của lâu đài thế giới" có tính chất bất biến

1Sđd, tr 171

1,2,3 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1994, t.20, tr 726, 727.

* Cần chú ý rằng: Trong tồn tại khách quan có bao hàm "tồn tại cảm

tính", tức là có bao hàm cái tồn tại mà chúng ta cảm biết được thông

qua các giác quan của mình Do vậy, khái niệm tồn tại khách quan chỉ

bao hàm chứ không phải đồng nhất với khái niệm tồn tại cảm tính, vì

có những cái tồn tại khách quan nhưng hiện này chúng ta chưa cảm

biết được Nếu thừa nhận điều khác nhau cơ bản giữa vật chất và ý

thức là ở sự tồn tại cảm tính này thì có nghĩa phải thừa nhận rằng

những cái gì tồn tại một cách khách quan nhưng chúng ta chưa cảm

biết được không phải là vật chất.

mà luôn luôn hiểu vật chất là thực tại khách quan

tồn tại độc lập với ý thức và được ý thức của con người phản ánh.

Ý nghĩa của nội dung này là ở chỗ: thứ nhất, khắc phục triệt để sai lầm cơ bản của chủ

nghĩa duy vật trước Mác, đó là quy vật chất vềmột dạng cụ thể của vật chất; đưa học thuyết duyvật tiến lên một bước mới, đáp ứng được nhữngđòi hỏi mới do những phát minh mới nhất của

khoa học tự nhiên đề ra; thứ hai, cho chúng ta cơ

sở khoa học để nhận thức vật chất dưới dạng xãhội, đó là những quan hệ sản xuất, tổng hợp cácquan hệ sản xuất là cơ sở hạ tầng, tạo thành quan

hệ vật chất, và từ đây làm nảy sinh quan hệ tưtưởng, đó là kiến trúc thượng tầng Định nghĩavật chất của V.I Lênin đã khắc phục quan điểmduy tâm về lĩnh vực xã hội của chủ nghĩa duy vậttrước Mác

Hai là, thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Với nội dung này, V.I Lênin

làm rõ mối quan hệ giữa thực tại khách quan vàcảm giác rằng, thực tại khách quan (tức là vậtchất) là cái có trước ý thức, không phụ thuộc vào

ý thức, độc lập với ý thức; còn cảm giác (tức là ýthức) của con người là cái có sau vật chất, do vậtchất sinh ra, phụ thuộc vào vật chất Như vậy vậtchất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Vậtchất là nội dung, là nguồn gốc khách quan, lànguyên nhân phát sinh ra ý thức; không có cái bịphản ánh là vật chất sẽ không có cái phản ánh là

ý thức Ý thức là sản phẩm của sự tác động củavật chất vào giác quan con người Tất cả những

gì tồn tại khách quan tác động vào giác quan đemlại cho con người trong cảm giác đều là vật chất

Ý nghĩa của nội dung này là ở chỗ: nó

chống lại mọi luận điệu sai lầm của chủ nghĩaduy tâm dưới mọi hình thức như duy tâm chủquan, duy tâm khách quan, nhị nguyên luận v.v

là những trường phái triết học cố luận giải chotinh thần là cái sinh ra mọi sự vật, hiện tượngphong phú, đa dạng của thế giới xung quanhchúng ta

Ba là, thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh Với nội

dung này, V.I Lênin chứng minh vật chất tồn tại

Trang 7

khách quan, nhưng không phải tồn tại một cách

vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực

dưới dạng các sự vật, hiện tượng và quá trình cụ

thể, và con người bằng các giác quan của mình

có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận biết được

Nghĩa là, ngoài dấu hiệu tồn tại khách quan, vật

chất còn có một dấu hiệu quan trọng khác đó là

tính có thể nhận thức được Khẳng định vật chất

là cái được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp

lại, phản ánh V.I Lênin muốn nhấn mạnh

rằng, bằng những phương thức nhận thức khác

nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh ) con người

có thể nhận thức được thế giới vật chất Vì vậy,

về nguyên tắc, không có đối tượng vật chất nào

không thể nhận biết, chỉ có những đối tượng vật

chất chưa nhận thức được mà thôi

Ý nghĩa của nội dung này là ở chỗ: thứ

nhất, hoàn toàn bác bỏ thuyết không thể biết; thứ

hai, cổ vũ các nhà khoa học ngày càng đi sâu vào

nghiên cứu, phát hiện ra những kết cấu mới,

những thuộc tính mới cũng như những quy luật

vận động và phát triển của thế giới vật chất, từ đó

làm giàu thêm kho tàng tri thức của nhân loại

Là kết quả của sự khỏi quát trên phương

diện triết học những thành tựu mới nhất của khoa

học tự nhiên và hoạt động thực tiễn của con

người, định nghĩa vật chất của V.I Lênin đã giải

đáp một cách khoa học, sâu sắc cả hai mặt nội

dung vấn đề cơ bản của triết học Vì vậy, ngoài ý

nghĩa thế giới quan khoa học trên đây, định

nghĩa vật chất của V.I Lênin còn có ý nghĩa

phương pháp luận chung đối với chúng ta trong

nhận thức và hoạt động thực tiễn

Vì vật chất có trước, tồn tại khách quan

không phụ thuộc vào ý thức, ý thức có sau vật

chất; vật chất quyết định ý thức, cho nên trong

nhận thức và hoạt động thực tiễn "phải luôn luôn

xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo

quy luật khách quan" 1 , phải xuất phát từ điều

kiện vật chất khách quan đã và đang có làm cơ

sở cho mọi hành động của mình; không được lấy

ý muốn, nguyện vọng chủ quan làm điểm xuất

phát Yêu cầu khi đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và

các biện pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cho

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.30.

địa phương mình, đơn vị mình, ngành mình, phảinắm chắc tình hình thực tế khách quan thì mớinêu ra mục đích, chủ trương đúng và sẽ đi đếnthắng lợi trong hoạt động thực tiễn Ngược lại,cần chống thái độ chủ quan, duy ý chí, nóng vội,bất chấp quy luật khách quan, không đếm xỉa đếnđiều kiện vật chất khách quan, tuỳ tiện, phiếndiện; lấy ý muốn, nguyện vọng, cảm tính làmxuất phát điểm cho chủ trương, chính sách; hậuquả là đường lối không hiện thực, không tưởng

và tất yếu sẽ đi đến thất bại trong hoạt động thựctiễn

Hơn 100 năm đã trôi qua, định nghĩa kinhđiển về vật chất của triết học mácxit do V.I Lêninnêu ra luôn luôn có ý nghĩa thế giới quan vàphương pháp luận khoa học đối với giai cấp côngnhân và nhân loại tiến bộ trong công cuộc sáng tạo

xã hội mới Và cả trong thời đại hiện nay, địnhnghĩa vật chất của V.I Lênin vẫn là cơ sở lý luậnkhoa học cho các đảng cộng sản và công nhântrong cuộc đấu tranh cho sự trong sáng của lý luậnmácxit, chống lại mọi sai lầm của các trào lưu triếthọc tư sản hiện đại, chống chủ nghĩa giáo điều vàchủ nghĩa xét lại trong triết học

Trang 8

4 Đồng chí hãy phân tích quan điểm triết học

Mác - Lênin về bản chất và vai trò của mâu

thuẫn biện chứng.

Khi nói tới những nhân tố cấu thành

mâu thuẫn biện chứng, "đối lập", "mặt đối lập",

là phạm trù dùng để chỉ những mặt* có những

đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định

có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại

một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư

duy Chính những mặt như vậy nằm trong sự liên

hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành mâu

thuẫn biện chứng Đặc trưng đó cho thấy sự khác

biệt rất cơ bản giữa quan điểm duy vật biện

chứng và quan điểm duy tâm, siêu hình về mâu

thuẫn cũng như sự khác biệt về chất giữa mâu

thuẫn biện chứng với các loại mâu thuẫn khác

Hai mặt đối lập tuy có thuộc tính bài ttừ, phủ

định nhau, nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với

nhau, chúng đồng thời tồn tại Chẳng hạn, nguyên

tử nào cũng có hạt mang diện tích dương, hạt mang

diện tích âm; cơ thể sinh vật nào cũng có đồng hoá

và dị hoá

Sự cùng tồn tại của hai mặt đối lập trong sự

vật được gọi là sự thống nhất của chúng Nói cách

khác, sự "thống nhất" của các mặt đối lập là sự

nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt

đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại

của mặt kia làm tiền đề Như vậy, cũng có thể xem

sự thống nhất của hai mặt đối lập là tính không thể

tách rời của hai mặt đó

Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu

hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng Song,

đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một

giai đoạn phát triển, khi diễn ra sự cân bằng của

các mặt đối lập

Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt

đối lập luôn luôn tác động qua lại với nhau, "đấu

tranh" với nhau Đấu tranh giữa các mặt đối lập

là sự tác động qua lại theo xu hướng bài ttừ và

phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Trong các sự

vật khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau của

mâu thuẫn, sự đấu tranh của các mặt đối lập cũng

không như nhau Tính đa dạng của hình thức đấu

tranh giữa các mặt đối lập tuỳ thuộc vào tính chất

* Chữ "mặt" dùng ở đây là một khái niệm mang tính khái quát, nó

bao gồm cả sự vật, hệ thống sự vật, thuộc tính.

của các mặt đối lập cũng như của mối quan hệqua lại giữa chúng, phụ thuộc vào tồn tại của cácmặt đối lập, phụ thuộc vào điều kiện trong đódiễn ra cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập Với tư cách là hai trạng thái đối lập trong mốiquan hệ qua lại giữa hai mặt đối lập, sự thống nhất

và đấu tranh của các mặt đối lập có quan hệ chặt

chẽ với nhau, trong đó, sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối.

Vai trò của mâu thuẫn biện chứng đối với

sự vận động và sự phát triển

Những người theo chủ nghĩa duy tâm tìmnguồn gốc của sự vận động và sự phát triển ở lýtrí, ở ý muốn của con người, của cá nhân kiệtxuất hay ở các lực lượng siêu nhiên

Do phủ nhận sự tồn tại khách quan của mâuthuẫn trong sự vật và hiện tượng, những ngườitheo quan điểm siêu hình tìm nguồn gốc của sựvận động và sự phát triển ở sự tác động từ bênngoài đối với sự vật Rốt cuộc, họ đã phải nhờđến "cái hích đầu tiên" như Niutơn, hay cầu việntới Thượng đế như ở Arixtốt Như vậy, bằng cáchnày hay cách khác, quan điểm siêu hình vềnguồn gốc vận động và phát triển sớm hay muộn

sẽ dẫn tới chủ nghĩa duy tâm

Dựa trên những thành tựu khoa học và thựctiễn, chủ nghĩa duy vật biện chứng tìm thấynguồn gốc của vận động và phát triển ở mâuthuẫn, ở sự đấu tranh giữa các khuynh hướng,các mặt đối lập tồn tại trong các sự vật và hiệntượng

Dưới hình thức chung nhất, tư tưởng xemmâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát triển

đã được Hêraclít nói tới và được Hêghen phát triểnlên trong sự vận dụng vào nhận thức Hêghen viết:

"Mâu thuẫn, thực tế là cái thúc đẩy thế giới"1 Hơnnữa, ông còn xem "mâu thuẫn là cội nguồn của tất

cả vận động và sự sống"2.C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã luậnchứng và phát triển hơn nữa những luận điểm đótrên cơ sở biện chứng duy vật C.Mác viết: "Sựcùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn nhau, sự

1 Hêghen: Bách khoa thư các khoa học triết học, Mátxcơva, 1974,

t.1, tr 280 (tiếng Nga).

2 Hê ghen: Khoa học lôgích, Mátxcơva, 1974, t.2, tr 65 (tiếng

Nga).

Trang 9

đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp hai mặt

ấy thành một phạm trù mới tạo thành bản chất

của sự vận động biện chứng"1 Nhấn mạnh hơn

nữa tư tưởng đó, V.I.Lênin viết:"Sự phát triển là

một cuộc "đấu tranh" giữa các mặt đối lập"2

Để hiểu được kết luận đó, chúng ta lưu ý

rằng theo Ph.Ăngghen, nguyên nhân chính và

cuối cùng của mọi sự vật là sự tác động lẫn

nhau Chính sự tác động qua lại đó tạo thành

nguồn gốc của sự vận động và phát triển Mâu

thuẫn là sự tác động lẫn nhau của các mặt, các

khuynh hướng đối lập Sự tác động qua lại, sự

đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách

tất yếu những thay đổi của các mặt đang tác động

qua lại cũng như của sự vật nói chung, nó là

nguồn gốc vận động và phát triển, là xung lực

của sự sống Chẳng hạn, bất kỳ một sinh vật nào

cũng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có

sự tác động qua lại giữa đồng hoá và dị hoá Sự

tiến hoá của các giống loài không thể có được,

nếu không có sự tác động qua lại giữa di truyền

và biến dị Tư tưởng, nhận thức của con người

không thể phát triển, nếu không có sự cọ sát

thường xuyên với thực tiễn, không có sự tranh

luận để làm rõ đúng sai Đảng ta nói chung, từng

đảng viên nói riêng không thể ngày càng hoàn

thiện bản thân mình, khi không đẩy mạnh phê

bình và tự phê bình với tư cách là hình thức đặc

biệt của đấu tranh giữa các mặt đối lập trong

Đảng, giữa tích cực và tiêu cực, giữa nhận thức

-tư -tưởng đúng và sai Cho nên, Hội nghị lần thứ

sáu (lần 2) Ban chấp hànhTrung ương khoá VIII

của Đảng đã xem thực hiện nghiêm túc chế độ

phê bình và tự phê bình là một trong 10 nhiệm vụ

cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay1

Mặt khác, không có thống nhất của các mặt đối

lập thì cũng không có đấu tranh giữa các mặt đó,

do vậy, cũng không có mâu thuẫn nói chung

Hơn nữa, sự vận động và sự phát triển bao giờ

1 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu

Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1999, tr 31.

thay đổi Sự ổn định là điều kiện cho sự phânhoá, cho sự thay đổi và phát triển Thống nhất vàđấu tranh giữa các mặt đối lập quy định tính ổn

định và tính thay đổi của sự vật Do vậy, mâu

thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.

Trang 10

5 Đồng chí hãy phân tích quan điểm triết học

Mác - Lênin về quan hệ biện chứng giữa

cái riêng và cái chung.

- Khỏi niệm cái riêng, cái chung và cái đơn

nhất

Trong Bút ký triết học, V I Lênin nhận xét

rằng dù người ta bắt đầu bằng bất cứ một mệnh

đề nào, chẳng hạn, bắt đầu bằng những mệnh đề

đơn giản nhất, quen thuộc nhất như "Ivan là

người", "Giútsơca là con chó", v.v., thì ngay ở đó

người ta đã thấy có phép biện chứng rồi Phép

biện chứng đó thể hiện ở chỗ "cái riêng là

chung" V I Lênin nhận xét tiếp rằng: "Bất cứ

cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự

chuyển hoá mà liên hệ với những cái riêng thuộc

loại khác (sự vật, hiện tượng, quá trình)"1 Như

vậy, theo Lênin, phạm trù "cái riêng" được dùng

để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình

riêng lẻ nhất định, còn phạm trù "cái chung"

được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính

chung không những có ở một kết cấu vật chất

nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự

vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác nữa.

Trong các ví dụ trên thì Ivan, Giútsơca là những

"cái riêng" còn "người", "chó" là những "cái

chung", vì khỏi niệm "người" phản ánh những

thuộc tính chung, cơ bản, đặc trưng không chỉ

riêng cho Ivan, mà còn cho mọi con người cụ thể

khác nữa; cũng như vậy, khỏi niệm "chó" phản

ánh những thuộc tính chung, cơ bản không phải

chỉ có riêng ở con Giútsơca, mà còn được lặp lại

ở nhiều con chó khác

Cần phân biệt cái riêng với cái đơn nhất,

trong đó cái đơn nhất là phạm trù được dùng để

chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính

chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định và không

được lặp lại ở bất cứ một kết cấu vật chất nào

khác Chẳng hạn, trong thời kỳ trước Cách mạng

Tháng Tám năm 1945, bên cạnh những nét

chung với giai cấp công nhân ở các nước khác,

giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc

điểm riêng như: ra đời trước khi có giai cấp tư

sản Việt Nam, trong nội bộ không có tầng lớp

công nhân quý tộc, v.v Những đặc điểm này

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29, tr 381.

chính là những cái đơn nhất

- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ qua lại giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

Trước hết, theo quan điểm của chủ nghĩa duyvật biện chứng thì cả cái riêng, cái chung và cái đơn

nhất đều tồn tại Nhưng vấn đề là ở chỗ chúng tồn

tại như thế nào ? Theo chủ nghĩa duy vật biệnchứng:

Thứ nhất, "cái chung chỉ tồn tại trong

cái riêng, thông qua cái riêng"1 Điều đó cónghĩa là cái chung thực sự tồn tại, nhưng lại chỉtồn tại trong cái riêng chứ không tồn tại biệt lập,

lơ lửng ở đâu đó bên cạnh cái riêng Chẳng hạn,mỗi con cá cụ thể mà ta bắt gặp có thể có nhiềuthuộc tính cụ thể khác nhau, chẳng hạn con nàytrắng, con kia đen, con này mình dẹt, con kiamình tròn, v.v Nhưng dù có khác nhau đến thếnào đi nữa, bất kỳ con cá nào cũng đều là mộtđộng vật có xương sống, ở dưới nước, thở bằngmang, bơi bằng vây Các thuộc tính "là động vật

có xương sống, ở dưới nước, thở bằng mang vàbơi bằng vây" này chính là những thuộc tínhđược lặp đi lặp lại ở mọi con cá Chúng tạo nên

"cái chung" và "cái chung" này được phản ánhtrong khỏi niệm "cá" Rõ ràng là "cái chung" nàythực sự tồn tại, nhưng nó chỉ tồn tại trong từngcon cá cụ thể, thông qua từng con cá cụ thể màbiểu hiện mình chứ không có một "con cá nóichung" nào tồn tại ở bên ngoài những con cá cụthể cả

Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên

hệ đưa tới cái chung V.I.Lênin viết: "cái riêngchỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung"1.Tại sao vậy? Vì bất cứ cái riêng nào, tức là bất

cứ sự vật, hiện tượng, quá trình nào trong khi tồntại cũng đều tham gia vào muôn vàn mối liên hệqua lại với các sự vật, hiện tượng, quá trình khácchung quanh mình Các mối liên hệ qua lại ấy cứtrải rộng dần và trong số chúng sẽ có những mốiliên hệ dẫn đến một cái chung nào đấy Thậm chí

có những cái ta tưởng như hết sức xa lạ, hoàntoàn không dính dáng gì đến nhau, ví như cái

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29, tr 381.

1 V.I.Lênin: Toàn tập, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1980, t.29, tr.

381.

Trang 11

bàn trong phòng này và con hổ trong từng kia,

thế nhưng, nếu xét kỹ thì thông qua hàng nghìn

mối liên hệ, cuối cùng ta vẫn thấy giữa chúng có

những cái chung nhất định, chẳng hạn, trong

trường hợp vừa dẫn, cả cái bàn và con hổ đều

được cấu tạo nên từ những nguyên tố hoá học, từ

những nguyên tử, điện tử nhất định

Chính vì thế, V.I Lênin không chỉ khẳng

định rằng, cái riêng không tồn tại như thế nào

khác ngoài mối liên hệ dẫn tới cái chung, mà còn

nhận xét rằng, thông qua hàng nghìn sự chuyển

hoá, nó còn liên hệ với những cái riêng thuộc

loại khác.

Thứ ba, mối quan hệ giữa cái riêng và cái

chung còn thể hiện ở chỗ cái chung là một bộ

phận của cái riêng, còn cái riêng không gia nhập

hết vào cái chung "Bất cứ cái riêng (nào cũng) là

cái chung Bất cứ cái chung nào cũng là (một bộ

phận, một khía cạnh, hay một bản chất) của cái

riêng Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát

một cách đại khỏi tất cả mọi vật riêng lẻ Bất cứ

cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái

chung"1

Khẳng định trên đây phản ánh một sự thật

là bên cạnh những thuộc tính được lặp lại ở các

sự vật khác, tức là bên cạnh cái chung, bất cứ cái

riêng nào cũng còn chứa đựng những cái đơn

nhất, những cái chỉ vốn có ở nó và không được

lặp lại ở bất cứ sự vật nào nữa

Thứ tư, trong quá trình phát triển khách

quan của sự vật, trong những điều kiện nhất định,

cái đơn nhất có thể biến thành cái chung, và

ngược lại, cái chung có thể biến thành cái đơn

nhất

Có tình hình đó là do trong hiện thực cái

mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc

Lúc đầu nó xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất, cái

cá biệt Nhưng theo quy luật, cái mới nhất định

sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở nên hoàn

thiện, tiến tới hoàn toàn chiến thắng cái cũ và trở

thành cái chung Ngược lại, cái cũ ngày càng mất

dần đi và từ chỗ là cái chung nó biến dần thành

cái đơn nhất

- ý nghia phương pháp luận

Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông

1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1981, t.29, tr 381.

qua cái riêng nên chỉ có thể tìm cái chung trong cáiriêng chứ không thể ở ngoài cái riêng Để phát hiệncái chung cần xuất phát từ những cái riêng, từnhững sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ cụ thểchứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan củacon người

Mặt khác, vì cái chung chỉ tồn tại trong cáiriêng như một bộ phận của cái riêng, bộ phận đótác động qua lại với những mặt còn lại của cáiriêng - những mặt không gia nhập vào cái chung

- nên bất cứ cái chung nào cũng tồn tại trong cáiriêng dưới dạng bị cải biến Từ đó, một kết luậnđược rút ra là bất cứ cái chung nào khi áp dụngvào từng trường hợp riêng cũng cần được cá biệthoá Nếu không chú ý tới sự cá biệt hoá đó, đem

áp dụng nguyên xi cái chung, tuyệt đối hoá cáichung thì sẽ rơi vào sai lầm của những người tảkhuynh, giáo điều Ngược lại, nếu xem thườngcái chung, chỉ chú ý đến cái đơn nhất, tuyệt đốihoá cái đơn nhất, thì sẽ rơi vào sai lầm củanhững người hữu khuynh, xét lại

Vì cái riêng gắn bó chặt chẽ với cái chung,không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ dẫn tới cáichung, cho nên để giải quyết những vấn đề riêngmột cách có hiệu quả thì không thể lảng tránhviệc giải quyết những vấn đề chung - những vấn

đề lý luận liên quan với các vấn đề riêng đó Nếukhông giải quyết những vấn đề lý luận chung, sẽkhông tránh khỏi sa vào tình trạng mò mẫm, tuỳtiện, kinh nghiệm chủ nghĩa V.I Lênin viết:

"Người nào bắt tay vào những vấn đề riêngtrước khi giải quyết những vấn đề chung, thì kẻ

đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi

"vấp phải" những vấn đề chung đó một cáchkhông tự giác Mà mù quáng vấp phải những vấn

đề đó trong từng trường hợp riêng, thì có nghĩa làđưa chính sách của mình đến chỗ có những sựdao động tồi tệ nhất và mất hẳn tính nguyêntắc"1

Vì trong quá trình phát triển của sựvật, trong những điều kiện nhất định, cái đơnnhất có thể biến thành cái chung; ngược lại, cáichung có thể biến thành cái đơn nhất nên tronghoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuậnlợi cho cái đơn nhất biến thành cái chung, nếucái đơn nhất đó là cái tiến bộ, phù hợp với quy

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.15, tr 437

Trang 12

luật phát triển, và ngược lại, biến cái chung thành

cái đơn nhất, nếu sự tồn tại của cái chung đã lạc

hậu, lỗi thời, cản trở sự phát triển

6 Đồng chí hãy phân tích khỏi niệm thực tiễn

và các hình thức cơ bản của thực tiễn.

Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phụcnhững hạn chế trong quan niệm về thực tiễn củacác nhà triết học trước đó trong lịch sử, C.Mác

và Ph.Ăngghen đó đa ra một quan điểm đúngđắn, khoa học về thực tiễn cũng như vai trò củathực tiễn đối với nhận thức Với việc đưa phạmtrù thực tiễn vào lý luận nhận thức, C.Mác vàPh.Ăngghen đó làm cho triết học của các ônghơn hẳn về chất so với toàn bộ các trường pháitriết học khác

Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin,

thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.

-Từ quan niệm về thực tiễn trên của triếthọc Mác-Lênin, chúng ta thấy, thực tiễn gồmnhững đặc trưng sau:

Thứ nhất, thực tiễn không phải toàn bộ

hoạt động của con người mà chỉ là những hoạtđộng vật chất - cảm tính, như lời của Mác, đó lànhững hoạt động vật chất cảm giác được Nghĩa

là con người có thể quan sát trực quan được cáchoạt động vật chất này Hoạt động vật chất - cảmtính là những hoạt động mà con người phải sửdụng lực lượng vật chất, công cụ vật chất tácđộng vào các đối tượng vật chất để làm biến đổichúng Trên cơ sở đó, con người mới làm biếnđổi được thế giới khách quan và biến đổi chínhbản thân mình

Thứ hai, hoạt động thực tiễn là những

hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con ười Nghĩa là, thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ratrong xã hội, với sự tham gia của đông đảo ngườitrong xã hội Trong hoạt động thực tiễn conngười truyền lại cho nhau những kinh nghiệm từthế hệ này qua thế hệ khác Cũng vì vậy, hoạtđộng thực tiễn luôn bị giới hạn bởi những điềukiện lịch sử - xã hội cụ thể Đồng thời, thực tiễn

ng-có trải qua các giai đoạn lịch sử phát triển cụ thể

Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục

đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ conngười Khác với hoạt động có tính bản năng, tựphát của động vật nhằm thích nghi thụ động vớithế giới, con người bằng và thông qua hoạt độngthực tiễn, chủ động tác động cải tạo thế giới để

Trang 13

thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách

chủ động, tích cực với thế giới Như vậy, nói tới

thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao

của con người, khác với hoạt động bản năng thụ

động của động vật

Nếu cắt theo chiều dọc, thực tiễn bao giờ

cũng bao gồm mục đích, phương tiện và kết quả

Mục đích được nảy sinh từ nhu cầu và lợi ích,

nhu cầu xét đến cùng được nảy sinh từ điều kiện

khách quan Lợi ích chính là cái thoả mãn nhu

cầu Để đạt mục đích, con người trong hoạt động

thực tiễn của mình phải lựa chọn phương tiện,

công cụ để thực hiện Kết quả phụ thuộc vào

nhiều nhân tố nhưng trước kết là phụ thuộc vào

mục đích đặt ra và phương tiện mà con người sử

dụng để thực hiện mục đích

Dù xem xét theo chiều dọc hay chiều

ngang thì thực tiễn là hoạt động thể hiện tính

mục đích, tính tự giác cao của con người - chủ

động tác động làm biến đổi tự nhiên, xã hội,

phục vụ con người, khác với những hoạt động

mang tính bản năng thụ động của động vật, nhằm

thích nghi với hoàn cảnh Rõ ràng, hoạt động

thực tiễn là hoạt động cơ bản, phổ biến của con

người và xã hội loài người, là phương thức cơ

bản của mối quan hệ giữa con người với thế giới

Nghĩa là con người quan hệ với thế giới bằng và

thông qua hoạt động thực tiễn Không có hoạt

động thực tiễn thì bản thân con người và xã hội

loài người không thể tồn tại và phát triển

các hình thức cơ bản của thực tiễn

Thực tiễn tồn tại dưới nhiều hình thức

khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau, nhưng

gồm những hình thức cơ bản: Hoạt động sản

xuất vật chất; hoạt động chính trị - xã hội và hoạt

động thực nghiệm khoa học Trong đó, hoạt động

sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn có sớm

nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất Bởi lẽ, ngay

từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất với

t-ư cách là ngt-ười, con ngt-ười đó phải tiến hành sản

xuất vật chất dù là giản đơn để đáp ứng nyhu cầu

tồn tại Sản xuất vật chất biểu thị mối quan hệ

của con người với tự nhiên và là phương thức tồn

tại cơ bản của con người và xã hội loài người

Không có sản xuất vật chất, con người và xã hội

loài người không thể tồn tại và phát triển Sản

xuất vật chất còn là cơ sở cho sự tồn tại của của

các hình thức thực tiễn khác cũng như tất cả cáchoạt động sống khác của con người

Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt độngthực tiễn thể hiện tính tự giác cao của con ngườinhằm biến đổi, cải tạo xã hội, phát triển các thiếtchế xã hội, các quan hệ xã hội,v.v Hoạt độngchính trị - xã hội bao gồm các hoạt động như đấutranh giai cấp; đấu tranh giải phóng dân tộc; đấutranh cho hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội; đấutranh cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội, nhằmtạo ra môi trường xã hội dân chủ, lành mạnh,thuận lợi cho con người và xã hội phát triển.Thiếu hình thức hoạt động thực tiễn này, con ng-ười và xã hội loài người cũng không thể pháttriển bình thường

Hoạt động thực nghiệm khoa học là hìnhthức đặc biệt của hoạt động thực tiễn Bởi lẽ,trong hoạt động thực nghiệm khoa học, con ngư-

ời chủ động tạo ra những điều kiện không có sẵntrong tự nhiên để tiến hành thực nghiệm khoahọc theo mục đích mà mình đó đề ra Trên cơ sở

đó, vận dụng những thành tựu khoa học, kỹthuật, công nghệ vào sản xuất vật chất, vào cảitạo chính trị - xã hội, cải tạo các quan hệ chínhtrị - xã hội Ngày nay, khi mà cách mạng khoahọc công nghệ phát triển như vũ bão, ‘‘tri thức xãhội phổ biến (Wissen, knowledge) đó chuyển hóa

đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực

tiếp,’’1 thì hình thức hoạt động thực tiễn nàyngày càng đóng vai trò quan trọng

Ba hình thức thực tiễn này có quan hệbiện chứng, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫnnhau Trong đó, sản xuất vật chất đóng vai tròquan trọng, quyết định hai hình thức thực tiễnkia Tuy nhiên, hai hình thức thực tiễn kia có ảnhhưởng quan trọng tới sản xuất vật chất Điều nàythể hiện từ ở chỗ, nếu xã hội không ổn định thìsản xuất vật chất cũng không thể phát triển Thựcnghiệm khoa học phát triển sẽ ảnh hưởng trựctiếp tới năng xuất, chất lượng, hiệu quả của sảnxuất vật chất Ngoài ba hình thức cơ bản trên,hoạt động thực tiễn còn được thể hiện ở một sốlĩnh vực khác như giáo dục, y tế, nghệ thuật, thểthao,v.v Nhưng xét đến cùng, những hình thứchoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực trên lại

1 C.Mỏc và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NxbCTQG,H.1995, tập 46,

phần II, tr.372.

Trang 14

thuộc về các hình thức cơ bản của hoạt động thực

tiễn

7 Đồng chí hãy phân tích khỏi niệm, kết cấu của hình thái kinh tế - xã hội và ý nghĩa của lý luận hình thái kinh tế - xã hội Hình thái kinh tế - xã hội là một khỏi niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ

xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và một kiến trúc thượng tầng tơng ứng đợc xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.

Kết cấu của Hình thái Kinh tế - xã hội:LLSX, QHSX, KTTT

Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệgiữa con người với tự nhiên, nó thể hiện năng lựccủa con người trong việc chinh phục giới tựnhiên, là nội dung của phương thức sản xuất.Lực lượng sản xuất bao gồm người sản xuất, tưliệu sản xuất Trong lực lượng sản xuất, ngườisản xuất là yếu tố quan trọng nhất Nhưng ngườisản xuất không phải là cái gì đó nhất thành bấtbiến mà trong mỗi thời đại kinh tế, với tư cách làyếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất

nó cũng luôn thay đổi Chẳng hạn, trong thời kỳcông trường thủ công, sức lực cơ bắp (lao độngchân tay) thể hiện từ nhất ở người sản xuất; trongthời kỳ cơ khí máy móc thì khía cạnh năng lực,

kỹ năng, kinh nghiệm điều hành máy móc lại nổitrội hơn (lao động chân tay kết hợp với lao độngtrí úc); còn trong thời đại kinh tế tri thức hiệnnay (hàm lượng tri thức trong sản phẩm chiếmđến 70%) thì khía cạnh tri thức lại nổi trội Nhưvậy, cái quan trọng có tính chất quyết định tronglực lượng sản xuất hiện nay không phải là sứclực cơ bắp, không phải là kỹ năng, kinh nghiệm

sử dụng, vận hành máy móc, mà là tri thức củangười sản xuất (lao động trí óc) Từ đó, đối vớicác nước trên thế giới hiện nay, đầu tư cho giáodục là đầu tư có tính chất chiến lược, vô cùngquan trọng Ở nước ta hiện nay, Đảng ta chủtrương giáo dục, khoa học công nghệ là quốcsách hàng đầu, là nền tảng thúc đẩy công nghiệphóa, hiện đại hóa

Một yếu tố nữa của lực lượng sản xuất là

tư liệu sản xuất bao gồm công cụ sản xuất (công

cụ lao động), đối tượng sản xuất (đối tượng laođộng), phương tiện sản xuất (phương tiện lao

Trang 15

động) Trong lực lượng sản xuất, nếu người sản

xuất là yếu tố quan trọng nhất thì công cụ sản

xuất (công cụ lao động) là yếu tố động nhất

Trình độ phát triển của công cụ sản xuất, công cụ

lao động thể hiện trình độ hay thước đo việc

chinh phục giới tự nhiên của con người Sự thay

đổi một cách căn bản công cụ lao động theo

nghĩa nào kéo theo sự thay đổi của các thời đại

kinh tế

Ngay đối tượng sản xuất hiện nay cũng

khác trước rất xa Nếu trong nền văn minh nông

nghiệp, đối tượng sản xuất chủ yếu là ruộng đất;

trong nền văn minh cơ khí, đối tượng sản xuất lại

được mở rộng ra, ngoài ruộng đất thì đối tượng

sản xuất chủ yếu của thời kỳ này là các nguyên

vật liệu như than đá, chất đốt, dầu khí, các

nguyên liệu hóa thạch, các hầm mỏ, sắt, thép,

sợi, … nói chung là các nguyên vật liệu cần cho

các ngành công nghiệp, các nhà máy, công

xưởng; thì đối tượng sản xuất trong thời đại ngày

nay ngoài những đối tượng trên, chủ yếu lại là

thông tin Hiện nay thông tin cũng là của cải

Trong tư liệu sản xuất còn bao gồm cả

phương tiện sản xuất như đường xá, cầu cống, xe

cộ, bến cảng, kho chứa, …

Hiện nay khoa học, đặc biệt là khoa học

kỹ thuật và công nghệ cũng trở thành lực lượng

sản xuất và nó là nguyên nhântrực tiếp của nhiều

biến đổi trong sản xuất và trở thành một nhân tố

không thể thiếu được của quá trình sản xuất; nó

thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất

và đem lại sự thay đổi về chất của lực lượng sản

xuất; nó ngày càng được áp dụng rộng rãi trong

sản xuất, nó làm cho quá trình sản xuất chính là

quá trình ứng dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật;

do đó, nó có ý nghĩa sống còn đối với nhiều quá

trình sản xuất

Theo đà phát triển của sản xuất, khối

lượng và chất lượng của cải xã hội sẽ được quyết

định bởi ứng dụng khoa học vào sản xuất Từ đó

một số học thuyết của các nhà tư tưởng tư sản đó

đi đến chỗ tuyệt đối hóa, thổi phồng, khuyếch đại

vai trò của khoa học kỹ thuật, chẳng hạn như

học thuyết các nền văn minh, học thuyết xã hội

hậu công nghiệp, xã hội thông tin, học thuyết kỹ

trị, nhằm mục đích thay thế học thuyết hình

thái kinh tế-xã hội của C.Mác Nhưng như chúng

ta đó biết, dù có trở thành lực lượng sản xuấtquan trọng, khoa học kỹ thuật cũng chỉ là một bộphận của lực lượng sản xuất Trong lực lượng sảnxuất, yếu tố quyết định vẫn là người sản xuất,mặc dù khoa học kỹ thuật nâng cao địa vị, vị thế,vai trò, sức mạnh của người sản xuất Nhữngmáy vi tính có thể tính nhanh và chính xác gấptriệu lần con người; những rôbốt người máy cóthể làm được những việc mà con người khôngthể làm nổi Nhưng những cái đó suy cho cùngđều do người sản xuất chế tạo ra, nếu thiếu ngườisản xuất, thì tự bản thân chúng cũng không thểphát huy tác dụng, cũng không thể làm gì được.Khoa học kỹ thuật muốn phát huy tác động phảithông qua người sản xuất, chịu sự chi phối củangười sản xuất

Lực lượng sản xuất trong bối cảnh toàncầu hoá kinh tế hiện nay, nó không chỉ được xãhội hóa như trước kia, mà nó ngày càng đượctoàn cầu hoá, quốc tế hoá Toàn cầu hóa, trướchết là toàn cầu hóa lực lượng sản xuất, toàn cầuhóa công cụ, phương tiện sản xuất

Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện

ở trình độ của những yếu tố cấu thành nó như trình độ của công cụ lao động, trình độ khoa học

kỹ thuật, trình độ của người lao động (kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức, trình độ tổ chức, quản

lý, phân công, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, cách thức mà con người tiến hành trong quá trình sản xuất).

.Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là khỏi niệm dùng đểchỉ quan hệ giữa con người và con người trongquá trình sản xuất vật chất; nó là hình thức củaphương thức sản xuất, là cơ sở kinh tế, cơ sở sâu

xa của đời sống tinh thần

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác, xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lạilẫn nhau giữa người với người Quan hệ giữangười với người tạo nên cái gọi là quan hệ xãhội, trong đó quan hệ sản xuất là cơ sở, nền tảng

và có ý nghĩa quyết định V.I.Lênin viết: “Trongcác lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, ông(C.Mác) đó làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế,bằng cách là trong tất cả mọi quan hệ xã hội, ông

đó làm nổi bật riêng những quan hệ sản xuất, coi

Trang 16

đó là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết

định tất cả mọi quan hệ khác"2

Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu

đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý

và quan hệ phân phối sản phẩm Ba quan hệ đó

liên hệ khăng khít với nhau, thống nhất với nhau

tạo nên một hệ thống mang tính ổn định tương

đối so với lực lượng sản xuất, trong đó yếu tố thứ

nhất đóng vai trò quyết định, nó qui định hai yếu

tố sau Quan hệ sản xuất, mặc dù là quan hệ giữa

con người với con người trong quá trình sản xuất

vật chất, nhưng nó không phụ thuộc vào ý muốn

chủ quan của họ, bởi lẽ như trên đó nói, riêng lẻ

từng cá nhânthì không thắng nổi tự nhiên; và như

vậy, muốn sản xuất ra của cải vật chất, buộc

người ta phải kết hợp với nhau dù muốn hay

không Do đó quan hệ sản xuất cũng là vật chất

dưới dạng xã hội, cái mà trước kia các nhà tư

tưởng không phát hiện ra

Cơ sở hạ tầng là tổng hợp các quan hệ

sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội

nhất định Nó bao gồm các quan hệ sản xuất

thống trị đặc trưng cho phương thức sản xuất,

các quan hệ sản xuất đan xen cũng như các quan

hệ sản xuất tàn dư và các quan hệ sản xuất tương

lại dưới dạng mầm mống đang tồn tại trong xã

hội đó Cơ sở hạ tầng ở phương Đông rất phức

tạp, nó bao gồm nhiều những dấu vết, tàn tích

của các xã hội, cơ sở hạ tầng trước đó, tạo nên

những lớp ngói chồng chéo lên nhau, nhưng lớp

sau không hề che khuất lớp trước

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch

sử thì toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp

quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật

cùng với những thiết chế xã hội tương ứng của

chúng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các

đoàn thể xã hội là cái được hình thành, được

xây dựng trên nền tảng của những cơ sở hạ tầng

nhất định, hợp thành kiến trúc thượng tầng xã

hội.

Kể từ thời cổ đại cho đến nay, trong bất cứ

hình thái kinh tế - xã hội nào, bên cạnh những

quan hệ sản xuất thống trị thường vẫn còn tàn dư

của những quan hệ sản xuất của xã hội cũ và cả

mầm mống của những quan hệ kinh tế - xã hội

2 V.I.Lờnin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974, T1, Tr.159

của tương lai Cho nên, cơ sở hạ tầng của một xãhội cụ thể được đặc trưng trước hết bởi kiểu quan

hệ sản xuất thống trị tiêu biểu cho xã hội ấy Tuynhiên, những quan hệ sản xuất quá độ (tàn dưcủa những quan hệ cũ, mầm mống của nhữngquan hệ mới và những kiểu quan hệ kinh tế khác

có thể có) cũng có vai trò nhất định Điều cầnchú ý là ở chỗ, trong hệ thống cơ cấu kinh tế đó,cái giữ địa vị chi phối, có vai trò chi phối và tácdụng quyết định đối với toàn bộ cơ sở hạ tầng làkiểu quan hệ sản xuất thống trị Tư tưởng thốngtrị của mỗi xã hội bao giờ cũng là tư tưởng củagiai cấp thống trị

Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là cơquan có vai trò đặc biệt quan trọng trong kiếntrúc thượng tầng, tiêu biểu cho chế độ chính trịhiện tồn Chính nhờ có nhà nước mà giai cấpthống trị áp đặt cho xã hội hệ tư tưởng của mình.Tính giai cấp của kiến trúc thượng tầng thể hiện

rõ ở sự đối lập về quan điểm tư tưởng và cuộcđấu tranh về mặt chính trị - tư tưởng của các giaicấp đối kháng Mâu thuẫn đối kháng trong kiếntrúc thượng tầng cũng bắt nguồn từ mâu thuẫntrong cơ sở hạ tầng

Trong kiến trúc thượng tầng của các xã hội

có đối kháng giai cấp, ngoài bộ phận chủ yếuđóng vai trò là công cụ của giai cấp thống trị đểbảo vệ cơ sở kinh tế của nó, còn có những yếu tốđối lập với bộ phận đó Đó là những tư tưởng,quan điểm, những tổ chức chính trị của các giaicấp bị trị

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầngliên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau,bởi lẽ cơ sở hạ tầng bao giờ cũng là cơ sở hạ tầngcủa một kiến trúc thượng tầng nhất định; ngượclại, kiến trúc thượng tầng bao giờ cũng là kiếntrúc thượng tầng được xây dựng trên một cơ sở

hạ tầng nhất định

í nghĩa:

Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xãhội đã khắc phục được quan điểm duy tâm, duyvật siêu hình về xã hội Nó bác bỏ cách miêu tả

xã hội một cách chung chung, phi lịch sử

Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xãhội là cơ sở phương pháp luận của các nhà khoahọc xã hội, là hòn đá tảng cho mọi nghiên cứu về

Trang 17

xã hội, và do đó là một trong những nền tảng lý

luận của chủ nghĩa xã hội khoa học

Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã

hội lần đầu tiên cung cấp những tiêu chuẩn thực

sự duy vật, khoa học cho việc phân kỳ lịch sử,

giúp con người hiểu được lôgíc khách quan của

quá trình tiến hoá xã hội Học thuyết này vạch ra

sự thống nhất của lịch sử trong cái muôn vẻ của

các sự kiện ở các nước khác nhau trong các thời

kỳ khác nhau Chính vì thế, nó đã đem lại cho

khoa học xã hội sợi dây dẫn đường để phát hiện

ra những mối liên hệ nhân quả, để giải thích chứ

không chỉ mô tả các sự kiện lịch sử Nó là cơ sở

khoa học để tiếp cận đúng đắn khi giải quyết

những vấn đề cơ bản của các ngành khoa học xã

hội rất đa dạng Bất kỳ một hiện tượng xã hội

nào, từ hiện tượng kinh tế đến hiện tượng tinh

thần, đều chỉ có thể hiểu đúng khi gắn với một

hình thái kinh tế - xã hội nhất định

8 Đồng chí hãy phân tích quan điểm Triết học Mác - Lênin về quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị.

Khỏi niệm kinh tế

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin, kinh tế hay những quan hệ kinh tế là cơ

sở quyết định của lịch sử xã hội, là những cách

thức và phương thức mà những con người trong

một xã hội nhất định nào đó dùng để sản xuất và

trao đổi sản phẩm với nhau Toàn bộ ký thuật sảnxuất và chuyên chở cũng đều nằm trong quan hệấy… (Ph.Ăngghen)

Như vậy, nói đến kinh tế là nói đến cơ cấukinh tế, các mối quan hệ kinh tế, đó là tổng thểcác quan hệ sản xuất hợp thành kết cấu kinh tế -

xã hội của một giai đoạn lịch sử nhất định

Tổng thể các quan hệ sản xuất luôn luôn

có mối liên hệ với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất Sự phù hợp giữa hệ thống cácquan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất được biểu hiện thông qua các chỉtiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế

Kinh tế là cơ sở tồn tại của chế độ chínhtrị - xã hội Tổng thể các quan hệ sản xuất có mốiquan hệ kiến trúc thượng tầng và là cơ sở tồn tạicủa kiến trúc thượng tầng

Tóm lại, thực chất của kinh tế là giải

quyết các mối quan hệ với lợi ích giữa người vớingười trong sản xuất nhằm giải phóng, phát triểnsản xuất

Khỏi niệm chính trị

Với tư cách là một hiện tượng xã hội đặcbiệt, chính trị xuất hiện khi xã hội phân chiathành các giai cấp, khi xuất hiện nhà nước

Quan điểm duy vật lịch sử về chính trịđòi hỏi phải xem xét nó trong quan hệ với kinh

tế, với giai cấp, với lợi ích giai cấp, với nhà nướccùng thiết chế chính trị bảo đảm hiện thực hoá(hoặc vô hiệu hoá) những nhu cầu chính trị vàkinh tế và, phải xây dựng một "lý luận chính trịduy vật"(1)

Xét về bản chất, chính trị là quan hệ giữacác giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế,

(1) V.I.Lờnin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mỏtxcơva, 1980, t.21,

tr.287.

Trang 18

chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại Trong

quan điểm đó, chính trị do kinh tế quy định

Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp

Phải xem xét nó trong mối quan hệ hữu cơ với

giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp

Mối quan hệ đó quy định nội dung và tạo thành

nền tảng hết sức quan trọng của chính trị Các

giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa chúng tạo

thành cơ sở trực tiếp của chính trị - mặc dù các

giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa chúng do

kinh tế quy định

Mối quan hệ giữa các giai cấp (chính trị)

không chỉ biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế mà còn

cả trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng Trong mối

quan hệ đó, quan hệ kinh tế mang tính quyết định

Vì thế, khi xác định bản chất của giai cấp, chủ

nghĩa Mác - Lênin trước hết nhấn mạnh phương

diện kinh tế Đó là một đặc trưng cơ bản, quan

trọng nhất, nhưng không phải là duy nhất ở đây,

giai cấp còn được xác định bởi những dấu hiệu

chính trị, bởi lợi ích chính trị, bởi quan hệ của nó

với nhà nước, bởi cuộc đấu tranh để giảnh lại sự

thống trị về chính trị Và, không phải mọi quan hệ

giai cấp đều quy về chính trị Các quan hệ giai cấp

chỉ trở thành chính trị, khi chúng là hình thức biểu

hiện của cuộc đấu tranh nhằm đạt tới sự thống trị,

giành lấy quyền lực nhà nước Lênin viết: "chủ

nghĩa Mác thừa nhận rằng: chỉ khi nào đấu tranh

giai cấp không những bao trùm lĩnh vực chính trị,

mà nó còn nắm lấy cái căn bản nhất trong chính trị:

tức là việc tổ chức chính quyền nhà nước, thì khi

đó nó mới là một cuộc đấu tranh giai cấp phát triển

đầy đủ"(2) Và, bất kỳ cuộc đấu tranh giai cấp nào ở

trình độ phát triển cao của nó đều là đấu tranh

chính trị

Chính trị có quan hệ hữu cơ với lợi ích

giai cấp Do vị trí khác nhau trong hệ thống sản

xuất của xã hội, các giai cấp có nhu cầu khác

nhau Các nhu cầu đó được biểu hiện trong

những lợi ích giai cấp nhất định Giai cấp thống

trị luôn quan tâm tới việc sử dụng mọi công cụ

có trong tay để duy trì, củng cố quan hệ sản xuất

thống trị mà nó là đại diện Giai cấp bị trị lại

muốn thay thế quan hệ sản xuất đó để giải phóng

mình Do vậy, Ph.Ăngghen nói rằng trong xã hội

(2) Lờnin, Toàn tập, Tiến bộ, Mỏtxcơva, 1980, tập 23, tr.302.

có đối kháng giai cấp, các quan hệ kinh tế baogiờ cũng được biểu hiện ra trước hết như lànhững lợi ích Bởi vì, trong xã hội có giai cấp,các lợi ích kinh tế cơ bản biểu hiện tập trung vàkhỏi quát thành lợi ích chính trị

Tóm lại, chính trị là mối quan hệ giữa các

giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia cóliên quan tới vấn đề giành, giữ và sử dụng quyềnlực nhà nước, là biểu hiện tập trung của kinh tế,

là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp,các đảng phái, các nhà nước để hiện thực hoá lợiích cơ bản của mình trong mối tương quan vớicác chủ thể chính trị khác

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

về quan hệ giữa kinh tế và chính trị.

Vai trò quyết đinh của kinh tế đối với chính trị.

Trong lý luận hình thái kinh tế - xã hội,Mác và Ăngghen đó nghiên cứu một cách sâu sắcmối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng

Các ông cho rằng, cơ sở hạ tầng bao giờcũng là nhân tố cơ bản quyết định kiến trúc

thượng tầng, nhân tố quyết định trong lịch sử, xét

đến cùng, là sự sản xuất và sự tái sản xuất ra đời

sống hiện thực, và khi "cơ sở kinh tế thay đổi thìtất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảolộn ít nhiều, nhanh chóng"

Thực chất mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng

và kiến trúc thượng tầng là quan hệ giữa kinh tế

và chính trị Kinh tế, nếu hiểu theo nghĩa là toàn

bộ các quan hệ sản xuất hợp thành kết cấu kinh

tế - xã hội của một giai đoạn lịch sử thì nó là một

hệ thống Nó tác động đến chính trị với tư cách làmột hệ thống chứ không phải tác động với tưcách là từng nhân tố rời rạc Trong hệ thống này,lực lượng kinh tế nào giữ vai trò thống trị sẽquyết định kiến trúc thượng tầng kể cả tư tưởng

lẫn thiết chế tương ứng Trong Hệ tư tưởng Đức,

C.Mác và Ph.Ăngghen đó chỉ từ: "Trong mọithời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị lànhững tư tưởng thống trị" và "Những tư tưởngthống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sựbiểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chấtthống trị, chúng là những quan hệ vật chất thốngtrị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; do

Trang 19

đó, là sự biểu hiện của chính ngay những quan hệ

làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị;

do đó, đó là những tư tưởng của sự thống trị của

giai cấp ấy (3).

Điều đó có nghĩa là quan hệ sản xuất

thống trị là cơ cở để tạo ra giai cấp thống trị và tư

tưởng chính trị Khi nói kinh tế quyết định chính

trị, chủ nghĩa Mác không bao giờ xem kinh tế là

yếu tố duy nhất Xã hội, theo quan điểm của chủ

nghĩa Mác, là sản phẩm tổng hợp các mối qua hệ

giữa người và người Trong xã hội, ngoài các yếu

tố vật chất còn các yếu tố tinh thần Tất cả các

yếu tố này đều nằm trong một chỉnh thể và

thường xuyên tác động qua lại với nhau tạo nên

sự vận động và biến đổi của xã hội

Xét về cơ sở kinh tế, cả ba nhà nước đều

hình thành khi chế độ tư hữu đầu tiên đó xuất

hiện trong lịch sử loài người Những điều kiện cụ

thể để hinh thành nhà nước khác nhau nên các

hình thức tổ chức của các nhà nước cũng khác

nhau Và như vậy, những mâu thuẫn xã hội đó

trực tiếp quyết định hình thức tổ chức của bộ

máy nhà nước, làm thay đổi cả nội dung hoạt

động cơ bản của nó

Vậy, nếu chỉ nhìn thuần túy vào yếu tố

kinh tế không thể giải thích được các hiện tượng

phức tạp trên

Ngoài những tiền đề, điều kiện kinh tế,

chính trị – xã hội, thể chế chính trị và đặc biệt là

hệ thống chính trị còn chịu ảnh hưởng đáng kể

của các yếu tố truyền thống của dân tộc

Khi nói về nhà nước vô sản, Lênin khẳng

định: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chỉ nghĩa

xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả

các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không

phải một cách toàn hoàn giống nhau; mỗi dân tộc

sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay

hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này

hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp

độ này hay nhịp độ khác nhau của việc cải tạo xã

hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời

sẽ không tránh khỏi sai lầm

Từ việc nghiên cứu sâu sắc quan hệ biệnchứng giữa kinh tế và chính trị đó từng diễn ratrong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên hai

luận điểm nền tảng: Một là, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế; hai là, chính trị không

thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế

Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế

- điều đó có nghĩa là, so với kinh tế, chính trị là

sự phản ánh, là "tính thứ hai"; không có quan hệchính trị và quy luật chính trị độc lập tuyệt đốivới các quan hệ và quy luật kinh tế Tuy nhiên, từluận điểm trên cũng cần lưu ý rằng chính trịkhông phải là cái gương soi đối với đời sốngkinh tế, mà là sự biểu hiện tập trung của kinh tế

Nó phản ánh mang tầm khỏi quát, làm bộc lộ cáibản chất nhất của đời sống kinh tế, cái cơ bảnnhất, cái mang tính chi phối đời sống kinh tế.Cho nên, không phải kinh tế có kết cấu đa dạngnhư thế nào thì chính trị cũng có sự đa dạngtương ứng như thế

Tính độc lập tương đối của chính trị so với kinh tế

Chính trị có quy luật vận động “riêng”.

Hoàn toàn không phải kinh tế là nguyênnhân duy nhất chủ động còn mọi thứ khác chỉ cótác dụng thụ động Trái lại, các nhân tố khác cótác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế.Xét toàn bộ, sự vận động kinh tế tiến triển theocon đường của nó, nhưng nó cũng phải chịunhững tác động ngược lại của sự vận động chínhtrị được bản thân nó đặt ra và ban cho một tínhđộc lập tương đối

“Chính trị có lôgic khách quan của nó,không phụ thuộc vào những dự tính của cá nhânnay hay cá nhân khác, của đảng này hay đảngkhác”(6).

Mặt khác chính trị là nguồn động lực đốivới phát triển kinh tế “Bạo lực - nghĩa là quyềnlực nhà nước - cũng là một tiềm lực kinh tế (7).

Chính trị tác động trở lại kinh tế

(6) V.I.Lênin: Toàn tâp, T14.TB.M, 1901, tr.246; t16, tr.68

(7) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Hà Nội, 1984, t.6, tr.739

Trang 20

Chính trị là nhân tố lãnh đạo kinh tế,

vạch hướng đi cho kinh tế, tạo những điều kiện

chính trị, xã hội cho kinh tế phát triển Do đó, “

Chính trị không thể không giữ địa vị hàng đầu so

với kinh tế”, không thể không ưu tiên hơn, so với

kinh tế”8 không có một lập trường chính trị đúng

thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào

giữ được thống trị của mình, và do đó, cũng

không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình

trong lĩnh vực sản xuất”9

"Chính trị không thể không chiếm vị trí

ưu tiên so với kinh tế" là luận điểm nói lên vai

trò năng động, tính độc lập tương đối, sự tác

động trở lại của chính trị đối với kinh tế Quan

điểm đó có tiền đề phương pháp luận xuất phát

của mình từ tính năng động của ý thức đối với

vật chất, của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội

(khi xét chính trị từ phương diện "ý thức chính

trị", bao gồm cả quan điểm chính trị, đường lối

chính trị, tâm lý và tình cảm chính trị, chủ

trương, chính sách ) của kiến trúc thượng tầng

đối với cơ sở hạ tầng (khi xét chính trị là một bộ

phận của kiến trúc thượng tầng)

Lịch sử chứng minh, không có nền kinh tế

nào trong xã hội có giai cấp mà lại không chịu sự

chi phối điều tiết của chính trị, không trực tiếp

thì cũng gián tiếp, không biểu hiện bên ngoài thì

cũng ẩn dấu ở bên trong Điều khác nhau chỉ là

nền chính trị nào? nhà nước thuộc về ai? Khi

nói kinh tế có trước chính trị, quyết định chính trị

có nghĩa là phải tìm nguồn gốc nguyên nhân của

chính trị trong kinh tế Và khi nói chính trị là

biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị ưu tiên

so với kinh tế, chính trị không thể không chiếm

vị trí hàng đầu là nói đến tác động tích cực của

chính trị khi giải quyết nhiệm vụ kinh tế Bởi và,

một giai cấp muốn giải quyết vấn đề kinh tế của

mình phải nâng lên quy mô giai cấp mà giải

quyết chứ không phải là ở từng cá nhân và tất

yếu phải nắm quyền lực nhà nước để giải quyết

lợi ích của giai cấp mình Đây là điều kiện, là

tiền đề để giải quyết các vấn đề kinh tế ở đây

chính trị đó được "thiết chế hoá" thành hệ thống

của các các bộ máy mà biểu hiện tập trung là nhà

8 V.I.Lênin: Toàn tâp, T42.TB M, 1977, tr.350

9 V.I.Lênin: Toàn tâp, T42.TB M, 1977, tr.350

nước Nó tác động trở lại kinh tế như là sứcmanh kinh tế Trong thực tiễn, sự tác động này

có thể theo các hướng:

Một là, cùng chiều với sự phát triển kinh

tế, khi đó, chính trị có vai trò tích cực đối với sựphát triển kinh tế - xã hội

Hai là, ngược chiều với sự phát triển kinh

tế, khi đó, chính trị là một vật cản, kìm hãmsựphát triển kinh tế - xã hội

Ba là, chính trị có khả năng hạn chế phần

nào phạm vi tác động những khuynh hướng pháttriển này, hoặc có thể đẩy mạnh tác dụng củanhững khuynh hướng phát triển khác trong mộtchế độ kinh tế nhất định

Từ những luận điểm trên, trong điều kiệncủa cách mạng xã hội chủ nghĩa, vị trí ưu tiêncủa chính trị so với kinh tế biểu hiện ở chỗ:

Thứ nhất: Giai cấp công nhân, nhân dânlao động muốn giải phóng mình khỏi những quan

hệ tư sản và tiểu tư sản làm tha hoá con người,trước hết họ phải giành lấy quyền lực chính trị,phải hình thành hệ thống chính trị của mình Chỉsau đó, họ mới có tiền đề để cải tạo các quan hệkinh tế - xã hội, biến mình thành chủ thể sở hữucác tư liệu sản xuất cơ bản, phát triển kinh tế vàlợi ích của bản thân mình và sự phát triển củatoàn xã hội Đề cập tới điều đó, trong tác phẩm

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và

Ăngghen viết: "bước thứ nhất trong cuộc cáchmạng công nhân là giai cấp vô sản biến thànhgiai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ"(1)

Thứ hai: Phải bảo đảm quan điểm chínhtrị khi giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội ởđây, các quan điểm chính trị khoa học mang lạikhả năng can thiệp một cách tự giác vào quátrình kinh tế khách quan

Bằng nhận thức khoa học về những xuhướng và quy luật kinh tế - xã hội khách quan,chính trị có thể vận dụng tổng hợp một số quyluật, một số điều kiện để tăng cường tác độngcủa quy luật này, hạn chế tác động tiêu cực củaquy luật khác nhằm đưa đời sống kinh tế - xã hộiphát triển theo đúng quỹ đạo khách quan, đồngthời có lợi nhất cho chủ thể chính trị Chỉ như

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.126.

Trang 21

vậy mới có thể làm cho sự tăng trưởng kinh tế

đạt mục tiêu giải phóng con người, phát triển tự

do và toàn diện của con người - lý tưởng cao cả

của chủ nghĩa xã hội

Ngày nay, chúng ta xây dựng nền kinh tế

thị trường nhằm giải phóng và phát huy các năng

lực sản xuất, tăng nhanh năng suất lao động, tạo

ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Cho nên

ngay từ buổi bình minh của nó, phải có sự tác có

tính định hướng của Nhà nước của chính trị Sự

cần thiết phải chú ý đúng mức đến vai trò của

chính trị đối với nền kinh tế hàng hoá nhiều

thành phần là do:

Một mặt, nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa về thực chất là một kiểu

tổ chức vừa dựa trên những nguyên tắc và quy

luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những

nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội ở

đây, nhóm nhân tố kinh tế thị trường chủ yếu

đóng vai trò động lực thúc đẩy; nhóm nhân tố xã

hội chủ nghĩa đóng vai trò vừa là động lực, vừa

hướng dẫn và định hướng sự vận động của nền

kinh tế theo mục tiêu đó định Đảng ta khẳng

định: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành

phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản, vừa vận động theo những quy luật của

kinh tế thị trường, vừa được dẫn dăt, chi phối bởi

các nguyên tắc và bản chất của CNXH”1 Và thế,

vai trò của chính trị vừa là động lực vừa là tay lái

bảo đảm cho các động lực đó theo một hướng

Thực tiễn chứng minh, những chính sách kinh tế

của Đảng và Nhà nước ta trong hơn 25 năm đổi

mới vừa qua thực chất là những quyết định đột

phá tạo nên động lực kinh tế, giải phóng sức sản

xuất, trực tiếp thúc đẩy kinh tế phát triển

Mặt khác, chính trị hướng kinh tế góp

phần duy trì và củng cố quyền lực chính trị và

kinh tế của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo

của Đảng Mặt khác, các quan điểm chính trị can

thiệp vào quá trình kinh tế, sự điều tiết của nó

được biểu hiện bằng chính sách, kế hoạch, luật

pháp và các công cụ điều tiết khác nhằm thực

1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn

“kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo … kinh tếnhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trởthành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốcdân2 Thiếu sự định hướng này, rất có thể trungtâm quyền lực chính trị không còn nằm trong taygiai cấp công nhân và nông dân lao động, mụctiêu tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ vàcông bằng xã hội không thực hiện được Nhưvậy, không thể tách rời kinh tế nhiều thành phầnvới sự định hướng xã hội chủ nghĩa Mối liênquan này mang tính nội tại khách quan tất yếucủa quá trình phát triển đất nước ta hiện nay.Không có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh

mẽ nhờ đó nền sản xuất được xã hội hoá thìcũng không có chủ nghĩa xã hội Ngược lại, nếukhông có sự định hướng xã hội chủ nghĩa tức làkhông có sự can thiệp điều tiết của chính trị, nhànước thì càng không có chủ nghĩa xã hội

2 Sđd, tr73-73.

Trang 22

9 Đồng chí hãy phân tích nội dung và ý nghĩa

định nghĩa giai cấp của V.I Lênin.

Kế thừa những tư tưởng của các nhà khoa

học trước, với thiên tài trí tuệ và lập trường cách

mạng triệt để, các ông đã đưa ra lý luận khoa học

về giai cấp C.Mác đã đưa ra phương pháp luận

quan trọng để làm cơ sở xem xét giai cấp, đó là

gắn giai cấp với phương thức sản xuất nhất định

trong lịch sử Ông viết: "Còn về phần tôi thì tôi

không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại

của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng

không phải có công lao là đã phát hiện ra cuộc

đấu tranh giữa các giai cấp ấy với nhau Các nhà

sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự

phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó,

còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự

giải phẫu kinh tế của các giai cấp Cái mới mà tôi

đã làm là chứng minh rằng: 1) sự tồn tại của các

giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển

nhất định của sản xuất; 2) đấu tranh giai cấp tất

yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; 3) bản thân

nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới

thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có

giai cấp"1.

Tuy nhien, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa nêu

ra một định nghĩa về giai cấp Năm 1919, trong

tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, Lênin mới đưa ra một

định nghĩa về giai cấp, như sau: "Người ta gọi là

giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những

người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ

thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử,

khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì

những quan hệ này được pháp luật quy định và

thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai

trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như

vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về

phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được

hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà

tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của

tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị

khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất

định"2

Từ định nghĩa của V.I.Lênin, có thể thấy

giai cấp có những đặc trưng sau:

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.28, tr 661 - 662.

2 V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr 17 - 18.

1 Là tập đoàn người đông đảo, xuất hiện

trong lịch sử, gắn với một phương thức sản xuất nhất định.

2 Các giai cấp khác nhau:

a) Về quan hệ của nó đối với tư liệu sản

xuất (sự khác nhau đó được pháp luật quy định).

b) Về vai trò trong tổ chức lao động xã hội,

trong tổ chức quản lý sản xuất.

c) Về phương thức và quy mô thu nhập của cải xã hội.

Các đặc trưng trên có mối liên hệ với nhau

và là hệ quả của nhau Chẳng hạn, do khác nhau

về địa vị giữa các tập đoàn người trong mộtphương thức sản xuất nhất định trong lịch sử mà

họ có quan hệ khác nhau trong việc chiếm hữu tưliệu sản xuất, và do khác nhau về việc sở hữu tưliệu sản xuất mà khác nhau về vai trò trong tổchức lao động xã hội và về thu nhập của cải.Trong các đặc trưng trên, đặc trưng quan

trọng nhất là mối quan hệ giữa các tập đoàn

người với tư liệu sản xuất.

Trong định nghĩa, V.I.Lênin chỉ ra thực chấtcủa tình trạng xã hội phân chia giai cấp là do tậpđoàn này có thể chiếm đoạt sản phẩm lao độngcủa tập đoàn khác

Định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin là mộtđịnh nghĩa khoa học có giá trị cả về lý luận vàthực tiễn Tuy nhiên, mọi định nghĩa đều cónhững hạn chế về mặt lịch sử và thời đại, chonên khi xem xét giai cấp trước hết phải chú ý đếntoàn bộ những quan hệ vật chất, quan hệ kinh tế,sau đó cần chú ý đến những quan hệ khác như lốisống, tâm lý, tư tưởng v.v

Việc vận dụng lý luận trên đây để xem xétcác giai cấp trong lịch sử cũng cần tránh giảnđơn, bởi các quan hệ giai cấp biểu hiện thôngqua nhiều hiện tượng phức tạp

Trang 23

10 Đồng chí hãy phân tích quan điểm Triết

học Mác - Lênin về chức năng của nhà

nước.

Xem xét nhà nước dưới những góc độ

khác nhau người ta phân nhà nước thành những

chức năng khác nhau Với tư cách là một chủ

quyền người ta phân chức năng nhà nước thành

chức năng đối nội và chức năng đối ngoại Với

tư cách là một công quyền người ta phân nhà

nước thành hai chức năng: chức năng giai cấp

(hay còn gọi là chức năng thống trị chính trị) và

chức năng xã hội

Nhà nước về bản chất là quyền lực chính

trị của một giai cấp Nhưng giai cấp nắm chính

quyền nhà nước lại nhân danh xã hội để điều

hành quản lý xã hội Do đó, nhà nước trong thực

tế tồn tại tựa hồ như một công quyền, như một

quyền lực công cộng Và vậy nhà nước không

những có tính giai cấp, mà còn có tính xã hội,

không những thực hiện chức năng giai cấp, mà

còn phải hoàn thành các chức năng xã hội

Chức năng giai cấp của nhà nước là chức

năng thực hiện sự thống trị chính trị của giai cấp

cầm quyền đối với xã hội Chức năng giai cấp

biểu hiện cụ thể ở những nhiệm vụ: xây dựng,

bảo vệ, cũng cố một chế độ xã hội theo “diện

mạo” của giai cấp thống trị, hay định hướng sự

phát triển xã hội theo một chế độ chính trị phù

hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi ích cơ bản của

giai cấp cầm quyền; thực hành chuyên chính,

trấn áp các giai cấp đối lập, những lực lượng

chống đối (cả về tinh thần lẫn thể xác) buộc các

giai cấp, lực lượng đó phải phục tựng ý chí,

quyền lợi của giai cấp thống trị; ngoài ra chức

năng giai cấp còn thể hiện ở nhiệm vụ cũng cố và

mở rộng cơ sở chính trị - xã hội cho sự thống trị

của giai cấp cầm quyền, bằng cách lôi kéo các

giai cấp trung gian, chia rẽ, xoa dịu các giai cấp

đối lập để ngăn chặn những xung đột làm ảnh

hưởng đến địa vị thống trị của giai cấp thống trị

Chức năng xã hội của nhà nước là chức

năng thực hiện quản lý những hoạt động chung

và sự tồn tại của xã hội, chăm lo những công

việc chung của toàn xã hội và trong giới hạn có

thể được nó phải thỏa mãn một số nhu cầu của

cộng đồng dân cư trong xã hội Chức năng xã hộibiểu hiện ở những nhiệm vụ như: giải quyếtnhững công việc chung của xã hội; tổ chức kiếntạo và bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ môitrường sinh thái; quản lý, điều tiết các lĩnh vựccủa đồi sống xã hội,v.v

Bất kỳ nhà nước nào cũng có chức nănggiai cấp và chức năng xã hội, phải thực hiện chứcnăng giai cấp và chức năng xã hội Chức nănggiai cấp và chức năng xã hội là hai chức năngkhác nhau, nhưng lại thống nhất biện chứng vớinhau trong một nhà nước Đối với nhà nước,không có chức năng xã hội nào “thuần túy” xãhội không mang tính giai cấp và cũng không cóchức năng giai cấp nào “thuần túy giai cấp”không trên cơ sở xã hội Và vậy sự phân biệtchức năng giai cấp và chức năng xã hội của nhànước chỉ mang tính tương đối

Nhà nước như đó phân tích là sản phẩmcủa cuộc đấu tranh giai cấp và theo quy luậtchung nhà nước là của giai cấp có thế lực nhất,của giai cấp thống trị về mặt kinh tế Và do cónhà nước giai cấp đó thống trị trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội Tuy nhiên nói như thếkhông có nghĩa là có chính quyền nhà nước trongtay rồi giai cấp đó có thể sử dụng nhà nước nhưcông cụ để thực hiện những lợi ích ích kỷ củamình Nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quảkhông chỉ phụ thuộc vào giai cấp cầm quyền, vàosức mạnh của bộ máy, của bạo lực, mà còn tùythuộc rất lớn vào mức độ phù hợp của nó đối vớiyêu cầu của sự phát triển xã hội, mức độ ủng hộcủa xã hội, của quần chúng nhân dân Hay nóicách khác, nhà nước phải hoàn thành chức năng

xã hội do xã hội giao phó

Nói về vai trò của chức năng xã hội đốivới sự thống trị chính trị của một giai cấp, Ph.Ăngghen viết: “Chức năng xã hội là cơ sở của sựthống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũngchỉ kéo dài chừng nào còn thực hiện chức năng

xã hội đó của nó.”1 Chức năng xã hội là cơ sởcủa sự thống trị chính trị của giai cấp cầm quyền

được hiểu dưới hai khía cạnh Một là có hoàn

thành được chức năng xã hội: duy trì xã hội trong

1 C.Mỏc và Ăngghen (2000): Toàn tập, tập 20, Nxb Chớnh tri

Quốc gia, Hà Nội, tr.253

Trang 24

vũng trật tự, thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ,

giải quyết được lợi ích chung của xã hội, tránh

được, vượt qua được sự khủng hoảng, xung đột

gay gắt trong xã hội… thì giai cấp đó mới có thể

thực hiện được sự thống trị đối với xã hội, giai

cấp đó mới có thể bảo vệ và thực hiện lợi ích cơ

bản của giai cấp mình một cách có hiệu quả nhất

Hai là có hoàn thành được chức năng xã hội: thì

xã hội, quần chúng nhân dân mới chấp nhận sự

thống trị chính trị của giai cấp, mới thừa nhận và

ủng hộ nhà nước của giai cấp đó Ngược lại, để

nẩy sinh những xung đột gay gắt, sự hỗn loạn, sự

suy thoái, khủng hoảng thì sớm muộn nhân dân

sẽ nổi dậy làm cách mạng lật đổ sự thống trị của

giai cấp đó

Là sự thống trị của một giai cấp, chức

năng xã hội của nhà nước mang tính giai cấp

Tuy nhiên tính giai cấp của chức năng xã hội

biểu hiện ít rõ rệt hơn chức năng giai cấp, nhưng

suy cho cùng, nó cũng bị chi phối bởi ý chí và lợi

ích cơ bản của giai cấp thống trị Tính hiệu quả

của chức năng xã hội không chỉ phụ thuộc mức

độ phù hợp của thiết chế, tổ chức bộ máy đối với

yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, mà quan

trọng hơn còn tùy thuộc vào vai trò lịch sử của

giai cấp cầm quyền Giai cấp cầm quyền khi còn

là giai cấp tiên tiến, còn là giai cấp đại biểu cho

sự tiến bộ xã hội, thì nhà nước có tiền đề khách

quan, có khả năng khách quan thực hiện tốt các

chức năng xã hội Ngược lại, khi giai cấp cầm

quyền đó trở nên lỗi thời, phản động thì dự muốn

hay không cũng không thể hoàn thành được chức

năng xã hội Nền kinh tế - xã hội sớm muộn sẽ

rơi vào tình trạng khủng hoảng Điều đó báo hiệu

một cuộc cách mạng xã hội

Và vậy, sẽ là mơ hồ nếu không thấy được

tính chính trị, tính giai cấp của các chủ trương,

chính sách và sự tác động, can thiệp của nhà

nước vào các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo

dục… Nhưng ngược lại, nếu quy các chức năng

đa dạng của nhà nước về chức năng giai cấp,

hoặc tuyệt đối hoá tính giai cấp; tính chính trị

của nhà nước mà không thấy được tính xã hội,

vai trò tích cực sáng tạo của chức năng xã hội

trong phát triển xã hội thì sẽ là cực đoan, phiến

diện Khi nhà nước nằm trong tay “giai cấp đại

biểu cho toàn thể xã hội trong thời đại củamình”1, nghĩa là trong tay giai cấp đang đóng vaitrò tiến bộ và cách mạng, thì tính tích cực củachức năng xã hội biểu hiện càng rõ rệt

1 C.Mỏc và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, ST, H, 1994,

t.20, tr 253, 389.

Trang 25

11 Đồng chí hãy phân tích quan điểm Triết học

Mác - Lênin về quan hệ giữa cá nhân và

Cộng đồng xã hội rộng nhất là xã hội loài

người; các cộng đồng xã hội hẹp hơn là quốc

gia, dân tộc, giai cấp, gia đình

Khỏi niệm cá nhân được hiểu là cá nhân

mang nhân cách, là thành viên của cộng đồng xã

hội

Mối quan hệ giữa cá nhânvà xã hội là mối

quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau giữa cái

chung và cái riêng, cái toàn thể và cái bộ phận

Xã hội là tập hợp có tổ chức, liên hệ giữa các cá

nhân Xã hội tồn tại và phát triển thông qua sự

hoạt động của các cá nhân Cá nhân là sản phẩm

của xã hội, chịu sự tác động của lịch sử xã hội

Cá nhân biểu hiện trình độ phát triển của xã hội

Mỗi cá nhân là một thành viên cấu thành cộng

đồng xã hội Trong mối quan hệ xã hội, cá nhân

được hình thành và phát triển Bất cứ cá nhân

nào cũng thuộc về một cộng đồng: giai cấp, dân

tộc, quốc gia hay một tổ chức xã hội nào đó Chỉ

là cá nhân trong quan hệ xã hội, không có cá

nhân biệt lập tách rời xã hội Ngược lại, cũng

không có xã hội chung chung trừu tượng tồn tại

bên ngoài những cá nhân

Mỗi cá nhân là một cái "tôi" sinh động gia

nhập vào đời sống tập thể, xã hội nhưng không "hoà

tan" vào cái chung Chính trong quan hệ với tập thể,

với xã hội, cá nhân tự biểu hiện, tự khẳng định cái

riêng, cái bản sắc độc đáo của mình Gia đình là tế

bào của xã hội Những hình thức tập thể trong đó cá

nhân thực hiện hoạt động học tập, lao động, sinh

hoạt là những cấp độ xã hội mà cá nhân gia nhập

vào

Nền tảng của mối quan hệ giữa cá nhân với

tập thể, với xã hội là lợi ích và quan hệ giữa các

lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích

xã hội Việc tổ chức trật tự xã hội thực chất là

việc sắp xếp các lợi ích nhằm khai thác được

nhiều nhất khả năng của mọi thành viên trong

cộng đồng trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệlợi ích giữa cá nhân và xã hội theo nguyên tắccông bằng xã hội

Động lực trực tiếp thúc đẩy sự hoạt động

của con người chính là nhu cầu và lợi ích cá

nhân của họ Và vậy, quan tâm đầy đủ tới lợi ích

của cá nhân (cả lợi ích vật chất và lợi ích tinhthần) là khuyến khích người lao động phát huytính tích cực, chủ động trong các hoạt động của

họ trong đời sống xã hội Nhờ đó, tiềm năng sángtạo ở mỗi con người được khai thác, sức sản xuất

xã hội được giải phóng Đó cũng là điều kiệnphát triển con người với tư cách là cá nhân cónhân cách và phát triển xã hội

Có một thời, chúng ta phạm sai lầm đồng nhất

cá nhân với chủ nghĩa cá nhân tư sản Và vậy,những nhu cầu và lợi ích chính đáng của con ngườitrong tư cách cá nhân của nó đó không được quantâm thích đáng Khát vọng của con người về mộtcuộc sống sung túc, giàu có trong công bằng và vănminh bị kìm hãm bởi chủ nghĩa bình quân trong laođộng và hưởng thụ Hạnh phúc cá nhân thường bịxem nhẹ trước mục tiêu chung của tập thể, của cộngđồng Những điều đó đó làm mất đi động lực bêntrong của mỗi cá nhân Nó kìm hãmsự phát triểnđích thực của con người, làm thui chột năng lựcsáng tạo của cá nhânvà xã hội rơi vào tình trạng trìtrệ, kém phát triển

Quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể

và lợi ích xã hội xét đến cùng là thống nhất biệnchứng Nó xuất phát từ chỗ con người vừa là chủthể vừa là khách thể tác động của các lực lượng

xã hội và các quan hệ xã hội

Việc quan tâm chăm sóc tới nhu cầu và lợiích cá nhân, tạo điều kiện phát triển năng lựcphong phú và đa dạng của mỗi cá nhân là điềukiện thúc đẩy sự phát triển của xã hội Những cánhân có nhân cách phát triển, có sức khoẻ, có tàinăng và có trách nhiệm cao đối với xã hội sẽ tácđộng tích cực đến xã hội Ngược lại, khi lợi ích

cá nhân thiết thân không được quan tâm đúngmức sẽ làm mất đi động lực bền vững trongnhững hoạt động của con người: những cá nhânkém phát triển về năng lực trí tuệ, nhân cáchthoái hoá không những chỉ là gánh nặng cho xãhội mà còn là lực cản của sự tiến bộ xã hội

Trang 26

Nhưng để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa

lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội phải dựa trên cơ sở

trình độ phát triển của nền sản xuất; phải tính đến

khả năng đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong

xã hội Mặt khác, phải xác định đúng đắn vị trí, vai

trò của các nhu cầu và lợi ích trong hệ thống nhu

cầu và lợi ích hết sức phong phú, đa dạng của cá

nhânvà xã hội Khi những nhu cầu hiện có đó được

thỏa mãn một cách hợp lý cần phải tạo hoàn cảnh

làm nảy sinh những nhu cầu mới theo hướng có lợi

cho cộng đồng Coi trọng lợi ích vật chất đồng thời

với lợi ích tinh thần

Chủ tịch Hồ Chí Minh đó thường xuyên

nhắc nhở: Chúng ta chống chủ nghĩa cá nhân

nhưng không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân

Nếu chỉ coi trọng lợi ích cộng đồng mà

không quan tâm đến lợi ích cá nhân; hoặc chỉ

thỏa mãn lợi ích cá nhân mà chà đạp lợi ích xã

hội đều là sai lầm và gây nên những hậu quả tiêu

cực cho sự phát triển của cả xã hội và cá nhân

Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở nước ta hiện nay, việc giải quyết mối quan hệ

giữa cá nhânvà xã hội đang đặt ra yêu cầu: phải

có chính sách xã hội đúng đắn và đồng bộ đảm

bảo kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi

ích xã hội; bảo đảm sự công bằng và nghĩa vụ

của mọi công dân Chủ nghĩa xã hội được xây

dựng theo nguyên tắc "tất cả từ con người và và

con người", nhằm mục đích cao nhất là giải

phóng con người, cá nhân được phát triển tự do

và toàn diện Cương lĩnh xây dựng đất nước

trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991)

của Đảng ta đó chỉ từ: "Phương hướng lớn của

chính sách xã hội là: Phát huy nhân tố con người

trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về

nghĩa vụ và quyền lợi công dân; kết hợp tốt tăng

trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống

vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng nhu

cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá

nhân với tập thể và cộng đồng xã hội" Đại hội

XI của Đảng chỉ từ: “Con người là trung tâm của

chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát

triển Tôn trọng và vệ bảo vệ quyền con người,

gắn quyền con người với quyền và lợi ích của

dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân

dân Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã

hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động,các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việcchăm lo xây dựng con người Việt Nam giầu lòngyờu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm côngdân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống cóvăn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chânchính”1

Quá trình hội nhập và phát triển hiện nayđang tạo điều kiện để mỗi cá nhân, mỗi cộngđồng, dân tộc tiếp cận nhanh chóng với nhữnggiá trị tiến bộ của nhân loại Mỗi con người đềuđược mở rộng phạm vi hoạt động và quan hệ xãhội là điều kiện phát triển nhân cách Sự xuấthiện những vấn đề mang tính chất toàn cầu nhưvấn đề môi trường, thiên tai, bệnh tật, dân số,chiến tranh hạt nhân đều liên quan đến lợi íchsống còn của cá nhânvà xã hội Nó đòi hỏi mỗingười quan tâm đến nhau hơn, quan tâm đến vậnmệnh dân tộc và cả nhân loại, đoàn kết đấu tranhchống tất cả những biểu hiện phi nhân tính.Như vậy, mối quan hệ giữa cá nhânvà xãhội ngày càng được thực hiện theo hướng nhânđạo hóa xã hội chủ nghĩa Đại hội XI của Đảngxác định: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đanhân tố con người; coi con người là chủ thể,nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự pháttriển Phải bảo đảm quyền con người, quyềncông dân và các điều kiện để mọi người đượcphát triển toàn diện”1

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ XI, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.76-77.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ XI, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.100

Trang 27

12 Đồng chí hãy phân tích quan điểm Triết

học Mác - Lênin về khỏi niệm, kết cấu và

tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.

Khỏi niệm ý thức xã hội

í thức xã hội là toàn bộ những tư tưởng,

quan điểm cùng những tình cảm, tâm trạng,

truyền thống của một cộng đồng xã hội, nảy

sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội

của họ trong những giai đoạn phát triển nhất

định

í thức xã hội và ý thức cá nhân có sự khác

nhau tương đối nhưng chúng tồn tại trong mối

liên hệ hữu cơ, tác động qua lại, thâm nhập vào

nhau và làm phong phú cho nhau.í thức xã hội

chắt lọc cái chung, được phản ánh trong nhiều ý

thức cá nhân Khi ý thức xã hội đó được hình

thành thì nó chi phối trở lại ý thức cá nhân, và

vậy, sự phong phú của đời sống tinh thần của xã

hội, sự phong phú của ý thức xã hội là tiền đề

cho sự phát triển đời sống tinh thần, ý thức cá

nhân Mặt khác, sự độc đáo, riêng biệt trong điều

kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần của cá nhân

là những yếu tố tạo nên sự khác biệt đa dạng của

ý thức cá nhân và đó cũng là tiền đề cho sự phát

triển đời sống tinh thần của xã hội, ý thức xã hội

í thức xã hội là lĩnh vực có kết cấu rất

phức tạp, tuỳ theo từng góc độ xem xét khác

nhau mà ý thức xã hội có thể được chia thành các

bộ phận khác nhau Từ góc độ chủ thể mang ý

thức, ý thức xã hội có thể được chia thành các

bộ phận như ý thức nông dân, ý thức công nhân,

ý thức tư sản…; từ góc độ nội dung phản ánh, ý

thức xã hội bao gồm các hình thái ý thức xã hội

như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức

đạo đức, ý thức tôn giáo…Theo trình độ phản

ánh, có thể chia ý thức xã hội thành hai bộ phận

hợp là ý thức xã hội thông thường và ý thức lý

luận Ở trình độ ý thức xã hội thông thường, tâm

lý xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng; còn ở

trình độ lý luận thì ý thức xã hội được thể hiện

một cách tập trung và sâu sắc ở hệ tư tưởng

Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là những

yếu tố cấu thành ý thức xã hội và là sự phản ánh

tồn tại xã hội ở những trình độ khác nhau do đó,

chúng có mối quan hệ tác động, ảnh hưởng qua

lại nhau Tâm lý xã hội có thể tạo điều kiện thuậnlợi hoặc gây khó khăn cho việc hình thành, pháttriển, xâm nhập và phát huy ảnh hưởng của hệ tưtưởng trong đời sống xã hội Ngược lại, là kếtquả của quá trình tư duy tự giác, có khả năngphản ánh được chính xác bản chất của hiện thựcnên hệ tư tưởng khoa học có thể tác động, thúcđẩy sự phát triển những yếu tố tích cực của tâm

lý xã hội, giúp định hướng, hình thành tâm lý xãhội lành mạnh Trong khi đó, hệ tư tưởng phảnkhoa học sẽ kích thích những yếu tố tiêu cực củatâm lý xã hội phát triển Mặc dù giữa hệ tư tưởng

và tâm lý xã hội có mối liên hệ biện chứngnhưng tâm lý xã hội không làm nảy sinh ra hệ tưtưởng và hệ tư tưởng cũng không phải là sự biểuhiện trực tiếp của tâm lý xã hội

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng củagiai cấp công nhân, giai cấp cách mạng nhấttrong lịch sử, là lý luận cách mạng và khoa họccủa sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giảiphóng nhân loại Trong thế giới ngày nay, lợidụng tình thế khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội

và bước thoái trào của cách mạng thế giới, cácthế lực phản cách mạng đẩy mạnh cuộc tiến côngvào chủ nghĩa Mác - Lênin, và vậy, cuộc đấutranh tư tưởng, bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênincàng quan trọng và cần thiết

Trong xã hội có sự phân chia về giai cấp,

ý thức xã hội mang tính giai cấp Các giai cấp cóđời sống kinh tế, điều kiện sinh hoạt vật chấtkhác nhau với những lợi ích khác nhau, do vậy, ýthức xã hội của các giai cấp đó mang nội dung vàhình thức không giống nhau Tuy nhiên, trong xãhội có nhiều giai cấp, giai cấp nào chiếm địa vịthống trị về kinh tế thì hệ tư tưởng của giai cấp

đó cũng trở thành hệ tư tưởng thống trị của xãhội

Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội

Thừa nhận tính độc lập nhất định của ýthức xã hội trong mối quan hệ với tồn tại xã hộinhưng chủ nghĩa duy vật lịch sử còn nhấn mạnh,

đó là sự độc lập không hoàn toàn và có điều kiện,

là độc lập tương đối Điều đó biểu hiện ở nhữngđiểm sau đây:

Sự lạc hậu của một bộ phận ý thức xã

Trang 28

hội so với tồn tại xã hội

Theo nghĩa chung nhất, “lạc hậu” có

nghĩa là bị ở lại phía sau, không theo kịp đà tiến

bộ, phát triển chung; đó trở nên cũ, không hợp

với hoàn cảnh và yêu cầu, điều kiện mới

Lịch sử xã hội cho thấy, nhiều khi xã hội

cũ đó mất đi, thậm chí mất đi rất lâu, nhưng ý

thức xã hội do xã hội đó sinh ra vẫn còn tồn tại

Trong đó có một bộ phận ý thức xã hội không

phản ánh được những thay đổi tất yếu của tồn tại

xã hội, không đáp ứng yêu cầu phát triển của tồn

tại xã hội mới

Sự lạc hậu của ý thức xã hội biểu hiện rất

đa dạng, ở nhiều cấp độ, trong cả ý thức xã hội

đời thường và cả ý thức lý luận

Sự lạc hậu của ý thức xã hội so với tồn tại

xã hội có nhiều nguyên nhân, trong đó có những

nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, từ trong bản chất, ý thức xã hội

là sự phản ánh tồn tại xã hội, trong những điều

kiện, hoàn cảnh nhất định, ý thức xã hội phản

ánh không theo kịp những biến đổi tất yếu của

tồn tại xã hội

Thứ hai, một bộ phận của ý thức xã hội là

truyền thống, tập quán, thói quen… của con

người từ trong quy luật vận động của nó đó mang

tính bảo thủ, khó thay đổi

Thứ ba, ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích

của những nhóm, những tập đoàn người, những

giai cấp nhất định trong xã hội Và vậy, những tư

tưởng cũ, lạc hậu thường được các lực lượng xã

hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá

Tính “vượt trước” của một bộ phận ý

thức xã hội so với tồn tại xã hội

Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn

của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, triết học

Mác- Lênin đồng thời chỉ từ rằng trong những

điều kiện nhất định, tư tưởng của con người có

thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội

Sự phản ánh vượt trước tiềm ẩn nhiều

khuynh hướng, trong đó có hai khuynh hướng cơ

bản:

Phản ánh vượt trước một cách đúng đắn,

khoa học Khuynh hướng này góp phần dự báo

được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo

hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt

động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới

do sự phát triển xã hội đặt ra

Phản ánh vượt trước nhưng ảo tưởng, chủquan, sai lầm Khuynh hướng này để lại nhữnghậu quả tiêu cực trong hoạt động thực tiễn

Khi nói tư tưởng tiến bộ có thể vượt trướctồn tại xã hội không có nghĩa là trong trường hợpnày, ý thức xã hội không còn bị tồn tại xã hộiquyết định mà đó là kết quả của sự phản ánhchính xác, sâu sắc tồn tại xã hội

Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội

Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của

xã hội cho thấy rằng những quan điểm lý luậncủa mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đấttrống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừanhững vật liệu lý luận của thời đại trước; ý thức

xã hội của mỗi cộng đồng là kết quả phản ánhtồn tại xã hội của họ và cả thức xã hội của cácthời đại trước và cả những ý thức xã hội củacông đồng khác trong quá trình giao thoa, dunhập

Do ý thức có tính kế thừa trong sự pháttriển cho nên sẽ không thể giải thích được một tưtưởng nào đó nếu chỉ thuần túy dựa vào nhữngquan hệ kinh tế hiện có Lịch sử phát triển của tưtưởng cho thấy những giai đoạn hưng thịnh hoặcsuy tàn của triết học, văn học, nghệ thuật, v.v nhiều khi không phù hợp hoàn toàn với nhữnggiai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của kinh tế

Kế thừa trong ý thức xã hội có những đặctrưng cơ bản như: Tính chọn lọc; tính giai cấp,chi phối bởi lợi ích…

Trong xã hội có giai cấp, tính chất kếthừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấpcủa nó Những giai cấp khác nhau kế thừa nhữngnội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước.Các giai cấp tiên tiến tiếp nhận những di sản tưtưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại Ngược lại,những giai cấp lỗi thời và các nhà tư tưởng của

nó thì tiếp thu, khôi phục những tư tưởng, những

lý thuyết xã hội phản tiến bộ của những thời kỳlịch sử trước

Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng

Đây là một quy luật phát triển của ý thức

Trang 29

xã hội Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý

thức xã hội làm cho mỗi hình thái ý thức có

những mặt, những tính chất không thể giải thích

được một cách trực tiếp từ tồn tại xã hội

Lịch sử phát triển xã hội cho thấy, ở mỗi

thời đại, tùy theo từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể

có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng

đầu và tác động mạnh đến các hình thái ý thức xã

hội khác Ở Hy Lạp cổ đại, triết học và nghệ

thuật giữ vị trí nổi bật, có vai trò đặc biệt to lớn

trong đời sống tinh thần xã hội; Tây Âu thời

trung cổ tôn giáo có vai trò quan trọng chi phối

các hình thái ý thức xã hội khác như triết học,

pháp quyền, đạo đức, chính trị và cả khoa học

Sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý

thức trong xã hội có giai cấp, ý thức chính trị

thường có vai trò đặc biệt quan trọng; ý thức

chính trị của giai cấp cách mạng định hướng cho

sự phát triển theo chiều hướng tiến bộ của các

hình thái ý thức khác Trong điều kiện cụ thể của

nước ta hiện nay, ý thức pháp quyền, ý thức đạo

đức, triết học, nghệ thuật được dẫn dắt bởi

đường lối chính trị đúng đắn của Đảng

Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối

với tồn tại xã hội

Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những

chống lại quan điểm duy tâm tuyệt đối hóa vai

trò của ý thức xã hội, mà còn bác bỏ quan điểm

duy vật tầm thường, chủ nghĩa duy vật kinh tế

là những quan điểm không thấy hoặc phủ nhận

tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời

sống xã hội Ph.Ăngghen viết: "Sự phát triển của

chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học,

nghệ thuật, v.v đều dựa trên cơ sở sự phát triển

kinh tế Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng

lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế"

Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối

với tồn tại xã hội diễn ra với nhiều khuynh

hướng: nó có thể thúc đẩy tồn tại xã hội phát

triển phù hợp với quy luật, mang tính tích cực,

nhanh hơn và ngược lại Xu hướng, phạm vi, cấp

độ và hiệu quả tác động của ý thức xã hội tới tồn

tại xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó

có những yếu tố cơ bản như:

Một là, trình độ phản ánh của ý thức xã

hội đối với tồn tại xã hội.

Khi ý thức xã hội phản ánh đúng đắn quyluật vận động của tồn tại xã hội, phản ánh đúngđắn các nhu cầu phát triển của tồn tại xã hội, khi

ý thức xã hội mang tính khoa học, tiến bộ sẽ gópphần thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển và ngượclại Cũng do đó, ở đây cần phân biệt vai trò của ýthức tư tưởng tiến bộ và ý thức tư tưởng phảntiến bộ đối với sự phát triển xã hội

Hai là, vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng.

Sự phát triển của xã hội phụ thuộc vàonhận thức và hành động của con người, trong đógiai cấp mang ngọn cờ tư tưởng (giai cấp giữ làchủ thể lãnh đạo xã hội) giữ vai trò quan trọng

Nó thể hiện trong việc xây dựng, định hướngquan niệm, tư tưởng, giá trị cho cộng đồng;trong việc tuyên truyền, giáo dục, quảng bỏ ýthức xã hội; trong việc vận dụng, phát huy vaitrò ý thức xã hội…

Ba là, mức độ ảnh hưởng của ý thức xã hội trong quảng đại quần chúng.

í thức xã hội chỉ có thể phát huy vai trò,

sức mạnh của nó khi chi phối nhận thức, hànhđộng của con người, của quảng đại quần chúng.C.Mác nấn mạnh: “…lý luận cũng sẽ trở thànhlực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vàoquần chúng”3

Ngoài ra, xu hướng, phạm vi, cấp độ vàhiệu quả tác động của ý thức xã hội tới tồn tại xãhội còn phụ thuộc vào mức độ tương tác qua lạigiữa các yếu tố tham gia vào quá trình đó

3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia,

H.2002, t1, tr 580

Trang 30

Câu hỏi 6 điểm

1 Đồng chí hãy phân tích sự vận dụng nguyên

tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

của Triết học Mác - Lênin trong thời kỳ

đổi mới ở Việt Nam.

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta xây

dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn chú trọng

việc vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống nhất

giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để phát triển lý

luận, đặc biệt là lý luận về chủ nghĩa xã hội

Điều này thể hiện từ nột ở những điểm sau:

Trước hết, Đảng tăng cường tổng kết thực

tiễn để phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội

Tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới, Đảng ta đó

có những phát triển vượt bậc lý luận về chủ

nghĩa xã hội Tiểu biểu là một số vấn đề lý luận

sau: Một là, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã

hội Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng

khởi xướng là thành quả to lớn đầu tiên của quá

trình đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội

Đường lối đổi mới này cũng đồng thời cũng đánh

dấu bước đột phá trong phát triển lý luận về chủ

nghĩa xã hội của Đảng ta Đại hội VII đánh dấu

mốc quan trọng trong phát triển lý luận của Đảng

về CNXH Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 5 năm

đổi mới, Đại hội VII đó thụng qua Cương lĩnh

xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội(1991) Trong Cương lĩnh (1991),

câu hỏi “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta

xây dựng” là một xã hội như thế nào? lần đầu

tiên đó được trả lời một cách hệ thống Cương

lĩnh (1991) đó đề cập tới sáu đặc trưng của chủ

nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng Đó là xã

hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền

kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất

hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản

xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà

bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi

áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực

hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do,

hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá

nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết

và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu

nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên

thế giới4 Tổng kết 20 năm đổi mới, tham khảokinh nghiệm của bạn bè quốc tế, rút kinh nghiệm

từ những bài học của Liên Xô và các nước xã hộichủ nghĩa đông Âu, đến Đại hội X, Đảng ta đó

có bước phát triển quan trọng trong quan niệm vềchủ nghĩa xã hội Nội hàm của khỏi niệm xã hội

xã hội chủ nghĩa đó được Đại hội X nêu cụ thểhơn với tám đặc trưng: “Xã hội xã hội chủ nghĩa

mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế pháttriển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại vàquan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giảiphóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm

no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; cácdân tộc trong công đồng Việt Nam bình đẳng,đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, và nhân dân, dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữunghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thếgiới”5 Trong Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển

2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng,quan niệm về xã hội xã hội chủ nghĩa đó được

hoàn thiện hơn một bước: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triểncao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan

hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộcsống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện pháttriển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng ViệtNam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡnhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vànhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệhữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trênthế giới”6

4 Xem thờm: Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NxbST,H.1991; tr.111

5 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG , H.2006; tr.68.

6 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr.70.

Trang 31

Hai là, về phương hướng xây dựng chủ

nghĩa xã hội Cương lĩnh (1991) đề ra bẩy

phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã

hội Nội dung chủ yếu của bẩy phương hướng đó

là: Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của

nhân dân, do nhân dân, và nhân dân, lấy liên

minh - công - nông - trí làm nền tảng, do Đảng

Cộng sản lãnh đạo; thực hiện đầy đủ quyền làm

chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội,

chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi

ích của Tổ quốc, của nhân dân Phát triển lực

lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo

hướng hiện đại gắn liền với phát triển nông

nghiệp toàn diện Từng bước thiết lập quan hệ

sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự

đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã

hội chủ nghĩa; kinh tế quốc doanh và kinh tế tập

thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế

quốc dân; thực hiện nhiều hình thức phân phối,

lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả

kinh tế là chủ yếu Tiến hành cách mạng xã hội

chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa làm

cho thế giới quan Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức

Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống

tinh thần xã hội; kế thừa và phát huy những

truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân

tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa

nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn

minh và lợi ích chân chính và phẩm giá con

người, chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái

với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và

những giá trị cao quý của loài người, trái với

phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.Thực hiện

chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và

mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp

mọi lực lượng phấn đấu và sự nghiệp dân giàu,

nước mạnh, thực hiện chính sách đối ngoại hòa

bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước;

trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp

công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ

nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh và hòa

bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

trên thế giới Nâng cao cảnh giác, củng cố quốc

phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã

hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chínhtrị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảođảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sựnghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta7

Tổng kết hơn 25 năm đổi mới trong

Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011), Đảng ta

đó đưa ra tám phương hướng lớn: Đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn vớiphát triển kinh tế tri thức Phát triển kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Xây dựngnền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốcgia, trật tự, an toàn xã hội Thực hiện đường lốiđối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác vàphát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thựchiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mởrộng mặt trận dân tộc thống nhất Xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, và nhân dân Xây dựng Đảng trongsạch, vững mạnh8 Như vậy, lý luận về phươnghướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta quamỗi kỳ đại hội lại được Đảng ta hoàn thiện, pháttriển Ngay trong từng phương hướng này, trongquá trình đổi mới Đảng thường xuyên đổi mới,

bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn đấtnước và thời đại

Ba là, phát triển lý luận về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Trước đổi mới, Đảng ta xác định quá độ lên chủ

nghĩa xã hội ở nước ta là sự “quá độ gián tiếp”, nghĩa là “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ

nghĩa” Trong Cương lĩnh (1991) đó sử dụng

cụm từ “bỏ qua chế độ tư bản” và xác định:

“Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế

độ tư bản từ một xã hội thuộc địa, nửa phongkiến, lực lượng sản xuất rất thấp”9

Đến Đại hội IX, Đảng ta đó phát triểnluận điểm này cụ thể hơn: “Con đường đi lên củanước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xãhội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua

7 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xõy dựng đất nớc trong thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xã hội, NxbST,H.1991; tr11-

Trang 32

việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất

và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng

tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại

đó đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc

biệt về khoa học và công nghệ để phát triển

nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế

hiện đại”10 Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển

2011) chỉ từ, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

“là một qỳa trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu

tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra

sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của

đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời

kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển,

nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan

xen”11 Đây là bước phát triển quan trọng của lý

luận về con đường lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua

chế độ tư bản chủ nghĩa của Đảng ta

Bốn là, hình thành và phát triển lý luận về

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa Đại hội VI của Đảng xác định nền kinh tế

có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của

thời kỳ quá độ Đại hội VII xác định, đó là “nền

kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định

hư-ớng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị

trường có sự quản lý của Nhà nước”12 Đồng thời

cụ thể hóa một bước về chế độ công hữu, đó là

công hữu “về các tư liệu sản xuất chủ yếu”13

Đến Đại hội IX khỏi niệm nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định

với quan niệm: “Nền kinh tế hàng hóa nhiều

thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự

quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội

chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa”14 Đến Đại hội XI,

Đảng ta xác định, nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế “với nhiều

hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình

thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối

Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật

10Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ IX, NxbCTQG,H.2001; tr.84

11 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr.70.

12Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xõy dựng đất nớc trong

thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xã hội, NxbST,H.1991; tr.9-10

13 Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xõy dựng đất nước

trong thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xã hội, NxbST,H.1991; tr.8

14Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr.86

đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nềnkinh tế, bình đẳng theo pháp luật, cùng phát triểnlâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tếnhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thểkhông ngừng được củng cố và phát triển Kinh tếnhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trởthành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốcdân”15 Mục đích của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượngsản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vậtchất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, nâng cao đờisống của nhân dân Kinh tế thị trường định h-ướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà n-ước “Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng,điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hộibằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,chính sách và lực lượng vật chất”16 Kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa “thực hiệnchế độ phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệuquả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốncùng các nguồn lực khác phân phối thông qua hệthống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”17 Đây là

sự phát triển lý luận vượt bậc của Đảng ta về môhình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳquá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

Năm là, hình thành và phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tổng kết

việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và quátrình đổi mới, Đảng ta nhận thấy sự cần thiếtphải khai thác những giá trị của lý luận nhà nướcpháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại Tuyvậy, thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” vẫn chưa

được sử dụng trong Cương lĩnh (1991) của Đảng

và Hiến pháp 1992 Hội nghị đại biểu toàn quốcgiữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1994) lần đầutiên sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp quyền”khi khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và từng bướchoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó lànhà nước của nhân dân, do nhân dân, và nhândân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng phápluật”18 Đại hội IX đánh dấu bước phát triển từrệt quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà nước

15 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr.73-74.

16 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr.74.

17 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr.74,

Trang 33

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nhà

nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân,

và dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng

có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ

giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc

thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư

pháp Quan điểm này của Đại hội IX đó được thể

hiện trong khi sửa đổi một số điều Hiến pháp

1992(2001) và tiếp tục được khẳng định ở Đại

hội X với chủ trương: “Xây dựng cơ chế vận

hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,

bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước

đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là

thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các

cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp,

hành pháp và tư pháp”19 Cương lĩnh (bổ sung,

phát triển 2011) đó phát triển thêm một bước lý

luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Cụ thể là: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về

nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp

công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí

thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân

công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan

trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành

pháp, tư pháp”20 Như vậy là trong Cương lĩnh

(bổ sung, phát triển 2011) Đảng ta đó bổ sung

thêm vấn đề kiểm soát giữa các cơ quan trong

việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư

pháp Từ ràng, lý luận về nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa ngày càng được Đảng ta phát

triển cụ thể hơn cho phù hợp thực tiễn đất nước

Sáu là, phát triển lý luận về xây dựng nền

văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đại

hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) lần đầu

tiờn trong qỳa trình đổi mới đề ra nhiệm vụ “Xây

dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân

tộc” Đại hội tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí

của phát triển văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh

thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực

thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội”21 Nghị

quyết Trung ương 5 khoá VIII của Đảng (tháng

18 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ

khoỏ VIII, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.55.

19 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

đề ra nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực phát triển kinh tế - xã hội; đề ra nhiệm

vụ có tầm chiến lược là phát triển kinh tế phảigiữ vững đời sống đạo đức và bản sắc văn hóadân tộc; chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế

là hướng tới một cuộc sống văn hóa cao, tạođược điều kiện để nhân dân ngày càng nâng caotrình độ thẩm mỹ, trở thành những chủ thể sángtạo văn hóa, đồng thời là người hưởng thụ ngàycàng nhiều các thành quả văn hóa Kết luận củaHội nghị Trung ương 10 khoá IX về công tác vănhoá khẳng định nhiệm vụ xây dựng kinh tế làtrung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với xâydựng văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội, tạothế vững chắc cho quá trình phát triển đất nước.Đại hội X của Đảng đưa tư duy văn hoá lên mộttầm cao mới: “Tiếp tục phát triển sâu rộng vànâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ vàđồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làmcho văn hoá thấm sâu vào đời sống xã hội”22 Đạihội XI của Đảng đề ra nhiệm vụ chăm lo pháttriển văn hóa “làm cho các giá trị văn hóa thấmsâu vào mọi mặt đời sống, được thể hiện cụ thểtrong sinh hoạt, công tác, quan hệ hàng ngày củacộng đồng và từng con người, tạo sức đề khángvới các sản phẩm độc hại”23

21 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu tũan quốc lần thứ VIII, NxbCTQG,H.1996; tr.110.

22 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ

X, NxbCTQG,H.2006; tr.106.

23 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ

XI, NxbCTQG,H.2011; tr.223.

Trang 34

Thứ hai, Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện

thực tiễn Việt Nam trong điều kiện mới Công cuộc

đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là sự

khẳng định một lần nữa tính đúng đắn của chủ

nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như

sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta vào thực tiễn mới

của đất nước

Thứ ba, Đảng luôn luôn nâng cao trình độ

lý luận của mình cũng như của cán bộ, đảng viên

trong quá trình đổi mới Thấm nhuần lời dạy của

Hồ Chủ tịch, Đảng mà không có lý luận cách mạng

khoa học như người không có trí khôn, tàu không

có bàn chỉ nam, Đảng ta luôn luôn nâng cao trình

độ lý luận của mình và của cán bộ, đảng viên trong

quá trình đổi mới Đây thực chất là sự quán triệt

nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Bởi lẽ, không có trình độ lý luận thì không thể tổng

kết kinh nghiệm một cách có lý luận và không thể

định hướng cho công cuộc đổi mới Ngay trong lúc

cam go của phong trào cách mạng, chẳng hạn,

ngay sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội

hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, Bộ chính trị

Đảng ta đó ra Nghị quyết 01 (ngày 28 thỏng 3

1992) nêu từ sự cần thiết phải đẩy mạnh việc học

tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh Trong tất cả các Văn kiện Đại hội, Đảng

ta luôn nhấn mạnh, khảng định lấy chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư

t-ưởng Đại hội XI còn đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục

đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa

tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công

tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường

lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà

nước”24

Thứ tư, Đảng kiên quyết chống lại những

biểu hiện lệch lạc, sai trái về tư tưởng - lý luận

bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh Đây cũng chính là sự

quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và

thực tiễn trong quá trình đổi mới của Đảng Bởi

lẽ, đổi mới không phải là từ bỏ con đường xã hội

chủ nghĩa của sự phát triển mà là từ bỏ mô hình

chủ nghĩa xã hội giáo điều, tập trung, quan liêu;

là sự lựa chọn biện pháp, cách thức xây dựng chủ

24 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011, tr.256.

nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện, hoàncảnh thực tiễn Việt Nam cũng như quốc tế Quátrình đổi mới cũng là quá trình Đảng ta tiến hànhcuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch trênmặt trận tư tưởng-lý luận; chống lại các chiêu bài

“dân chủ hóa”; “tự do hóa”; “đa nguyên chínhtrị”,v.v Tiếp tục tinh thần các Đại hội trước, Đạihội XI đề ra nhiệm vụ: “Kiên quyết đấu tranhlàm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễnbiến hòa bình” của các thế lực thù địch Chủđộng phòng ngừa, đấu tranh, phê phán nhữngbiểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trongnội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởngchính trị, ”25

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thựctiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản củachủ nghĩa Mác-Lênin, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảngviên phải nỗ lực quán triệt nguyên tắc này Quántriệt tốt nguyên tắc này sẽ góp phần trực tiếpngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm cũngnhư bệnh giáo điều và bổ sung, hoàn thiện, pháttriển lý luận

25 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011, tr.257.

Trang 35

2 Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, Đảng ta nhận định: "Trong lãnh

đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết

điểm, có những sai lầm, khuyết điểm

nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý

chí, vi phạm quy luật khách quan" (Trích

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb CTQG_ST, Hà Nội, 2011, tr.64).

Đồng chí hãy phân tích làm từ cơ sở triết

học và biểu hiện thực tiễn của những sai lầm,

khuyết điểm trong quá trình vận dụng Chủ

nghĩa Mác - Lênin vào xây dựng chủ nghĩa xã

hội ở Việt Nam nêu trên và phương hướng khắc

phục chúng.

Từ nguyên lý triết học Mác - Lênin về mối

quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, có

thể rút ra một số kết luận có tính chất phương

pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn

như sau:

Một là, không được quan niệm một cách

giản đơn rằng, nói vật chất có trước ý thức, ý

thức có sau vật chất; hoặc ngược lại, nói ý thức

có trước vật chất, vật chất có sau ý thức thì có

sao đâu; mà phải thấy rằng, nói như thế nào đó là

khẳng định lập trường và phương pháp giải quyết

các vấn đề của cuộc sống, của nhận thức khoa

học hoàn toàn trái ngược nhau

Hai là, chống bệnh chủ quan duy ý chí, mà

biểu hiện là quá đề cao, tuyệt đối hoá vai trò, tác

dụng của nhân tố chủ quan; là quan niệm sai trái

cho rằng con người có thể làm được tất cả những

gì con người mong muốn, bất chấp quy luật khách

quan, không dựa vào các điều kiện vật chất tối

thiểu, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng

thay cho hiện thực Điều đó yêu cầu phải nắm

vững nguyên tắc khách quan Nguyên tắc khách

quan đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành

động không được chủ quan, duy ý chí, không

được lấy ý muốn chủ quan nóng vội, lấy tình

cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược hay sách

lược cách mạng; phải xuất phát từ thực tế khách

quan, từ bản thân sự vật, phản ánh sự vật một

cách trung thành như nó vốn có, phải tôn trọng

sự thật, phải tôn trọng và hành động theo quy

luật khách quan như Đảng ta đã kết luận: “Mọi

đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát

từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”1

Ba là, phải biết nhận thức và vận dụng quy

luật khách quan một cách chủ động, sáng tạo với

ý chí không ngừng tiến công cải tạo hiện thựctheo nhu cầu tiến bộ của xã hội Phải chống thái

độ tiêu cực, thụ động, vin vào điều kiện kháchquan mà ngồi chờ, ỷ lại không dám hành động.Thái độ đầu hàng, chịu bó tay trước khó khăncủa hoàn cảnh suy cho cùng là do coi thường,

hạ thấp vai trò và tác dụng của ý thức tư tưởng,của tính năng động sáng tạo của con người tronghoạt động thực tiễn

Chủ nghĩa duy vật tầm thường không thấyđược tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thứccon người nói riêng và loài người nói chung Thếgiới quan duy tâm tôn giáo lại ru ngủ con ngườitrước những bất công của xã hội, khiến conngười yên phận, ngồi chờ, thiếu tính sáng tạo.Thế giới quan phản khoa học không nhữngkhông giúp con người có cuộc sống tốt hơn, màcòn đưa họ vào những con đường lầm lỗi Đểkhắc phục những thiếu sót đó chúng ta phải tíchcực học tập, tuyên truyền chủ nghĩa duy vật mácxít

Một sai lầm khá phổ biến ở nước ta vànhiều nước xã hội chủ nghĩa trước kia là mắcphải bệnh chủ quan, duy ý chí í chí là một yếu tốcủa ý thức, là một nhân tố chủ quan tích cực đểcon người quyết tâm vượt qua những trở ngạitrên con đường đạt đến mục đích Ý chí có vaitrò quan trọng trong hoạt động của con người.Nhưng nếu tuyệt đối hóa ý chí thì sẽ dẫn đến sailầm Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí là khuynhhướng cường điệu, thổi phồng, bơm to, tuyệt đốihóa vai trò của ý chí; tách rời, thậm chí đối lập ýchí với ý thức; coi ý chí có tính độc lập tuyệt đối,tách rời (xa rời) hiện thực khách quan

Trong đời sống xã hội, cái vật chất và cáitinh thần, cái khách quan và cái chủ quan thườngquyện chặt vào nhau, chuyển hoá lẫn nhau, ranhgiới giữa chúng chỉ có tính tương đối Điều đó dễgây ra sự lẫn lộn, dễ lấy chủ quan thay cho khách

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nxb Sự Thật,

Hà Nội, 1991, tr.5 - 6.

Trang 36

quan, nghĩa là dễ rơi vào bệnh chủ quan duy ý

chí Xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ

nghĩa là một sự nghiệp đầy khó khăn phức tạp,

đòi hỏi chủ thể phải phát huy cao độ nhân tố chủ

quan, phải có nhiệt tình cách mạng và tính tự

giác cao Nhưng vai trò của nhân tố chủ quan

càng lớn thì nguy cơ mắc bệnh chủ quan cũng

càng lớn và khi đó người ta dễ cường điệu vai trò

nhân tố chủ quan mà bất chấp qui luật khách

quan, dễ lấy nhiệt tình cách mạng thay cho sự

yếu kém về tri thức khoa học, yếu kém về quản

Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm có

tính chất phổ biến trong nhiều nước xã hội chủ

nghĩa trong đó có nước ta trước đây, đã gây ra

những hậu quả nghiêm trọng Bởi vậy, đấu tranh

khắc phục và ngăn chặn bệnh chủ quan duy ý chí

có ý nghĩa rất quan trọng và đòi hỏi phải tiến

hành thường xuyên Từ 1976 đến 1986 (trước

Đại hội VI) ta đó mắc những sai lầm nghiêm

trọng mà khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của

chúng ta là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ

và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo

nguyện vọng chủ quan Điều này thể hiện ở nóng

vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, chỉ xây dựng

thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, xoá bỏ

mọi thành phần kinh tế khác; có lúc đẩy mạnh

quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; có

nhiều chủ trương sai trong cải cách tiền lương,

giá cả, tiền tệ, tóm lại là vi phạm nhiều qui luật

khách quan Mặt khác, còn có biểu hiện ở sự

thoát ly cả lý luận khoa học lẫn thực tiễn đất

nước, từ đó gây ra những hậu quả nghiêm trọng,

góp phần làm cho nền kinh tế, xã hội lâm vào

tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng

Bệnh chủ quan duy ý chí ở nước ta vừa qua

không chỉ có nguồn gốc từ nhận thức (cường điệu,

thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của ý chí chủ quan

con người) mà còn có nguồn gốc lịch sử, xã hội,

giai cấp (sai lầm "tả" khuynh trong cách mạng dân

tộc dân chủ nhân dân - trí phú cường hào đào tận

gốc trốc tận rễ; sai lầm có tính chất chủ quan nóng

vội trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

miền Bắc; bối cảnh xã hội và khuynh hướng tâm lý

tư tưởng ở thời kỳ sau đại thắng mùa xuân năm

1975, thống nhất đất nước) Bệnh chủ quan duy ý

chí, do những điều kiện lịch sử ở nước ta qui địnhnên có những nét đặc thù biểu hiện ở lòng hammuốn và ảo tưởng "tiến nhanh lên chủ nghĩa xãhội" thông qua các chủ trương chính sách và hànhđộng thực tiễn, chứ không phải bắt nguồn một cách

tự giác từ một học thuyết duy tâm nào đó Bệnhchủ quan duy ý chí ở nước ta chủ yếu là do thiếukiến thức, kém lý luận, ít kinh nghiệm, sự lạc hậutrong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội

Hiện nay, để nước ta sớm trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiệnđược mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoáphải phát huy tốt tính năng động chủ quan, tínhsáng tạo của ý thức Muốn vậy, phải nâng caobản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộđảng viên “Phấn đấu chậm nhất từ năm 2005 trở

đi, nói chung những cán bộ chủ chốt dưới 45 tuổi

từ cấp huyện trở lên ít nhất phải có trình độ đạihọc về chuyên môn, cao cấp về lý luận chính trị.Đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm, đề bạt;khắc phục tình trạng bầu cử, bổ nhiệm rồi mớiđưa đi đào tạo ”26

Tại Đại hội X (2006), Đảng ta nêu rõ:

"Trong những năm tới, phải dành nhiều công sứctạo được chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng,phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giaicấp công nhân và tính tiên phong của Đảng; xâydựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả vềchính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trícao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phươngthức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảngviên đủ phẩm chất và năng lực Đây là nhiệm vụthen chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và

sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta".2

Bốn là, để thực hiện nguyên tắc khách

quan và phát huy tính năng động chủ quan củacon người, phải nhận thức và vận dụng đúng đắnlợi ích, phải tạo ra động lực hoạt động cho mọingười bằng cách quan tâm đến lợi ích; phải kếthợp các loại lợi ích khác nhau, như lợi ích kinh

26 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ

ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 1997, tr.84.

2 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr

130.

Trang 37

tế, lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần lợi ích cá

nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội Phải có động

cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa

học, không vụ lợi

Tóm lại, trong nhận thức và hoạt động thực

tiễn của con người, nhân tố vật chất và nhân tố ý

thức có mối liên hệ hữu cơ với nhau Xác định và

giải quyết đúng đắn mối quan hệ này chúng ta

mới tập trung được sức mạnh vật chất và sức

mạnh tinh thần trong thực hiện nhiệm vụ

Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã

hội thời kỳ trước đổi mới, bên cạnh những thành

tựu đạt được, chúng ta đã mắc khuyết điểm nóng

vội, chủ quan trong việc xác định mục tiêu và

bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải

tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế

Với đường lối đổi mới đúng đắn do Đảng ta

khởi xướng và lãnh đạo đất nước ta chuyển sang

một giai đoạn mới phát triển về chất Từ Đại hội

VIII của Đảng (1996), đất nước ta từng bước đẩy

mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phấn đấu

đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công

nghiệp, thực hiện mục tiêu “độc lập dân tộc gắn

liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”1

Hơn 20 năm qua (1986 - 2009) thực hiện

chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội,

nhân dân ta “đã đạt được những thành tựu to lớn

và có ý nghĩa lịch sử”1 Đại hôị X của Đảng khẳng

định: “Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi

mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp

thực tiễn Việt Nam”2 Tuy nhiên, Đảng ta cũng chỉ

rõ: “nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn,

đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức

tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào

Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2001, tr 79, 72, 85 - 86.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Bởi vậy, chúng ta phải “nâng cao năng lực

lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giứ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”2 Đó chính là con đường đi tới mục tiêu,

lý tưởng của Đảng và nhân dân ta

Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần rút

ra những bài học kinh nghiệm của thời kỳ trướcđây, cần tránh sai lầm chủ quan, nóng vội trongcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Từnguyên lý triết học Mác - Lênin về mối quan hệbiện chứng giữa vật chất và ý thức, có thể rút ramột số kết luận có tính chất phương pháp luậncho nhận thức và hoạt động thực tiễn như sau:

Một là, không được quan niệm một cách

giản đơn rằng, nói vật chất có trước ý thức, ýthức có sau vật chất; hoặc ngược lại, nói ý thức

có trước vật chất, vật chất có sau ý thức thì cósao đâu; mà phải thấy rằng, nói như thế nào đó làkhẳng định lập trường và phương pháp giải quyếtcác vấn đề của cuộc sống, của nhận thức khoahọc hoàn toàn trái ngược nhau

Hai là, chống bệnh chủ quan duy ý chí, mà

biểu hiện là quá đề cao, tuyệt đối hoá vai trò, tác

1, 2, Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X., Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.

75 - 76.

2

Trang 38

dụng của nhân tố chủ quan; là quan niệm sai trái

cho rằng con người có thể làm được tất cả những

gì con người mong muốn, bất chấp quy luật khách

quan, không dựa vào các điều kiện vật chất tối

thiểu, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng

thay cho hiện thực Điều đó yêu cầu phải nắm

vững nguyên tắc khách quan Nguyên tắc khách

quan đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành

động không được chủ quan, duy ý chí, không

được lấy ý muốn chủ quan nóng vội, lấy tình

cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược hay sách

lược cách mạng; phải xuất phát từ thực tế khách

quan, từ bản thân sự vật, phản ánh sự vật một

cách trung thành như nó vốn có, phải tôn trọng

sự thật, phải tôn trọng và hành động theo quy

luật khách quan như Đảng ta đã kết luận: “Mọi

đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát

từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”1

Ba là, phải biết nhận thức và vận dụng quy

luật khách quan một cách chủ động, sáng tạo với

ý chí không ngừng tiến công cải tạo hiện thực

theo nhu cầu tiến bộ của xã hội Phải chống thái

độ tiêu cực, thụ động, vin vào điều kiện khách

quan mà ngồi chờ, ỷ lại không dám hành động

Thái độ đầu hàng, chịu bó tay trước khó khăn

của hoàn cảnh suy cho cùng là do coi thường,

hạ thấp vai trò và tác dụng của ý thức tư tưởng,

của tính năng động sáng tạo của con người trong

hoạt động thực tiễn

Hiện nay, để nước ta sớm trở thành một

nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiện

được mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

phải phát huy tốt tính năng động chủ quan, tính

sáng tạo của ý thức Muốn vậy, phải nâng cao

bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộ

đảng viên “Phấn đấu chậm nhất từ năm 2005 trở

đi, nói chung những cán bộ chủ chốt dưới 45 tuổi

từ cấp huyện trở lên ít nhất phải có trình độ đại

học về chuyên môn, cao ấp về lý luận chính trị

Đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm , đề bạt;

khắc phục tình trạng bầu cử, bổ nhiệm rồi mới

đưa đi đào tạo ”27

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất

nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nxb Sự Thật,

Hà Nội, 1991, tr.5 - 6.

27 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ

ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) Nxb Chính trị quốc

Tại Đại hội X (2006), Đảng ta nêu rõ:

"Trong những năm tới, phải dành nhiều công sứctạo được chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng,phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giaicấp công nhân và tính tiên phong của Đảng; xâydựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả vềchính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trícao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phươngthức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảngviên đủ phẩm chất và năng lực Đây là nhiệm vụthen chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và

sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta".2

Bốn là, để thực hiện nguyên tắc khách

quan và phát huy tính năng động chủ quan củacon người, phải nhận thức và vận dụng đúng đắnlợi ích, phải tạo ra động lực hoạt động cho mọingười bằng cách quan tâm đến lợi ích; phải kếthợp các loại lợi ích khác nhau, như lợi ích kinh

tế, lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần lợi ích cánhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội Phải có động

cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoahọc, không vụ lợi

Tóm lại, trong nhận thức và hoạt động thực

tiễn của con người, nhân tố vật chất và nhân tố ýthức có mối liên hệ hữu cơ với nhau Xác định vàgiải quyết đúng đắn mối quan hệ này chúng tamới tập trung được sức mạnh vật chất và sứcmạnh tinh thần trong thực hiện nhiệm vụ

Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xãhội thời kỳ trước đổi mới, bên cạnh những thànhtựu đạt được, chúng ta đã mắc khuyết điểm nóngvội, chủ quan trong việc xác định mục tiêu vàbước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cảitạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế

Với đường lối đổi mới đúng đắn do Đảng takhởi xướng và lãnh đạo đất nước ta chuyển sangmột giai đoạn mới phát triển về chất Từ Đại hộiVIII của Đảng (1996), đất nước ta từng bước đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phấn đấu đếnnăm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp,

thực hiện mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với

chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”1

Hơn 20 năm qua (1986 - 2009) thực hiện

gia, Hà Nội 1997, tr.84.

2 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr

130.

Trang 39

chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội,

nhân dân ta “đã đạt được những thành tựu to lớn

và có ý nghĩa lịch sử”1 Đại hôị X của Đảng

khẳng định: “Những thành tựu đó chứng tỏ

đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng

tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam”2 Tuy nhiên,

Đảng ta cũng chỉ rõ: “nước ta đang đứng trước

nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng

hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường

bất cứ thách thức nào Nguy cơ tụt hậu xa hơn về

kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên

thế giới vẫn tồn tại Tình trạng suy thoái về chính

trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận

cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham

nhũng, lãng phí là nghiêm trọng Những biểu hiện

xa dời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được

khắc phục Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực

hiện âm mưu “ diến biến hoà bình”, gây bạo loạn

lật đổ, sử dụng các chiêu bài “ dân chủ”, “nhân

quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước

ta."1

Bởi vậy, chúng ta phải “nâng cao năng lực

lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy

sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công

cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi

nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và

công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an

ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và

tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giứ vững ổn

định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi

tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến

năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước

công nghiệp theo hướng hiện đại”2 Đó chính là

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2001, tr 79, 72, 85 - 86.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2006, tr 68

1

2

1, 2, Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ X., Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.

Trang 40

3 Bằng tri thức triết học và dẫn chứng thực tế,

đồng chí hay làm từ sự vận dụng nguyên

tắc khách quan trong quá trình đổi mới ở

Việt Nam

Về nguyên tắc khách quan (bổ sung cơ sở

lý luận của nguyên tắc khách quan)

- Thế giới tồn tại một cách khách quan không

phụ thuộc vào ý thức con người cho nên trong

nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải

xuất phát từ thực tế khác quan, phải lấy hiện thực

khách quan làm cơ sở cho mọi hoạt động của

mình

- Mục đích và chủ trương chúng ta đề ra cho hoạt

động thực tiễn không thể đơn thuần rút ra từ

nguyện vọng chủ quan, mà phải rút ra từ hiện

thực khách quan phản ánh nhu cầu chín muồi và

tính tất yếu của đời sống xã hội trong từng giai

đoạn nhất định của lịch sử Đường lối, chủ

trương của Đảng phải phù hợp với những quy

luật khách quan của XH, phải chống bệnh chủ

quan duy ý trí

+ Chống bệnh chủ quan duy ý trí , mà biểu hiện

là quá đề cao hoặc tuyệt đối hóa vai trò tác dụng

của nhân tố chủ quan; là quan niệm sai trái cho

rằng con người có thể làm được tất cả những gì

con người mong muốn, bất chấp sự tác động của

quy luật khách quan, không dựa vào các điều

kiện vật chất tối thiểu lấy ý trí áp đặt cho thực tế,

lấy ảo tưởng thay cho hiện thực Điều đó yêu cầu

phải nắm vững nguyên tắc khách quan Nguyên

tắc khách quan đòi hỏi chúng ta trong nhận thức

và hành động không được chủ quan, duy ý trí,

không được lấy ý muốn chủ quan nóng vội, lấy

tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược hay

sách lược cách mạng; phải xuất phát từ thực tế

khách quan, từ bản thân sự vật, phản ánh sự vật

một cách trung thực như nó vốn có, phải tôn

trọng sự thật, phải tôn trọng và hành đông theo

quy luật khách quan

+ Phải biết nhận thức và vận dụng quy luật khách

quan một cách chủ động sáng tạo với ý trí không

ngừng tấn công cải tạo hiện thực theo nhu cầu

tiến bộ xã hội Phải chống thái độ tiêu cực, thụ

động, vin vào điều kiện khách quan mà ngồi chờ,

ỷ lại không giám hành động

+ Để thực hiện nguyên tắc khách quan và pháthuy tính năng động chủ quan của con người phảinhận thức và vận dụng đúng đắn lợi ích, tạo rađộng lực hoạt động cho mọi người bằng cáchquan tâm đến lợi ích; phải kết hợp các loại lợi íchkhác nhau, như lợi ích kinh tế, chính trị, tinhthần, lợi ích cá nhâ, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội.Phải có động cơ trong sáng, thái độ thực sự khácquan, khoa học, không vụng lợi

Sự vận dụng nguyên tắc khách quan trong công cuộc đổi mới:

- Chúng ta đó có những vấp váp sai lầm trongvận dụng quy luật khách quan:

+ Chủ quan nóng vội, xây dựng nền sản xuất lớnXHCN bằng ý trí chủ quan

+ Chưa vận dụng đúng các quy luật khách quanthời kỳ quá độ, đặc biệt là quy luật QHSX phảiphù hợp với trình độ phát triển của LLSX

+ Cơ chế quan liêu bao cấp với kiến trúc thượngtầng đồ sộ vượt quá sức chịu đựng của cơ sở hạtầng kinh tế

- Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lầnthứ VI năm 1986 đánh dấu mốc quan trọng đó làthực hiện đổi mới mọi mặt đời sống xã hội Từ

đó trở lại vận dụng đúng quy luật khách quanvào sự phát triển xã hội Được thể hiện ở nộidung cơ bản đó là: Phát triển nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước định hướngXHCN

+ Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước theo định hướngXHCN thực chất là cuộc cách mạng về quan hệsản xuất thực hiện nhiều thành phần kinh tế vớinhiều hình thức sở hữu, phù hợp với thực trạngcủa LLSX nước ta còn nhỏ yếu, trình độ xã hộihóa SX thấp, lại ở nhiều trình độ khác nhau.+ Giải quyết vấn đề QHSX một cách đồng bộ,phù hợp trên cả 3 mặt sở hữu, tổ chức quản lý vàphân phối: Thực hiệu nhiều hình thức sở hữu, tổchức phân phối nhằm tạo động lực phát huy vaitrò làm chủ và nhiệt tình người lao động, sử dụngtốt nhất mọi năng lực sản xuất, khai thác tiềmnăng phát triển kinh tế

Ngày đăng: 24/10/2018, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w